Bấy
giờ Tịnh Phạn Vương và quyến thuộc thấy A Tu La nhẫn đến
trời Quảng Quả cúng dường Phật được thọ ký, cũng nghe
trời Tịnh Cư nói kệ tán thán Phật, lại thấy ngoại đạo
cũng được thọ ký, nhà vua suy nghĩ rằng : Việc ấy hi hữu
chẳng nghĩ bàn được. Ðức Thế Tôn rất khéo nói như vậy,
tất cả thế gian rồi đều vui mừng.
Do ái luyến
con trai mình nên Tịnh Phạn Vương đối với đức Phật tình
ý rất ân cần. Ðức Thế Tôn nói với Tịnh Phạn Vương
rằng : “Pháp của Phật nói, trước giữa sau đều thiện
cả, nghĩa ấy sâu xa, vị ấy thuần thiện thanh tịnh không
xen tạp thanh bạch không ô nhiễm, nói rõ pháp phạm hạnh.
Những phạm hạnh gì ? Ðó là pháp môn phân biệt lục giới.
Nay vua nên
lắng nghe khéo suy nghĩ sẽ vì vua mà nói ”.
Vua nói :
“ Lành thay, nay tôi nghe kỹ xin Phật nói cho”.
Ðức Phật
nói : “ Nầy Ðại Vương ! Gì là pháp môn phân biệt lục
giới ?
Nầy Ðại
Vương lục giới được nói đó là trượng phu, lục xúc nhập
cũng là trượng phu, thập bát ý thức cảnh giới cũng là
trượng phu.
Nầy Ðại
Vương ! Cớ gì Phật nói lục giới tức là trượng phu ? Những
gì là lục giới ? Ðó là địa giới, thủy giới, hỏa giới,
phong giới, không giới và thức giới.
Nói rằng
lục giới là trượng phu đó là đây vậy.
Cớ gì Phật
nói lục xúc nhập gọi là trượng phu? Nhũng gì là lục xúc
nhập ? Ðó là vì nhãn xúc nhập thấy các sắc, nhĩ tỷ thiệt
thân cũng như vậy, nhẫn đến vì ý xúc nhập biết các pháp.
Nói rằng
lục xúc nhập là trượng phu đó là đây vậy
Có gì Phật
nói mười tám ý thức cảnh giới là trượng phu ? Gì
là mười tám ý thức cảnh giới ? Ðó là nhãn thấy
được sắc khả ý do ức
Tưởng phân
biệt mà sanh tư giác, thấy sắc bất khả ý cũng ức tưởng
phân biệt mà sanh tư giác, thấy sắc xả ý cũng ức tưởng
phân biệt mà sanh tư giác. Nhĩ tỷ thiệt thân cũng như vậy.
Nhẫn đến ý biết pháp khả ý, biết pháp xả xứ ý đều
ức tưởng phân biệt.
Nói rằng
thập bát ý thức cảnh giới là trượng phu đó là đây vậy.
Nầy Ðại
Vương địa giới có hai thứ : đó là nội và ngoại.
Nội địa
giới là trong tự thân được có những thứ cứng rắn có
được có lấy như là tóc long móng răng da thịt gân xương
tủy não ngũ tạng lục phủ đại tiện
ngoại địa
giới là ngoài thân có những thứ cứng rắn chẳng được
chẳng lấy.
Nầy
Ðại Vương ! địa giới trong thân, lúc nó sanh không từ đâu
đến, lúc nó diệt cũng không đi đâu.
nầy Ðại
Vương : Có lúc nữ nhơn tự phân biệt tôi là nư’ nhơn,
thấy nam tử kia lại sanh phân biệt kia là nam tử, bèn sanh
ý tưởng dục ưa muốn hòa hiệp mà sanh ái nhiễm nơi nam
tử ấy.
Có lúc nam
tử ấy tự phân biệt tôi là nam tử, thấy nữ nhơn kia bèn
sanh phân biệt kia là nữ nhơn rồi sanh ái nhiễm.
Nam tử và
nữ nhơn ấy đều sanh ái nhiễm mà cùng hòa hiệp. Do hòa
hiệp mà có ca la lã.
Nầy Ðại
Vương ! Nam tử phân biệt ấy và sự được phân biệt, cả
hai đều bất khả đắc, nam tử và tánh nam tử cũng bất
khả đắc, do đó chẳng tương tục mà sanh phân biệt. Phân
biệt ấy tự tánh cũng bất khả đắc. Như phân biệt tự
tánh bất khả đắc, hòa hiệp và hòa hiệp tư( tánh cũng
bất khả đắc, ca la lã và ca la lã tư( tánh cũng bất khả
đắc.
Nếu tự
tánh bất khả đắc thì nó làm sao sanh được yết bồ đàm
?
Nầy Ðại
Vương ! Nhơn phân biệt mà sanh ra có thứ cứng rắn ấy.
Thứ cứng rắn lúc sanh không có từ đâu đến.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc thân nầy rốt cuộc làm tử thi. Tử thi cứng
rắn ấy lúc biến hoại nó chẳng về phương Ðông cũng chẳng
về phương Nam phương Bắc phương Tây bốn cạnh trên dưới.
Như trên
ấy, đó là nội thân địa giới.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc thế gian đây đều trống rỗng, lại
sanh Phạm Thiên cung điện thất bửu. Tướng cứng rán của
cung điện ấy lúc sanh không từ đâu đến.
Tướng cứng
rắn của cung điện thất bửu trời Tha Hóa Tự Tại, trời
Hóa Lạc, trời Ðâu Suất, trời Dạ Ma, trời Ðao Lợi, trời
Tứ Thiên Vương, lúc sanh không từ đâu đến.
Núi Thiết
Vi, núi Ðại Thiết Vi cứng rắn,lú sanh không từ đâu đến.
Nhẫn đến núi Tu Di, khắp cõi tam thiên Ðại Thiên , tất
cả thứ cứng rắn trong ấy, lúc sanh không từ đâu đến.
Ðại địa
nầy dày một trăm sáu mươi vạn do tuần, lúc sanh không từ
đâu đến.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc thế giới nầy hư hoại. Lúc sắp hoại, đại
địa hoặc bị lửa cháy nát, hoặc bị nước trôi rã, hoặc
bị gió thổi tan. Lúc lửa cháy đại địa nầy cho đến khói
tro không còn thấy, như dầu tô bị lửa cháy tan biến không
sót thừa, như lấy muối bỏ vào nước tiêu tan hết cả.
Lúc bị gió thổi hoại cũng không còn sót thừa, như
gió mạnh tỳ lam thổi tan mất bầy phi điểu không còn sót
thừa. Ðịa giới trong ấy lúc tan diệt cũng không đi đâu.
Nầy Ðại
Vương ! Ðúng vậy đúng vậy, nội thân địa giới và ngoại
thân địa giới, lúc nó sanh không từ đâu đến, lúc nó diệt
cũng chẳng đi đâu. Lúc nó sanh cũng không lúc nó trụ cũng
không. Sanh và trụ hai thời gian thể tánh đều không.
Nầy Ðại
Vương ! Thủy giới cũng có hai thứ : nội và ngoại.
Nội thân
thủy giới là những thứ nước, tánh nước, thể nước,
hoặc nhuần, tánh nhuần, thể nhuần ở trong thân, như nước
mắt, nước mũi, mồ hôi, nước miếng, mủ, máu, đàm, mỡ,
tủy, sữa, tiểu tiện.
Ngoại thân
thủy giới là những nước tánh nước thể nước và nhuần
tánh nhuần thể nhuần mà thân chẳng được chẳng nhiếp.
nầy Ðại
Vương ! Thủy giới trong thân ấy, lúc nó sanh không từ đâu
lại, lúc nó diệt cũng chẳng đi đâu. Như líc thấy người
yêu thương thì trong mắt chảy nước mà lúc bị khổ trong
mắt cũng chảy nước, lúc nghe pháp kính tin nước mắt chảy
ra mà bị phong hàn cũng chảy nước mắt, lúc mắt nhặm đỏ
cũng vậy.
Nước mắt
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng chẳng đi
đâu.
Nầy Ðại
Vương có lúc thủy giới trong thân tăng trưởng quá nhiều
có thể diệt hỏa giới trong thân. Lúc hỏa giới ấy diệt,
nó không đi đến đâu. Có lúc hỏa giới trong thân quá tăng
thạnh hay làm khô cạn thủy giới trong thân. Lúc bị đốt
cạn, thủy giới ấy đi không đến đâu.
Nầy Ðại
Vương ! Hỏa giới và thủy giới trong thân ấy, lúc sanh nó
không từ đâu đến, lúc diệt nó chẳng đi đâu. Lúc sanh
nó cũng không, thể tánh nó tự không.
Nầy Ðại
Vương !Có lúc thế giới nầy hư hoại. Lúc thế giới nầy
sắp hoại, trong không gian nổi lên ba mươi hai lớp mây đầy
trùm trắp tam thiên Ðại Thiên thế giới đến năm trung kiếp
mưa lớn không dứt, giọt mưa như tượng vương đái. Sau đó
lại trải qua năm trung kiếp mưa thật to lớn, nước ngập
đầy đến Phạm Thiên.
Nầy Ðại
Vương ! Thủy giới to lớn ấy, lúc đầu sanh không từ đâu
đến.
Nầy Ðại
Vương ! Lại có lúc thế giới nầy hư hoại. Lúc sắp hoại,
trong thế giới nầy có hai mặt nhựt xuất hiện, bấy giờ
suối nguồn sông nhỏ đều khô cạn.
Kế đến
có bốn mặt nhựt xuất hiện, bấy giờ nguồn nước của
các sông lớn đều khô hết.
Kế đến
có năm mặt nhựt xuất hiện, bấy giờ nước trong đại hải
lần lần khô cạn từ một do tuần, lần lần khô cạn đến
mười do tuần, trăm do tuần, ngàn do tuần, vạn do tuần, đến
bốn vạn bốn ngàn do tuần đều khô cạn.
Bấy giờ
nước còn thừa trong đại hải từ bốn vạn do tuần, lần
lần còn ba vạn, hai vạn, một vạn, chín ngàn, tám ngàn đến
còn một ngàn do tuần, lần lần cạn còn thừa chín trăm tám
trăm đến một trăm do tuần, lần lần cạn còn thừa chín
mươi đến còn mười do tuần, cạn lần còn thừa chín đến
một do tuần, cạn lần còn thừa năm dặm đến mười đa
la thọ , chín đến còn một đa la thọ, cạn lần cho đến
chỉ còn vũng ướt như dấu chơn.
Bấy giờ
trong đại hải chỉ còn chút tướng ẩm ướt như lúc tròi
mưa thoạt ướt thoạt khô.
Lần đến
lúc trong đại hải hơi nước chỉ còn thắm mặt ngón tay.
Nầy Ðại
Vương ! Thủy giới ấy lúc lần lần diệt, nó đi chẳng đến
đâu, mười phương đều không đến, lúc sanh nó cũng không,
lúc trụ nó cũng không, lúc diệt nó cũng không. Tánh thủy
giới ây bất khả đắc chỉ có riêng tác dụng thôi. Nhưng
tác dụng ấy chẳng phải nam chẳng phải nữ không có tướng
để được. Nầy Ðại vương hỏa giới cũng có hai thứ :
: nội và ngoại.
Nội hỏa
giới là trong thân chỗ có hỏa, hỏa thể, hỏa tướngvà
nhiệt, nhiệt thể, nhiệt tướng. Ðó là trong thân có hơi
ấm nóng hay làm tiêu hóa thức uống ăn nhập vào số nhiệt
độ ấy.
Ngoại hỏa
giới là những hỏa, thể hỏa, tướng hỏa và hơi ấm nóng
ở ngoài thân chẳng lấy chẳng thọ ấy.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc ca la lã trong bào thai, thân nội hỏa giới
tăng thạnh làm thủy giới lần kém nên ca la lã đặc lần
cứng lần. Như,đồ kim khí do hỏa lực mà lần cứng
rắn. Ca la lã cứng đặc thì gọi là yết bồ đàm. Yết bò-
đàm do hỏa lực mà thành tên là ty thi ca. Ty thi ca do hỏa
lực mà thành tên là kiên cố.kiên cố do hỏa lực mà thành
mọc ra năm nhánh.
Ðúng vậy,
nầy Ðại Vương ! Thủy giới ấy do hỏa giới thành thục
như vậy như vậy. Thủy giới ấy lần đặc lần cứng mà
thành khối thịt.
Nầy Ðại
Vương! Lúc hỏa giới ấy sanh, nó không từ đâu lại, mà
có thể đốt tiêu thủy giới.
Nầy Ðại
vương ! Có lúc trong thân người hỏa giới lần diệt tận.
Vì hỏa giới diệt tận nên đồ ăn uống không tiêu hóa mà
người bệnh ấy không thể ăn uống được. Vì không ăn uống
được nên ho”a giới diệt hết mà người bệnh phải chết.
Nầy Ðại
Vương! Hỏa giới lúc diệt, nó chẳng đi đến mười phương.
Lúc sanh nó cũng không, lúc diệt nó cũng không, mà hỏa giới
ấy từ nào thể tánh nó tự không.
Nầy Ðại
Vương! Có thời kỳ thế giới hư hoại. Lúc thế giới hoại
hỏa giới ngoài thân tăng thạnh cháy đỏ suốt khắp cả
tam thiên Ðại Thiên thế giới.
Nầy Ðại
Vương ! Lửa ngoài thân ấy, lúc sanh không tưé đâu đến.
Nầy Ðại
vương ! Lại có lúc khối lửa lớn ấy cháy khắp cõi Ðại
Thiên rồi tắt. Lúc lửa ấy diệt, nó chẳng đến đâu, chẳng
đến mười phương.
Nầy Ðại
Vương ! Hỏa giới ngoài thân ấy, lúc sanh cũng không, lúc
diệt cũng không, thể tánh nó tự không, chẳng phải có, chẳng
thể được. Chỉ là riêng dụng, nhưng riêng dụng ấy chẳng
phải nam chẳng phải nữ.
Nầy Ðại
Vương ! Phong giới cũng có hai thứ : nội và ngoại.
Gì là phong
giới trong thân ? Trong thân mình và trong thân người được
có phong giới bị thọ bị lấy, thể phong, danh phong, tốc
tật, thể tốc tật,, danh tốc tật. Ðó là ở nơi tứ chi
là phong, ở nơi tỳ vị là phong đi nơi năm vóc là phong, đi
nơi lóng đốt chi phần là phong, hơi thở ra vào cũng là phong.
Nói tóm lại, đi khắp trong thân thể đều là phong.
Có lúc phong
giới trong thân ấy tăng thạnh tập hiệp có thể làm cho thủy
giới khô khan, cũng có thể làm tổn giảm hỏa giới, do đó
thân người không nhuận trạch cũng không ấm nóng, bụng phình
trướng, tay chưn co cúng, các mạch máu căng đầy, gân nóng
rút giựt rất đau khổ hoặc phải chết.
Nầy Ðại
Vương ! Phong giới trong thân ấy, lúc sanh không từ đâu đến.
Nầy Ðại
vương !
Người bịnh
phong ấy hoặc gặp lương y cho đúng thuốc hay nên bịnh phong
dứt hết. Lúc phong giới ấy diệt, cũng không đi đâu. Lúc
nó sanh cũng không, lúc nó diệt cũng không, thể tánh nó tự
không.
Gì là phong
giới ngoài thân ?
Nầy Ðại
Vương ! Ngoài thân được có , thân chẳntg thủ chẳng thọ,
thể phong, danh phong, tốc tật, danh tốc tật, đây gọi là
phong giới ngoài thân.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc ngoại phong giới ấy tăng thạnh tập hiệp
làm rụng lá gãy nhánh, gãy cây trốc gốc, lở non ngã núi,
tan nátthành vi trần, cả cõi Ðại Thiên nầy bị gió mạnh
ấy thổi lăn chuyển xoay tròn. Như thợ gốm lấy gậy xoay
chuyển vòng khuôn, cõi Ðại Thiên nầy bị gió thổi xoay tròn
cũng vậy. Như chút ít bột mịn bị gió thổi tan khó thấy
được, cõi Ðại Thiên nầy bị gió mạnh thổi tan thành vi
trần cũng khó thấy được . Như lúc có gió lớn lấy
nắm đất rải theo gió bay tan khó thấy được, cõi Ðại
Thiên nầy lúc bị gió mạnh thổi tan cũng khó thấy được
như vậy.
Nầy Ðại
Vương phong giới ngoài thân ấy, lúc sanh không từ đâu đến.
Lại như
đầu mùa hạ không gió cây cỏ khô héo.
Nầy Ðại
Vương ! Ngoại phong giới ấy, lúc diệt nó không đi đâu.
Phong giới
ấy lúc sanh cũng không, lúc diệt cũng không, thể tánh nó
tự không.
Nầy Ðại
Vương !Nội phong giới và ngoại phong giới ấy cả hai đều
không. Thể tánh nó tự ly, tướng cũng tự ly, tánh cũng bất
khả đắc, tướng diệt cũng ly.
Tại sao ?
Vì phong giới ấy chẳng phải tác, không có tác giả vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Gì là hư không giới ? Nó cũng có hai thứ : nội và
ngoại.
Gì là nội
hư không giới ? Hoặc trong thân mình, hoặc trong thân người
được thọ được lấy, đó là hư không, thể hư không, danh
hư không, trong thân sanh ra ấy nhập vào số các ấm các xứ
và các giới bao nhiêu những lỗ huyệt. Ðây gọi là nội
hư không giới.
Gì là ngoại
hư không giới ? Ðó là ngoài thân có chẳng phải sắc, rỗng
không nhẫn đến không có lông nhỏ ấy gọi là hư không.
Ðây gọi laé ngoại hư không giới.
Nầy Ðại
Vương có lúc do nghiệp nhơn duyên nên sanh các nhạ-p. Các
nhập ấy được sanh rồi vây quanh không giới, bấy giờ được
gọi là vào số nội hư không giới.
Nầy Ðại
Vương trong mỗi mỗi pháp như vậy suy cầu không một nhãn
nhập có thể được, chỉ có tác dụng.
Nầy Ðại
Vương do có gì mà không ? Vì địa giới thanh tịnh vậy. Như
địa giới thanh tịnh nên không, thủy hỏa phong giới thanh
tịnh nên cũng không như vậy, nó không từ đâu đến.
Nầy Ðại
Vương ! Có lúc tất cả các sắc đều hoại diệt làm hư
không. Tại sao ? Vì hư không giới vô tận vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Chỉ nội hư không giới an trụ bất động.
Như vô vi
Niết bàn giới an trụ bất động, phải biết hư không giới
khắp tất cả chỗ cũng vậy.
Nầy Ðại
Vương !Như có người ở đồng hoang trống đào đất làm
ao làm giếng. Ý Ðại Vương thế nào, hư không ấy từ đâu
đến ?
Bạch Thế
Tôn ! Nó không từ đâu đến.
- Nầy Ðại
Vương ! Nếu người ấy lấy đất đắp lại. Ý Ðại Vương
thế nào, hư không ấy đi đến đâu ?
- Bạch Thế
Tôn ! Nó không đi đến đâu. Tại sao ? Bạch Thế Tôn ! Hư
không giới ấy không đến không đi. Tại sao ? Vì hư không
giới ấy chẳng phải nam chẳng phải nữ vậy
- Nầy Ðại
Vương ! Ngoại hư không giới cũng bất động tánh nó không
biến đổi. Hư không giới rỗng không chẳng phải là pháp
có. Tại sao ? Vì hư không giới chẳng phải nam chẳng
phải nữ vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Gì là thức giới ?
Như nhãn
làm chủ phan duyên nơi sắc, vì đối sắc mà biết nên thức
sanh ra hoặc biết được xanh vàng đỏ trắng các màu sắc,
cũng biết được dài vắn to nhỏ các hình sắc. Tất cả
những vật sắc mà nhãn thức thấy được ấy gọi là nhãn
thức giới.
Cũng vậy,
hoặc biết tiếng , biết hương, biết vị, biết xúc, hoặc
biết pháp, hoặc biết sáu căn ssở duyên sở tri thì gọi
đó là nhĩ thức giới đến gọi là ý thức giới.
Nầy Ðại
Vương ! Lại thức giới ấy chẳng y nương các căn, cũng chẳng
y nương nơi giới. Tại sao ? Vì chẳng phải địa tịnh sắc
làm nhãn nhập, chẳng phải thủy hỏa phong tịnh làm nhãn
nhập. Tại sao ? Chẳng phải địa giới thanh tịnh và các
pháp khác làm nhãn nhập và người có đủ nhãn nhập, chẳng
phải thủy hỏa phong giới thanh tịnh sắc và các pháp khác
làm nhãn nhập và người có đủ nhãn nhập. Tại sao ? Vì
các pháp vô tri vô liễu biệt vậy, không kham năng vậy, chẳng
phải sơ trung hậu vậy, chẳng phải nội ngoại trung gian vậy.
Nầy Ðại
Vương : Thức giới ấy biết cảnh trước rồi liền dứt
mất chẳng còn sanh lại. Thức ấy lúc sanh không từ đâu
đến, lúc diệt nó cũng không chỗ đến.
Nầy Ðại
Vương ! Gì gọi là nhãn nhập ?
Ðó là bốn
đại chủng cấu thành sắc thanh tịnh. Các pháp thể tánh
nếu là tự không, thì có gì là thanh , có gì là trược. trong
các pháp không có tịnh uế thì sao lại ở trong các pháp mà
thấy có tịnh uế.
Như vậy,
nầy Ðại Vương ! Vì thế nên biết nhãnh nhạ-p quyết định
thể tánbh cứu cánh không tịch, tiền tế hậu tế đều bất
khả đắc. Tại sao ?
Vì vị lai
chưa đến nên bất khả đắc, quá khứ đã diệt nên cũng
bất khả đắc. Vị lai và sự vị lai bất khả đắc. Nhãn
xứ ấy cũng bất khả đắc, vì tự tánh ly vậy. Nếu thể
tánh bất khả đắc thì cũng không có được tánh nam và tánh
nữ. Ðã không có tánh nam và tánh nữ thì nào có ngã ngã
sở.
Nầy Ðại
Vương ! Nếu có ngã ngã sở, đó là cảnh giới ma . Không
ngã không ngã sở thì gọi là cảnh giới chư Phật Như Lai.
tại sao ? Vì tất cả pháp ly ngã ngã sở vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như thiệt biết rõ nhãn nhập không, nhãn nhập tự
tánh không, tại sao ? Vì nhãnh nhập ấy tướng nó bất khả
đắc, thế nên nhãn nhập ấy thể tánh nó không tịch. Tánh
không ấy ly tướng nhãn nhập, đây gọi là vô tướng. Ở
nơi tướng không mong cầu nên gọi là vô nguyện. Ðây là
ở nơi nhãn nhập ba môn giải thoát hiện ra trước.
Nầy Ðại
Vương ! Gì là nhĩ nhập giới đến thân nhập giới ?
Nầy Ðại
Vương! Tất cả pháp ấy đối ba giải thoát môn, hiện tiền
quyết định đến pháp giới cứu cánh khắp hư không, chẳng
gọi được, chẳng nói được, chẳng dùng được, chẳng
chỉ được, không tranh luận, không ngữ ngôn, chẳng đo lường
được.
Nầy Ðại
Vương ! Ðem nhãn đối sắc gọi là điên đảo, nhĩ đối
thanh, tỷ đối hương, thiệt đối vị, thân đối xúc, ý
đối pháp, gọi là điên đảo. Vì thế các pháp gọi là ý
cảnh giới.
Nầy Ðại
Vương ! Nhãn nhập đối sắc qua thấy lấy dính có ba thứ
ngại : ngó thấy cảnh thuận sanh ý tưởng ái luyến, nếu
thấy cảnh trái sanh ý tưởng sân khuể, thấy cảnh trung dung
sanh ý tưởng không tham không sân, năm nhập kia đối cảnh
cũng có ba thứ ngại như vậy, nếu duyên cảnh thuận sanh
tâm ái, duyên cảnh nghịch sanh tâm sân, duyên cảnh trung dung
sanh tâm ngu hoặc. Cảnh giới như vậy là chỗ sở hành của
ý. Vì ý đi khắp nên gọi là ý cảnh giới.
Nầy Ðại
Vương ! Ý ấy hành nơi sắc thuận thì sanh tham dục, hành
nơi ssác trái thì khởi sân nộ, hành sắc trung dung thì khởi
ngu si. Như vậy, ý hành nơi thanh hương vị xúc cũng đều
có ba sự khởi tham sân si. Nghĩa là ý duyên cảnh thuận ý
pháp sanh tham dục, ý duyên cảnh trái ý pháp sanh sân khuể,
ý duyên cảnh trung dung ý pháp sanh khởi vô minh ngu si.
Nầy Ðại
Vương !Phải như vậy mà biết nơi các căn dường như ảo
hóa, biết cảnh giới ấy như mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như người trong mộng cùng các thể nữ và đại chúng
vui vầy. Người ấy sau khi thức dậy ghi nhớ sự việc trong
mộng nào đại chúng nào các thể nữ. Ý Ðại Vương thế
nào, sự việc được thấy trong mộng có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không có thiệt
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy đang lúc ở trong mộng cho là thiệt, có
phải là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không phải trí. Tại sao ? Ðại chúng và thể nữ được
thấy trong mộng cứu cánh là không, cũng là bất khả đắc,
huống lại cùng nhau vui vầy. Người ấy chỉ tự khổ nhọc,
trọn không có thiêt.
- Nầy Ðại
Vương ! Các phàm phu ngu si không học chánh pháp, thấy sắc
khả ý, mắt thấy sắc rồi sanh lòng chấp trước, sanh chấp
trước rồi khởi lòng ái trọng, khởi ái trọng rồi sanh
tâm nhiễm trước,sanh nhiễm trước rồi làm nghiệp trước,
đó là thân ba nghiệp, khẩu bốn nghiệp và ý ba nghiệp, tạo
nghiệp rồi liền dứt mất, nghiệp ấy dứt rồi nó chẳng
y nương
Ở mười
phương, nghiệp ấy nhẫn đến lúc lâm chung thức tối hậu
diệt thấy việc từ trước hiện ra trong tâm tưởng.
Nầy Ðại
Vương ! Người ấy, tự phần nghiệp dứt hết, nghiệp khác
hiện ra, giống như từ mộng thức dậy rồi nhớ sự việc
trong mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy, thức tối hậu làm chủ, nghiệp ấy làm
nhơn duyên, do hai duyên ấy mà trong phần sanh thức tâm bắt
đầu khởi hoặc sanh địa ngục, hoặc sanh súc sanh, hoặc
sanh giới diêm ma la, hoặc sanh A Tu La, hoặc sanh trong Nhơn Thiên.
Thức trước đã diệt, sanh phần thức sanh, sanh phần tương
tục tâm chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! không có một pháp nào từ đời nầy đến đời khác,
mà có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả ba 1o đều
chẳng hư mất. Không có người tác nghiệp, cũng không người
thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Lúc tối hậu thức ấy diệt gọi là tử số, nếu
sơ thức sanh thì gọi là sanh số.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy lúc khởi không từ đâu đến, lúc
nó diệt cũng không đến đâu. Duyên ấy lúc sanh không từ
đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu. Nghiệp ấy
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt không đến đâu. Tử
ấy lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu. Sơ thức lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng
không đến đâu. Sanh ấy không từ đâu đến, lúc diệt cũng
không đến đâu. Tại sao ? Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức
ấy, thể tánh hậu thức không. Duyên ấy, thể tánh duyên
không. Nghiệp ấy, nghiệp thể tánh không. Tử ấy, thể tánh
tử không. Sơ thức, thể tánh sơ thức không. Thọ, thể tánh
thọ không. Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể
tánh Niết bàn không.Khởi, thể tánh khởi không. Hoại, thể
tánh hoại không.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy, tác nghiệp và quả báo không hư mất, không
có người tác nghiệp, cũng không có người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không ấy là không giải thoát môn. Không ấy không có
tướng không là vô tướng giải thoát môn. Ðã không có tướng
thì cũng không có nguyện cầu gọi là vô nguyện giải thoát
môn.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy tất cả pháp đều đủ ba môn giải thoát,
cùng với không đi chung, đường trước là Niết bàn, xa rời
các tướng, xa rời nguyện cầu, cứu cánh Niết bàn giới,
quyết định như pháp giới, khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương! Nên biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng, tất
cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người trong mộng đấu với kẻ oán thù. Người
ấy thức dậy rồi ghi nhớ cùng kẻ địch đấu nhau. Ý Ðại
Vương thế nào, sự thấy trong mộng có thiệt chăng?
- Bạch Thế
Tôn! Không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy ở trong mộng cho sự ấy là thiệt thì
có phải là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không phải là trí . Tại sao ? Vì trong mộng cứu cánh
không có kẻ oán địch, huống là chiến đấu. Người ấy
huống tự nhọc nhằn đều không có thiệt.
Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
mắt thấy sắc bát khả ái, lòng họ chẳng vui thích mà sanh
chấp trước rội khởi tâm sân khuể làm cho tâm trược loạn
mà tạo nghiệp sân nơi thân ba, miệng bốn, ý ba thứ nghiệp.
Nghiệp ấy được tạo xong liền dứt mất. Nghiệp ấy dứt
rồi chẳng nương ở mười phương. Nghiệp ấy đến lúc lâm
chung tối hậu thức diệt thấy việc làm từ trước hiện
ra trong tâm tưởng.
Nầy Ðại
Vương ! Người ấy thấy nghiệp ấy hiện rồi, lòng họ kinh
sợ, tự phần nghiệp hết, nghiệp khác hiện ra, như lúc thức
dậy nhớ sự trong mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy tối hậu thức làm chủ, nghiệp ấy làm
nhơn duyên. Do hai duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm bắt
đầu khởi, hoặc sanh địa ngục súc sanh ngạ quỉ, hoặc
sanh A Tu La Nhơn Thiên. Thức trước diệt rồi, sanh phần thức
sanh. Sanh phần tương tục tâm chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! Không có một pháp nào từ đời nay đến đời sau
nhưng mà có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báo
đều chẳng hư mất. Không có người tác nghiệp cũng không
có người thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy lúc diệt thì gọi là tử số, nếu
sơ thức sanh thì gọi là sanh số.nầy Ðại Vương ! Hậu thức
ấy lúc khởi , nó không từ đâu đến, đến lúc diệt nó
cũng không đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Tử ấy,
lúc tử cũng không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Sơ thức
lúc sanh không từ đâu đến , lúc diệt cũng không đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức
ấy, thể tánh hậu thức không. Duyên ấy, thể tánh duyên
không. Nghiệp á-y, thể tánh nghiệp không. Tử ấy, thể tánh
tử không. Sơ thức ấy, thể tánh sơ thức không. Thọ sanh
ấy, thể tánh thọ sanh không. Thế gian, thể tánh thế gian
không. Niết bàn, thể tánh Niết bàn không. Khởi , thể tánh
khởi không. Hoại, thể tánh hoại không.
Nầy Ðại
Vương !Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất hư.
Không người tác nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ theo
thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không ấy là không giải thoát môn. Không ấy không có
tướng không nên là vô tướng giải thoát môn.Nếu đã vô
tướng thì không có nguyện cầu nên gọi là vô nguyện giải
thoát môn. Tất cả pháp đều đủ ba môn giải thoát cùng
đi chung với không, Niết bàn là con đường trước, xa lìa
các tướng, xa lìa nguyện cầu, cứu cánh Niết bàn giới,
quyết định như pháp giới, khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng,
tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như có người ở trong chiêm bao bị quỉ nhiễu não
lòng họ kinh sợ. Thức dậy, người ấy ghi nhớ quỉ trong
mộng. Ý Ðại Vương thế nào, quỉ được thấy trong mộng
có thiệt chăng?
- Bạch Thế
Tôn ! Không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy ở trong mộng cho là thiệt thì có phải
là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không phải là trí. Tại sao ? Vì trong mộng quỉ còn
không có huống là sợ. Người ấy luống tự nhọc nhằn đều
không có thiệt.
- Nầy Ðại
vương ! Cũng vậy hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
mắt thấy xả xứ sắc lòng họ chấp trước rồi tạo nghiệp
chấp trước nơi thân ba miệng bốn ý ba thứ nghiệp. Nghiệp
ấy được tạo rồi liền dứt mất. Nghiệp ấy diệt rồi
chẳng nương ở mười phương.
Nghiệp ấy
đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt thấy nghiệp
đã tạo từ trước hiện ra trong tâm tưởng.
Nầy Ðại
Vương ! Người ấy thấy rồi lòng họ kinh sợ, tự phần
nghiệp hết, nghiệp khác sanh ra, giống như thức dậy nhớ
sự việc trong mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy tối hậu thức làm chủ, nghiệp ấy làm
nhơn duyên, do hai duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm ban
đầu khởi, hoặc sanh địa ngục v.v… đến sanh trong Nhơn
Thiên. Thức trước diệt, sanh phần thức sanh, sanh phần tương
tục tâm chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! Không một pháp nào từ đời nay đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báo đều chẳng
mất hư. Không có người tác nghiệp và thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy lúc diệt gọi là tử số. Nếu sơ
sanh gọi là sanh số.
Hậu thức
ấy , lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Tử ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Sơ thức
ấy, lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên không. Nghiệp,
Thể tánh nghiệp không. Tử, thể tánh tử không.Sơ thức,
thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không.
Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể tánh Niết
bàn không. Khởi, thể tánh khởi không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư , không người tác nghiệp cũng không người thọ báo. Chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương !Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không ấy là không giải thoát môn. Không ấy không có
tướng không là vô tướng giải thoát môn. Nếu đã vô tướng
thì không nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Tất cả
pháp đều đủ ba môn giải thoát, cùng đi chung với không.
Niết bàn là con đường trước, xa lìa các tướng, xa lìa
nguyện cầu cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp
giới, khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng.
Tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người trong mộng thấy nữ nhơn đoan chánh đệ
nhứt trong nước, ở bên nữ nhơn ấy được nghe âm nhạc
vi diệu khả ái. Người ấy gần nữ nhơn nghe âm nhạc
thọ vui ngũ dục. Sau khi thức dậy, người ấy ghi nhớ âm
nhạc vi diệu khả ái trong mộng. Ý Ðại vương thế nào,
âm nhạc được nghe trong mộng có thiệt không ?
- Bạch Thế
Tôn không thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Trong mộng người ấy cho là thiệt thì có phải là
trí chăng?
- Bạch Thế
Tôn không phải trí. Tại sao ? Trong mộng nữ nhơn và âm nhạc
cứu cánh đều không huống là vui ngũ dục. Người ấy luống
tự nhọc nhằn đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
họ thấy nữ nhơn và nghe âm nhạc thích ý sanh lòng nhiễm
trước rồi tạo nghiệp nhiễm trước nơi thân ba miệng và
ý ba thứ nghiệp. Nghiệp ấy được tạo rồi liền dứt diệt.
Nghiệp ấy diệt rồi chẳng nương ở mười phương. Nghiệp
như vậy đến lúc lâm chung , tối hậu thức diệt, thấy nghiệp
đã làm từ trước hiện ra trong tâm tưởng. Người ấy thấy
rồi sanh lòng kinh sợ, tự phần nghiệp hết, nghiệp khác
sinh ra , giống như thức dậy nhớ sự trong mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy tối hậu thức làm chủ, nghiệp ấy làm
nhơn duyên, do hai nhơn duyên nên trong sanh phần thức tâm ban
đầu khởi, hoặc sanh địa ngục v.v… đến trong Nhơn Thiên.
Thức ấy diệt rồi sanh phần thức sanh, sanh phần tương tục
tâm chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! Không có một pháp nào từ đời nay đến đời sau,
mà có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báu đều
chẳng mất hư. Không người tác nghiệp cũng không người
thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy lúc diệt gọi là tử số, nếu sơ
thức sanh gọi là sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc không từ đâu đến, lúc diệt cũng chẳng đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Sơ thức ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng
không đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Tại sao?
Vì tự tánh ly vậy. Hậu thức, thể tánh hậu thức không.
Duyên, thể tánh duyên không. Nghiệp, thể tánh nghiệp không.
Tử, thể tánh tử không. Sơ thức, thể tánh sơ thức không.
Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không. Thế gian, thể tánh thế
gian không. Niết bàn, thể tánh Niết bàn không. Khởi, thể
tánh khởi không. Hoại, thể tánh hoại không. Tác nghiệp và
quả báo như vậy đều không hư. Không người tác nghiệp
cũng không người thọ báo. Chỉ theo thế tục mà có chớ
chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không là không giải thoát môn. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng nên không
nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy, tất
cả đều có đủ ba môn giải thoát môn cùng đi chung với
không, Niết bàn là con đường trước, xa lìa các tướng,
xa lìa nguyện cầu, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định
như pháp giới, khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng.
Tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! tai nghe ác thanh, sanh khởi ác tâm.
Nầy Ðại
Vương ! Như người trong mộng thấy nữ nhơn đoan chánh đệ
nhứt trong nước, ở bên nữ nhơn ấy được nghe âm nhạc
vi diệu khả ái. Người ấy gần nữ nhơn nghe âm nhạc
thọ vui ngũ dục. Sau khi thức dậy, người ấy ghi nhớ âm
nhạc vi diệu khả ái trong mộng. Ý Ðại vương thế nào,
âm nhạc được nghe trong mộng có thiệt chăng?
- Bạch Thế
Tôn ! Không thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy cho sự trong mọ-ng là thiệt thì có phải
là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng phải trí, tại sao ? Vì thân ái biệt ly được
thấy trong mộng ấy cứu cánh không có huống là buồn khóc.
Người ấy luống tự nhọc nhằn đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
họ thấy nghe ác thanh liền chấp trước nên sanh lòng
chẳng ưa rồi giận hờn mà tạo nghiệp sân nơi thân ba miệng
bốn và ba thứ nghiệp. Nghiệp ấy tạo rồi liền dứt diệt.
Nghiệp ấy diệt rồi chẳng nương ở mười phương. Nghiệp
như vậy đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt thấy nghiệp
đã làm từ trước hiện ra trong tâm tưởng. Người ấy thấy
rồi sanh lòng kinh sợ, tự phần nghiệp hết nghiệp khác hiện
ra, giống như thức dậy nhớ sự trong mộng. Cũng vậy tối
hậu thức làm chủ, nghiệp ấy làm nhơn duyên, do nhơn duyên
ấy nên trong sanh phần thức tâm ban đầu khởi hoặc sanh địa
ngục v.v… đến sanh trong Nhơn Thiên. Thức trước đã diệt,
thọ sanh phần thức sanh, sanh phần tương tục tâm chủng loại
chẳng tuyệt.
-
Nầy Ðại
Vương không một pháp nào từ đời nầy đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báo đều chẳng
mất hư, không người tác nghiệp cũng không người thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy, lúc diệt gọi là tử số, nếu sơ
thức sanh gọi là sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Sơ thức
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Tại sao
? Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên , thể tánh duyên không. Nghiệp,
thể tánh nghiệp không. Tử, thể tánh tử
không. Sơ
thức, thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh
không. Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể tánh
Niết bàn không. Khởi, thể tánh khởi không. Hoại, thể tánh
hoại không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư, không người tác nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không là không giải thoát môn. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng nên không
nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy, tất cả
pháp đều đủ ba môn giải thoát cùng đi chung với không,
Niết bàn là con đường trước, xa lìa các tướng, xa lìa
nguyện cầu, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp
giới, khắp hư không tế.
nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng
tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương tai nghe xả thanh, khởi xả tướng.
Như người
trong mộng nghe câu chẳng rõ nghĩa. Thức dậy người ấy
ghi nhớ tiếng được nghe trong mộng. Ý Ðại Vương thế nào,
tiếng nghe trong mộng có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! không thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy nằm mộng cho là thiệt thì có phải là
trí không ?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng cứu cánh không
có âm thanh để được, huống là có câu liễu nghĩa câu bất
liễu nghĩa. Người ấy luống tự nhọc nhằn đều không có
thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hang phàm phu ngu si không học chánh pháp,
họ nghe xả thanh bèn chấp trước nên mê hoặc mà tạo nghiệp.
Nghiệp được tạo rồi liền dứt diệt. Nghiệp ấy diệt
rồi chẳng nương ở mười phương.
Nghiệp như
vậy đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt thấy sự đã
làm từ trước hiện ra trong tâm tưởng. Người ấy thấy
rồi tâm sanh chấp trước, tự phần nghiệp hết, nghiệp khác
hiện ra, giống như thức dậy nhớ tiếng câu chẳng rõ nghĩa
được nghe trong mộng.
Nầy Ðại
Vương ! Như vậy, tối hậu thức làm chủ, nghiệp ấy làm
nhơn duyên, do hai duyên ấy nên trong sanh phần thức tâm ban
đầu khởi, hoặc sanh địa ngục v.v…đến, hoặc sanh trong
Nhơn Thiên. Thức trước đã diệt, thức thọ sanh phần sanh,
sanh phần tâm tương tục chủng hoại chẳng duyệt.
Nầy Ðại
Vương ! không một pháp nào từ đời nay đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báo đều chẳng
mất hư. Không có người tạo nghiệp cũng không có người
thọ báo.
Nầy Ðại
Vương ! Hậu thức ấy lúc diệt gọi là tử số. Nếu sơ
thức sanh thì gọi là sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Tử ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Sơ thức
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên thức không.
Nghiệp, thể tánh nghiệp thức không. Tử, thể tánh tử không.
Sơ thức, thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ
sanh không. Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn thể
tánh Niết bàn không. Khởi, thể tánh khởi không.Hoại, thể
tánh hoại không.
Nầy đại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư, không người tác nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch.
Tất
cả pháp không là không giải pháp môn. Không ấy không có
tướng không là vô tướng giải thoát môn.Nếu vô tướng
thì không nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy,
tất cả pháp đều đủ ba giải thoát môn cùng đi chung với
không, Niết bàn là con đường trước, xa rời tướng, xa rời
nguyện cầu, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp
giới, khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng tất
cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! thí như người chiêm bao lấy hương gỗ chiên đàn
hoặc hương lá đa ma la và các thứ hương khác để xoa thân
mình. Thức dậy người ấy các thứ hương được xoa trong
mộng vừa rồi. Ý Ðại Vương thế nào?, sự thấy trong mộng
ấy có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn! không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương !Người ấy cho là thiệt thì có phải là trí chăng
?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng cứu cánh không
có hương huống là xoa thân. Người ấy luống tự nhọc nhằn,
đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phu ngu si không học chánh pháp, họ
ngửi hương thơm bèn mến thích rồi tạo mười nghiệp nhiễm
trước nơi thân ngữ ý. Nghiệp được tạo rồi liền dứt
mất, khi mất, nghiệp ấychẳng nương ở mười phương. Nghiệp
ấy đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt, thấy nghiệp
đã làm từ trước hiện trong tâm tưởng. Như trong chiêm bao
thức dậy nhớ hương thơm được ngửi trong mộng. Nầy Ðại
Vương ! Tối hậu thức lám chủ, do nghiệp ấy làm nhơn duyên,
vì hai duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm ban đầu sanh khởi,
hoặc sanh địa ngục v.v…đến hoặc sanh trong Nhơn Thiên.
Thức trước đã diệt, thọ sanh phần thức sanh , sanh phần
tâm tương tục chủng loại chẳng tuyệt.
-
Nầy Ðại
Vương ! Không có một pháp nào từ đời nay đến đời sau,
mà có sanh diệt thấy nghiệp đã làm và thọ quả báo đều
chẳng mất hư, không người tác nghiệp cũng không người
thọ báo. Nầy Ðại Vương ! Lúc hậu thức diệt gọi là tử
số.Nếu sơ thức sanh thì gọi là sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt nó chẳng đến
đâu.
Duyên ấy
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó chẳng đến đâu.
Nghiệp ấy
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó chẳng đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệtnó chẳng đến đâu.
Sơ thức
ấy lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nóchẳng đến
đâu.
Thọ sanh
ấy lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó chẳng đến
đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không.Duyên, thể tánh duyên không. Nghiệp,
thể tánh nghiệp không. Tử, thể tánh tử không. Sơ thức,
thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không.
Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể tánh Niết
bàn không. Khởi, thể tánh khởi không. Hoại, thể tánh hoại
không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư. Không người tác nghiệp, không người thọ báo, chỉ vì
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch.
Tất cả
pháp không là không giải thoát môn. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã không tướng nên không
nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy tất cả
phápđều đủ ba môn giải thoát cùng đi chung với không. Niết
bàn là con đường trước, xa rời tướng xa rời nguyện, cứu
cánh
Niết bàn
giới, quyết định như pháp giới, cùng khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết căn như ảo, cảnh giới như mộng. Tất
cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người chiêm bao thấy cổ mình đeo những tử
thi rắn, chó, thây người v.v…Thức dậy, người nhớ cảnh
mộng rồi sợ sệt. Ý Ðại Vương thế nào , cảnh mộng ấy
có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy chấp lấy tử thi được thấy trong mộng
có phải là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn !Chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng tử thi thì không
có, huống là cột nơi cổ. Người ấy luống tự nhọc nhằn
đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phám phu ngu si không học chánh pháp,
họ thấy thúi xấu thì chấp trước ghét bỏ mà tạo mười
nghiệp sân ghét nơi thân khẩu ý? Nghiệp ấy được tạo
rồi liền dứt diệt. Nghiệp ấy diệt rồi chẳng nương ở
mười phương, đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt thấy
việc làm từ trước hiện trong tâm tưởng. Người ấy thấy
rồi sanh lòng ghét bỏ, tự phần nghiệp hết, nghiệp khác
hiện ra? Như thức dậy nhớ sự việc trong mộng.
-
Nầy Ðại
Vương ! Tối hậu thức làm chủ, do nghiệp ấy làm nhơn duyên,
vì hai nhơn duyên ấymà trong sanh phần thức tâm ban đầu khởi,
hoặc sanh địa ngục v.v…đến hoặc sanh trong Nhơn Thiên.
Thức trước đã diệt, thọ sanh phần thức sanh , sanh phần
tâm tương tục chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! không có một pháp nào từ đời nay đến đời sau,
mà có sanh diệt thấy nghiệp được làm và thọ quả báo
đều chẳng mất hư , không có người tác nghiệp cũng không
có người thọ báo.
Hậu thức
ấy lúc diệt gọi là tử số, nếu sơ thức sanh gọi là sanh
số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lu&c diê(t cũng không
đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Sơ thức,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên không.Nghiệp,
thể tánh nghiệp không.Tử, thể tánh tử không. Sơ thức,
thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không.
Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể tánh Niết
bàn không. Khởi, thể tánh khởi không. Hoại, thể tánh của
hoại không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư, không có người tác nghiệp cũng không có người thọ
báo, chỉ vì theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt
nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không là không giải thoát môn? không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng cũng không
nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy, tất cả
pháp đều đủ ba môn giải thoát cùng đi chung với không ,
trên đường đến Niết bàn, xa lìa tướng, xa lìa nguyện,
cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp giới, cùng
khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng,
tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người chiêm bao thấy tỷ căn hoại. Thức dậy,
người ấy ghi nhớ mũi mình hư. Ý Ðại Vương như thế nào,
sự thấy trong mộng có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy chấp cảnh mộng là thiệt thì có phải
là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng cứu cánh
không có tỷ căn huống là hư hoại. Người ấy tự luống
nhọc nhằn, đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp, họ thấy
tỷ căn hoại thì chấp trước lo sợ mà tạo mười nghiệp
chấp trước lo sợ nơi thân khẩu ý.
Nghiệp ấy
được tạo xong liền dứt diệt . Nghiệp ấy diệt rồi chẳng
nương ở mười phương, đến lúc lâm chung tối hậu thức
diệt thấy việc đã làm hiện trong tâm tưởng. Thấy
rồi người ấy sanh lòng sợ sệt, tự phần nghiệp hết nghiệp
khác hiện ra. Như thức dậy nhớ việc trong mộng.
Như vậy,
tối hậu thức làm chủ, do nghiệp ấy làm nhơn duyên, vì
hai nhơn duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm ban đầu khởi,
hoặc sanh địa ngục v.v… đến hoặc sanh trong Nhơn Thiên.
Thức trước đã diệt, thọ sanh phần thức sanh, sanh phần
tâm tương tục chủng hoại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
Vương ! Không một pháp nầy từ đời nầy đến đời sau,
mà có sanh diệt thấy nghiệp đã tạo và thọ quả báo đều
không mất hư, không người tác nghiệp cu’ng không người
thọ báo.
Lúc hậu
thức ấy diệt gọi là tử số, nếu sơ thức sanh gọi là
sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến
đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu tới, lúc diệt cũng không đến đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Sơ thức
sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cung không đến
đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên không.Nghiệp,
thể tánh nghiệp không.Tử, thể tánh tử không. Sơ thức,
thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không.
Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể tánh Niết
bàn không. Khởi, thể tánh khởi không. Hoại, thể tánh hoại
không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều chẳng mất
hư, không người tác nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. tất cả
pháp không là không giải thoát môn.. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng nên cũng
không nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn.
Như vậy,
tất cả pháp đều đủ ba môn giải thoát cùng đi chung với
không, trên đường trước là Niết bàn, xa lìa tướng, xa
lìa nguyện, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp
giới cùng khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng,
tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người mộng thấy mình đói khát được cơm canh
ngon tha hồ ăn uống. Thức dậy thấy người ghi nhớ cơm canh
ngon được ăn trong mộng. Ý Ðại Vương thế nào, sự mộng
ấy có thiệt chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Người ấy cho sự mộng là thiệt thì có phải là
trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn !Chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng cứu cánh không
có cơm canh huống lại có ăn. Người ấy luống tự nhọc
nhằn đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
họ thấy các thức ăn thì chấp trước tham ưa say nhiễm rồi
tạo nghiệp tham nhiễm mười thứ nơi thân khẩu ý. Nghiệp
ấy được tạo rồi liền dứt diệt. Nghiệp ấy diệt rồi
chẳng nương ở mười phương, nhẫn lúc lâm chung, tối hậu
thức diệt thấy việc làm từ reươ&c hiện ra trong tâm
tưởng. Người ấy thấy rồi sanh lòng tham chấp, tự phần
nghiệp hết, nghiệp khác hiện ra, như người mộng thức dậy
nhớ sự trong mộng.
-
Nầy Ðại
Vương ! Tối hậu thức làm chủ, do nghiệp ấy làm nhơn duyên
, vì hai nhơn duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm ban đầu
khởi, thức sanh trong sáu đạo. Thức trước đã diệt, thọ
sanh phần thức sanh, sanh phần tâm tương tục chủng loại
chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
vương ! không một pháp nào từ đời nay đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp dã làm từ trước và thọ quả
báo đều chẳng mất hư. Không người tác nghiệp cũng không
người thọ báo.
Lúc hậu
thức ấy diệt gọi là vào tử số, nếu sơ thức sanh thì
gọi là vào sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu dến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt cũng không đến đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Sơ thức
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên thức không.
Nghiệp, thể tánh nghiệp thức không. Tử, thể tánh tử không.
Sơ thức, thể tánh sơ thức không.Thọ sanh, thể tánh thọ
sanh không. Thế gian, thể tánh thế gian không. Niết bàn, thể
tánh Niết bàn không. Khởi, thể tánh khởi không,. Hoại, thể
tánh hoại không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và quả báo như vậy đều không mất hư,
không người tạo nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không là không giải thoát môn. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng nên cũng
không nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn. Như vậy,
tất cả pháp đều đủ ba môn giải thoát cùng đi với
không trên đường trước là Niết bàn, xa lìa tướng xa lìa
nguyện, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp giới,
cùng khắp hư không tế.
Nấy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giớiu như mộng,
tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như người mộng thấy miénh quá đói gặp được
dưa đắng, trái câu xa, trái nhâm bà v.v…liền lấy ăn. Thức
dậy người ấy ghi nhớ trong mộng ăn những trái đắng. Ý
Ðại Vương thế nào, trong mộng người ấy có thiệt ăn trái
đắng chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! không có thiệt.
- Nầy Ðai
Cương ! Người ấy cho sự mộng là thiệt thì có phải là
trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! chẳng phải trí. Tại sao ? Vì trong mộng còn không có
trái đắng huống là có ăn. Người ấy luống sự nhọc nhằn,
đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy hàng phàm phu ngu si không học chánh pháp,
mộng thấy bị đói khổ, họ liền chấp trước mà tạo mười
nghiệp chấp trước nơi thân khẩu và ý. Nghiệp được tạo
rồi liền dứt mất. Nghiệp ấy diệt rồi chẳng nương ở
mười phương, cho đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt,
thấy việc làm từ trước hiện trong tâm tưởng.
-
Người ấy
thấy rồi, trong tâm sanh vọng tưởng, tự phần nghiệp hết,
nghiệp khác sanh ra, như người mộng thức dậy nhớ sự trong
mộng.
Như vậy
tối hậu thức làm chủ, do nghiệp ấy làm nhơn duyên, vì
hai duyên ấy mà trong sanh phần thức tâm ban đầu khởi thác
sanh vào sáu loài. Thức trước đã diệt, thọ sanh phần
thức sanh , sanh phần tâm tương tục chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
!vương ! không một pháp nào từ đời nay đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp đã làm từ trước và thọ quả
báo, đều chẳng mất hư, không có người tạo nghiệp cũng
không có người thọ báo.
Hậu thức
ấy lúc diệt gọi là vào tử số. Nếu sơ thức sanh gọi
là vào sanh số.
Hậu thức
ấy, lúc khởi nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Tử ấy,
lúc tử nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Sơ thức
ấy, lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Thọ sanh
ấy, lúc sanh nó không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không
đến đâu.
Tại sao ?
Vì tự tánh ly vậy.
Hậu thức,
thể tánh hậu thức không. Duyên, thể tánh duyên không. Nghiệp,
thể tánh nghiệp không. Tử, thể tánh tử không. Sơ thức,
thể tánh sơ thức không. Thọ sanh, thể tánh thọ sanh không.
Thế gian, thể tánh thế gian không.Niết bàn, thể tánh Niết
bàn không. Khởi, thể tánh khởi không.Hoại, thể tánh hoại
không.
Nầy Ðại
Vương ! Tác nghiệp và thọ báo như vậy đều chẳng mất
hư, không người tạo nghiệp cũng không người thọ báo, chỉ
theo thế tục mà có chớ chẳng phải đệ nhứt nghĩa.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết tất cả pháp đều không tịch. Tất cả
pháp không là không giải thoát môn. Không ấy không có tướng
không là vô tướng giải thoát môn. Ðã vô tướng nên cũng
không nguyện cầu là vô nguyện giải thoát môn.
Như vậy,
tất cả pháp đều đủ ba môn giải thoát, cùng đi với không
trên đường trước, Niết bàn, xa lìa tướng, xa lìa nguyện
cầu, cứu cánh Niết bàn giới, quyết định như pháp giới,
cùng khắp hư không tế.
Nầy Ðại
Vương ! Phải biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng.
Tất cả thí dụ phải biết như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như gnười mộng thấy lưỡi mình hư hoại. Thức
dậy người ấy ghi nhớ sự trong mộng. Ý Ðại vương thế
nào, sự mộng ấy có thiệt chăng ?
- Bạch Ðại
Vương ! Không có thiệt.
- Nầy
Ðại Vương ! Người ấy cho sự mọ-ng ấy là thiệt thì có
phải là trí chăng ?
- Bạch Thế
Tôn ! Chẳng phải là trí . Tại sao ? Vì trong mộng lưỡi còn
chẳng có huống là hư hoại. Người ấy luống tự nhọc nhằn,
đều không có thiệt.
- Nầy Ðại
Vương ! Cũng vậy, hàng phàm phu ngu si không học chánh
pháp, thấy thiệt căn hư hoại thì chấp trước sanh long chẳng
ưa mà khởi mười nghiệp chấp trước nơi thân khẩu ý. Nghiệp
ấy được tạo rồi liền dứt diệt, chẳng nương ở mười
phương, cho đến lúc lâm chung, tối hậu thức diệt thấy
việc làm trước hiện trong tâm tưởng.
-
Người ấy
thấy rồi lòng lo sợ, tự phần nghiệp hết nghiệp khác hiện
ra, như người mộng thức dậy nhớ sự trong mộng.
Như vậy,
tối hậu thức làm chủ, do nghiệp zấy làm nhơn duyên, vì
hai nhơn duyên ấy nên trong sanh phần thức tâm ban đầu khởi
sanh vào trong sáu thú. Thức trước đã diệt, thọ sanh phần
thức sanh, sanh phần tâm tương tục chủng loại chẳng tuyệt.
Nầy Ðại
vương ! Không một pháp nào từ đời nay đến đời sau, mà
có sanh diệt thấy nghiệp đã làm từ trước và thọ báođều
không mất hư , không người tác nghiệp cũng không người
thọ báo.
Hậu thức
ấy lúc diệt gọi là vào tử số. Nếu sơ thức sanh thì gọi
là vào sanh số.
Hậu thức
ấy khởi không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Duyên ấy,
lúc sanh không từ đâu đến; lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Nghiệp ấy,
lúc sanh không từ đâu đến, lúc diệt nó cũng không đến
đâu.
Tử ấy,
lúc tử không từ đâu đến, lúc diệt c