Bấy
giờ đức Phật nói với Tịnh Phạn Vương : “ Nầy
Ðại Vương ! Các pháp như đã nói ở trên phải
chuyên tâm tinh tiến quan sát tu hành chớ theo nơi khác.
Pháp ấy
là Bồ đề của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại, hay
tự tại siêu việt tất cả thế gian, hay trừ tất cả khát
ái hàng phục ngã mạn, diệt trừ tội lỗi, được bình đẳng
nơi tất cả pháp. Nó chẳng phải là chỗ của hạng phàm
phu, tất cả Thanh Văn chẳng đến được, chẳng phải cảnh
giới của tất cả Bích Chi Phật, là chỗ tu hành của tất
cả Bồ Tát, là chỗ chứng đắc của tất cả chư Phật.
Ở trong pháp
ấy, Ðại Vương phải để tâm suy nghĩ rằng : Tôi phải thế
nào để được làm mắt sáng ở trong Trời Người, được
làm đèn sáng , đuốc lớn, thuyền bè, biết thủy lộ giới
là Ðạo Sư, là thương chủ, là đạo thủ ở trong Trời Người.
Tôi phải
thế nào để tự độ mình rồi lại độ được người,
tự đã giải thoát lại giải thoát người, tự được
an ổn lại an ổn người, tự chứng Niết bàn lại khiến
người chứng Niết bàn.
Ðại Vương
nên biết chẳng nên quan sát đời quá khứ và trải qua sự
giàu mạnh tự tại.
Nầy Ðại
Vương ! Các căn như ảo, không bao giờ thỏa mãn, cũng không
có gì làm nó thỏa mãn được. Cảnh giới như mộng, ở nơi
sắc thanh hương vị xúc không biết chán đủ.
Nầy Ðại
Vương ! Thuở quá khứ có chuyển luân vương tên Vô Biên Xưng
có đủ thất bửu oai lực tự tại thống lãnh tứ thiên hạ.
Nhà vua ấy ở chỗ đức Phật trước trồng các cội lành
nên được thành tựu ý lực nghĩ gì được nấy.
Lúc ấy,
vua Vô Biên Xưng tự nghĩ ta thử sức phước đức của ta,
nay ta tự nương phước đức khiến tất cả cây cối trong
bốn thiên hạ nầy thường có bông trái dùng hoài không hết.
Nầy Ðại
Vương ! Vua Vô Biên Xưng ý nghĩ như vậy rồi, khắp bốn thiên
hạ tất cả rừng cây trổ bông kết trái xum xuê nhơn dân
dùng mãi không hết.
Nhà vua ấy
lại nghĩ tưởng làm cho tất cả nhơn dân trong bốn thiên
hạ muốn gì đều được cả không hề trái ý. Nhà vua ấy
nghĩ tưởng như vậy rồi, tất cả nhơn dân đều được
đầy đủ theo chỗ mong cầu.
Nhà vua ấy
lại nghĩ tưởng khiến khắp bốn thiên hạ đều mưa nước
thơm. Liền đó khắp nơi đều mưa nước thơm.
Nhà vua ấy
thử phước lực của mình nên lại nghĩ tưởng khắp bốn
thiên hạ đều mưa hoa đẹp. Liền theo ý tưởng của nhà
vua ấy, khắp nơi đều mưa hoa đẹp.
Nhà vua ấy
lại nghĩ tưởng khắp nơi đều mưa y phục đẹp. Liền đó
khắp nơi mưa y phục kiếp bối cõi trời
Nhà vua ấy
lại muốn thử phước lực của mình nên nghĩ tưởng khắp
bốn thiên hạ mưa bạc, rồi lại tưởng mưa vàng. Theo đúng
ý tưởng của nhà vua ấy, khắp nơi mua bạc rồi mưa vàng.
Tại sao như
vậy ? Vì vua Vô Biên Xưng ấy từ quá khứ đã ở nơi tất
cả chúng sanh tu cộng nghiệp thiện.
Nầy Ðại
Vương ! Thuở ấy mặt đất Diêm Phù Ðề dọc ngang đều
một vạn tám ngàn do tuần, có sáu mưoi ngàn vạn đại thành.
Trung ương có hoàng thành tên Bửu Trang Nghiêm dọc ngang mười
hai do tuần, bốn phía bằng phẳng khéo đẹp, đường sá trang
nghiêm, ranh giới rành rẽ.
Ngoài thành
Bửu Trang Nghiêm ấy có bảy lớp hàng cây Ða La bằng bốn
thứ báu là vàng bạc lưu ly và pha lê rất đẹp đáng ưa.
Nếu là cây Ða La vàng thì thân cành gốc rễ bằng vàng
mà lá bông và trái bằng bạc. Nếu là cây Ða La bạc thì
thân cành gốc rễ bằng bạc mà lá bông và trái bằng vàng.
Nếu là cây Ða La bằng lưu ly thì gốc rễ thân cành bằng
lưu ly mà lá bông và trái bằng pha lê. Nếu là cây Ða La pha
lê thì gốc rễ thân cành bằng pha lê mà lá bông và trái
bằng lưu ly.
Thành Bửu
Trang Nghiêm ấy giáp vòng có bảy lớp treo lưới linh lạc
báu, lại có màn lưới báu che trùm phía trên.
Ngoài thành
có bảy lớp hào, mỗi hào sâu nửa do tuần, rộng một do
tuần, đáy và bờ hào đều bằng phẳng, đầy nước trong
sạch đủ tám đức, chim chóc uống nước ấy. Trong nước
hào mọc đầy bốn thứ hoa sen xanh, vàng đỏ và trắng. Ðáy
hào trải cát vàng. Bờ hào bằng bốn báu vàng bạc lưu ly
và pha lê : bực vàng thì thang bạc, bực bạc thì thang vàng,
còn lưu ly và pha lê thì trang sức trên dưới xen lẫn trang
nghiêm. Lan can xung quanh hào bày bảy báu trang nghiêm vô tỉ.
Mỗi con đường
đều có bảy lớp cổng báu, hai bên đường có những cây
chuối vàng, bốn bên hào đường sá giáp vòng, nơi hai đầu
đều có tọa ngồi bằng bảy báu.
Tất cả
sự trang nghiêm báu quí ấy đều do phước đức của vua Vô
Biên Xưng cảm thành.
Xung quanh
ngoài thành Bửu Trang Nghiêm có tám vạn rừng vườn. Làm những
rừng vườn ấy, vua Vô Biên Xưng không có lòng chấp trước
là sở hữu của mình mà cho tất cả nhơn dân cùng hưởng.
Mỗi khu vườn
ấy có tám ao lớn dọc ngang đều nửa do tuần, đầy hoa sen
bốn màu. Bờ ao có tám thềm đường bằng bốn báu và cổng
ngỏ bảy báu.
Hai bên thềm
đường có cây chuối vàng Diêm Phù Ðàn trang nghiêm. Trong
ao đầy nước tám đức, các loài chim uống nước ấy. Bốn
bên ao nhà vua ấy lại cho trồng nhiều hoa đẹp để nhơn
dân cùng hưởng.
Các lưới
báu linh lạc báu khắp thành Bửu Trang Nghiêm, lúc gió nhẹ
thoảng phát ra tiếng hòa nhã như ngũ âm do nhạc công giỏi
trổi lên. Nhơn dân trong thành cùng vui chơi theo nhạc điệu
ấy.
Thuở ấy
thành lớn Bửu Trang Nghiêm giàu vui an ổn, nhơn dân giàu có
no đủ, mọi nơi đều có hoa sen bốn màu đẹp thơm vô tỉ.
Một lúc
khác, vua Vô Biên Xưng lại nghĩ rằng :Nay ta sẽ qua châu Tây
Cù Ðà Ni. Vua cùng bốn binh chủng cùng bay lên hư không qua
Cù Ðà Ni. Chư tiểu Quốc Vương ở châu Tây ấy đều đến
phụng nghinh và đem quốc độ phụng hiến. Vua Vô Biên Xưng
ở lại đó trăm ngàn muôn năm rồi mang bốn binh chủng lên
hư không bay qua châu Ðông Phất Bà Ðề, các tiểu Quốc Vương
ở châu Ðông đều phụng nghinh và đem quốc độ phụng
hiến. Vua Vô Biên Xưng ở lại đó trăm ngàn vạn năm rồi
đem bốn binh chủng lên hư không bay đến châu Bắc Uất
Ðơn Việt, nhơn dân nơi châu Bắc đều hoan nghênh. Vua Vô
Biên Xưng ở lại châu Bắc nhiều trăm ngàn năm cùng quyến
thuộc vui vầy.
Một hôm
vua Vô Biên Xưng nghĩ rằng ta có nghe trời Ðao Lợi ỏ đảnh
núi Tu Di, nay ta nên lên đó.
Nghĩ như
vậy rồi nhà vua ấy ngồi long tượng đem bốn binh chủng
bay lên hư không thẳng lên núi Tu Di. Nhà vua ấy hỏi quan hầu
cận rằng ngươi thấy núi Tu Di cùng đại hải và tứ thiên
hạ thế nào ?
Quan hầu
thưa : Tâu Ðại Vương, tôi thấy núi Tu Di cùng đại hải
và tứ thiên hạ đều xoay tròn. Như nhà gốm quay tròn vòng
khuôn, tôi thấy núi Tu Di cùng đại hải và tứ thiên hạ
cũng quay tròn như vậy.
Nhà vua ấy
bảo quan hầu cho long tượng vương đại hành chưa ngừng thẳng
tiến lên trước.
Nhà vua ấy
lại hỏi quan hầu : Giờ đây ngươi thấy núi Tu Di cùng đại
hải và bốn châu thiên hạ thế nào ?
Quan hầu
thưa : Tâu Ðại Vương ! Tôi thấy núi Tu Di cùng đại hải
và bốn châu thiên hạ đều chấn động.
Nhà vua ấy
nói nay ta muốn đến đánh núi Tu Di, cho long tượng vương
nầy tiểu hành chưa ngừng thẳng tiến lên trước.
Nhà
vua ấy hỏi quan hầu : Giờ đây người thấy núi Tu Di cùng
đại hải và tứ thiên hạ thế nào ?
Quan hầu
thưa : Tâu Ðại Vương, tôi thấy núi Tu Di cùng đại hải
và bốn thiên hạ đều chẳng động chẳng chuyển.
Nhà vua ấy
bảo : Ðã đến đảnh núi Tu Di rồi.
Vua ấy cùng
bốn binh chủng đến đảnh núi Tu Di.
Ðế Thích
thấy vua Vô Biên Xưng thì vui mừng đón tiếp và chia
nửa tòa ngồi cho cho vua ấy cùng ngồi. Vua Vô Biên Xung tiếp
nhận chỗ ngồi rồi cùng Ðế Thích ngự trời Ðao Lợi cả
vô lượng năm.
Sau đó, vua
Vô Biên Xưng lại nghĩ rằng : Ta nên truất phế Ðế Thích
để riêng ta làm Thiên Vương.
Vừa nghĩ
xong như vậy, nhà vua ấy cùng bốn binh chủng từ trời Ðao
Lợi rơi xuống vườn bảy báu ngoài thành Bửu Trang Nghiêm
ở Nam Diêm Phù Ðề.
Bấy giờ
có dân trong thành ra thấy như vậy vội cấp bảo vào thành.
Lúc ấy vua đang ngự trị thành Bửu Trang Nghiêm tên là Tác
Ái, nghe có
vị Thiên Tử bốn binh chủng từ trên không giáng xuống vườn
thất bửu ngoài thành, liền truyền nghiêm xa giá cùng bốn
bộ binh chủng xuất thành đến vườn thấy vua Vô Biên Xưng.
Vua Tác Ái sai đem các thứ hoa và hương bột hương thoa đến
rồi tự trịch y vai hữu quỳ gối hữu chắp tay hướng về
vua Vô Biên Xưng mà thưa rằng : Ngài là ai ?
Vua Vô Biên
Xưng nói : Người có từng nghe thuở xa xưa có vua Vô Biên
Xưng chăng ?
Vua Tác Ái
và các quan dân đều nói : Chúng tôi có nghe người xưa nói
thuở trước có vua Vô Biên Xưng ngự trị bốn châu thiên
hạ. Vua ấy cùng bốn binh chủng bay lên trời Ðao Lợi.
Vua Vô Biên
Xưng nói : Như chỗ các ngươi đã nghe, vua Vô Biên Xưng chính
là ta đây.
Từ đó vua
Vô Biên Xưng nghe mùi vị đồ ăn uống ở nhân gian lòng chẳng
ưa thích chẳng chịu được nên thân tâm trầm trọng hôn
mê. Như đem đề hồ để trên cát nóng liền chìm mất chẳng
tạm dùng còn, vua Vô Biên Xung ở Diêm Phù Ðề ăn uống các
thứ lòng không ưa thích, thân tâm chìm mất cũng như vậy.
Vua Tác Ái
thấy vua Vô Biên Xưng chẳng chịu được mùi vị đồ ăn
uống ở nhơn gian nên thân tâm chóng hư hoại chẳng thể sống
còn bèn thưa rằng : Ðại Vương có lời gì dặn bảo để
tôi truyền lại cho người đời sau.
Vua Vô Biên
Xưng nói với vua Tác Ái : Nhà vua nên biết từ xưa vua Vô
Biên Xưng ngự trị bốn thiên hạ oai đức tự tại, tùy ý
muốn gì đều được như vậy, muốn rừng cây đầy hoa quả
thì bông trái có luôn hay trừ khổ cho mọi người. Nhơn dân
muốn cần gì thì đều được thỏa mãn cả. Ta lại có thể
mưa nước thơm, mưa hoa đẹp, mưa y phục báu, mưa bạc trắng,
mưa vàng ròng. Ngự trị bốn châu giàu mạnh tự tại. Ta lên
trời Ðao Lợi, Ðế Thích chia ngự tọa cùng cai trị cõi trời.
Vì lòng tham không chán đủ nên phải từ cung trời rơi xuống
Diêm Phù Ðề mà chết.
Vua Vô Biên
Xưng bảo vua Tác Ái : Các sự việc vừa kể ấy, nhà vua nên
truyền nói như vậy và kết luận rằng : Vua Vô Biên Xưng
giàu mạnh tự tại, vì tham cầu không chán nên phải chết
mất.
Vua Vô Biên
Xưng nói xong thì chết”.
Thuật đến
đây, đức Phật nói với vua Tịnh Phạn : Vua Vô Biên Xưng
ấy tức là thân Phật đây vậy. Nầy Ðại vvương ! Phải
biết các căn như ảo, cảnh giới như mộng.
Nầy Ðại
Vương !Vì thế nên phải nhiếp tâm quan sát như vậy, chớ
tin nơi khác ”.
Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng :
“ Thường
vui pháp tự tại
Luôn luôn
sách tấn mình
Trong tham
dục tự tại
Lòng phải
biết chán lìa
Ly dục tự
tại rồi
Trụ trong
pháp tự tại
Nếu hàng
phục được tâm
Thì hàng
phục phiền não
Hàng phục
được phiền não
Liền được
lìa nghiệp đạo
Ðược lìa
nghiệp đạo rồi
Là tháp
chùa thế gian
Chẳng bị
dục ô nhiễm
hiển bày
lỗi phiền não
Nhớ lợi
ích chúng sanh
Nên hiệu
là tháp chùa
Nghe lời
tham dục rồi
Liền lìa
được tham dục
Nhứt thiết
trí tịnh tâm
Nên hiệu
là tháp chùa
Tối thắng
đại trượng phu
Nhớ dứt
lỗi chúng sanh
Giải thoát
sân cho họ
Nên hiểu
là tháp chùa
Tối thắng
đại trượng phu
Nhớ dứt
si cho chúng
Thoát tâm
ngu si ấy
Nên hiệu
là tháp chùa
Ðiều ngự
thiên nhơn sư
Nhớ dứt
mạn cho chúng
Làm tâm
chúng sanh sạch
Nên hiệu
là tháp chùa.”
Ðức Phật
phán tiếp phán tiếp với vua Tịnh Phạn : “ Nầy Ðại Vương
! Thuở xưa quá khứ có Quốc Vương tên là Ðịa Thiên, làm
vua đúng pháp, có đủ bảy báu và luân báu, tượng báu, mã
báu, minh châu báu, ngọc nữ báu, trưởng giả báu và chủ
binh báu.
Cha của vua
Ðịa Thiên tên là Ðịa Sanh. Sau khi Ðịa Sanh chết, Ðịa
Thiên là trưởng tử nên phụ tướng đại thần lấy nước
bốn biển rưới đảnh của Ðịa Thiên tôn làm vua, đó là
vua Sát Ðế Lợi Quán Ðảnh.
Lúc lên ngôi
vua rồi, đến ngày rằm trăng tròn ngày thọ trai, vua
ÐịaThiên tắm rửa gội đầu cắt cạo râu tóc và móng tay
móng chưn, mặc y phục mới sạch, dùng vòng hoa chuổi ngọc
mũ mão vòng xuyến trang sức thân mình, ngồi trên lầu cao,
các thể nữ vây quanh. Liền đó từ phương Ðông có luân
bửu bằng vàng đủ ngàn căm giàn trục đều đủ, ánh sáng
chói ngời, ngang dọc đều bảy cánh tay, thuần bằng vàng
ròng.
Thấy kim
luân bửu xuất hiện, vua Ðịa Thiên nghĩ rằng : Ta từng nghe
người xưa nói nếu vua Sát Ðế Lơi Quán Ðảnh lên ngôi mà
kim luân bửu ứng hiện thì sẽ là Chuyển Luân Thánh Vương.
Nay ta có phải là Luân Vương chăng, ta nên thử xem.
Vua Ðịa
Thiên liền đứng dậy trịch y vai hữu đối luân bửu chắp
tay khấn rằng : Luân bửu nên hạ xuống đây. Vua khấn xong,
luân bửu liền hạ xuống dừng trước vua.
Vua Ðịa
Thiên dùng hương thơm thoa tay, mặc y mão đẹp, tay mặt tiếp
lấy luân bửu để trong tay trái, tay mặt xoa vuốt luân bửu
mà khấn rằng : Nay ngươi nên hàng phục phương Ðông.
Kim luân ấy
liền bay lên hư không xoay vòng hai bên rồi dừng ở phương
Ðông tại con đường chuyuển Luân Vương thuở xưa. Con đường
ấy bằng phẳng rải đầy hoa bằng phẳng rải đầy hoa rất
khả ái. Chỗ kim luân đi qua mặt đất đều bằng phẳng không
có cao thấp. Do phước đức của vua Ðịa Thiên nên những
ao suối giếng hồ khô cạn đều đầy nước tám đức, tất
cả cây cối đều xum xê tươi tốt đầy trĩu hoa trái.
Bấy giờ
vua Ðịa Thiên mang bốn binh chủng đi theo luân bửu, nếu luân
bửu dừng lại vua và binh chủng cũng dừng theo. Những xứ
nhà vua đến, quốc vương và thần dân xứ ấy đồng mang
lễ vật ra nghênh đón và phụng hiến cả quốc độ ấy cho
vua ngự trị.
Vua Ðịa
Thiên Chuyển Luân Vương liền bảo rằng : Ta chẳng cần đến
quốc độ nầy, các ngươi cứ cai trị như xưa, nhưng phải
xa lìa những sự sát sanh, cũng chớ trộm cắp, chẳng được
tà dâm, không nên vọng ngữ lưỡng thiệt ác khẩu ỷ ngữ,
chớ có tham dục giận thù và tà kiến. Các người phải tự
mình tu mười nghiệp đạo lành và bảo người khác cùng tu.
Nay ta nhận biết các người quy phục nơi ta, tuân lời ta truyền,
ta xem các người như con em ta. Các người phải thảo ngay phụng
dưỡng cha mẹ sư trưởng và các nhà tu hành. Chớ làm sự
phi pháp và sự ác bất thiện, cũng khuyên người làm lành
lánh dữ. Nếu được như vậy mới thiệt quốc độ và nhơn
dân xứ nầy qui phục nơi ta.
Lần lượt
như vậy, vua Ðịa Thiên theo luân bửu hàng phục xong châu
Phất Bà Ðề phương Ðông và cả ba châu Nam, Tây, Bắc rồi
trở lại Diêm Phù Ðề tại cung thành cũ, kim luân bửu ấy
dừng ở bất động tại hư không trên chỗ vua ngự. Lúc ấy
cả bốn châu thiên hạ, do phước lực của vua Ðịa Thiên
nên đều biến thành bảy báu trang nghiêm, đó là vàng bạc,
lưu ly, pha lê, xa cừ , xích châu và mã não. Ba ác đạo cũng
được giải trừ sanh vào đường lành. Toàn cõi không còn
tiếng ác, không còn một ai tạo nghiệp ác.
Tại sao được
như vậy ? Ðó là do bổn nguyện lực của vua Ðịa Thiên.
Vả lại lúc kim luân bửu xoay lăn đến đâu, cả tứ thiên
hạ chẳng cần gieo trồng mà mọi nơi đều mọc đầy những
cạnh mễ tự nhiên không có cám trấu. Mọi nơi lại tự nhiên
sản xuất y phục báu đẹp từ những cây thiên thọ. Tất
cả bệnh hoạn khắp nơi đều tự nhiên lui mất, chỉ trừ
ba điều là cầu dục lạc, ăn nuốt và suy già. Tất cả nhơn
dân đều thọ đủ ngàn muôn tuổi, tất cả những khổ não
đều tự nhiên tiêu trừ. Có vô lượng sự hi hữu chẳng
thể nghĩ bàn như vậy xuất hiện nơi thế gian sau lúc vua
Ðịa Thiên theo luân bửu ngự trị toàn bốn châu thiên hạ.
Thời gian
lâu về sau, một hôm vua Ðịa Thiên nghĩ rằng : Nơi đây ta
thọ hưởng khoái lạc, chẳng biết còn có chốn nào hơn ?
Vua lại nhớ đã từng nghe trời Ðao Lợi ở đảnh núi Tu
Di, sự vui đẹp ở đó thế nào ?
Vì lòng còn
nặng ái dục nên vua Ðịa Thiên chán ghét sự thọ dụng ở
nhân gian mà mong muốn sự vui đẹp ở cõi trời, nên vua cùng
bốn binh chủng bay lên cung trời Ðao Lợi.
Thấy vua
Ðịa Thiên đến, Ðế Thích vui mừng đón tiếp và chia chỗ
ngự trị cho.
Cùng Ðế
Thích chia trị cõi trời vô lượng trăm ngàn năm, vua Ðịa
Thiên bỗng có ý nghĩ truất bỏ Ðế Thích để mình
trọn quyền. Vừa nghĩ như vậy xong, vua Ðịa Thiên và bốn
binh chủng từ cung trời Ðao Lợi rơi xuống thành An Ổn
nơi Diêm Phù Ðề.
Bấy
giờ vua Ðịa Thiên vì lâu ngày ăn dùng vật thực thắng diệu
cõi trời , nay bỗng đến nhơn gian nên chẳng chịu được
đồ thô xấu, thân tâm vua bị trầm một, như đem đề hồ
đổ trên cát nóng liền chìm mất .
Thân tâm
quá mệt suy vua Ðịa Thiên nói kệ rằng :
Các vua chúa
tự tại
Chẳng trừ
được khát ái
Như cỏ
khô gặp lửa
Thế nên
phải bỏ dục
Thường
làm sự dâm dục
Chưa từng
có lúc thỏa
Như khát
uống nước mặn
Chẳng bao
giờ hết khát
Như các
dòng về biển
Chẳng bao
giờ đầy được
Ái dục
cũng như vậy
Chưa bao
giờ thỏa đủ
Như lửa
cháy cỏ cây
Không bao
giờ thôi đủ
Ái dục
cũng như vậy
Không bao
giờ thỏa đủ
Như tiếng
vang hang sâu
Theo tiếng
không thôi dứt
Nghe tiếng
cũng như vậy
Không bao
giờ thôi dứt
Như thùng
chứa chất thơm
Chứa đựng
không chọn lọc
Ngửi hương
cũng như vậy
Không bao
giờ chán đủ
Như vá múc
đồ ăn
Không bao
giờ thôi đủ
Lưỡi nếm
các vị ngon
Cũng không
hề biết đủ
Như gương
sáng hiện bóng
không bao
giờ thôi đủ
Người hành
dục cũng vậy
Với dục
không chán đủ
Như hư không
chứa gió
Không bao
giờ đầy đủ
Thân thường
ưa chạm xúc
Không bao
giờ chán đủ
Như trong
mộng uống nước
Chẳng bao
giờ trừ khát
Y thức duyên
các pháp
Cũng chẳng
hề chán đủ
Người tham
cầu ái dục
Càng thêm
lớn ái dục
Nhìn xem
các sự cảnh
Ái luyến
chẳng chán đủ
Thấy dục
tăng khổ não
Dường như
lửa cháy củi
Dứt trừ
các ái dục
như dùng
nước tắt lửa
Nầy Ðại
Vương, chớ nghĩ là ai khác, vua Ðịa Thiên thuở xưa ấy chính
lá thân Phật đây vậy.
Thuở xưa
ấy vua Ðịa Thiên giàu mạnh tự tại, vì tham cầu không chán
đủ nên phải chết mất. Tại sao ? Do vì các căn không chán
đủ nên sự cảnh không thỏa mãn được. Các ăn như gương
soi, sự cảnh như bóng tượng. Các căn như ảo, cảnh giới
như mộng.
Ðại Vương
phải để tâm nơi pháp nầy tự quan sát thật kỹ sâu, chớ
theo nơi khác. Pháp nầy là vô thượng Bồ đề của chư Phật
ba đời.
Ðại Vương
phải xa rời tất cả giàu mạnh, phải tiêu kiệt tất cả
ái dục, lật đổ núi kiêu mạn, rời xa tất cả suy họa,
bình đẳng đối với tất cả pháp. Ðây chẳng phải là địa
vị với tất cả phàm phu, chẳng phải đường đi của tất
cả hàng Thanh Văn, cũng chẳng phải cảnh giới của tất cả
Duyên Giác, mà chính là chỗ đi của tất cả Bồ Tát, là
tất cả chứng đắc của tất cả chư Phật Ðẳng Chánh Giác.
Ðại Vương
phải chú tâm chớ để tán loạn, phải suy nghĩ rằng ; Ở
trong tất cả thế gian thuở vị lai, tôi phải thế nào để
được làm đèn sáng, làm đuốc lớn, làm ánh sáng, làm thuyền
bè, làm đạo sư, làm thương chủ, làm đạo thủ, làm thượng
thủ, tự độ và độ người ,tự thoát và giải thoát người,
tự an và an cho người, tự được Niết bàn khiến người
cũng được Niết bàn.
Ðại Vương
chớ xem xét sự giàu mạnh tự tại đã có thuở trước. Phải
biết các căn như ảo nó chẳng hề chán đủ, cũng không gì
làm cho nó đủ được. Cảnh giới như mộng, chẳng thể làm
thỏa mãn được ”.
Ðức Phật
lại nói với vua Tịnh Phạn :“ Thuở quá khứ có vua tên
Ðảnh sanh. Vua ấy có oai đức lớn, có đại thần thông,
có oai thế lớn. Vua ấy từ trên đảnh của phụ vương Ô
Bô Sa mà sanh ra. Vua từ lâu chứa nhiều căn lành, đã từng
thấy vô số chư Phật và tu các thiện căn, cung kính cúng
dường chư Phật, tích chứa cội lành, rất được giàu mạnh
tự tại trong bốn thiên hạ. Sau khi được quán đảnh lên
ngôi vua bảy ngày thì bảy báu hiện ra đủ, làm Chuyển Luân
Thánh Vương.
Những gì
là bảy báu của Chuyển Luân Thánh Vương ?
Một là kim
luân bbửu, thuần bằng vàng ròng, đủ ngàn căm, giàn trục
đủ, ngang dọc đều bảy cánh tay, tự nhiên hiện đến trước
nhà vua.
Hai là bạch
tượng bửu, đủ sáu ngà, bảy chi chống đất, trắng như
núi Tuyết, tự nhiên ứng hiện đến.
Voi và ngựa
hai báu ấy, từ sáng sớm đến giờ ăn có thể đi khắp tám
phương bốn châu thiên hạ, hết mé các biển rồi trở về
chỗ cũ
Bốn là minh
châu bửu , lớn bằng bắp vế người, thuần lưu ly xanh ánh
sáng chiếu ra xung quanh đều một do tuần..
Năm là trưởng
giả bửu, giàu có vô lượng, tùy ý vua muốn đều có thể
sẵn đủ cả. Sáu là ngọc nữ bửu, đoan trang xinh đẹp tuyệt
luân, toàn thân toát ra mùi chiên đàn, hơi miệng sạch thơm,
như hoa sen xanh , lưỡi rộng lớn le ra có thể trùm cả mặt,
thân sắc mịn màng như lá đồng đỏ. Cả thân mềm dịu
như không có xương, mùa đông thì ấm, mùa hạ thì mát. Lòng
dạ từ bi luôn nói lời nhỏ nhẹ tay chạm đến vua liền
hiểu được ý nghĩa của vua.
Bảy là chủ
binh bửu, tự nhiên xuất hiện, dũng mảnh sách mưu võ lược
đệ nhứt, biết trước ý nghĩ của vua cả bảy ngày, giỏi
điều binh đánh trận.
Vua ấy lại
có đủ ngàn con trai đoan chánh dũng kiện hàng phục được
oán địch.
Thuở ấy
vua Ðảnh Sanh ngự trị bốn thiên hạ, đúng pháp giáo hóa,
khiến bốn thiên hạ giàu vui an ổn, nhân dân đông nhiều,
thành ấp tụ lạc gần liền nhau. Toàn cõi không có đá sỏi
gai góc mà nhiều châu báu đầy đủ vô lượng, vườn rừng
ao suối rất tốt khả ái. Ðó là do vua Ðảnh Sanh an trụ
nơi pháp lực mà cảm hiện lành tốt như vậy. Thời kỳ ấy
hoặc Người hoặc Trời hưởng thọ dục lạc tối đệ nhứt.
Ðô thành
của vua Ðảnh Sanh ngự tên là A Du Xà. Thành ấy Ðông Tây
đều rộng mười hai do tuần, Nam Bắc đều rộng bảy do tuần.
Trong thành ngoài thành các thứ trang nghiêm đều đồng như
thành Bửu Trang Nghiêm của vua Vô Biên Xung ở trên, cũng như
Ðắc Thắng Ðường ở trời Ðao Lợi.
Ðảnh Sanh
Vương tạo ba bửu điện : Một là Nguyệt Xuất điện, vua
ở đó trong mùa Hạ, hai là Tỳ Lưu Ly điện, vua ở đó trong
mùa Xuân, Ba là Nhựt Oai Ðức Khởi, vua ở đó trong mùa Ðông
rét lạnh. Lúc vua cùng ngọc nữ và thể nữ vào điện Nguyệt
Xuất thì thân thể vua mát mẻ như ướp thoa hương ngưu đầu
chiên đàn. Lúc vua cùng quyến thuộc vào điện Tỳ Lưu Ly
thì thân vua thư thới như ướp thoa hương lá đa ma la. Lúc
vua cùng quyến thuộc vào điện Nhựt Oai Ðức thì thân vua
ấm áp như thoa ướp hương trầm thủy.
Vua Ðảnh
Sanh ấy theo chỗ thích muốn đều được tùy ý tự tại,
khiến các cung điện theo thời tiết mà phát sanh sự
cảm xúc vừa ý : tùy ý phát xuất gió, tùy ý phát xuất mưa,
các thứ âm nhạc tùy ý vua mà đến, các đồ cần dùng cũng
theo ý vua mà xuất hiện.
Bấy giờ
nơi cung điện mà vua Ðảnh Sanh ngự trọn bảy ngày, trời
mưa vàng và bạc. Qua bảy ngày vua nghĩ rằng : Rất là hi hữu
chẳng nghĩ bàn được, nghiệp nhơn thanh tịnh cảm lấy quả
báo như vậy, tùy ý hiện đến đầy đủ theo ý ta muốn,
phước đức gây nên như vậy không thể sai lạc. Có ai thấy
quả báo nầy mà ở nơi sự tu phước đức lại thôi nghỉ.
Vua Ðảnh
Sanh ngự Diêm Phù Ðề trăm ngàn năm, sau đó vua tự nghĩ rằng
nay Diêm Phù Ðề của ta an ổn giàu vui, nhơn dân đông đúc
và đều quí thuộc nơi ta, trong cung điện ta mưa vàng bạc
trọn cả bảy ngày. Giờ đây ta nên qua châu Tây Cù Ðà Ni.
Nghĩ xong,
vua Ðảnh Sanh cùng quyến thuộc mang bốn binh chủng bay lên
hư không thẳng đến châu Tây Cù Ðà Ni. Vua đã đến rồi
ngự trị châu Tây trăm ngàn năm, cũng tác ý mưa vàng bạc,
là cho nhơn dân đều an ổn giàu vui. Sau đó vua lại mang bốn
binh chủng đến ngự trị châu Ðông Phất Bà Ðề trăm ngàn
năm cũng khiến toàn châu Ðông giàu vui an ổn. Vua Ðảnh Sanh
lại sang ngự trị châu Bắc Uất Ðơn Việt vô lượng ngàn
năm, vua hưởng thọ y báu hơn Người mà chưa bằng Trời.
Sau đó vua
Ðảnh Sanh nghĩ rằng, ta có nghe đảnh núi Tu Di có trời Ðao
Lợi, ta nên đến đó quan chiêm coi thế nào.
Vua Ðảnh
Sanh liền mang bốn binh chủng bay lên hư không thẳng đến
đảnh núi Tu Di.
Bấy giờ
Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn cùng ba mươi ba Thiên Vương
hợp tại Thiện Pháp Ðường luận sự việc Trời Người.
Thấy vua
Ðảnh Sanh đến, Ðế Thích đón tiếp chia ngự tòa cùng ngồi.
Lúc vua Ðảnh
Sanh lên ngự tòa cùng ngồi với Ðế Thích xong liền có mười
sự việc thù thắng che chói chư Thiên. Ðó là thọ mạng hơn
chư Thiên , dung nhan hơn chư Thiên , danh tiếng hơn chư Thiên,
thọ lạc hơn chư Thiên, ngự trị tự tại hơn chư Thiên,
thân hình hơn chư Thiên, âm thanh hơn chư Thiên, hơi thơm hơn
chư Thiên, vị ăn hơn chư Thiên, chạm xúc mịn dịu hơn chư
Thiên.
Vua Ðảnh
Sanh cùng Ðế Thích hình dung tướng mạo hành động oai nghi
đồng nhau không sai khác, ăn uống y phục đồ dùng cũng đồng,
chỉ có nhìn nháy là khác nhau thôi.
Nhưng chư
Thiên phân biệt biết rõ thiên Vương và Nhơn Vương sai khác.
Rất là lạ
lùng hi hữu, Ðế Thích và vua Ðảnh Sanh là Trời và Người
mà hình dung tướng mạo lại đồng nhau, đó là sức phước
đức tạo ra như vậy, ai lại ở nơi phước đức mà chẳng
thích ưa.
Vua Ðảnh
Sanh ở trời Ðao Lợi vô lượng ngàn năm là tăng thượng
tự tại, vua chẳng biết đủ nên sau đó lại nghĩ rằng :
nay ta nên một mình làm Thiên Vương cần gì Ðế Thích, ta
sẽ truất phế ông ấy. Vừa nghĩ xong như vậy, vua Ðảnh
Sanh cùng toàn thể quyến thuộc bốn binh chủng liền rơi xuống
Diêm Phù Ðề trong vườn ngoài thành A Tu Xà.
Lúc vua Ðảnh
Sanh rơi xuống oai quang chiếu sáng khắp mọi nơi làm luốt
mất ánh sáng mặt trời. Như lúc mặt trời mọc, mặt trăng
bị luốt mất, lúc vua Ðảnh Sanh sa xuống mặt trời bị luốt
mất cũng như vậy.
Bấy giờ
có người xuất thành thấy như vậy, vội vào phổ cáo cho
mọi người trong thành hay rằng : Nay có Thiên Tử cùng bốn
binh chủng từ hư không sa xuống vườn ngoài thành.
Ðược tin
ấy, quốc Vương cùng thần dân chỉnh đốn nghi lễ mang hoa
hương kỹ nhạc xuất thành đến khu vườn ấy để tiếp
nghinh vua Ðảnh Sanh.
Lúc vua Ðảnh
Sanh sa xuống, toàn cõi đất chấn động sáu cách.
Vua Ðảnh
Sanh vì đã quen hưởng thọ dục lạc cõi trời nên chẳng
chịu được hơi hám và đồ dùng ở nhơn gian, vua mê mệt
nằm trên đất, như tô lạc đề hồ đổ vào cát rất nóng
liền tiêu tan.
Quốc Vương
và thần dân thấy vua Ðảnh Sanh hôn mê nằm trên đất liền
kêu hỏi : Ngài là ai ?
Vua hỏi lại
các người có từng nghe nói vua Ðảnh Sanh thuở xưa chăng
?
Quốc vương
và thần dân đáp đã có nghe các bực kỳ cựu thuật rằng
có vua Ðảnh Sanh chẳng bỏ thân người đem quyến thuộc và
bốn binh chủng bay lên trời.
Vua nói Ðảnh
Sanh Vương thuở xưa chính là ta đây . Ta cùng bốn binh chủng
từ trời rơi xuống vậy.
Quốc Vương
và thần dân nói kệ hỏi vua rằng :
Tôi nghe kỳ
cựu nói
Xưa có vua
oai đức
Hiệu là
Ðảnh Sanh Vương
Có danh tiếng
rất lớn
Vua mang bốn
binh chủng
Từ đây
bay lên trời
Cũng đem
cả quyến thuộc
Thánh Vương
trị đúng pháp
Trời Người
tuân lời vua
Sức vô
thường làm hại
Mất báo
trời chịu khổ
Ðảnh Sanh
Vương là Ngài
Chúng tôi
đều chắp tay
Cúi đầu
lạy chân vua
Có sự hi
hữu gì
Sẽ truyền
lại đời sau.
Vua Ðảnh
Sanh Vương từ trời sa xuống bị khổ nói kệ đáp rằng :
Ðảnh Sanh
Thánh Vương xưa
Thống lãnh
bốn thiên hạ
Thọ lạc
hơn Trời Người
Tham không
nhàm phải chết
Xưa trong
cung vua ấy
Mưa trân
bửu bảy ngày
Trị thiên
hạ đúng pháp
Tham không
nhàm phải chết
Vua trước
cùng Thiên Ðế
Chia ngự
tọa mà ngồi
Vì phát
khởi ác niệm
Quá tham
dục phải đọa
Ở trong
biển sanh tử
Vì vô trí
nên chìm
Vì say đấm
ngũ dục
Tham không
nhàm phải chết
Như khát
mộng uống nước
Chẳng thể
hết khát được
Thọ ngũ
dục cũng vậy
Trọn không
hề chán đủ
Các chúng
sanh trí huệ
Dứt trừ
tối ngu si
Người trí
ấy biết đủ
Chánh quán
sát các loài
Trí quán
sát các loài
Huệ thấy
già bịnh chết
Dứt trừ
các khát ái
Bỏ các
loài không ham
Quán chạm
xúc như lửa
Thì bỏ
được khát ái
Quán thọ
lạc cũng vậy
Biết ái
là chẳng lành
Như đánh
các âm nhạc
Căn cảnh
giới cũng vậy
Dùng thánh
giáo điều phục
Bỏ được
căn tự tánh
Tất cả
năm loài sanh
Sanh ra từ
danh sắc
Trong ấy
thức phân biệt
Thì phát
sanh tưởng nghĩ
Thánh giả
chánh quán sát
Chẳng tham
chấp nghiệp nhơn
Trí giả
đủ sáng suốt
Chứng diệt
như củi tàn
Vua Ðảnh
Sanh nói kệ đáp mọi người xong thì chết.
Nầy Ðại
Vương ! Vua Ðảnh Sanh thuở xưa ấy chính là thân Phật đây.
Ngày xưa Phật từng làm Ðảnh Sanh Chuyển Luân Vương thống
lãnh Trời Người oai thế tự tại, vì tham dục không nhàm
đủ mà phải chết mất.Vì lẽ ấy nên phải rời bỏ giàu
sang kiêu mạn oai thế mà an trụ chẳng phóng dật . Nếu có
thể an trụ được nơi hạnh chẳng phóng dật, thì có thể
tu các thiện căn.
Nầy Ðại
Vương ! Nếu chẳng phóng dật lại có thể vào pháp giới
bình đẳng. Nếu người lìa được phóng dật thì thành tựu
lợi ích.
Nầy Ðại
Vương !Hữu vi vô vi giới chẳng phải nam nữ, chẳng phải
quá vị hiện tại. Ðại Vương nên ở nơi pháp nầy mà an
trụ tự tâm, chớ theo giáo pháp khác. Pháp nầy là Vô thượng
Bồ đề của tam thế chư Phật.
Ðại Vương
nên xa rời tất cả hào quí, tiêu cạn tất cả biển dục,
xô ngã núi kiêu mạn, rời xa tất cả suy đọa, bình đẳng
với tất cả. Ðây chẳng phải chỗ của phàm phu, chẳng phải
hàng Thanh Văn làm được, cũng chẳng phải cảnh giới của
Duyên Giác. Ðây là công hạnh của tất cả Bồ Tát, là chỗ
chứng của chư Phật Chánh Ðẳng Giác.
Ðại Vương
phải nhiếp tâm chớ để tán loạn, phải suy nghĩ rằng :
Ðời vị lai ở trong tất cả Nhơn Thiên thế gian, ta
phải thế nào để được làm đèn sáng, làm đuốc, làm ánh
sáng, làm thuyền, làm hướng đạo, làm thầy, làm thương
chủ, làm đạo thủ, làm vô thượng, tự độ độ người,
tự thoát giải thoát người, tự an an ổn người, tự được
Niết bàn khiến người được.
Ðại Vương
chớ quan sát thuở trước đã từng giàu sang tự tại, phải
biết các căn như ảo không có chán đủ, cũng không gì làm
cho nó đủ được, cảnh giới như mộng chẳng thỏa mãn được
Nầy Ðại
Vương ! Thuở quá khứ có vua hiệu là Ni Di, rõ thấu các pháp,
làm vua đúng pháp, trọn chẳng phóng dật, khi vua có làm việc
thì rời lìa phóng dật.
Vua Ni Di ấy
thường quán tam thế bình đẳng, lại quán tất cả pháp cũng
như tam thế bình đẳng. Vua ấy quán tất cả pháp quá khứ
xa lìa tự tánh, quán vị lai tất cả pháp xa lìa tự tánh,
quán hiện tại tất cả pháp cũng xa lìa tự tánh. Quán tất
cả pháp bình đẳng rồi, vua ấy ở nơi tất cả pháp chẳng
thủ trước. Vua ấy quán tất cả thế gian bị bốn thứ điên
đảo nó làm điên đảo : ở trong pháp bất tịnh mà tưởng
là tịnh, ở trong pháp khổ mà tưởng là vui, ở trong pháp
vô thường mà tưởng là thường, ở trong pháp vô ngã mà
tưởng là ngã. Vua quán thế gian rồi tự nghĩ rằng : Thế
gian bại hoại đại bại hoại, chúng sanh ở nơi tất cả
pháp tự tánh, không tịch mà họ chẳng hay biết. Ta nên dùng
bốn nhiếp pháp để nhiếp các chúng sanh. Các chúng sanh ấy
tùy thuận ta rồi tất sẽ lãnh thọ lời ta dạy.
Vua Ni Di dùng
bốn nhiếp pháp nhiếp các chúng sanh rồi liền đem pháp
bình đẳng dạy các chúng sanh.
Nầy đại
chúng ! Tất cả các pháp lìa tự tánh. Nếu tất cả pháp
lìa tự tánh thì nó cũng chẳng phải quá khứ, chẳng phải
vị lai, chẳng phải hiện tại. Tại sao ? Vì các pháp ấy
tự tánh chẳng phải thiệt vậy. Các pháp đã lìa tự tánh
thì các pháp ấy chẳng thể gọi nó lá quá khứ vị lai hiện
tại.
Vua Ni Di dạy
các chúng sanh về pháp tam thế bình đẳng rồi, có tám mươi
ngàn vạn na do tha vô lượng trăm ngàn chúng sanh được
vô sanh pháp nhẫn.
Bấy giờ
tại cung trời Ðao Lợi, chư Thiên Tử tụ hội nghị luận
rằng : Lành thay lành thay, người nước Diêm Phù Ðề được
đại lợi ích. Vua Ni Di hiểu rõ các pháp, làm vua đúng pháp
có đủ phương tiện. Ở nơi các chúng sanh điên đảo, vua
ấy dùng phương tiện khéo dạy họ pháp chẳng điên đảo
Bấy giờ
Thích Ðề Hoàn Nhơn ở cách xa Thiện Pháp Ðường, do
thiên nhĩ vói nghe lời các Thiên tử nghị luận, liền đến
Thiện Pháp Ðường lên ngự pháp tọa bảo các Thiên Tử rằng
: Vua Ni Di ấy thành tựu đầy đủ phương tiện thiện xảo
chẳng thể nghĩ bàn. Tại trời Ðao Lợi nầy, các Ngài có
muốn thấy vua Ni Di ấy chăng ?
Chư Thiên
Tử đồng thưa muốn được thấy.
Thiên Ðế
liền truyền ngự thần tên Ma Ða Lê rằng : Nhà ngươi nên
trang bị ngàn xe báu cõi trời đến Diêm Phù Ðề nước Bệ
Ðề A thưa với vua Ni Di rằng : Ðây là ngàn xe báu cõi trời
sai đến rước vua, xin vua chớ kinh sợ. Tất cả chư Thiên
Ðao Lợi đều muốn được thấy vua. Xin vua lên ngự trên
xe báu nầy.
Lúc thấy
vua Ni Di lên xe rồi, thì ngươi hỏi : “ Thưa Ðại Vương
! Nay tôi đem vua theo đường nào để đi đến trên trời Ðao
Lợi ? Theo đường chúng sanh an trụ điên đảo mà đi hay theo
đường chúng sanh chẳng an trụ điên đảo mà đi.
Thiên thần
Ma Ða Lê lãnh lịnh Thiên Ðế Thích nghiêm bị ngàn xe báu,
tự lên ngồi rồi từ Ðao Lợi Thiên xuống Diêm Phù Ðề
đến nước
Bệ Ðề
A thưa vua Ni Di rằng : Chư Thiên Ðao Lợi đem ngàn xe báu đến
rước xin vua chớ nghi sợ. Chư Thiên trên ấy đồng muốn
thấy vua.
Bấy giờ
vua Ni Di lòng không kinh sợ buớc lên xe báu. Vua đã lên rồi,
thiên thần Ma Ða Lê lại thưa rằng : Nay tôi phải đem vua
đi đường nào, đi đường chúng sanh an trụ điên đảo,
hay đi đường chúng sanh chẳng an trụ điên đảo ?
Vua Ni Di bảo
Thiên Thần : Ngài có thể đưa tôi đi khoảng giữa hai đường
ấy.
Ma Ða Lê
liền đem vua đi giữa hai đường ấy.
Vua Ni Di bảo
Thiên Thần : Ngài nên tạm dừng xe lại, tôi muốn quan sát
các chúng sanh điên đảo.
Thiên Thần
tuân lời dừng xe. Trong thời gian ngắn ấy, vua Ni Di làm cho
tám mươi ngàn vạn chúng sanh an trụ trong thiệt kiến tam muội.
Tại sao được như vậy ? Vì vua từ lâu đã khéo tu tập bất
phóng dật hạnh. Khiến chúng sanh nhập thiệt kiến tam muội
rồi sau sẽ đều được vô sanh pháp nhẫn.
Ma Ða Lê
trọn chẳng hay biết việc làm của vua Ni Di, tiếp tục đưa
vua đi đến đảnh núi Tu Di. Từ xa vua thấy rừng rậm xanh
tốt liền bảo Thiên Thần :Rừng ấy quyết định là chỗ
ở của các chúng sanh chẳng điên đảo.
Thiên Thần
Ma Ða Lê thưa : Nơi ấy chính là Thiện Pháp Ðường, chư Thiên
Ðao Lợi đang chờ được thấy vua, xin vua bước lên chớ
sợ.
Bấy giờ
vua Ni Di lòng chẳng sợ bước lên Thiện Pháp Ðường. Thiên
Ðế Thích đón tiếp vua và chia nửa bửu tọa cho vua cùng
ngồi.
Hai vua ngồi
xong. Thiên Ðế Thích ôn nhu nói với vua Ni Di rằng : Ðại
vua làm được lợi ích lớn, có thể làm cho Phật pháp thạnh
hưng tăng trưởng.
Thiên Ðế
Thích lại bảo chư Thiên Ðao Lợi rằng : Vua Ni Di nầy đầy
đủ thành tựu phương tiện thiện xảo chẳng thể nghĩ bàn.
Trong thời gian ngắn, vua nầy có thể làm cho tám mươi ngàn
vạn chúng sanh an trụ Phật pháp mà Ma Ða Lê đều chẳng hay
biết.
Lúc ấy vua
Ni Di vì chư Thiên Ðao Lợi mà giảng rộng Phật pháp vi diệu.
Làm cho chư Thiên được lợi ích xong, vua thưa với Thiên
Ðế Thích
rằng : Tôi muốn trở lại Diêm Phù Ðề,. Tại sao ? Vì tôi
muốn hộ trì chánh pháp của Phật tại Diêm Phù Ðề vậy.
Thiên Ðế
Thích liền truyền Ma Ða Lê nghiêm bị ngàn cổ xe
đưa vua Ni Di về.
Về đến
Diêm phù Ðề vua Ni Di thành tựu phương tiện đại từ thiện
xảo dìu dắt vô lượng chúng sanh an trụ Phật pháp.
Nầy Ðại
Vương ! Vua Ni Di thuở xưa ấy chính là thân Phật đây vậy.
Ðại Vương
nên quan sát năng lực của hạnh bất phóng dật khó nghĩ bàn
được. Vua Ni Di lên ngồi ngự tọa của Thiên Ðế Thích mà
còn chẳng tham trước. Vì thế nên Ðại Vương ở trong Phật
pháp phải siêng năng tinh tấn tu các hạnh chẳng phóng dật.
Nầy Ðại
Vương ! Thế nào gọi là Phật pháp ?
Nầy Ðại
Vương ! Tất cả pháp đều là Phật pháp cả ».
Tịnh Phạn
Vương nghe lời dạy nầy liền bạch rằng : « Bạch Thế Tôn
! Nếu tất cả pháp là Phật pháp, thì tất cả chúng sanh
cũng lẽ ra là Phật » .
Ðức Phật
phán rằng : « Nếu chẳng điên đảo thấy chúng sanh thì chính
là Phật vậy ».
Nầy Ðại
Vương ! Nói là Phật đó , là như thiệt thấy chúng sanh vậy,
như thiệt thấy chúng sanh chính là thấy thiệt tế. Thiệt
tế chính là pháp giới.
Nầy Ðại
Vương ! Thiệt tế ấy chẳng thể hiển thị được. Chỉ
là danh từ, chỉ là thế tục, chỉ là trong số thế tục,
chỉ có ngôn thuyết, chỉ giả đặt để. Phải nhận xét
như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Tất cả pháp vô sanh đây là môn đà la ni. Tại sao
đây gọi là môn đà la ni ? Ở đây tất cả pháp không động
không lay, không lấy không bỏ, đây gọi là môn đà la ni.
Nầy Ðại
Vương ! Tất cả pháp bất diệt là môn đà la ni. Tại sao
bất diệt là môn đà la ni ? Trong ấy, tất cả pháp chẳng
động chẳng lay, chẳng lấy chẳng bỏ. Môn đà la ni ấy không
có tướng mạo, không có tự tánh, không đặt đề được,
không tác không tạo, không lai không khứ, không ngã không nhơn,
không chúng sanh không thọ mạng, không dưỡng dục chẳng phải
đối trị, không hình không trạng, không trói không rời, không
uế không tịnh, không thương không ghét, không buộc không
mở, không xuất không thối, không được không ở, không định
không loạn, không tri chẳng phải vô tri, chẳng phải
kiến chẳng phải vô kiến, chẳng phải giới chẳng phải
phạm, chẳng phải ăn năn chẳng phải không ăn năn, chẳng
phải mừng chẳng phải không mừng, chẳng phải khổ chẳng
phải vui, chẳng phải định chẳng phải bất định , chẳng
phải thiệt chẳng phải đảo, chẳng phải Niết bàn chẳng
phải không Niết bàn, chẳng phải ái kiến chẳng phải lìa
ái kiến, chẳng phải giải thoát chẳng phải không giải thoát,
chẳng phải trí chẳng phải bất trí, chẳng phải nhìn xem
chẳng phải chẳng nhìn xem, chẳng phải nghiệp chẳng phải
chẳng nghiệp, chẳng phải đạo chẳng phải chẳng đạo.
Nầy Ðại
Vương ! Phải dùng sáu mươi bảy pháp môn để vào tất cả
pháp.
Nầy Ðại
Vương tự thể các pháp chẳng phải từng có sẽ có
hiện có.
Như tượng trong gương chẳng phải có không, tự thể của
sắc cũng vậy, chẳng phải đã sẽ và hiện có. Thọ tưởng
hành và thức cũng như vậy.
Nầy Ðại
Vương ! Như vang chẳng phải đã sẽ, và hiện có, sắc thọ
tưởng hành và thức cũng như vậy, thể tánh nó chẳng
phải đã sẽ và hiện có.
Nầy Ðại
Vương ! Như dương diệm chẳng phải đã sẽ và hiện có,
sắc thọ tưởng hành và thức cũng như vậy, thể tánh nó
chẳng phải đã sẽ và hiện có.
Nầy Ðại
Vương như khối bọt nước chẳng bền chắc, nó chẳng phải
đã sẽ và hiện có, sắc thọ tưởng hành và thức cũng như
vậy, thể tánh nó chẳng phải đã sẽ và hiện có.
Nầy Ðại
Vương ! Như mộng thấy nữ nhơn đẹp, sự thấy trong mộng
chẳng phải đã sẽ và hiện có. Thể tánh của sắc thọ
tưởng hành thức cũng như vậy, chẳng phải đã sẽ và hiện
có.
Nầy Ðại
Vương ! Như Thạch Nữ mộng thấy đẻ con trai, sự được
thấy trong mộng ấy chẳng phải đã sẽ và hiện có. Thể
tánh của thọ tưởng hành và thức cũng như vậy, chẳng phải
đã sẽ và hiện có.
Nầy Ðại
Vương ! Sắc không có sanh cũng không có diệt, thọ tưởng
hành và thức không có sanh cũng không có diệt, như Niết bàn
giới không có sanh không có diệt vậy.
Như pháp
giới không sanh không diệt, sắc thọ tưởng hành và thức
không sanh không diệt cũng như vậy.
Nầy Ðại
Vương Tất cả pháp là Như Lai cảnh giới, bất khả
tư nghì cũng là Như Lai cảnh giới, bất cộng pháp, cũng là
Như Lai cảnh giới, vì chẳng cùng chung với cảnh giới của
tất cả phàm phu vậy, cũng chẳng cùng chung với cảnh giới
của tất cả Thanh Văn Duyên Giác vậy.
Tất cả
pháp ấy chẳng phải chê chẳng phải khen, chẳng phải được
chẳng phải mất, chẳng phải giác chẳng phải bất giác,
chẳng phải trí chẳng phải bất trí, chẳng phải thức chẳng
phải bất thức, chẳng phải xả chẳng phải bất xả, chẳng
phải tu chẳng phải bất tu, chẳng phải thuyết chẳng phải
bất thuyết, chẳng phải chứng chẳng phải bất chứng, chẳng
phải hiển thị chẳng phải chẳng hiển thị, chẳng phải
khả văn chẳng phải chẳng khả văn.
Tại sao vậy
?
Vì pháp ấy
không có pháp phò cử được xô ngã được như vậy.
Tại sao vậy
?
Vì tất cả
pháp rời lìa tự tánh vậy.
Ðại Vương
nay phải an tâm ở trong pháp ấy, sâu quan sát nó chớ tin nơi
khác ”.
Bấy giờ
Tịnh Phạn Vương nghĩ rằng : Ở trong các pháp không có pháp
gì để được. Không có pháp ấy chứng được pháp ấy mà
gọi là Phật ấy. Các pháp thiệt chẳng có được. Chỉ vì
chúng sanh mà đức Phật giả ngôn thuyết thôi.
Lúc Phật
nói pháp ấy, Tịnh Phạn Vương và bảy vạn Thích chủng được
vô sanh pháp nhẫn.
Ðức Phật
biết hàng Thích chủng được thâm tín rồi liền hiện mỉm
cười.
Huệ Mạng
Mã Thắng Tỳ Kheo nói kệ hỏi Phật :
“Ðấng
Ðại Hùng Ðạo Sư
Vì đời
mà mỉm cười
Mong đuốc
sáng thế gian
Diễn nói
sự mỉm cười
Thập lực
Nhứt thiết trí
Cớ chi hiện
mỉm cười
Xin nói cớ
cười ấy
Dứt lưới
nghi thế gian
Phật vì
hàng Thích chủng
Mà hiện
tướng mỉm cười
Xin mau trừ
lưới nghi
Của chúng
Trời và Người
Ðược nghe
đức Phật nói
Thế gian
hết nghi ngờ
Lòng họ
được hoan hỉ
An trụ trong
Phật pháp
Các con của
Thế Tôn
Ðược nghe
cớ mỉm cười
Bền chắc
ở thệ nguyện
Trí huệ
tất thông đạt
Ngưỡng
mong đấng Ðạo Sư
Dứt trừ
lòng chúng nghi
Chúng được
hết nghi rồi
Tất được
vui lớn rộng ”.
Ðức Thế
Tôn nói kệ đáp Mã Thắng Tỳ Kheo :
“ Phật
hiện cười tịch diệt
Mã Thắng
hãy lắng nghe
Nay Phật
sẽ nói rõ
Thích chủng
quyết định trí
Các pháp
bất khả đắc
Thích chủng
đều biết được
Vì thế
tâm quyết định
An trụ nơi
Phật pháp
Dòng họ
Thích danh tiếng
Y cứ vô
sở đắc
Sẽ
được Vô Thượng Giác
Biết rõ
tất cả pháp
Mạng người
nầy mãn rồi
Thích chủng
ấy quyết định
Ðược sanh
nước cực lạc
Gần kề
Phật Di Ðà
Họ ở cực
lạc rồi
Vô úy thành
Bồ đề
Hay đến
mười phương cõi
Cúng đường
vô số Phật
Ở tại
một Phật độ
Hay cúng
mười phương Phật
Vì thương
xót chúng sanh
Mà cầu
đạo vô thượng
Du lịch
các Phật quốc
Cúng dường
chư Phật ấy
Ðều do
thần lực mình
Theo chỗ
chư Phật mà đến
Vô lượng
vô số kiếp
Cúng dường
các Ðạo Sư
Với các
thứ diệu cúng
Sau sẽ thành
Phật đạo
Mỗi mỗi
thành Phật rồi
Hay độ
vô lượng chúng
Khiến được
thành Phật đạo
Lại giáo
hóa chúng sanh
Chúng sanh
ở nước ấy
Ðều sẽ
thành Phật đạo
Chư Phật
Thế Tôn ấy
Chẳng độ
chúng Thanh Văn
Mỗi Phật
Thế Tôn ấy
Ðều thọ
một kiếp tuổi
Chánh pháp
chư Phật ấy
Vô lượng
vô số kiếp
Chư Phật
ấy diệt độ
Chư Bồ
Tát đại Trí
Gìn pháp
độ thế gian
Ức Vô số
ngàn năm
Chư đại
Bồ Tát ấy
Giáo hóa
vô lượng chúng
Ðặt ở
đạo Vô thượng
Thuyết pháp
đều không tịch
Khiến trụ
bất phóng dật
Tu tập pháp
không tịch
Hay được
Nhứt thiết trí
Ưa hạnh
bất phóng dật
Nghe Thế
Tôn tuyên nói
Thọ ký
hàng thích chủng
Trời Người
đều vui mừng
Chí cầu
đạo vô thượng ”.
Bấy giờ
đức Thế Tôn bảo Huệ Mạng Xá Lợi Phất : Nầy Xá Lợi
Phất ! Ðây là tam muội thấy chơn thiệt của Bồ Tát. Ông
phải nói lại với hàng bất thối chuyển của Bồ Tát. Tại
sao vậy ? Nầy Xá Lợi Phất ! Tam muội nầy chẳng thể nói
được. Như Lai ở trong tam muội ấy chẳng được một pháp.
Nếu là chẳng được thì nó là chẳng thể giác được. Nếu
chẳng thể giác đuợc thì nó là chẳng thể nói được. Nếu
chẳng thể nói được thì nó là chẳng thể biết được.
Chẳng thể biết được ấy tức là pháp của tam thế chư
Phật vậy.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nay ta phó chúc cho ông, đây là tam muội thấy chơn
thiệt của Bồ Tát phải nên thọ trì đọc tụng giảng nói
rộng cho người.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nếu có thiện nam thiện nữ an trụ đại thừa trải
qua mười kiếp tu hành năm ba la mật, lìa Bát Nhã Ba la mật,
nếu có người được nghe tam muội thấy chơn thiệt của
Bồ Tát nầy thì phước đức lớn hơn. Nếu người tạm nghe
tam muội thấy chơn thiệt của Bồ Tát nầy, nếu lại có
người được nghe đây rồi nói cho mọi người thì phước
đức càng lớn hơn.
Nếu có người
trong mười kiếp nghe đây rồi nói cho mọi người, nếu lại
có người nhẫn đến trong thời gian một sát na tu tập tam
muội thấy chơn thiệt của Bồ Tát thì phước đức càng
lớn hơn.
Vì thế nên
Xá Lợi Phất đem kinh Bồ Tát Kiến Thiệt Tam Muội nầy vì
chư Bồ Tát mà diễn nói chỉ dạy tu hành.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Nếu tu theo tam muội nầy thì sẽ được vô sanh pháp
nhẫn.
Nầy Xá Lợi
Phất ! Trong pháp hội đây, chư Bồ Tát được ta thọ ký
đạo vô thượng đều được an trụ trong tam muội thấy chơn
thiệt của Bồ Tát.
Bấy giờ
tất cả Bồ Tát Thanh Văn, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát
Bà, Nhơn Phi Nhơn tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều
vui mừng phụng hành.
Hết Tập
4
Hết Phẩm
thứ XVI