Như
vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở thành Ca Tỳ La
vườn Đa Căn Thọ chúng Tỳ Kheo vô lượng người câu
hội.
Bấy giờ
đức Thế Tôn có em trai tên Nan Đà, thân như màu hoàng
kim đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu thấp hơn Phật
bốn ngón tay. Vợ tên Tôn Đà La nghi dung đoan chánh
thế gian ít có, đẹp sáng siêu tuyệt người đều thích
thấy. Nan Đà cưng vợ triền miên lưu luyến không
tạm xa rời, tình ái nhiễm rất nặng quyết chung sống
trọn đời.
Đức Thế
Tôn xét biết đến thời kỳ thọ hóa độ, bèn vào
lúc sáng sớm đắp y cầm bát đem Trưởng lão A Nan
làm thị giả vào thành khất thực, kế đến cổng
nhà Nan Đà mà đứng. Đức Thế Tôn dùng sức
đại bi phóng ánh sáng màu hoàng kim chiếu khắp trong
nhà Nan Đà đều thành màu hoàng kim cả.
Nan Đà nghĩ
rằng ánh sáng bỗng chiếu đến chắc là đức Như
lai. Liền sai người hầu ra cổng xem, vội trở vào báo
rằng đức Thế Tôn đứng tại cổng nhà. Nan Đà
nghe báo liền muốn ra mau nghinh lễ đức Thế Tôn.
Tôn Đà
La tự nghĩ nếu ta để y đi, đức Thế Tôn tất định
cho y xuất gia. Nàng bèn níu áo chồng lại.
Nan Đà bảo
vợ nay nên tạm cho ta đi ra lễ đức Thế Tôn rồi ta
liền trở vào.
Tôn Đà
La nói cùng nhau ước kỳ hẹn tôi mới cho đi. Nàng
lấy phấn ướt đắp lên trán rồi nói với chồng
rằng : Điểm này chưa khô phải trở vào, nếu trễ
hẹn phải phạt năm trăm tiền vàng. Nan Đà ưng chịu rồi
liền ra ngoài cổng lễ chưn đức Phật, tiếp lấy
bát của Như Lai mang vào nhà đựng đầy cơm ngon bưng
ra ngoài cổng.
Đức Thế
Tôn liền bước đi đồng thời ra dấu cho A Nan chớ có
lấy bát ấy.
Đức Như
Lai Đại Sư oai nghiêm tôn trọng, Nan Đà chẳng dám kêu
đứng lại, bèn trao bát đầy cơm cho A Nan.
Ngài A Nan
hỏi : "Vừa rồi anh tiếp lấy bát ở nơi ai ?".
Nan Đà
nói : "Ở nơi đức Phật".
Ngài A Nan
nói : "Như vậy nên trao cho đức Phật".
Nan Đà
chẳng dám gọi đức Phật chỉ lặng lẽ đi theo sau.
Về đến
tinh xá ở vườn Đa Căn Thọ, đức Thế Tôn rửa tay
chưn rồi đến ghế mà ngồi. Nan Đà dâng bát cơm. Đức
Thế Tôn ăn xong bảo Nan Đà rằng : "Em xuất gia được
chăng ?". Vì đức Thế Tôn thuở xưa lúc tu Bồ Tát
đạo, đối với cha mẹ sư trưởng và chư tôn túc chưa
hề trái lời dạy bảo, nên lời dạy của Phật không
ai trái lại. Do đó mà Nan Đà nghe đức Phật bảo xuất
gia liền đáp rằng : "Xuất gia được".
Đức Thế
Tôn liền sai Ngài A Nan cạo râu tóc Nan Đà.
Ngài A Nan
vâng lịnh đức Phật tìm người đến cạo.
Nan Đà
nói với người ấy rằng : "Ngươi biết chăng, không
bao lâu ta sẽ làm Chuyển Luân Vương, nếu ngươi cạo tóc
ta, ta sẽ chặt cánh tay ngươi".
Người
ấy sợ hãi gói dao lại muốn từ đi về .
Ngài A Nan
vội bạch đức Phật. Đức Phật đến hỏi Nan Đà
: "Em chẳng xuất gia ư ?".
Do oai của
đức Phật, Nan Đà thưa : "Xin xuất gia".
Đức Thế
Tôn cầm bình nước rưới lên đầu Nan Đà, tịnh nhơn
liền cạo.
Nan Đà nghĩ
rằng nay phải kính phụng đức Thế Tôn, ban ngày tạm
xuất gia, chờ tối sẽ về nhà. Đến chiều tối,
Nan Đà theo đường cũ đi về nhà. Đức Thế Tôn hóa
hố lớn ngay giữa đường. Nan Đà thấy hố ấy tự
nghĩ rằng : Bây giờ không làm sao đi về nhà được,
đành phải xa Tôn Đà La. Đêm nay nhớ tưởng nàng
có thể chết được. Nếu còn sống, sáng mai sẽ về.
Vì nhớ Tôn Đà La nên Nan Đà sầu khổ suốt đêm.
Biết ý
nghĩ của Nan Đà, đức Phật bảo Ngài A Nan đến cho
Nan Đà hay là đức Phật sai Nan Đà làm tri sự nhơn.
Ngài A Nan
tuân hành lời đức Phật.
Nan Đà
hỏi A Nan : "Sao gọi là tri sự nhơn và phải làm gì ?"
Ngài A Nan
nói : "Phải kiểm điểm các việc trong chùa".
Nan Đà
hỏi : "Phải làm những sự gì ?".
Ngài A Nan
nói : "Nầy Cụ thọ ! Phàm người tri sự, lúc chư
Tỳ Kheo đi khất thực phải rưới quét trong chùa, lấy
phân trâu mới thứ đệ tô cho sạch, phải để ý canh
phòng chớ cho thất lạc, có việc phải phán quyết thì
đem bạch chư Tăng. Nếu có hương hoa thì đem trao cho
chúng. Đêm đến thì đóng cổng đóng cửa đến
sáng mới mở. Chỗ đi đại tiểu phải thường
rửa lau. Trong chùa nếu có chỗ nào hư thì phải
tu bổ".
Nghe xong Nan
Đà nói :"Thưa Đại Đức ! Như lời đức Phật sai bảo,
tôi xin vâng làm".
Sáng ngày
đến giờ tiểu thực, chư Tỳ Kheo chấp trì y bát vào
thành Ca Tỳ La khất thực.
Nan Đà thấy
chùa vắng người liền nghĩ rằng ta quét chùa xong sẽ
trở về nhà. Do thần lực của Phật, chỗ Nan Đà
quét sạch hiện ra phân dơ. Thấy vậy Nan Đà bỏ
chổi hốt sạch phân, nhưng phân vẫn còn không hốt hết
được. Nan Đà nghĩ rằng : Thôi mặc, đóng
cửa chùa rồi về. Cũng do thần lực của đức
Phật, đóng cửa phòng này xong qua đóng cửa phòng kia
thì phòng này cửa lại tự nhiên mở trống.
Nan Đà lo
rầu nghĩ rằng nếu có kẻ trộm xâm phạm thì có hại
gì.
Ta sẽ
làm vua lại xây trăm ngàn ngôi chùa lớn tốt hơn đây.
Ta nên về nhà. Sợ đi đường lớn gặp Phật nên
Nan Đà theo đường nhỏ mà đi. Đức Phật biết
bèn từ đường nhỏ ngược chiều đi lại. Từ xa Nan
Đà thấy Phật, chẳng muốn gặp Phật, liền ẩn mình
trong tàng cây rậm bên đường. Thần lực của Phật
làm cho các nhánh cây đều cất cao lên lộ Nan Đà ra.
Đức Phật
hỏi Nan Đà : "Em từ đâu đến đây nên theo ta".
Nan Đà hổ
thẹn cúi đầu đi theo Phật.
Đức Phật
biết Nan Đà quá luyến ái vợ, muốn dẫn tiếp Nan
Đà khiến xả ly nên đức Phật ra khỏi thành Ca Tỳ La
đến Thất La Phiệt ở tại vườn Lộc Từ Mẫu của
bà Tỳ Xá Khư.
Đức Phật
thầm nghĩ Nan Đà ngu si nhiễm hoặc mãi nhớ vợ chẳng
bỏ tình ái, nên làm phương tiện cho thôi dứt.
Đức Phật
bảo Nan Đà rằng : "Từ trước em có thấy núi Hương
Túy chưa ?". Nan Đà thưa chưa từng thấy.
Đức Phật
nói : "Nếu như vậy em nên nắm chéo y ta".
Nan Đà tuân
lời nắm chéo y của đức Phật.
Lúc ấy
đức Thế Tôn dường như Nga Vương bay lên hư không đến
núi Hương Túy dắt Nan Đà xem ngó hai bên. Dưới
cây có trái kia thấy một con khỉ cái mù một mắt
đang ngửa mặt nhìn sững đức Như Lai.
Đức Phật
bảo Nan Đà rằng con khỉ cái này sánh với Tôn Đà
La thi ai đẹp ?
Nan Đà
thưa : "Tôn Đà La con giòng Thích Ca đẹp như thiên nữ
nghi dung đệ nhứt trong đời không có hai người.
Khỉ cái này đem sánh với nàng thì ngàn muôn ức phần
chẳng bằng một".
Đức Phật
hỏi : "Em có thấy thiên cung chưa ?".
Nan Đà thưa
rằng chưa thấy.
Đức Phật
lại bảo Nan Đà nắm chéo y rồi như Nga Vương bay lên
hư không đến trời Đao Lợi, khiến Nan Đà nhìn ngắm
cảnh thù thắng ở cõi trời. Nan Đà tuân lời
đến vườn hoan hỉ, vườn thể thân, vườn thô thân,
vườn giao hiệp, cây viên sanh, tòa Thiện Pháp Đường,
các thắng cảnh cõi trời như vậy, nào cung điện vườn
tược, nào hoa quả ao tắm, những chỗ dạo chơi vui vẻ
thù thắng đều quan sát hết.
Kế đến
Nan Đà vào trong thành Thiện Kiến, lại thấy các thứ
âm nhạc âm thanh vi diệu, nhà cửa cao rộng màn che trướng
phủ, nơi nào cũng có các thiên nữ cùng nhau vui đùa.
Nan Đà xem khắp mọi cung, thấy có một cung điện chỉ
có thiên nữ mà không có thiên tử, bèn hỏi thiên nừ
rằng : "Tại sao mọi cung đều có thiên tử thiên nữ
ở chung cùng nhau vui thú, mà cung này chỉ có toàn thiên
nữ ?".
Thiên nữ
đáp : "Đức Thế Tôn có người em trai tên Nan Đà theo
Phật xuất gia tu phạm hạnh mạng chung sẽ sanh nơi đây,
chúng tôi chờ ông ấy".
Nan Đà
nghe nói vui mừng hớn hở vội trở lại chỗ đức
Phật.
Thấy Nan
Đà, đức Phật hỏi em có thấy cảnh thắng diệu ở
cõi trời chăng ? Nan Đà thưa đã thấy, rồi thuật lại
mọi sự đã được thấy.
Đức Phật
hỏi có thấy thiên nữ chăng ?
Nan Đà
thưa : "Đã thấy".
Đức Phật
hỏi : "Các thiên nữ ấy sánh với Tôn Đà La thì ai
đẹp ?".
Nan Đà
thưa : "Đem Tôn Đà La so với các tiên nữ ấy thì cũng
như đem con khỉ cái chột mắt ở núi Hương Túy sánh
với Tôn Đà La, trăm ngàn muôn lần chẳng bằng một".
Đức Phật
bảo Nan Đà rằng : "Người tu phạm hạnh có thắng lợi
ấy, nay em nên gắng tu phạm hạnh sẽ được sanh cõi trời
hưởng khoái lạc này".
Nan Đà nghe
đức Phật nói lòng vui mừng đứng yên.
Bấy giờ
đức Thế Tôn cùng Nan Đà rời cõi trời Đao Lợi trở
lại rừng Thệ Đa. Từ ngày ấy vì ái mộ thiên cung
mà Nan Đà chuyên tu phạm hạnh.
Đức Phật
biết tâm niệm của Nan Đà nên sai Ngài A Nan đi truyền
lịnh đức Phật cho các Tỳ Kheo không người nào cùng
Nan Đà ngồi chung chỗ, kinh hành đồng chỗ, để y một
sào, để bát một chỗ, để bình một chỗ, chẳng
được đồng một chỗ với Nan Đà mà đọc tụng kinh
điển.
A Nan truyền
lịnh đức Phật, các Tỳ Kheo đều tuân hành.
Nan Đà thấy
mọi người xa lánh mình thì rất hổ thẹn. Lúc
sau, Ngài A Nan cùng các Tỳ Kheo ở trong nhà thị giả vá
y phục. Nan Đà nghĩ rằng các Tỳ Kheo đều rời
bỏ tôi chẳng ở đồng một chỗ. Còn A Nan nầy là
em trai tôi há lại lánh tôi.
Nghĩ vậy
Nan Đà liền đi vào nhà ngồi bên A Nan.
Lúc ấy
A Nan vội đứng dậy tránh ra. Nan Đà nói : "Nầy A Nan
! Các Tỳ Kheo khác bỏ tôi đã đành. Còn A Nan là
em trai tôi sao nỡ ghét lánh tôi".
Ngài A Nan
đáp : "Thiệt có lý ấy, nhưng anh tu đạo riêng, còn
tôi theo đường khác, vì vậy mà phải tránh nhau".
Ngài Nan
Đà hỏi : "Thế nào là đạo anh đường em ?".
Ngài A Nan
đáp : "Anh thích sanh cõi trời mà tu phạm hạnh, tôi cầu
Niết Bàn mà trừ dục nhiễm vậy".
Ngài Nan
Đà nghe lời ấy càng thêm lo buồn.
Đức Thế
Tôn biết tâm niệm của Nan Đà nên đến hỏi :"Em đã
thấy địa ngục chưa ?".
Ngài Nan
Đà thưa : "Chưa thấy".
Đức Phật
bảo Ngài Nan Đà nắm chéo áo y của Phật rồi đem Nan
Đà vào trong địa ngục. Đức Phật đứng qua một
bên bảo Ngài Nan Đà đi xem các nơi trong địa ngục.
Ngài Nan Đà liền đi, trước hết thấy sông tro, kế
đến rừng gươm, sông phẩn. Vào trong quan sát thấy các
chúng sanh thọ nhiều sự khổ : hoặc bị kềm rút
lưỡi, bẻ răng, móc mắt, hoặc bị cưa sẻ đôi thân
thể, hoặc bị búa chặt rời tay chưn, hoặc bị mâu
xuyên qua thân, hoặc roi đánh, xóc đâm, hoặc bị chùy
sắt đập nát, hoặc bị rót nước đồng vào miệng,
hoặc bị ném lên cây gươm núi dao, hoặc bị chày giã
đá xay, hoặc ôm cột đồng nằm giường sắt cháy
đỏ, lại thấy vạc sắt đốt lửa lớn dầu nước
sôi trào nấu các hữu tình, lại thấy một vạc dầu
nước sôi sục mà không có ai bị nấu trong ấy.
Ngài Nan
Đà hỏi duyên cớ. Ngục tốt giải đáp rằng : "Em trai
đức Phật là Nan Đà chỉ nguyện muốn sanh thiên mà
tu phạm hạnh, rồi đây ông sẽ được sanh cõi trời tạm
hưởng khoái lạc, khi thân trời mạng chung sẽ phải vào
vạc dầu sôi này, nên tôi chụm lửa chờ ông ấy".
Nghe ngục
tốt nói, Ngài Nan Đà rất kinh sợ rởn ốc dựng lông
mồ hôi lạnh tuôn ra, tự nghĩ rằng nếu nó biết mình
là Nan Đà có thể nó sẽ lấy chĩa xom mình bỏ vào
vạc để nấu. Ngài Nan Đà vội vã chạy gấp về chỗ
đức Phật.
Đức Phật
hỏi : "Em đã thấy địa ngục chăng".
Ngài Nan
Đà buồn khóc rơi nước mắt nghẹn ngào nói nhỏ thưa
rằng : "Tôi đã được thấy".
Đức Phật
hỏi : "Em đã thấy những gì ?".
Ngài Nan
Đà đem tất cả những sự đã thấy thuật trình đức
Phật.
Đức Phật
phán : "Nếu nguyện nhơn gian, hoặc cầu thiên thượng
thì có những lỗi lầm như vậy. Nay em phải cầu Niết
bàn mà tu phạm hạnh, chớ thích cõi trời mà gây sự
khổ về sau.".
Ngài Nan
Đà nghe đức Phật dạy như vậy, trong lòng rất hổ
thẹn cúi đầu nín lặng.
Đức Thế
Tôn liền dắt Ngài Nan Đà cùng ra khỏi địa ngục về
đến rừng Thệ Đa bảo Ngài Nan Đà và chư Tỳ Kheo rằng
: "Trong tâm có ba thứ cấu dơ là dâm dục, giận thù
và ngu si rất đáng được vứt bỏ, phải nên xa rời,
các ông phải tu học".
Đức Thế
Tôn ở rừng Thệ Đa không bao lâu, vì muốn tùy duyên
giáo hóa chúng sanh nên cùng đồ chúng qua nước Chiêm
Ba ở bên ao Yết Già.
Ngài Nan
Đà cùng năm trăm Tỳ Kheo cũng đi theo đức Phật.
Các Ngài đến chỗ đức Phật đảnh lễ chưn Phật
rồi ngồi qua một phía.
Đức Phật
thấy đại chúng ngồi xong bảo ngài Nan Đà rằng : "Phật
có pháp yếu sơ trung hậu đều thiện, văn nghĩa khéo
hay thuần nhứt viên mãn phạm hạnh thanh bạch. Đó
là kinh Nhập Mẫu Thai. Ông phải lắng nghe kỹ khéo
suy nghĩ, nay Phật sẽ vì ông mà nói kinh ấy".
Ngài Nan
Đà thưa : "Vâng, bạch đức Thế Tôn. Xin muốn được
nghe".
Đức Phật
nói :"Dầu có thai mẹ mà có nhập và chẳng nhập.
Thế nào là thọ sanh nhập vào trong thai mẹ ?
Nếu cha
mẹ nhiễm tâm cùng làm dâm ái, bụng mẹ sạch sẽ, nguyệt
kỳ điều hòa đến thời kỳ và trung ấm hiện tiền,
như vậy thì nhập thai mẹ.
Trung ấm
ấy có hai thứ hình : một là dung sắc xinh đẹp,
hai là dung mạo xấu xí.
Trung ấm
địa ngục có dung mạo như cây gỗ cháy trụi. Trung
ấm bàng sanh có màu như khói. Trung ấm ngạ quỉ
có màu như nước. Trung ấm trời hay người có
màu như hoàng kim. Trung ấm cõi sắc thì hình sắc
trắng láng. Trời vô sắc không có thân trung ấm
vì không có sắc thân vậy.
Trung ấm
của hữu tình hoặc có hai tay hai chưn, hoặc nhiều chưn
bốn chưn không chưn, tùy theo nghiệp ngày trước đáng
phải thác sanh chỗ nào thì cảm thân trung ấm như thân
hình ấy.
Nếu là
trung ấm trời thì đầu hướng lên trên, trung ấm người
bàng sanh và quỉ thì đi ngang, trung ấm địa ngục thì
đầu trút xuống.
Phàm thân
trung ấm thì đều có thần thông đi trong hư không, như
thiên nhãn ở xa thấy chỗ thọ sanh.
Nói nguyệt
kỳ đến thời kỳ là nói thời kỳ nạp thai.
Nầy Nan
Đà ! Hoặc có nữ nhơn trải qua ba ngày, hoặc năm
ngày, nửa tháng, một tháng, hoặc có chờ duyên trải
qua lâu nguyệt kỳ mới đến. Nếu có nữ nhơn thân
không oai thế thọ nhiều tân khổ hình dung xấu xí không
ăn uống tốt, nguyệt kỳ dầu đến mà mau dứt ; dường
như đất khô khi rước nước dễ khô. Nếu có nữ
nhơn thân có oai thế thường thọ an lạc nghi dung đoan chánh
được ăn uống tốt, có nguyệt kỳ đến chẳng mau
dứt, dường như đất nhuần khi rưới nước thì khó
khô.
Thế nào
là chẳng nhập thai mẹ ?
Lúc cha xuất
tinh thì mẹ chẳng xuất, lúc mẹ xuất tinh thì cha chẳng
xuất, hoặc đều chẳng xuất, đều chẳng thọ thai.
Nếu mẹ
bất tịnh mà cha tịnh, hoặc cha bất tịnh mà mẹ tịnh,
hoặc đều bất tịnh cũng đều chẳng thọ thai.
Nếu chỗ
âm của mẹ có bịnh phong, bịnh hoàng, bịnh đàm, hoặc
có huyết khí thai kiết, hoặc bị thịt tăng, hoặc bị
uống thuốc, hoặc bị bịnh lúa mạch, bịnh eo lưng kiến,
hoặc sản môn như miệng lạc đà, hoặc trong ấy như
cây nhiều rễ, như đầu cầy , như càng xe, như dây leo,
như lá cây, như tua lúa mạch, hoặc bụng dưới sâu, hoặc
trên sâu, hoặc chẳng phải đồ thọ thai, hoặc máu thường
xuất, hoặc thường chảy nước, hoặc như mỏ quạ, hoặc
mở mà chẳng hiệp, hoặc trên dưới bốn bên rộng
hẹp chẳng đồng, hoặc cao hạ lõm lồi, hoặc bên trong
có trùng ăn thúi hư bất tịnh. Nếu mẹ có những
lỗi ấy thì chẳng thọ thai.
Hoặc cha
mẹ tôn quí mà trung ấm ti tiện, hoặc trung ấm tôn quí
mà cha mẹ ti tiện cũng chẳng thành thai.
Nếu cha
mẹ và trung ấm đều tôn quí mà nghiệp chẳng hòa
hiệp cũng chẳng thành thai .
Nếu ở
nơi cảnh trước mà trung ấm không có nam nữ hai thứ
ái niệm cũng chẳng thọ thai.
Nầy Nan
Đà ! Thế nào là trung ấm được vào thai
mẹ ?
Nếu bụng
mẹ tịnh, trung ấm hiện tiền thấy làm việc dục,
không có những lỗi như trên, cha mẹ và con có nghiệp
tương cảm mới nhập vào thai mẹ.
Lại lúc
trung ấm sắp nhập thai tâm liền điên đảo . Nếu
là nam thì với mẹ sanh yêu với cha sanh ghét. Nếu
là nữ thì cha sanh yêu với mẹ sanh ghét. Đời quá
khứ vì tạo các nghiệp mà sanh vọng tưởng có tâm
niệm hiểu sai lầm, tưởng lạnh rét, tưởng gió lớn
mưa lớn mây mù; hoặc nghe tiếng đông người ồn ào,
tưởng như vậy rồi tùy theo nghiệp đời trước ưu
hay liệt mà sanh mười thứ vọng tưởng: Nay tôi
vào nhà, tôi muốn lên lầu, tôi lên đài điện, tôi
lên giường ghế, tôi vào nhà cỏ, tôi vào nhà lá, tôi
vào lùm cỏ, tôi vào trong rừng, tôi vào lỗ vách, tôi
vào trong rào.
Nầy Nan
Đà! Lúc trung ấm niệm tưởng như vậy liền nhập
thai mẹ. Phải biết tối sơ thọ sanh gọi là
yết la lam, là tinh cha huyết mẹ chớ chẳng phải vật
khác. Do tinh huyết cha mẹ hòa hiệp làm chỗ sở
duyên của thức nương ở nơi đó. Ví như chất lạc
bình dùi nhơn công động chuyển mãi thì có chất tô
suất sanh, khác đây thì chất tô chẳng sanh. Phải
biết cha mẹ tinh huyết bất tịnh và thân yết la lam cũng
như vậy.
Lại nầy
Nan Đà! Có bốn thí dụ, ông nên lắng nghe:
Như nương
cỏ xanh mà trùng sanh ra. Cỏ chẳng phải trùng, trùng
chẳng rời cỏ, nương nơi cỏ nhơn duyên hòa hiệp thì
trùng sanh thân nó màu xanh như màu cỏ. Cha mẹ tinh
huyết và thân yết la lam nhơn duyên hòa hiệp có đại
chủng căn sanh cũng như vậy.
Như nương
phân bò mà sanh trùng. Phân chẳng phải trùng, trùng
chẳng rời phân, nương phân nhơn duyên hòa hiệp mà trùng
được sanh thân nó màu xanh. Tinh cha huyết mẹ thân
yết la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì đại
chủng căn sanh.
Như nương
táo sanh trùng, táo chẳng phải trùng, trùng chẳng rời
táo, nương nơi táo nhơn duyên hòa hiệp mà trùng được
sanh thân nó màu đỏ. Tinh cha huyết mẹ thân yết
la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì đại chủng
căn sanh.
Như nương
chất lạc sanh trùng, lạc chẳng phải trùng, trùng chẳng
rời lạc, nương chất lạc nhơn duyên hòa hiệp mà trùng
được sanh thân nó màu trắng. Tinh cha huyết mẹ
thân yết la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì
đại chủng căn sanh.
Lại nầy
Nan Đà! Nương cha mẹ bất tịnh và yết la lam nên
địa giới hiện tiền tánh cứng rắn, thủy giới hiện
tiền ướt nhuần, hỏa giới hiện tiền tánh ấm nóng,
phong giới hiện tiền tánh nhẹ động.
Nầy Nan
Đà! Nếu cha mẹ bất tịnh và thân yết la lam chỉ
có địa giới mà không thủy giới thì khô khốc mà
phân tán như tay bóc bột tro khô vậy. Nếu chỉ có
thủy giới mà không có địa giới thì lỏng chảy như
dầu như giọt nước. Do thủy giới nên địa
giới chẳng tan, do địa giới mà thủy giới chẳng chảy.
Nầy Nan
Đà! Thân yết la lam có địa thủy hai giới mà không
hỏa giới thì thúi rã như ngày mùa hạ khối thịt tươi
để chỗ râm mát.
Nầy Nan
Đà! Thân yết la lam có địa thủy hỏa giới mà
không phong giới thì chẳng tăng trưởng quảng đại.
Đây đều
do nghiệp quá khứ làm nhơn, lại làm duyên lẫn nhau cùng
chiêu cảm nhau mà thức được sanh, địa giới hay trì,
thủy giới hay nhiếp, hỏa giới hay chín, phong giới hay
lớn. Như có người thợ bánh và học trò trộn
nấu đường cát rồi dùng miệng thổi cho nó lớn
rộng thêm mà bên trong thì rỗng trống như củ sen.
Trong thân bốn đại chủng địa thủy hỏa phong, do nghiệp
lực tăng trưởng cũng như vậy.
Nầy Nan
Đà! Cha mẹ bất tịnh có thân yết la lam, thân ấy
chẳng phải bụng mẹ, chẳng phải là nghiệp, chẳng phải
nhơn chẳng phải duyên, do các thứ ấy hòa hội mới
có thai.
Như hột
giống mới chẳng bị gió nắng làm tổn hư, chắc thiệt
không lỗ cất chứa đúng cách, đem gieo vào ruộng tốt
nhuần ướt. Do nhơn duyên hòa hiệp như vậy mà
rễ mầm cọng nhánh lá bông trái thứ đệ sanh trưởng.
Nầy Nan
Đà! Hột giống ấy chẳng phải rời lìa các duyên
hòa hiệp mà mầm cây v.v... được sanh.
Do đó mà
biết rằng chẳng phải chỉ có cha mẹ, chẳng phải chỉ
có nghiệp và các duyên khác mà thai được sanh, cần
phải do tinh huyết của cha mẹ, nghiệp và các duyên hòa
hiệp mới có thai vậy.
Nầy Nan
Đà! Như người sáng mắt vì cầu lửa nên đem
nhựt quang châu để trong ánh nắng rồi đặt phân bò
khô lên mới có lửa phát sanh. Nương đủ các
duyên hòa hiệp mới có thai sanh cũng như vậy.
Cha mẹ bất
tịnh thành yết la lam gọi đó là sắc thọ tưởng hành
thức cũng gọi là danh sắc. Khối uẩn danh sắc
ấy đáng chán ghét, thác sanh các loài nhẫn đến chút
phần sát na, Phật chẳng tán thán. Tại sao?
Vì sanh vào các loài là rất khổ, ví như phẩn dơ,
chút phần cũng hôi, sanh vào các loài chút phần cũng
khổ. Năm thủ uẩn sắc thọ tưởng hành thức ấy
đều có sanh trụ tăng trưởng và suy hoại. Sanh tức
là khổ, trụ tức là bịnh, tăng trưởng suy hoại tức
là lão tử.
Vì lẽ ấy
người trí đâu nên ở nơi biển sanh tử mà mến ưa
nằm trong thai mẹ thọ khổ lớn ấy.
Lại nầy
Nan Đà! Phàm nhập thai cứ đại số mà nói
thì có ba mươi tám thất nhựt.
Thất nhựt
thứ nhứt, thai ở bụng mẹ như ở trong nồi, thân căn
ý căn đồng ở một chỗ, hơi nóng đốt nấu rất
đau khổ tên là yết la lam trạng như nước cháo hay nước
lạc. Trong bảy ngày hơi nóng bên trong nấu nung, bốn
đại chủng mới phát hiện.
Thất nhựt
thứ hai thai ở bụng mẹ có gió khởi lên tên là biến
xúc do nghiệp trước phát sanh thổi chạm thai ấy tên
là án bộ đà trạng như lạc đặc như tô đọng.
Trong bảy ngày hơi nóng bên trong nấu nung bốn đại chủng
phát hiện.
Thất nhựt
thứ ba thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là đao sao
thổi chạm thai ấy tên là bế thi trạng như chiếc đũa
hay con trùng, trong bảy ngày bốn đại chủng phát hiện.
Thất nhựt
thứ tư thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là nội
khai thổi chạm thai ấy tên là kiện nam trạng như vỏ
hài hay ôn thạch, trong bảy ngày bốn đại chủng phát
hiện.
Thất nhựt
thứ năm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là nhiếp
trì thổi chạm thai ấy có năm tướng hiện đó là
hai cánh hai đùi và đầu. Như mùa xuân mưa xuống
rừng cây rậm rợp nhánh lá tăng trưởng, năm tướng
nơi thai tăng trưởng cũng như vậy.
Thất nhựt
thứ sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là quảng
đại thổi chạm thai ấy có bốn tướng hiện đó là
hai chỏ hai gối.
Thất nhựt
thứ bảy thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là triền
chuyển thổi chạm thai ấy có bốn tướng hiện đó
là hai tay hai chưn.
Thất nhựt
thứ tám thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là phiên
chuyển thổi chạm thai ấy có hai mươi tướng hiện đó
là tay chưn đều mười ngón.
Thất nhựt
thứ chín thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là phân
tán thổi chạm thai ấy có chín tướng hiện đó là
hai mắt hai tai hai mũi miệng và hai lỗ dưới.
Thất nhựt
thứ mười thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là kiên
ngạnh làm cho thai cứng chắc. Lại có gió nghiệp
tên là phổ môn làm cho thai phồng lên như trái nổi.
Thất nhựt
thứ mười một thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là sơ thông làm cho thai thông suốt chín lỗ hiện ra.
Lúc mẹ đi đứng ngồi nằm làm việc gió ấy xoay chuyển
hư thông lần lần khiến chín lỗ lớn ra.
Thất nhựt
thứ mười hai thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên khúc
khẩu thổi hai bên thai làm đại trường và tiểu trường.
Lại có gió nghiệp tên là xuyên phát lai cho thai sanh ra
một trăm chỗ cấm.
Thất nhựt
thứ mười ba thai ở bụng mẹ do sức gió trước nên
biết đói khát, lúc mẹ uống ăn có chất bổ dưỡng
từ rốn vào để nuôi thân thai.
Thất thứ
mười bốn thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là tuyến
khẩu làm cho thai sanh một ngàn lóng : thân trước
sau tả hữu đều sanh hai trăm năm mươi lóng .
Thất thứ
mười lăm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là liên
hoa làm cho thai sanh hai mươi mạch hấp rút chất bổ dưỡng
: thân trước sau tả hữu đều có năm mạch nhiều
thứ tên nhiều màu sắc, hoặc tên bạn tên lực tên
thế, màu thì xanh vàng đỏ trắng, màu đậu, màu dầu,
màu tô, màu lạc và nhiều màu khác, tướng nó hòa
nhã. Hai mươi mạch ấy, mỗi mạch đều riêng có bốn
mươi mạch làm quyến thuộc hiệp lại có tám trăm mạch
hấp rút hơi : thân trước sau tả hữu đều riêng
có hai trăm. Tám trăm mạch ấy, mỗi mạch còn có
một trăm đường mạch quyến thuộc liền nhau hiệp có
tám vạn : thân trước sau tả hữu đều có hai vạn.
Tám vạn mạch ấy còn có nhiều lỗ, hoặc một lỗ,
hoặc hai lỗ nhẫn đến bảy lỗ, mỗi lỗ liền với
lỗ lông. Như rễ sen có nhiều lỗ thông nhau.
Thất nhựt
thứ mười sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
cam lộ hành có thể làm phương tiện an trí nơi chỗ
cho hai mắt, hai tai, mũi miệng cổ họng, ngực hông, chỗ
chứa đựng đồ ăn uống, hay làm cho hơi thở ra vào
thông suốt.
Thất nhựt
thứ mười bảy thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
lông phất khẩu hay làm cho mắt tai mũi miệng v. v... nhuần
ướt .
Thất nhựt
thứ mười tám thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
vô cấu làm cho sáu căn thanh tịnh.
Thất nhựt
thứ mười chín thai ở bụng mẹ thành tựu bốn căn
nhãn nhĩ tỷ và thiệt cộng với ba căn lúc tối sơ
nhập thai là thân căn mạng căn và ý căn.
Thất nhựt
thứ hai mươi thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
kiên cố làm cho thân thai, chưn tả sanh hai mươi lóng xương
ngón chưn, chưn hữu sanh hai mươi lóng xương ngón chưn,
gót có bốn, mắt cá có hai, gối có hai, vế có hai,
eo có ba, sống có mười tám, sườn có hai mươi bốn.
Tay tả sanh hai mươi xương ngón, tay hữu sanh hai mươi xương
ngón, cánh có bốn, bắp có hai, ngực có bảy, vai có
bảy, cổ có bốn, hàm có hai, răng có ba mươi hai, sọ
đầu có bốn. Trong đây trừ xương nhỏ thì xương
lớn có hai trăm.
Thất nhựt
thứ hai mươi mốt thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là sanh khởi hay làm cho trên thân thai sanh thịt.
Thất nhựt
thứ hai mươi hai thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
phù lưu hay làm cho thân thai sanh huyết.
Thất nhựt
thứ hai mươi ba thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là
tịnh trì hay làm cho thân thai sanh da.
Thất nhựt
thứ hai mươi bốn thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là tư mạn hay làm cho da sáng bóng.
Thất nhựt
thứ hai mươi lăm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là trì thành hay làm cho máu thịt tư nhuận.
Thất nhựt
thứ hai mươi sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là sanh thành hay sanh tóc lông móng cùng các mạch liền
nhau.
Thất nhựt
thứ hai mươi bảy thai ở bụng mẹ có gió tên là khúc
thược hay làm cho tóc lông móng đều thành tựu.
Nầy Nan
Đà ! Nếu đứa con đời trước tạo nhiều ác
tham gian bỏn xẻn bất hiếu bất hòa, nay sanh nhơn gian
được quả báo chẳng vừa ý. Nếu đời cho cao
là đẹp thì thân nó lùn, nếu cho thấp là đẹp thì
thân nó cao, thô tế ít nhiều gầy mập cận ly khiếp
dũng trắng đen v. v... đều ngược sở hảo của người
đời. Lại còn do nghiệp ác nó cảm lấy ác báo như
đui điếc câm ngọng ngu đần xấu xí, giọng nói người
ghét, tay chưn cong què, hình như ngạ quỉ thân thuộc còn
ghét chẳng muốn nhìn huống là người khác, ba nghiệp
đối với người nói điều gì, người chẳng tin nhận
chẳng để ý. Tại sao ? Vì đời trước nó tạo
nghiệp ác nên nay được báo ác như vậy.
Nầy Nan
Đà ! Nếu đứa con ấy đời trước tạo nghiệp
phước bố thí chẳng tham gian cứu giúp người nghèo
thiếu làm nhiều nghiệp lành hiếu thảo thuận hòa,
thì nay cảm báo lành sanh trong nhơn gian được quả báo
vừa ý, cao thấp thô tế nhiều ít mập gầy dũng khiếp
v.v... điều hiệp sở thích người đời, sáu căn tròn
đủ đoan chính đẹp xinh, giọng nói người ưa, ba nghiệp
trình bày người đều tin nhận kính nhớ để lòng.
Tại sao ? Do đời trước nó tạo nghiệp lành nên
được báo tốt như vậy.
Nầy Nan
Đà ! Nếu thai là nam, ở bên hông hữu của mẹ ngồi
bẹp hai tay bụm mặt hướng sống lưng mẹ mà ở yên.
Nếu thai là nữ, ở bên hông tả ngồi bẹp hai tay bụm
mặt hướng bụng mẹ mà ở yên. Nó ngồi dưới sanh
tạng trên thục tạng, vật sống đè xuống, vật chín
đâm lên, như trói năm chỗ cắm tại đầu cây nhọn.
Lúc mẹ ăn nhiều hay ăn ít đều bị đau khổ, hoặc
ăn quá lỏng, quá khô, quá lạnh, quá nóng, quá mặn,
quá đắng, quá cay, quá chua, quá ngọt đứa con đều
đau khổ cả. Hoặc mẹ hành dục, hoặc đi gấp chạy
mau, ngồi lâu nằm lâu, hay nhảy nhót thảy đều bị khổ.
Nầy Nan
Đà ! Phải biết lúc ở thai mẹ có nhiều thứ
khổ đau bức bách đức con chẳng thể kể hết.
Ở trong loài người còn khổ đến thế huống là các
ác đạo, ai là người có trí mà lại ưa thích lấy
thân tai ách trong biển khổ sanh tử.
Thất nhựt
thứ hai mươi tám thai ở bụng mẹ, đứa con ấy vọng
sanh tám thứ tưởng điên đảo : tưởng là ở nhà,
là ngồi xe, là vườn, là lầu, là gác, là rừng cây,
là giường ghế, là sông ao, mà thiệt không các thứ
ấy chỉ hư vọng phân biệt.
Thất nhựt
thứ hai mươi chín thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên
là hoa điều hay làm thân đức con láng trắng sạch sẽ,
hoặc do nghiệp lực khiến màu đen thâm, hay xanh, hay các
màu khác, hay khô khốc không tươi nhuần, ánh sáng trắng
ánh sáng đen đều theo màu sắc mà phát ra.
Thất nhựt
thứ ba mươi thai ở bụng mẹ có gió tên thiết khẩu
làm cho tóc lông móng được sanh trưởng và nhuần sáng.
Thất nhựt
thứ ba mươi mốt đến thất nhựt thứ ba mươi bốn
thai ở bụng mẹ tăng trưởng quảng đại.
Thất nhựt
thứ ba mươi lăm thai ở bụng mẹ chi thể đầy đủ.
Thất nhựt
thứ ba mươi sáu và ba mươi bảy thai ấy chẳng thích
ở bụng mẹ.
Thất nhựt
thứ ba mươi bảy thai ấy sanh ba ý tưởng chẳng điên
đảo. Đó là ý tưởng bất tịnh, hôi dơ và tối
tăm.
Thất nhựt
thứ ba mươi tám, thai ở bụng mẹ có gió tên là lam
hoa hay làm cho thai hướng xuống giăng dài hai tay xu hướng
cửa đẻ. Kế có gió tên xu hạ thổi khiến thai trút
đầu xuống hai chân đưa lên sắp ra cửa đẻ.
Nầy Nan
Đà ! Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo những
nghiệp ác và làm trụy thai người, do đó nên nay thai
ấy tay chưn ngang lọan chẳng lay chuyển được bèn chết
trong bụng mẹ. Người mẹ nhơn đó mà chịu vô lượng
thống khổ hoặc cũng phải chết.
Nầy Nan
Đà ! Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo phước
đầu chuyển mình chẳng tổn hại mẹ an ổn ra ngoài
không các tai ách, lúc đẻ cũng khiến người mẹ rất
đau khổ gần chết thai mới sanh ra được. Các ông
nên quan sát kỹ mà cầu xuất ly.
Lại nầy
Nan Đà ! Nay ông đã biết ở thai khổ, lúc sanh khổ.
Ông nên biết phàm người thọ sanh rất khổ não.
Lúc sơ sanh
hoặc nam hay nữ rơi vào tay người, hoặc trên khăn, chiếu
v.v... hoặc trong nắng hay chỗ râm, hoặc trên xe, hoặc
nơi giường, trong lòng người, tất cả chỗ đều chịu
sự đau đớn, khổ sở. Như bò bị lột da đứng
dựa vách bị kiến bu, hoặc dựa cây bị sâu cắn, dầu
đứng chỗ trống bị nắng gió cũng rất đau khổ.
Trẻ sơ sanh cũng vậy lúc tắm nước nóng chịu khổ
rất là bức thiết.
Sau khi được
sanh, trẻ ấy uống sữa của mẹ mà lớn.
Nầy Nan
Đà ! Đã có nhiều thứ khổ không gì đáng ưa,
đâu có người trí mà lại ái luyến sanh tử.
Sanh bảy
ngày rồi, trong thân ấy có tám vạn hộ trùng ngang dọc
ăn nuốt.
Có một
hộ trùng tên thực phát nương tóc ăn tóc.
Có hai hộ
trùng tên phục tàng và thô đầu nương đầu ăn đầu.
Có một
hộ trùng tên nhiễu nhãn nương mắt ăn mắt.
Có bốn
hộ trùng tên khu trục, bôn tẩu, ốc trạch và viên mãn
nương óc ăn óc.
Có một
hộ trùng tên đạo diệp nương tai ăn tai.
Có một
hộ trùng tên tàng khẩu nương mũi ăn mũi.
Có hai hộ
trùng tên dao trịch và biến trịch nương môi ăn môi.
Có một
hộ trùng tên mật diệp nương răng ăn răng.
Có một
hộ trùng tên châm khẩu nương lưỡi ăn lưỡi.
Có một
hộ trùng tên lợi khẩu nương cuống lười ăn cuống
lưỡi.
Có một
hộ trùng tên thủ viên nương nướu ăn nướu.
Có hai hộ
trùng tên thủ võng và bán khuất nương bàn tay ăn bàn
tay.
Có hai hộ
trùng tên đoản huyền và trương huyền nương bắp tay
ăn bắp tay.
Có hai hộ
trùng tên cận tý và viễn tý nương cánh tay ăn cánh
tay.
Có hai hộ
trùng tên dục thôn và dĩ thôn nương yết hầu ăn yết
hầu.
Có hai hộ
trùng tên hữu oán và đại oán nương ngực ăn ngực.
Có hai hộ
trùng tên loa bối và loa khẩu nương thịt ăn thịt.
Có hai hộ
trùng tên hữu sắc và hữu lực nương máu và ăn máu.
Có hai hộ
trùng tên dũng kiện và hương khẩu nương gân ăn gân.
Có hai hộ
trùng tên bất cao và hạ khẩu nương xương sống ăn xương
sống.
Có hai hộ
trùng đồng tên chỉ sắc nương mỡ ăn mỡ.
Có một
hộ trùng tên hoàng sắc nương hoàng ăn hoàng.
Có một
hộ trùng tên chơn châu nương thận ăn thận.
Có một
hộ trùng tên đại chơn châu nương eo lưng ăn eo lưng.
Có một
hộ trùng tên vị chí nương lá lách ăn lá lách.
Có bốn
hộ trùng tên thủy mạng, đại thủy mạng, châm khẩu và
đao khẩu nương ruột ăn ruột.
Có năm hộ
trùng tên nguyệt mãn, nguyệt diện, huy diệụ huy diện
và biệt trụ nương hông bên hữu ăn hông bên hữu.
Có năm hộ
trùng đồng tên trên nương hông bên tả ăn hông bên tả.
Có bốn
hộ trùng tên xuyên tiền, xuyên hậu, xuyên kiên và xuyên
trụ nương xương ăn xương.
Có bốn
hộ trùng tên đại bạch, tiểu bạch, trùng vân và xú
khí nương mạch ăn mạch.
Có bốn
hộ trùng tên sư tử, bị lực, cấp tiển và liên hoa
nương sanh tạng ăn sanh tạng .
Có hai hộ
trùng tên an chí và cận chí nương thục tạng ăn thục
tạng.
Có bốn
hộ trùng tên diêm khẩu, uẩn khẩu, võng khẩu và tước
khẩu nương đường tiểu ăn nước tiểu.
Có bốn
hộ trùng tên ưng tác, đại tác, tiểu hình, và tiểu
thúc nương đường đại ăn phẩn.
Có hai hộ
trùng tên hắc khẩu và đại khẩu nương vế ăn vế.
Có hai hộ
trùng tên lại và tiểu lại nương gối ăn gối.
Có một
hộ trùng tên ngu căn nương bắp chơn ăn bắp chưn.
Có một
hộ trùng tên hắc hạng nương bàn chưn ăn bàn chưn.
Nầy Nan
Đà ! Thân này rất đáng chán sợ, nó thường
có tám vạn hộ trùng ngày đêm cắn ăn, vì thế mà
làm cho thân nóng khổ gầy ốm mỏi mệt đói khát.
Lại còn
tâm có nhiều khổ não lo rầu chết ngất, nhiều bịnh
phát hiện, không lương y trị lành được.
Nầy Nan
Đà ! Người trí đâu có ở trong biển sanh tử
ưa thích thân rất khổ này.
Thân ấy
lại còn bị các thần bịnh bắt giữ đó là thiên thần,
long thần, bát bộ thần và các quỉ thần các ly mị
bắt giữ. Hoặc bị nhựt, nguyệt, tinh thần làm
tổn. Các quỉ thần ấy làm bịnh hoạn, bức não
thân tâm khó nói hết.
Nầy Nan
Đà ! Có ai ở sanh tử thích vào thai mẹ để chịu
nhiều đau khổ, sanh thành như vậy, tăng trưởng như vậy,
uống máu sữa của mẹ và uống ăn vọng có ý tưởng
là ngon lần lần trưởng thành, dầu cho được an lạc
không bịnh, áo cơm dư thừa, sống trăm tuổi, trong đời
ấy giấc ngủ gần phân nửa. Ban đầu làm trẻ
thơ, kế làm đồng tử, đến trưởng thành nhiều ưu
bi hoạn nạn các bịnh hoạn đau nhức vô lượng trăm thứ
khổ hành hạ thân ấy khó nói hết.
Các khổ
trong thân bức não, lúc khó chịu đựng thì chẳng còn
muốn sống, có ý tìm chết. Thân như vậy nhiều
khổ, ít vui, dầu tạm sống còn tất rồi hoại diệt.
Nầy Nan
Đà ! Phàm sanh đều tử không thường còn.
Dầu cho uống thuốc tư dưỡng thọ mạng được kéo
dài năm tuổi chung quy cũng chẳng khỏi tử thần giết
chết đưa qua đất trống.
Phải biết
sanh sống không đáng vui ưa, tư lương đời sau phải siêng
chứa họp, chớ có buông lung, chuyên tu phạm hạnh chẳng
nên lười nhác. Đối với các gia hành : lợi hành,
pháp hành, công đức hành, thuần thiện hành phải thường
thích tu tập. Hằng quan sát chính mình, lòng ghi
nhớ hai nghiệp thiện ác, chớ để sau này phải nói
ăn năn, lúc ấy tất cả sở hữu mến ưa đều rơi
lìa mà theo nghiệp thiện ác đi vào đời sau.
Nầy Nan
Đà ! Thọ mạng trăm năm có mười vị :
Tối sơ
là anh nhi, vị này nằm trong nôi. Thứ hai gọi là
đồng tử, làm trẻ nít chơi đùa. Thứ ba gọi là
thiếu niên thọ các dục lạc. Thứ tư gọi là thiếu
tráng dũng kiện đa lực. Thứ năm gọi là thanh niên
có trí đàm luận. Thứ sáu gọi là thành tựu
hay khéo tư lương giỏi làm kế sách. Thứ bảy gọi
là lần suy giỏi biết pháp thức. Thứ tám gọi
là hủ mại các việc suy nhược. Thứ chín gọi
là cực lão không còn làm gì được. Thứ mười
gọi là trăm tuổi, là đúng vị chết.
Nầy Nan
Đà ! Khái quát những đại vị lược nói có mười
vị như vậy, tính theo bốn tháng làm một mùa thì trong
trăm năm có ba trăm mùa, xuân hạ và đông đều có trăm
mùa. Một năm có mười hai tháng tổng số có một
ngàn hai trăm tháng. Lấy mỗi nửa tháng làm số
thì có tất cả hai ngàn bốn trăm lần nửa tháng.
Theo ba mùa thì đều riêng có tám trăm lần nửa tháng.
Ngày đêm thì có ba vạn sáu ngàn. Một ngày ăn
hai bữa thì có bảy vạn hai ngàn bữa ăn. Dầu có
sự duyên chẳng ăn cũng ở trong số ấy. Sự duyên
chẳng ăn như là vì sân hận mà chẳng ăn, vì gặp
khổ mà chẳng ăn, vì cầu chẳng được, vì ngủ, trì
trai, chơi đùa mà chẳng ăn, vì sự vụ, vì bịnh mà
chẳng ăn. Ăn cùng chẳng ăn cộng lại có tổng
số như trên, gồm lúc uống sữa mẹ. Mạng người
trăm tuổi Phật đã nói đủ. Năm, tháng, ngày, đêm
và số uống ăn các ông phải nhàm chán.
Nầy Nan
Đà ! Thân ấy sanh thành trưởng đại có nhiều
bịnh hoạn, như là những bịnh đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi,
răng, cổ, họng, ngực, bụng, tay, chưn, hủi, cùi, điên
cuồng, sưng thủng, ho suyễn, bịnh phong, hoàng nhiệt, đàm
ấm, ngược bịnh, gân cốt đau nhức. Thân người
có nhiều bịnh khổ như vậy. Lại còn có trăm lẻ
một bịnh phong, trăm lẻ một bịnh hoàng nhiệt, trăm lẻ
một bịnh đàm ấm, trăm lẻ một bịnh tổng hợp, cộng
là bốn trăm lẻ bốn bịnh từ nội thân phát sanh.
Nầy Nan
Đà ! Thân thể ung nhọt các bịnh họp thành không
tạm thời dừng niệm niệm chẳng ở lại, thể chất
nó là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã, là
pháp bại hoặi gần nơi chết mất chẳng thể bảo tồn
yêu cưng được.
Nầy Nan
Đà ! Các chúng sanh còn có sự thống khổ lúc
sống, như là bị chặt tay, chơn, đầu, móc mắt, thẻo
tai, lắt mũi, ngục tù giam cầm gông xiềng đánh đập
khảo tra, đói khát khổ sở, rét nóng mưa tuyết, muỗi
mòng, kiến, rận, gió bụi, ác thú, độc trùng nhiều
thứ bức não khổ sở vô lượng vô biên khó kể hết
được. Mà các hữu tình thường ở giữa sự
thống khổ như vậy lại đam mê vui thích. Bao nhiêu
dục lạc đều lấy khổ làm căn bổn, mà hữu tình
chẳng biết rời bỏ lại đi tìm cầu, ngày đêm bị
nung nấu thân tâm nhiễm não, bên trong cháy nóng không
lúc nào nghỉ.
Nầy Nan
Đà ! Những hữu tình ấy đều là bỏ khổ tìm
khổ, chỉ là khổ sanh, chỉ là khổ diệt, các hành
nhơn duyên nối nhau phát khởi đức Như Lai biết rõ nên
nói pháp hữu tình sanh tử. Các hành đều vô thường
chẳng phải cứu cánh chơn thiệt, là pháp biến hoại
chẳng bảo thủ được, phải cầu tri túc phải rất chán
sợ siêng cầu giải thoát.
Nầy Nan
Đà ! Các loài hữu tình trong thiện đạo chỗ sanh
bất tịnh còn phải chịu nhiều thứ đau khổ kể nói
khó hết, huống là các hữu tình địa ngục ngã quỉ
bàng sanh ba ác đạo có biết bao là thống khổ không
thể chịu được.
Lại nầy
Nan Đà ! Có bốn thứ người nhập thai mẹ :
Một là
hữu tình nhập trụ xuất thai đều chánh niệm.
Hai là hữu
tình nhập và trụ chánh niệm, xuất thai chẳng chánh
niệm.
Ba là hữu
tình nhập thai chánh niệm, xuất thai chẳng chánh niệm.
Bốn là
hữu tình nhập trụ và xuất thai đều chẳng chánh
niệm.
Ai là người
nhập trụ và xuất thai đều chánh niệm ? Như có
một loại hữu tình tánh ưa trì giới luôn tập hạnh
lành thích làm thắng sự tạo phước, rất giỏi giữ
gìn, chất trực chẳng buông lung có trí huệ lớn, lúc
lâm chung không có gì phải ăn năn liền thọ sanh. Đây
hoặc là bậc Dự Lưu bảy đời, hoặc là bậc Gia Gia
sáu đời đến hai đời, hoặc là bậc Nhứt Lai, hoặc
là bậc Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Người ấy
do trước tu hạnh lành, lúc lâm chung dầu có khổ não
mà tâm chẳng tán loạn chánh niện mà chết, lại còn
chánh niệm nhập vào thai mẹ biết rõ các pháp.
Phàm đã do nghiệp thọ sanh đều từ các nhân duyên mà
được sanh khởi, thường ở cùng chỗ với các ma.
Nầy Nan
Đà ! Phải biết thân này luôn là hang ổ của tất
cả bất tịnh, thể chất chẳng thường còn, là vật
ngu si dụ gạt kẻ mê. Thân này lấy xương làm cơ quan,
gân mạch liền nhau thông các lỗ huyệt, mỡ xương thịt
tủy cùng ràng rịt nhau dùng da phủ lên để che sự dơ
xấu đầy những bất tịnh, tóc lông răng móng phần
vị sai biệt, vì chấp là ngã và ngã sở nên luôn bị
bắt kéo đi chẳng được tự tại, thường luôn ra mũi
dãi mồ hôi dơ dáy, nước vàng đàm nhớt, mỡ trỉn
hư rã, thân mật gan phổi, đại trường tiểu trường
phẩn tiểu đáng gớm, còn những loài trùng đầy dẫy
các nơi, trên dưới các lỗ thường chảy hôi dơ, hai
tạng sanh thục trùm bằng da mỏng nào khác hầm tiêu.
Nầy Nan
Đà ! Ông phải quan sát phàm lúc ăn nuốt, răng nhai,
nước miếng ngấm nuốt vào cổ họng tủy óc hòa chung
chảy tân dịch trong bụng, như chó gặm xương khô vọng
cho là ngon, đồ ăn vào bụng ợ ngược trở lên lại
nuốt trở vào.
Nầy Nan
Đà ! Thân nầy nguyên từ yết la lam, án bộ đà,
bế thi v.v... các vật bất tịnh mà được sanh trưởng,
anh nhi lưu chuyển nhẫn đến lão tử, luân hồi trói
buộc như hố tối tăm, như hầm thúi dơ thường mặn
lạt đắng cay ngọt chua các thực phẩm để tư dưỡng.
Lại lửa trong bụng mẹ đốt nấu thân căn, nồi phẩn
bất tịnh thường bị nóng khổ. Lúc người mẹ
đi đứng nằm ngồi như bị trói năm chỗ, như bị lửa
thui khó chịu nổi, không gì ví dụ.
Nầy Nan
Đà ! Thai ấy dầu bị khổ thiết ở trong hầm phân
dơ, nhưng do lợi căn nên tâm chẳng toán loạn.
Lại có
một loại hữu tình bạc phước, thai ở bụng mẹ hoặc
ngang hoặc ngược, do nghiệp lực đời trước, hoặc
mẹ ăn uống lạnh nóng mặn cay chẳng khéo điều hòa,
hoặc uống nước quá lượng, hoặc nhiều làm dâm dục,
hoặc nhiều tật bịnh, hoặc hay sầu não, hoặc có
lúc trợt té, hoặc bị đánh đập, do đó mà thân người
mẹ tăng nóng, do thân mẹ nóng nên thai như bị thiêu đốt
rất khổ sở, do khổ đau nên thai liền động chuyển,
do động chhuyển nên hoặc thai nằm ngang nằm úp sanh
ra chẳng được. Có nữ nhơn giỏi dùng dầu tô
thoa tay cho vào bụng mẹ nhẹ nhàng đưa thai về chỗ cũ.
Lúc tay họ chạm vào thai thì đứa con ấy rất là đau
khổ, như trẻ nhỏ bị lóc da thịt rồi rắc tro lên đau
khổ khó nói được.
Dầu bị
khổ thống ấy nhưng vì thượng lợi căn nên chánh niệm
chẳng tán. Thai ấy ở bụng mẹ chịu khổ như vậy.
Lúc sắp
sanh, đau khổ mà ra ngoài. Do nghiệp phong ấy làm
cho hai tay giao hiệp, gân cốt co rút rất khổ sở, thân
thể xanh bầm như sưng thũng khó chạm đến được, đói
khát bức ngặt, tim treo nhiệt não, do nghiệp lực nên
có gió thổi xô ra. Đã được ra ngoài bị hơi gió
chạm đến đau như dao cắt như đụng lửa than, tay người
hay khăn chiếu đụng đến đều rất đau đớn. Dầu
bị khổ nhưng do thượng lợi căn nên chánh niệm chẳng
tán loạn biết nhập thai ở thai ra ngoài đều rất khổ.
Ai là người trí lại ưa thích nhập thai mẹ.
Nầy Nan
Đà ! Ai nhập và thụ thai có chánh niệm còn lúc
xuất thai chẳng chánh niệm ?
Có hạng
hữu tình tánh ưa trì giới tu tập phẩm lành thường
làm thắng sự tạo phước, tâm họ chất trực chẳng
phóng dật có ít trí huệ, lúc lâm chung không hối tiếc.
Đây hoặc là bực Dự Lưu bảy đời, hoặc bực Gia
Gia sáu đời đến hai đời, hoặc bực Nhứt Lai, hoặc
bực Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Người này do trước
đã tu hạnh lành, nên dầu lúc lâm chung các khổ bức
ngặt mà tâm chẳng loạn lại còn chánh niệm nhập vào
thai mẹ biết rõ các pháp, do nghiệp sanh ra thì đều
từ các nhân duyên mà được sanh khởi, ở bụng mẹ
và lúc ra ngoài đều chịu nhiều đau khổ, do trung lợi
căn nên nhập thai và trụ thai có chánh niệm mà lúc
xuất thai thì không. Ai là người trí lại thích
nhập thai mẹ.
Nầy Nan
Đà ! Ai nhập thai có chánh niệm mà trụ và xuất
thai thi không ?
Có hạng
hữu tình tánh ưa trì giới tu tập phẩm lành thường
làm thắng sự tạo phước, tâm họ chất trực chẳng
buông lung có ít trí huệ, lúc lâm chung không hối tiếc.
Đây hoặc là bực Dự Lưu bảy đời, hoặc là bực
Gia Gia sáu đến hai đời, hoặc là bực Nhứt Lai hoặc
là bực Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Lúc lâm chung
dầu nhiều đau khổ mà tâm chẳng tán loạn lại còn
chánh niệm nhập vào thai mẹ, vì là bực hạ lợi căn
nên lúc ở thai và lúc xuất thai không chánh niệm.
Ai là người trí lại thích vào thai mẹ.Nầy Nan Đà
! Ai nhập trụ và xuất thai đều không chánh niệm
?
Có các
hữu tình ưa phá giới chẳng tu thiện phẩm thường
làm việc ác tạo nghiệp ác, tâm chẳng chất trực
nhiều buông lung không trí huệ tham của bỏn xẻn tay luôn
co rút chẳng thể mở giăng ban bố cho người, luôn hi
vọng lòng chẳng điều thuận, kiến và hành điên đảo,
lúc lâm chung hối hận các nghiệp bất thiện hiện
ra, đương lúc chết rất khổ sở bức thiết, làm họ
tán loạn chẳng tự nhớ biết tôi là ai từ đâu đến
nay đi chỗ nào, đây gọi là ba thời kỳ nhập thai trụ
thai và xuất thai đều không chánh niệm.
Nầy Nan
Đà ! Các hữu tình ấy sanh làm người dầu có
vô lượng khổ não như vậy nhưng là chỗ tốt, trong
vô lượng kiếp khó được thân người.
Nếu sanh
cõi trời thường sợ trụy lạc, có khổ ái biệt ly,
lúc lâm chung, chư Thiên bảo rằng : Nguyện ông được
thác sanh thiện đạo, đó là trời người.
Nhơn đạo
khó được, xa rời các chỗ nạn chướng lại càng khó.
Những gì
là ác đạo ? Đó là địa ngục đạo thường bị
khổ thiết khó ví dụ được. Ngạ quỉ đạo tánh nhiều
sân hận không tâm nhu nhuyến, dối gạt giết hại, lấy
máu nhuộm tay không có tình thương hình dung xấu xí
ai thấy cũng kinh sợ, dầu đến gần người nhưng vì
đói khát nên luôn bị chướng ngại. Bàng sanh đạo
vô lượng vô biên, tạo việc vô nghĩa, việc vô phước,
việc vô pháp, việc bất thiện, việc không thuần chất,
ăn nuốt lẫn nhau kẻ mạnh lấn kẻ yếu. Có các
bàng sanh lúc sanh lúc sống lúc chết đều ở trong chỗ
bất tịnh phẩn dơ hôi thúi tối tăm. Hoặc có loại
tạm ra ánh sáng như ong bướm muỗi ruồi kiến mối
rận rệp. Ngoài ra có vô lượng vô biên giống sanh
trưởng thường tối tăm. Do vì chúng nó ở đời
trước là kẻ ngu si chẳng nghe kinh pháp, phóng túng nơi
ngũ dục tạo nghiệp ác nên sanh trong các loài thọ lấy
khổ ngu mê tăm tối.
Nầy Nan
Đà ! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình
nghe mùi phẩn dãi liền chạy đến lấy đó làm món
ăn uống, đó là các giống heo dê chó gà chồn kên
quạ ruồi nhặng bọ hung, chúng nó do nghiệp ác đời
trước mà tự cảm lất báo ấy.
Nầy Nan
Đà ! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình
sanh và sống đều ở trong nước như thủy tộc cá tôm
v.v..., chúng nó do nghiệp ác đời trước mà tự cảm
lấy báo ấy.
Nầy Nan
Đà ! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình
thường lấy cỏ cây và các thứ bất tịnh làm món
ăn uống, như voi ngựa trâu bò đà lừa, chúng nó do
nghiệp ác đời trước mà thọ báo ấy.
Nầy Nan
Đà ! Biển khổ sanh tử rất khổ rất khổ, lửa
nóng đốt cháy, không một hữu tình nào là chẳng
bị thiêu đốt. Các hữu tình ấy do nơi ngọn lửa
phừng mạnh nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý tham cầu trần
cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp.
Thế nào
gọi là ngọn lửa phừng mạnh ?
Nầy Nan
Đà ! Đó là những ngọn lửa tham sân si, những ngọn
lửa sanh lão bịnh tử, những ngọn lửa ưu bi khổ não
độc hại thường tự đốt cháy không một ai được
khỏi.
Nầy Nan
Đà ! Người giải đãi thọ nhiều khổ sở, họ bị
phiền não vây buộc mà tạo nghiệp ác, nên luân hồi
chẳng dứt, sanh tử chẳng hết. Người tinh tấn
thọ nhiều an lạc, phát tâm dũng mãnh dứt trừ phiền
não, tu tập pháp lành chẳng bỏ việc thiện không lúc
nào thôi nghỉ.
Các ông
phải quan sát thân thể này da thịt gân xương máu mạch
tủy não sẽ tan rã chẳng lâu, thường phải nhứt tâm
chớ để giải đãi, người chưa chứng đắc phải siêng
cầu chứng ngộ. Các ông cần phải học tập như
vậy.
Nầt Nan
Đà ! Phật chẳng cùng thế gian làm những tranh
luận, nhưng thế gian đối với phật lại cưỡng làm
tranh luận. Tại sao ?
Vì những
người biết rõ các pháp chẳng tranh luận với ai, đã
rời lìa ngã và ngã sở thì còn ai tranh luận với
ai.
Do vì thế
gian không thấy hiểu mà vọng phát khởi chấp trước,
nên Phật chứng Đẳng Chánh Giác tuyên lời rằng Phật
ở nơi các pháp không gì chẳng biết rõ.
Nầy Nan
Đà ! Phật nói có sai dị chăng ?
- Bạch đức
Thế Tôn ! Đức Phật nói không sai dị.
- Nầy Nan
Đà ! Lành thay, tốt thay ! Như Lai nói quyết
không sai dị. Như Lai là đấng chơn ngữ, đấng thiệt
ngữ, đấng như ngữ, đấng bất dị ngữ, là người
muốn tất cả thế gian mãi mãi an vui được thắng lợi
lớn, là người biết đạo, là người hiểu đạo, người
thuyết đạo, người khai đạo, là Đại đạo sư, Như Lai,
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Người thế
gian vô tri vô tín, thường làm nô bộc cho các căn, chỉ
thấy trong bàn tay mà chẳng nhìn lợi lớn chơn thiệt,
việc dễ chẳng tu, việc khó lại luôn làm.
Nầy Nan
Đà ! Thôi đi. Cảnh giới trí huệ như đây,
nay ông phải dùng nhục nhãn để quan sát những thứ
ấy được. Biết những thứ được thấy đều
là hư vọng thì gọi là giải thoát.
Nầy Nan
Đà ! Ông chớ tin Phật, chớ theo chỗ muốn của
Phật, chớ y lời của Phật, chớ xem tướng Phật, chớ
theo chỗ thấy hiểu của Sa Môn, chớ phát sanh cung kính
đối với Sa Môn, chớ nói Sa Môn Kiều Đàm là đại
sư của tôi, mà ông chỉ nên ở nơi pháp được tự chứng
của Phật riêng tại chỗ tịch tĩnh suy lường quan sát
thường siêng tu tập, tùy theo pháp đã được dụng tâm
quan sát, liền theo pháp ấy quán tưởng cho thành tựu,
chánh niệm ở yên nơi đó, tụ làm cồn bãi, tụ làm
nương về, pháp là cồn bãi là chỗ nương về, không
có cồn bãi nào khác, không có chỗ về nào khác.
Nầy Nan
Đà ! Thế nào là Tỳ Kheo tự mình làm cồn bãi
chỗ về ?
Nầy Nan
Đà ! Nếu có Tỳ Kheo theo nội thân của mình quan
sát siêng gắng nhiếp niệm được chánh hiểu rõ, đối
với thế gian có bao nhiêu giận não thường suy xét điều
phục, đây gọi là theo nội thân quan sát là khổ.
Nếu quan sát ngoại thân và nội ngoại thân cũng như vậy.
Nầy Nan
Đà ! Ông ở nơi tập pháp quan sát nơi thân rồi
an trụ nơi đó, quan sát nơi diệt rồi an trụ nơi đó.
Lại ở nơi tập và diệt hai pháp quan sát nơi thân rồi
lại an trụ nơi đó. Tức ở thân nầy hay thành chánh
niệm. Hoặc chỉ có trí, hoặc chỉ có kiến, hoặc
chỉ có niệm, hoặc không y tựa mà an trụ, đối với
thế gian nầy biết là không lấy được. Đây gọi
là Tỳ Kheo ở nơi tự nội thân theo nội thân quan sát
mà an trụ nơi đó, quan sát ngoại thân và nội ngoại
thân cũng vậy.
Kế quan
sát nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ mà an trụ nơi
đó. Kế quan sát nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại
tâm mà an trụ nơi đó. Kế quan sát nội pháp, ngoại
pháp, nội ngoại pháp rồi an trụ nơi đó. Siêng
gắng nhiếp niệm được chánh hiểu rõ, đối với
thế gian có bao nhiêu giận não đều thường suy xét
điều phục, quan sát tập pháp rồi an trụ, quan sát diệt
pháp rồi an trụ, lại quan sát tập diệt hai pháp rồi
an trụ. Tức ở nơi thân nầy hay thành chánh niệm, hoặc
chỉ có trí, hoặc chỉ có kiến, hoặc chỉ có niệm,
với các thế gian nầy biết không lấy được.
Đây gọi
là Tỳ Kheo tự làm cồn bãi chỗ về nương, pháp làm
cồn bãi chỗ về nương, không có cồn bãi chỗ về
nương nào khác.
Nầy Nan
Đà ! Nếu có trượng phu bẩm tánh chất trực
không siểm cuống, lúc sáng sớm đến chỗ Phật, Phật
đem pháp lành tùy cơ chỉ dạy. Người ấy đến
chiều tự trình bày sở đắc. Hoặc chiều chỉ
dạy đến sáng trình bầy sở đắc.
Nầy Nan
Đà ! Pháp lành của Phật hiện được chứng ngộ hay
trừ nhiệt não khéo ứng thời cơ dễ làm phương tiện,
là pháp tự giác khéo hay che chở. Người đối
trước Phật thân nghe Phật nói pháp thuận với tịch
diệt Niết bàn hay đến Bồ đề Chánh giác, đây là
chỗ biết của Phật. Vì thế nên nay ông thấy các
pháp tự lợi , lợi tha hoặc tự tha đều lợi phải
thường tu học. Với pháp xuất gia nên cẩn thận
thật hành chớ để luống qua. Như vậy sẽ được
thắng quả vô vi an lạc đáng được thọ cúng dường,
làm cho các thí chủ được phước lợi lớn được
quả báo rất tốt tôn quí quảng đại. Các ông phải
nên tu học như vậy.
Lại nầy
Nan Đà ! Chưa có một sắc pháp nào là đáng được
mến ưa và có thể về sau chẳng biến hoại. Chưa
có sắc pháp nào chẳng phát khởi ưu bi chẳng sanh phiền
não.
Nầy Nan
Đà ! Sắc ấy là thường hay vô thường ?
- Bạch Thế
Tôn ! Thể nó là vô thường.
- Nầy Nan
Đà ! Đã là vô thường thì nó là khổ chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Là khổ.
- Này Nan
Đà ! Đã là vô thường là khổ tức là pháp
biến hoại. Các đệ tử đa văn của Phật có cho
sắc là ngã, ngã có sắc, sắc thuộc ngã, ngã ở
tại trong sắc chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không cho như vậy.
- Nầy Nan
Đà ! Thọ tưởng hành và thức là thường hay vô
thường ?
- Bạch Thế
Tôn ! Là vô thường.
- Nầy Nan
Đà ! Đã là vô thường thì thọ tưởng hành thức
có là khổ chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Đều là khổ.
- Nầy Nan
Đà ! Đã là vô thường khổ tức là pháp biến
hoại. Các đệ tử đa văn của Phật có cho rằng
thọ v. v... là ngã, ngã có thọ v.v... , thọ v.v... thuộc
ngã, ngã ở trong thọ v.v... chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Đều không cho như vậy.
- Nầy Nan
Đà ! Do đó mà biết rằng phàm là sắc, hoặc
quá khứ. Hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc nội,
hoặc ngoại, hoặc thô, hoặc tế, hoặc thắng, hoặc
liệt, hoặc cận, hoặc viễn, tất cả sắc đều chẳng
phải ngã, ngã chẳng có sắc, sắc chẳng thuộc ngã,
ngã chẳng ở trong sắc. Phải dùng chánh niệm chánh
huệ mà quan sát vậy. Với thọ tưởng hành và
thức cũng dùng chánh niệm chánh huệ mà quan sát như
vậy. Nếu đệ tử đa văn của Phật quan sát như
vậy, chán sợ nơi sắc, chán sợ thọ tưởng hành thức.
Đã chán sợ thì không nhiễm trước liền được giải
thoát. Đã giải thoát rồi tự biết mình giải
thoát mà tuyên lời rằng sự sanh của tôi đã hết,
phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong chẳng còn thọ
thân sau".
Phật nói
pháp ấy xong, Cụ thọ Nan Đà xa trần rời cấu được
pháp nhãn thanh tịnh, năm trăm Tỳ Kheo ở nơi hữu lậu
tâm được giải thoát.
Đức Thế
Tôn lại nói kệ bảo Nan Đà rằng :
"Nầy người
không chánh định