Như
vậy tôi nghe một lúc Ðức Phật Trúc viên Ca Lăng đà, nơi
thành vương xá.
Bấy giờ
có đại Bồ Tát tên Thiện Tý đến chỗ Phật đầu mặt
lạy chưn Phật rồi ngồi qua một phía.
Ðức Phật
bảo Thiện Tý Bồ Tát: « Nầy thiện nam tử! Ðây là
sáu Ba la mật mà chư Bồ Tát phải có đủ: Ðàn na Ba
la mật, Thi la ba la mật, Thiền na Ba la mật, Tì lê gia Ba la
mật.
Thế nào
là Bồ Tát đầy đủ hành Ðàn na Ba la mật?
Nầ Thiện
Tý! Nơi các tụ lạc, Bồ Tát chánh mạng cầu tài vật mà
chẳng có mạng cầu. Bồ Tát tủy thuận chẳng nghịch chẳng
khổn bức chúng sanh để cầu tài vật mà bố thí. Chẳng
vì cung kính cúng dường danh xưng v.v…mà hành bố thí, chẳng
phải vì sợ vì thẹn vì quả báo vì sanh thiên cũng chẳng
dua siểm mà hành bố thí. Bồ Tát lấy tâm bình đẳng cúng
dường cung kính tôn trọng tán thán tất cả mọi người không
luận người quen kẻ lạ, với người trì giới người hủy
giới không sanh lòng khen chê.
Cũng đối
với người trì giới hủy giới người quen người lạ người
thân người chẳng thân người oán người chẳng oán, Bồ
Tát luôn kính trọng yêu thương tin ưa, tùy chỗ mình có mà
bố thí đúng chỗ, có ít thí ít có nhiều thí nhiều, có
thô thí thô, có tế thí tế, có diệu thí diệu có chẳng
diệu thí chẳng diệu. Hoặc đem đồ ăn đồ dùng giá trị
trăm ngàn thí cho người, hoặc một phần muời sáu cuả một
tiền đem thí cho người, lòng Bồ Tát hoan hỉ đồng đều
không sai khác.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát ấy đối với kẻ khất thực, người cần ăn
thì thí cho món ăn vì đầy đủ sức Nhứt thiết trí vậy,
người cần uống thì thí cho món uống vì đầy đủ sức
dứt sự khát ái của chúng sanh vạy, người cần y phục thí
thí cho y phục vì được y phục tàm qúi vô thượng vậy,
người cần xe cộ thì thí cho xe cộ vì được Bồ Tát thừa
Phật thừa vậy, người cần hương thơm thì thí cho hương
thơm vì được hương trì giới chánh giác vậy, người cần
hoa đẹp thì thí cho hoa đẹp vì được hoa thất giác của
Phật vậy, người cần hương bột thì thí cho hương bột
vì được hương trừ diệt bất thiện cho tất cả chúng sanh
vậy, người cầu hương xoa thì thí cho hương xoa vì được
thân không thiếu giới hương vậy, người cần dù thí cho
dù vì dứt lửa nóng phiền não cho chúng sanh vậy, người
cần dép giày thí cho dép giày vì thọ vui trí huệ vô lượng
vậy, người cần giường nằm thì thí cho giường nằm
vì khiến cho chúng sanh được sức khoái lạc của giường
nằm Ðế Thích Phạm Vương và chư thánh vậy, người cần
chỗ ngồi vì ngồi cội Bồ đề mà các ma kiết sử chẳng
phá hoại được chỗ ngồi ấy vậy, người cần nhà thí
cho nhà vì khiến chúng sanh được nơi che chở không bị khinh
sợ mà được sức vô ngã vậy, đem vườn tốt thí cho
Phật Tăng vì được sức thiền định tịch tĩnh vô thượng
vậy, đem đồ cúng vi diệu các thứ trang nghiêm thí cho
Phật tháp miếu vì được sức đại trượng phu có đủ ba
mươi hai tướng tám mươi bảo vậy, thắp đèn sáng trong
tháp Phật hoặc nơi đường tối vì được Phật nhãn soi
sáng vô lượng vậy, đem những kỹ nhạc cúng dường
Tam bảo vì được thiên nhĩ vô lượng vậy, đem y bát
bố thí vì được trì giới đoan nghiêm vô thượng vẫy,
đem quạt và chậu rửa tấm thí cho người vì khiến cho chúng
sanh được mát mẽ sãch sẽ vậy, đem giấy viết mực
và tòa cao thí cho ví được trí huệ lớn vô thượng vậy
đem thuốc cho người bịnh vì trừ bịnh kiết sử cho chúng
sanh vậy đem ruộng đất thí cho người khiến chúng sanh được
thế giới cam lộ của tam thừa vậy, xây tạo tháp và hình
tượng vì khiến chúng sanh nghe chánh pháp vậy, có bao nhiêu
đồ vật mau đem thí cho người vì được sức thần thông
mau lẹ vậy, bố thí thanh tịnh vì ở trong đạo vô thượng
không bị lưu nạn vậy, bố thí luôn chẳng tuyệt vì được
sức hiện tài vô ngạy chẳng dứt vậy, tùy ý bố thí vì
khiến chúng sanh được sức đại bi vậy, chẳng bức
người lấy của rồi đem dùng bố thí vì khiến các ma ngoại
chẳng hoại loạn được mà tự nhiên được thành đạo vô
thượng vậy.
Muốn bố
thí, Bồ Tát phải nên hành bố thí như đã được nói ở
trên. Nếu không có tài vật Bồ Tát nên sanh lòng bố thí
như đã được nói ở trên. Nếu không có tài vật Bồ Tát
nên sanh lòng bố thí, muốn được khai thị vô lượng vô
biên chúng sanh, có sức hay không có sức, bố thí như trên
là hạnh lành, là diệu thắng của tôi, là bảo vật của
tôi hay khiến tất cả chúng sanh đều được thành tựu mọi
sự khoái lạc thế gian, đó là được vui hòa hiệp hay
xả thí tất cả không có hồ nghi, bao nhiêu nguyện cầu đều
được thành tựu, được hạnh an lạc.
Nếu các
chúng sanh thế gian hy vọng được những vật cần dùng tôi
sẽ cho họ đầy đủ, vàng bạc trân bửu y phục tiền của
chất đống như núi, món uống ăn như biển cả vô lượng
vô biên.
Trong ngày
đêm sáu thời, Bồ Tát ấy đem công đức qủa báo do mình
tài thí pháp thí đã được nguyện cùng chung với tất cả
chúng sanh, khiến quá khứ vị lai hiện tại tất cả
chúng sanh có hạnh nghiệp đều được sanh thế giới vi diệu
và được vui xuất thế.
Bồ Tát ấy
dầu làm bố thí như vậy mà trọng chẳng mong cầu quả báo,
khai thị phương tiện như vậy để giáo hóa chúng sanh vòa
pháp lành.
Lúc bố
thí, Bồ Tát ấy nguyện cho chúng sanh d0ộ được giải thoát
được nhứt thiết trí được tất cả Phật Pháp vậy. Hoặc
bố thí rồi cũng nguyện cho chúng sanh được độ được
giải thoát được nhứt thiết trí được tất cả Phật
pháp vậy.
Bố thí như
vậy nếu không đủ sức chẳng thể học chẳng thể xả tài
vật, Bồ Tát nầy nên suy nghĩ như vầy: Nay tôi phải
siêng tinhtiến thêm lần lần dứt trừ cấu nhơ tham lam lẫn
tiếc, tôi phải siêng tinh tiến thêm lần lần học xả thí
tài vật cũng thường khiến lòng bố thí của tôi thêm rọng
lớn trọn không giải đãi lui sụt lòng hoan hỉ.
Bồ Tát
như vậy phát tâm Bồ đề nhớ tâm Bồ đề tu tâm Bồ đề
hy vọng Bồ đề nguyện cầu Bồ đề.
Ðây
gọi là Bồ Tát vô lượng vô số đại thí đại xả đại
xuất ly. Tại sao?Vì bố thí như vậy, trong các thứ bố thí
là thù thắng đệ nhất khiến đời vị lai ở trong tất cả
chúng sanh thế gian, tôi sẽ mưa pháp vũ, mưa cam lộ vũ, thí
pháp vũ, thí cam lộ vũ, xuất pháp vũ, xuất cam lộ vũ.
Nầy Thiện
Tý! Hành thí như vậy đại Bồ Tát chẳng cho là khó mà lấy
làm vui mau đầy đủ Ðàn na Ba la mật.
Nầy thiện
nam tử! Bồ Tát chẳng thể tự đem thân thể tay chưn thịt
xương thí cho người xin,hoặc tự cắt hoặc bảo người cắt.
Tại sao? Nếu thành nghiệp ấy thì sẽ khiến người xin kia
mắc vô lượng tội nơi đại địa ngục. Ðại bồ Tát
chẳng nên tự tiếc thân thể chi tiết. Tại sao? Vì muốn
khiến người xin xa rời nghiệp bất thiện rộng lớn vậy.
Nếu có người
xin đến Bồ Tát cầu đồ cần dùng, nếu không có, Bồ Tát
chẳng nên ép bức cha mẹ vợ con quyết thuộc tôi tớ để
lấy tài vật khiến họ thêm nghèo thiếu rồi đem bố thí.
Tại sao? Vì đại Bồ Tát muốn hành tâm đại từ bi bình
đẳng đối với tất cả chúng sanh vạy.
Nầy Thiện
Tý! Với chúng sanh khác Bồ Tát chẳng nên có lòng xan lẫn,
chẳng ép bức chúng sanh khác để lấy tài vật bố thí, việc
làm nầy chẳng được chư Phập khen ngợi, huống là tự
cắt chi tiết thân mình để thí cho người. Ðây gọi
là Bồ Tát đầy đủ Ðán na Ba la mật.
Nầy Thiện
Tý! Thế nào là đại Bồ Tát đầy đủ Thi la Ba la mật? Nầy
Thiện Tý! Ðối với tất cả chúng sanh, nhẫn đến trọn
đời,Bồ Tát tự chẳng sát sanh dạy người chẳng sát sanh
nguyện chẳng sát sanh, tự chẳng trộm cướp dạy người
chẳng trộm cướp nguyện chẳng trộm cướp, tự chẳng tà
dâm dạy người chẳng tà dâm nguyện chẳng tà dâm, tự
chẳng vọng ngữ dạy người chẳng vọng ngữ nguyện chẳng
vọng ngữ, tự chẳng uống rượu dạy nguèời chẳng uống
rượu nguyện chẳng uống rượu. trong năm giới ấy Bồ Tát
kiên trì chuyên niệm chẳng trể chẳng thiếu siêng năng tinh
tiến. Bồ Tát dứt lià hẳn những sự khủng bố người khác
những sự bắt trói giam nhốt cầm tù đánh đập hình
lục. cũng xa rời lưỡng thiệt ác khẩu vọng ngôn ỷ ngữ.
Bồ Tát suy
nghĩ như vầy: Với tất cả chúng sanh tôi phải yêu nhớ
họ như cha mẹ yêu nhớ con một. Nếu cha mẹ tôi dùng các
sự khổ cung tên dao gậy giết hại tôi, tôi trọn chẳng thù
chẳng báo. Tôi đối với tất cả chúng sanh phải như cha
mẹ vợ con ly biệt đã lâu, một mai gặp mặt thì lòng vui
mừng hớn hở vô lượng, Bồ Tàt thấy chúng sanh lòng Bồ
Tát cũng vui mừng như vậy.
Bồ Tát trì
giới bất sát vì muốn khiến chúng sanh được an trụ
giới bất sát bực vô học vậy. Bồ Tát trì giới bất đạo
vì muốn chúng sanh được an trụ giới bất đạo bực vô
học vậy.Bồ Tát trì giới bất tà dâm vì muốn chúng
sanh được an trụ giới bất tà dâm bực vô học vậy. Bồ
Tát trì giới bất vọng ngữ vì muốn chúng sanh an trụ
thiệt ngữ bực vô học vậy. Bồ Tát trì giới bất ẩm tửu
vì muốn chúng sanh được an trụ giới bất ẩm tửu bật
vô học vậy. Bồ Tát trì giới chẳng khủng bố vì muốn
được thành kim cương định vậy. Bồ Tát trì giới chẳng
bắt trói vì muốn chúng sanh dứt dây kiết sử vậy. Bồ Tát
trì giới chẳng nhốt tù vì muốn chúng sanh ra khỏi ngũ đạo
vậy. Bồ Tát trì giới chẳng đánh đập vì muốn xa rời
các ma kiết sử lưu nạn để được pháp định vậy. Bồ
Tát trì giới chẳng hình lục vì khiến thân khẩu ý được
nghiệp chẳng còn phải gìn giữ vậy Bồ Tát trì giới cha93ng
lưỡng thiệt vì được chúng hòa hiệp chẳng hoại vậy.
Bồ Tát trì giới chẳng ác khẩu vì được năm thứ phạm
âm thanh vậy. Bồ Tát trì giới chẳng ỷ ngữ vì muốn được
phát ngôn thuyết pháp không chướng ngại vậy. Bồ Tát trì
giới tìm cầu úy tử chúng sanh vì khiến chúng sanh thoát
ly sanh lão bệnh tử ưu sầu bi não hết khủng bố vậy. Bồ
Tát trì giới tiếc gìn tài vật người khác chẳng cho sót
mất vì được bồ đề giác định vậy. Bồ Tát cứu thoát
chúng sanh bị bắt bớ vì được chẳng thiếu pháp định
vậy. Bồ Tát khuyên người buông thả vì được tâm tự tại
vậy. Bồ Tát hoặc tự mình thả.hay khuyên người thả vì
ngồi tòa Bồ đề phá hoại tất cả ma kiết sử vậy.
Thấy chúng
sanh bị tù ngục, Bồ Tát hoặc tự thả hay khuyên người
thả vì được tâm tự tại không chướng ngại vậy. Thấy
chúng sanh sẽ bị đánh đập, Bồ Tát hoặc tự mình
thả hay khuyên nguèời thả vì được bốn vô sở úy vậy.
Thấy chúng sanh sẽ bị hình lục, Bồ Tát hoặc tự mình thả
hay khuyên người thả vì được bốn thứ pháp thân vậy.
Bồ Tát trì giới chẳng cuốn ngữ vì ngồi tòa sư tử nơi
cội Bồ đề tất cả ma kiết sử chẳng lưu nạn được
mà đắc pháp định vậy. Bồ Tát chẳng hòa đấu tranh chuyên
sanh hoang hỉ vì được thánh chúng chẳng hoại vậy.
Bồ Tát trì giới ái ngữ vì muốn chúng sanh nghe lời tốt
sanh vui mừng ưa thích vậy. Bồ Tát thuận theo ái ngữ để
nóivì muốn lời nói chẳng luống vậy. Bồ Tát trì giới
nói lời ca ngợi chư Phật vì được oai đức thánh nhơn
thành tựu đại chúng vậy. bồ Tát thọ trì, trong ba thời,
năm vóc quy mạng tam thế vô lượng vô biên chư Phật Pháp
Tăng và Bồ Tát giới vì được chỗ ngồi sư tử nơi cội
Bồ đề chẳng bị phá hoại chuyên an trụ tín tinh tấn niệm
định huệ được pháp định vậy. Bồ Tát thọ trì, trong
ba thời, quét dọn nhiễu thápvì được đầy đủ tất cả
Phật pháp vậy. Bồ Tát thọ trì giới tán thán Phật pháp
vì được chuyển pháp luân vô thượng vậy. Bồ Tát thọ
trì giới tán thán Phật tăng vì được đại chúng vi nhiễu
vậy. Bồ Tát thọ trì giới ba thời quy y tam bảo vì muốn
khiến chúng sanh đượv qui y vô thượng vậy. Bồ Tát thọ
trì giới trong ba thời nguyện cho tất cả thế gian thường
có Phật pháp và Bồ Tát Tăng chẳng lúc nào không vì muốn
được vui vô thượng Bồ đề vậy. Bồ Tát thọ trì giới
trong ba thời khuyên thỉnh tất cả chư Phật thuyết pháp vì
được ở mười chỗ mưa pháp vũ vậy. Bồ Tát thọ trì giới
trong ba thời sám hối các tội trừ bỏ các thứ ô uế vì
dứt tất cả tạp khí ái nhiễm vậy. Bồ Tát trì giới trong
ba thời hòa hiệp tất cả thiện căn vì khiến tất cả Ba
la mật đầy đủ vậy. Bồ Tát thọ trì giới trong ba thời
tưởng nhớ bao nhiêu điều nguyện lành tốt của chư phật,
chư Bồ Tát, Thanh văn Duyên Giác, dưới đến lục đạo chúng
sanh suốt ba đời khắp tất cả mọi nơi mọi chỗ ở thế
gian vì được diệu dụng Vô thượng Bồ đề vậy. Bồ
Tát thọ trì giới trong ba thời nguyện cầu giới Bồ Tát
vì được chánh quyết định vô thượng Bồ đề vậy.
Bồ Tát thọ trì giới tất cả thiện căn vô thượng đạo
vì được quyết định Phật trí lực vô sở úy vậy. Bồ
Tát thọ trì giới cung cấp cha mẹ sư trưởng vì được pháp
định vô thắng vậy. Nếu thấy người nghèo cùng kinh sợ
Bồ Tát liền thọ trì giới chẳng khủng bố cung cấp bố
thí vì được phương tiện luận nghị không bị phá hoại
trở nạn vậy. Bồ Tát thọ trì giới cứu hộ kẻ bị nạn
quan quyền giặc cướp nước lửa vì được các lực Ba la
mật vậy. Bồ Tát nếu thấy thần túc của Phật Bồ Tát
Thanh văn Duyên Giác liền trì giới tùy hỉ vì được thần
lực vô thượng vậy. Bồ Tát thọ trì giới thủ hộ thân
khẩu ý ba nghiệp của mọi người vì được sức trí biết
tha tâm vô lượng của như lai vậy Bồ Tát nếu thấy người
phóng dật thất niệm như là quyên mất đạo
nghĩa Tam thừa hiện tại vị lai liền nguyện phát khởi ghi
nhớ thọ trì chẳng mất, Bồ Tát thọ trì giới nghe
pháp chứa họp pháp và thuyết pháp vì được tứ vô ngạy
biện tài vậy. Bồ Tát thọ trì tất cả ba nghiệp thân khẩu
ý nhiếp thọ phụng hành tất cả thiện căn vì muốn cho tất
cả chúng sanh được độ được giải thoát vì được nhất
thiết trí đầy đủ tất cả Phật pháp vậy. Những thiện
căng như vậy nguyện vì tất cả chúng sanh mà nhiếp thọ
phụng hành, vì khiến chúng sanh được giải thoát được
Nhứt thiết trí đầy đủ tất cả Phật pháp vậy.
Bồ Tát trì
giới như vậy chẳng thiếu khuyết chẳng hủy phá chẳng hoang
dật. Nếu là người không lực thế tu học được thì nên
suy nghĩ như vầy: Nay tôi sẽ siêng tinh tiến thêm, hằng ngày
lần lần xa rời các sự bất thiện sát hại. Nay tôi lại
gắng tinh tiến thêm hằng ngày lần lẩn học trì giới tốt
cho thêm lớn đầy đủ nhẫn đến trọn đời chẳng hề giải
đãi chẳng hề lo sầu.
Nầy Thiện
Tý! Ðại Bồ Tát phát khởi tâm Bồ đề nhớ tâm Bồ
đề tu đạo Bồ đề hy vọng Bồ đề nguyện cầu Bồ đề
như vậy thì gọi là thiện căn trì giới vô lượng vô biên.
Tại sao? Vì trì giới như vậy là tối thắng đệ nhứt
trong tất cả thiện giới. Bồ Tát thọ trì giới nầy muốn
cho tất cả thế gian có bao nhiêu chúng sanh đều phát khởi
giới vô lậu phát khởi giới vô học sanh giới vô lậu sanh
giới vô học.
Nầy thiện
Tý! Ðại Bồ Tát trì giới như vậy chẳng lấy làm khó
mà làm vui thích mau đầy đủ Thi Ba la mật.
Thế nào
là đại Bồ Tát đầy đủ Sằn đề Ba la mật?
Nầy Thiện
Tý! hoặc tự quyến thuộc hay chúng sanh khác đến đoạt mạng
sống của Bồ Tát, trong sự ấy Bồ Tát trọn không có lòng
giận thù. Hoặc có người đến đoạt tài vật của Bồ Tát
nhẫn đến đoạt vộ con hay dùng các sự ác sự khổ hại
Bồ Tát như ác khẩu lưỡng thiệt vọng ngữ khủng bố trói
cột nhốt tù đánh đập hình lục, bấy giờ Bồ Tát cũng
sanh lòng thù.
Ðối với
các sự ác khổ làm khổ mình như vậy Bồ Tát suy nghĩ rằng:
Ðây là nghiệp báo ác bất thiện của tôi, tôi tự gây tôi
tự thọ, hoặc đời trước hoặc đời nay đã làm rồi nên
bây giờ thọ lấy qủa báo, tại sao ở nơi qủa báo của
mình mà tôi lại giận người.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Nếu có kẻ đến đoạt mạng
sống của tôi cho đến đánh đập hình lục tôi, với trong
các sự khổ ác ấy tôi chẳng nên giận hại người. Tại
sao?Vì đời nay bị chút khổ não còn chẳng vui vẽ chịu đựng
được sao trở lại giận hại người để rồi đời sau sẽ
lấy tội báo vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức nhiều
sự khổ não hơn.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Vì có mạng sống, nên đoạn
mạng sống, vì có tài vật nên đoạn tài vật, vì có vợ
con nên đoạn vợ con, vì có nhĩ căn nên nghe ác khẩu lưỡng
thiệt vọng ngôn ỷ ngữ, vì có thân thể nên có khủng bố
bắt trói tué rạt đánh đập hình lục, nay tôi tự thọ lấy
sự khổ của mạng sống của nhĩ căn và thân thể cuả mình
tại sao lại giận hại người.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Thân thể nầy tất cả sáu
căn nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý tức là điạ đại thủy đại
hỏa đại phong đại, tức là vật của mình là pháp giới
là tự tánh, tứ là pháp phá hoại pháp dứt diệt pháp hư
mất, là phàp khổ, pháp khổ xúc là pháp thọ khổ, nay
ở nơi pháp hoại pháp khổ nầy sao tôi lại sanh lòng giận
thù hại người. Tại sao? Vì tức là vật của mình là Pháp
giới là tự tánh vậy.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Nội nhãn nhĩ tỉ thiệt thân
ý chẳng phải ngã, ngoại nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý cũng
chẳng phải ngã ngã sở, người có trí sáng suốt đâu nên
ở nơi sáu căn nội ngoại chẳng phải ngã ngã nầy mà trang
nghiêm ái nhiễm làm hại người.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát lại suy nghiĨ rằng: Trong loài người khổ ít,
ngạ quỉ khổ nhiều, súc sanh khổ nhiều hơn, địa ngục
khổ não vô lượng vô biên không thể kể hết. Còn chẳng
muốn thọ khổ ít trong loài người, huống là thọ khổ vô
lượng trong ba ác đạo, vì thế nên tôi không nên giận thù
hại người. Nầy Thiện Tý! Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Nay
tôi nếu có thể làm lợi ít cho mọi người còn chẳng nên
có lòng giận thù hại người, huống là tôi sẽ đem pháp
nghiã lợi ít cho tất cả thế gian vô lượng chúng sanh mà
phát đại trang nghiêm xong được Phật thọ ký thẳng lên
đại thừa được đầy đủ Phập pháp vô thượng. Trong
Phật pháp ấy chẳng nên chẳng nhẫn chịu, chẳng nên giận
thù hại người mà nên thật hành nhẫn nhục lợi ích cho
người, khéo hòa giải tranh chấp chẳng hề ganh ghét.
Nầy Thiện
Tý! Nếu thiện nam thiện nữ dầu bị khổ đau vô lượng
như ở địa ngụcvô gián, đối với oan gia còn chẳng
nên giận thù trả oán huống là ở trong loài người bị khổ
chút ít mà nên sanh lòng giận thù hại người. Ðối
với kẻ đến gây hại mắng chửi bêu xấu, thiện nam thiện
nữ nầy đều phải nhịn chịu phát khởi lòng từ bi thuần
tịnh không cấu uế, vì muốn được Phật tâm vậy.
Nếu bị
khủng bố bắt đánh giam tù, Bồ Tát đều phải nhận chịu
phát khởi lòng từ bi vì muốn trong một niệm phá vỡ vỏ
trứng vô minh tâm tối vậy.
Bồ Tát chịu
khổ thật hành tâm nhẫn nhục từ bi vì muốn tất cả chúng
sanh dứt trừ sân ái vậy.
Lúc bị cắt
tai, Bồ Tát hành tâm nhẫn nhục từ bi vì muốn tất cả chúng
sanh nghe chánh pháp sanh lòng tin vậy.
Lúc bị xẻo
mũi, Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì thọ giới hương đoan nghiêm
vô thượng vậy.
Lúc bị chặt
chân; Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì được bốn thần túc
của như lai vậy.
Lúc bị chặt
tay, Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì muốn nhiếp thủ tất cả
chúng sanh được tịch tĩnh vậy.
Lúc bị xẻ
rời thân thể, Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì muốn đầy đủ
sáu Ba la mật vậy.
Lúc bị móc
mắt,Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì muốn được huệ nhãn
vậy.
Lúc bị chặt
đầu. Bồ Tát hành tâm nhẫn từ vì muốn được đầu trí
huệ của Phật vậy.
Bồ Tát suy
nghĩ nhẩn nhục như vậy nguyện cho chúng sanh được độ
được giải thoát, vì được nhứt thiết trí được tất
cả Phật pháp. Nhẫn nhục như vậy chẳng thiếu khuyết chẳng
phá hoại chẳng hoang dật.
Nếu không
lực thế chẳng thể học tập như vậy: Bồ Tát nầy nên
suy nghĩ rằng: Nay tôi nên siêng tinh tiến thêm luôn luôn lần
lần xa dứt tâm chẳng nhẫn nhục mà học tập nhẫn nhục
lần lần, khiến tâm nhẫn nhục của tôi thêm rộng lớn đầy
đủ, cho đến trọn đời chẳng hề giải đãi ưu sầu.
Ðại Bồ
Tát như vậy phát tâm Bồ đề nhớ tâm Bồ đề tu tâm Bồ
đề hy vọng Bồ đề nguyện cầu Bồ đề, Bồ Tát nầy
phát khởi chánh hạnh vô lượng vô biên a tăng kỳ thiện
căn nhẫn nhục như vậy muốn cho tất cả thế gian chúng sanh
phát khởi vô lậu nhẫn nhục phát khởi vô học nhẫn nhục
sanh vô lậu nhẫn nhục sanh vô học nhẫn nhục.
Ðại Bồ
Tát hành nhẫn nhục như vậy chẳng lấy làm khó mà là vui
thích mau đầy đủ Sằn đề Ba la mật.
Thế nào
là đại Bồ Tát đầy đủ Tỳ lê gia Ba la mật?
Nầy Thiện
Tý !Bồ Tát phải suy nghĩ như vầy: Nay mười phương nầy
mỗi phương đều có vô lượng thế giới mỗi thế giới
có vô lượng vô biên chúng sanh tụ tập, nay tôi nên phát
trang nghiêm khiến chúng sanh nầy được lợi ích rộng lớn
được vui rộng lớn. Lại vì quan sát biết pháp sở duyên
lợi ích khoái lạc của vô lượng chúng sanh, vì pháp
khởi pháp thiện căn, nên tôi trong vô lượng ngày đêm, hoặc
tâm phóng dật hoặc móng niệm khác, hoặc lúc ngủ nghỉ,
trong mỗi niệm thường tăng trưởng phước đức, trong mỗi
niệm phát khởi vô lượng vô biên tư lương thiện căn Bồ
Ðề. Nay tôi nên biết vì trong mỗi niệm phát khởi thêm lớn
vô lượng thiện căn Bồ đề thì hành vô thượng Bồ đề
không khó. Do duyên cớ nầy mà tôi thấy Bồ đề rất là
dễ được. Vì thế nên người muốn được đạo vô thượng
thì trọn đời chẳng nên giải đãi.
Nầy Thiện
Tý ! Ðại Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Ở trong vô
lượng vô biên thế giớI, nếu Bồ Tát có thể làm cho chúng
sanh trong một thế giới được rời lìa tất cả khổ, tôi
còn ở trong mỗi niệm phát khởi thêm lớn vô lượng thiện
căn,huống là có thể làm cho chúng sanh trong vô lượng vô
biên thế giới trừ lìa những khổ ba ác đạo sanh lão bịnh
tử.
Nầy Thiện
Tý ! Ðại Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: trong một niệm nếu
Bồ Tát muốn cho chúng sanh trong vô lượng vô biên thế giới
trừ lìa tất cả khổ, Bồ Tát nầy cũng ở trong một niệm
phát khởi thêm lớn được vô lượng thiện căn, huống là
muốn khiến suốt vị lai tất cả chúng sanh trong vô lượng
vô biên vô số thế giới trừ lìa khổ ba ác đạo sanh lão
bệnh tử.
Nầy thiện
Tý !Bồ Tát lại phải suy nghĩ rằng:Nếu có người muớn
được pháp Thanh Văn Duyên Giác, trong mỗi niệm người
nầy còn được phát khởi thêm lớn vô lượng vô biên
thiện căn huống là người muốn thành tựu đầy đủ Phật
pháp vô lượng vô biên oai lực. Người nầy do bốn nhơn bốn
duyên bốn cảnh giới trong ngày đêm, hoặc tâm phóng dật
hoặc sanh niệm khác hoặc lúc ngủ nghỉ, trong mỗi niệm tu
tập tứ vô lượng vô biên thiện căn phát khởi thêm lớn
tư lương Bồ đề. Nay tôi nên biết trong mỗi niệm phát khởi
thêm lớn tứ vô lượng thiện căn thì thành Vô thượng Bồ
đề không khó. Vì thế nên tôi thấy Bồ đề rất là dễ
được. Vì thế nên người muốn được đạo Bồ đề trọn
đời chẳng nên giải đãi.
Ví như bốn
đại hải, hoặc nam bắc trên dưới đều dễ biết được
bờ mé, biển lớn tư lương Bồ đề tứ vô lượng thiện
căn rất khó biết ngằn mé, nay tôi cớ chi lại chẳng ở
trong mỗi niệm phát khởi thêm lớn tư lương Bồ đề tứ
vô lượng thiện căn, vì thế nên người muốn thành đạo
vô thượng trọn đời chẳng nên giải đãi.
Nầy Thiện
Tý !!Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Nếu có sư tử chồn sói
kên khách qụa chim muỗi ruồi rận chét đã được đạo vô
thượng rồI, huống là ta hiện nay sanh trong loài người mà
lại giải đãi. Vì thế nên người muốn thành đạo vô thượng
thì trọn đời chẳng nên giải đãi.
Nầy Thiện
Tý !Bồ Tát lại suy nghĩ rằng: Ðã có trăm người ngàn
người thành đạo vô thượng rồI, huống nay riêng mình tôi
chẳng được thành. Mười phương thế giới hiện tại vị
lai có hằng xa chư Phật Thế Tôn hiện thành sẽ thành, thế
nên nay tôi trọn đời chẳng nên giải đãi.
Nầy Thiện
Tý !Bồ Tát nầy lại nên suy nghĩ rằng: Nếu có chánh pháp
do Phật nói hoặc doThanh Văn nói do Bồ Tát nói nhẫn đến
hoặc do kẻ cuồng ngu vì Phật mà nói, như là Ðàn na la mật,
Thi la Ba la mật, Sằn đề Ba la mật, Tỳ lê gia Ba la mật,
Thiền na Ba la mật, Bát Nhã Ba la mật, Bồ Tát nầy vì đầy
đủ Phật Pháp muốn thành đạo vô thượng muốn được nhứt
thiết trí, ở nơi chánh pháp ấy siêng tu tinh tiến như
cứu cháy đầu học trì tụng thuộc suy gẫm nhận hiểu vì
người mà giải nói, trí huệ tinh tiến nhứt tâm tư duy.
Nếu trong
tất cả chung sanh có chỗ nào thuyết pháp dầu cho bị nạn
dao gậy, Bồ Tát nầy vẫn cố đến chỗ ấy nghe thuyết pháp.
Hoặc có
chúng sanh tu nghiệp báo vui, hoặc vui hiện đời hay vui đời
sau, bấy giờ Bồ Tát liền dùng pháp lành diệu nghĩa đúng
như pháp để tá trợ, với pháp lành ấy tự mình cũng lại
siêng tinh tiến hơn.
Bồ Tát nầy
lại đem thân thể mình bố thí cho chúng sanh khiến có được
tự tại; ví như tứ đạI, trong ấy tất cả chúng sanh được
tự tại tùy ý thọ dụng, Bồ Tát đem thân thể bố thí cho
người tự tại thọ dụng cũng như vậy, trí huệ tinh tiến
nhứt tâm tư duy.
Bồ Tát nầy
dầu cho có nạn dao gậy thường ở trong Phật Pháp Tăng và
đối với các sư Trưởng già bịnh khổ nghèo cùng luôn
cung kính cúng dường hầu hạ siêng năng tinh tiến như cứu
cháy đầu.
Tùy tâm chúng
sanh, Bồ Tát nầy dùng bố thí ái ngữ lợi ích và đồng
sự tùy theo chỗ nên mà nhiếp thủ họ: người muớn, được
Thanh Văn thừa thì điều phục an trí họ nơi thừa Thanh Văn,
người muốn được Duyên Giác thừa thì điều phục an trí
họ nơi thừa Duyên Giác, người muốn được Bồ Tát thừa
thì điều phục an trí họ nơi thừa Bồ Tát, trí huệ tinh
tiến như cứu cháy đầu.
Vì thiện
pháp vì nhơn duyên sáu Ba la mật nên Bồ Tát chẳng kể lạnh
nóng đói khát muỗi mồng gió thổi nắng đốt người hại
mắng nhiếc chê bai mỏi nhọc ngủ nghỉ các sự khổ não,
trong những sự việc ấy nhẫn đến trọn đời Bồ Tát chẳng
hề nhớ đến, trí huệ tinh tiến như cứu cháy đầu, dầu
bị nạn dao gậy cũng chẳng hề giải đãi.
Vì nhơn duyên
đạo vô thượng nên Bồ Tát nầy có thể chịu các sự khổ,
như là ác đạo A Tu La trong nhơn gian, Bồ Tát chẳng cho đó
là khó, trí huệ tinh tiến như cứu cháy đầu. Bồ Tát nầy
bền vững tinh tiến ý chí vững chắc muốn ra khỏi thế gian
thành sức tinh tiến vô thượng của Phật, muốn được
Tỳ Lê gia Ba la mật, xu hướng Tỳ lê Ba la mật, nguyện cho
chúng sanh đắc độ giải thoát, vì được nhứt thiết trí
đầy đủ tất cả Phật pháp vậy. Bồ Tát tự nghĩ rằng
nay tôi xu hướng Tỳ lê gia Ba la mật rồi nguyện cho chúng
sanh đắc độ giải thoát để được nhứt thiết trí đầy
đủ tất cả Phật pháp vậy. Tinh tiến như thế chẳng
thiếu khuyết chẳng phá hoại chẳng hoang dật.
Nếu là người
không đủ sức học tập đầy đủ thì nên suy nghĩ rằng:
Nay tôi phải siêng năng tinh tiến mãi mãi lần lần dứt trừ
giải đãi, khéo học tinh tiến làm cho tinh tiến ấy lần lần
rộng lớn đầy đủ, trọn đời chẳng giải đãi chẳng lo
rầu.
Bồ Tát như
vậy phát khởi tâm Bồ đề nhớ tâm Bồ đề tu tâm Bồ đề
hi vọng Bồ đề nguyện cầu Bồ đề. Ðây gọi là vô
lượng vô biên vô số thiện Tinh tiến Ba la mật. Tại sao?Vì
tinh tiến như vậy là tối thắng đệ nhứt trong những thiện
pháp tinh tiến khác, muốn tất cả chúng sanh thế gian phát
khởi vô lậu tinh tiến, phát khởi vô học tinh tiến, sanh
vô lậu tinh tiến, sanh vô học tinh tiến vậy.
Nầy Thiện
Tý !Bồ Tát như vậy hành tinh tiến chẳng lấy làm khó mà
lấy làm vui thích mau đầy đủ Tỳ lê Ba la mật.
Thế nào
là đại Bồ Tát đầy đủ hành Thiền na Ba la mật?
Nầy Thiện
Tý !Bồ Tát nếu thấy sắc chẳng lấy tướng sắc, hoặc
có lúc nhãn căn bị ngoại cảnh kéo dắt thì phải chánh hành
thủ hộ chẳng cho duyên theo chẳng để tâm mê si tham trước
thế gian, hộ trì giới nầy bấy giờ đầy đủ nhãn căn
giớI. Tai nghe tiếng, mũi ngửu hương, lưỡi nếm vị, thân
giác xúc, ý biết pháp cũng chánh hành thủ hộ như vậy.
Lúc đi đứng
nằm ngồi nói nín, Bồ Tát nầy chẳng xa rời tâm tịch định,
khéo gìn tay chưn không có tán loạn, thường có lòng tàm quí
khéo gìn khẩu nghiệp, an tường nhìn thẳng lòng luôn tịch
tĩnh, chẳng ưa cười đùa, khéo ngự phục nghiệp thân khẩu
ý khiến thường tịch tĩnh. Ở chỗ khuất vắng hay nơi
hiển lộ đều không tâm niệm khác. Với bốn sự cần dùng
lòng thường biết đủ, dễ nuôi dễ đủ dễ sai dễ bão.
Khéo hành tịch tĩnh xa rời ồn náo. Với những lợi
suy, hủy dự, xưng cơ, khổ lạc không tâm niệm sai khác chẳng
cao chẳng hạ, mạng và phi mạng cũng không tâm sai khác, không
giận không thương, bình đẳng xem oán thân đồng như xích
tử. Nơi nhẫn và chẳng nhẫn lòng thường bình đẳng. với
tiếng thánh tiếng phàm tiếng tịch tiếng loạn cũng bình
đẳng không tâm niệm sai khác. Ở trong sắc yêu ghét,
lòng chẳng cao hạ rời lìa cảm ái và giận ghét vậy.
Ở trong thanh hương vị xúc và pháp cũng như vậy, tâm thường
bình đẳng không sai khác.
Bồ Tát nầy
xem sắc dục như bộ xương do ức tưởng tà mà phát khởi
tâm sắc dục. Xem sắc dục như khối thịt nhiều oán
ghét, xem sắc dục như lửa đuốc nóng khổ rời xa an vui,
xem sắc dục như trái trên cây nhiều khẻ ham ưa, xem dục
như mượn nhờ không được tự tại xem dục như mộng giây
phút hoại diệt, xem dục như nhọt độc trong điên đảo khổ
mà tưởng là vui, xem dục như lưỡi câu làm ác nghiệp đọa
ác đạo, xem dục như sông tro thêm nhiều dục nhiễm chẳng
biết chán đủ. Bồ Tát quan sát như vậy rồi rời lìa pháp
dục ác bất thiện có giác có quán ly sanh hỷ lạc thành hạnh
sơ thiền. Lìa giác quán nội tịnh tâm ở một chỗ, không
giác không quán định sanh hỉ lạc thành hạnh nhị thiền.
Lìa hỉ, hành xả niệm chánh trí một, tâm thân hành lạc
năng hành năng xả như chư thánh nhơn hành hạnh tam thiền.
Bỏ ý khổ lạc trước dứt ưu hỉ hành xả niệm tịch thành
hạnh tứ thiền. Với tất cả chúng sanh suy tưởng được
vui thành vô lượng vô biên từ tâm. Với tất cả chúng
sanh suy tưởng khỏi khổ thành vô lượng vô biên bi tâm. Với
tất cả chúng sanh suy tưởng mừng tuỳ hỉ thành vô
lượng vô biên hỉ tâm. Với tất cả chúng sanh suy tưởng
xả bỏ khổ lạc thành vô lượng vô biên xả tâm.
Bồ Tát nầy
chẳng suy nghĩ tướng sắc, thành tựu hạnh không xứ tịch
tĩnh. Chẳng tư duy tướng không, thành tựu hạnh thức xứ
tịch tĩnh. Chẳng tư duy tướng thức, thành tựu hạnh vô
sở hữu xứ tịch tỉnh. Chẵng tư duy tướng vô sở hữu
xứ, thành tựu hạnh phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ tịch
tĩnh.
Bồ Tát nầy
ở nơi hơi thở ra vào; hoặc tuỳ theo hoặc an trụ, lúc dài
biết dài lúc ngắn biết ngắn, thành tưụ hạnh xuất tức,
nhập tức tịch tĩnh.
Bồ Tát nầy
tư duy quán tướng thân bất tịnh, thành tựu hạnh bất tịnh
tịch tĩnh. Tư duy tướng vô lượng lỗi sanh lão bịnh tữ,
thành tựu hạnh tướng vô thường tịch tĩnh. Tư duy trong
món ăn khởi phát tướng vô lượng lỗi họa, thành tựu hạnh
tướng món ăn bất định. Tư duy rõ ràng trong các thế giới
thành ấp tụ lạc các thứ trang sức là tướng quyết chắc
sẽ hư hoạI, thành tựu hạnh thế gian chẳng đáng vui tịch
tĩnh.
Bồ Tát nầy
bên trong có tướng sắc bên ngoài quán sắc ít hoặc đẹp
hoặc xấu nắm lấy tướng mạo ấy thành tựu hạnh sơ thắng
xứ. Bên trong có tướng sắc bên ngoài quán sắc nhiều hoặc
đẹp hoặc xấu nắm lấy tướng mạo ấy, thành tựu hạnh
đệ nhị thắng xứ.
Bồ Tát nầy
tư duy thân thể mình hoặc chết hoặc thiêu thành tro thành
đất bị nước cuốn trôi hoặc nát mất mòn mất hoặc dứt
ba cõi, đây gọi là bên trong không tướng sắc bên ngoài
quán sắc ít hoặc đẹp hoặc xấu nắm lấy tướng mạo ấy,
thành tựu hạnh đệ tam thắng xứ. Bên trong không tướng
sắc bên ngoài quán sắc nhiều hoặc đẹp hoặc xấu nắm
lấy tướng mạo ấy thành tựu hạnh đệ tứ thắng xứ.
Bên trong không tướng sắc bên ngoài quán sắc xanh vô lượng
vô biên ưa thích nắm lấy tướng ấy, thành tựu hạnh đệ
ngũ thắng xứ. Bên trong không tướng sắc bên ngoài quán sắc
đỏ vô lượng vô biên ưa thích nắm lấy tướng ấy, thành
tựu hạnh đệ lục thắng xứ. Bên trong không tướng sắc
bên ngoài quán sắc vàng vô lượng vô biên ưa thích nắm lấy
tướng ấy, thành tựu hạnh đệ thất thắng xứ. Bên trong
không tướng sắc bên ngoài quán sắc trắng vô lượng vô
biên ưa thích nắm lấy tướng ấy, thành tựu hạnh đệ bát
thắng xứ.
Bố Tát nầy
nhập vào nhứt thiết xứ vô lượng vô biên địa thủy hỏa
phong thanh hoàng xích bạch hư không và thức chẳng nghĩ nhớ
tướng khác, thành tựu hạnh nhập thập nhứt thiết xứ.
Lúc nhập
vào pháp khổ, Bồ Tát nầy tâm duyên tất cả thiện căn,
những là đại từ đại bi, nhiếp trì chánh pháp chẳng dứt
tam bảo trang nghiêm thân Phật thanh tịnh phạm âm, sưa đã
thệ nguyện giáo hóa chúng sanh tịnh Phật thế giớI, ngồi
tọa Bồ đề chuyển diệu pháp luân, dứt trừ tất cả kiết
sử của chúng sanh. Trong tâm Bồ Tát duyên lấy cảnh giới
như vậy.
Lúc Bồ Tát
nầy nhập thiền định, rời lìa chỗ an trụ của bốn thức,
chẳng y tựa nơi địa đại thủy đại hỏa đại phong đại
không đại thức đại, cũng chẳng y tựa đời nay đời sau,
lúc nhập định đều không chỗ y tựa như vậy.
Bồ Tát nầy
lúc nhập thiền trong lòng ưa thích, vì muốn nhập vào định
giải thoát vô thượng vậy.
Bồ Tát nầy
tu hành thiện định vì nguyện cho tất cả chúng sanh đắc
độ giải thoát vậy, vì muốn được Nhứt thiết trí đủ
tất cả Phật pháp vậy.
Hoặc tư
duy hoặc lúc tư duy rồI, vì nguyện cho tất cả chúng sanh
đắc độ giải thoát vậy, vì được Nhứt thiết trí đủ
tất cả Phật pháp vậy.
Nơi thiền
định nầy nếu là người không đủ sức học tập, thì phải
suy nghĩ rằng tôi nên mãi mãi lần lần siêng tinh tiến
thêm để xa rời tâm loạn động, mãi mãi lần lần tinh
tiến thêm chuyên học nhứt tâm, khiến nhứt tâm ấy thêm
lớn rộng đầy đủ trọn đời không giải đãi không lo rầu.
Bồ Tát nầy
phát khởi tâm Bồ đề nhớ tâm Bồ đề tu tâm Bồ đề hi
vọng Bồ đề nguyện cầu Bồ đề. Ðây gọi là đại
Bồ Tát vô lượng vô biên thiện căng thiền định, muốn
khiến tất cả chúng sanh thế gian phát khởi vô lậu thiền
định phát khởi vô học thiền định sanh vô lậu thiền định
sanh vô học thiền định.
Ðại Bồ
Tát hành thiền định nầy chẳng lấy làm khó mà lấy làm
vui thích mau đầy đủ Thiền Ba la mật.
Nầy thiện
Tý! Thế nào là đại Bồ Tát đầy đủ Bát nhã Ba la mật?
Nếu là người
thông minh trí huệ học rồi hay thọ trì nghe rồi hay tung tập,
giỏi học tướng nghĩa thậm thâm của các pháp và cũng hay
phân biệt, đúng như pháp được nghe, nghe rồi hay suy
ngẫm ý nghĩa.
Có những
người được như trên đây, thì Bồ Tát phải thân cận cung
kính cúng dường tôn trọng tán thán dầu đến bị dao gậy
cũng chẳng xa rời. Bồ Tát nầy vì học vấn vì liễu nghĩa
vì tư duy nghĩa vì cúng dường cung kính Sư Trưởng Hòa Thượng
nên dầu đến gần chết cũng trọn chẳng sợ tránh các sự
khổ não khổn nạn, như là đói khát rét nóng muỗi mòng trùng
độc gió thổi nắng phơi đánh đập mắng nhiết chê bai.
Bồ
Tát nầy đối với chánh pháp tưởng là khối châu báu, với
người thuyết pháp tưởng là kho châu báu, với người nghe
pháp tưởng là khó gặp, với người gạn hỏi tưởng là
huệ mạng, với người học nhiều tưởng là trừ vô minh
sanh trí huệ, với người phân biệt các pháp tưởng là trăm
ngàn đời sanh huệ nhãn.
Bố Tát nầy
nghe các pháp ấy xong thọ trì tu học rộng phân biệt rồi
biết ngũ ấm thập nhị nhập thập bát giới tứ đế thập
nhị nhơn duyên tam thế Tam thừa. Bồ Tát nầy biết hai giới:
Hữu vi giới và vô vi giới. Nếu là pháp sanh trụ diệt là
hữu vi giới. Nếu pháp không sanh trụ diệt là vô vi giới.
Bồ Tát nầy lại biết ba giới: Thiện giới bất thiện giới
và vô ký giới. Nếu chẳng tham với chẳng tham chẳng sân
với chẳng sân chẳng si với chẳng si thì gọi là thiện giới.
Nếu tham với tham sân với sân si với si thì gọi là bất
thiện giới. Trừ thiện và bất thiện các pháp khát gọi
là vô ký giới. Lại biết ba giới: Dục giới, sác giới và
Vô sắc giới. Dục giới là địa ngục, súc sanh ngạ quỉ,
A Tu La, nhơn loại, Tứ Thiên Vương Thiên, Tam Thập Tam Thiên,
Dạ Ma Thiên, Ðâu Suất Ðà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha
Hóa Tự Tại Thiên, ở trong đây nếu dục nhiễm tham
trước sân khuể ngu si hy vọng muốn được tâm gây tạo ngiệp
thì gọi là Dụ giới. Sắc giới là phạm Chúng Thiên, Phạm
Phụ Thiên, Phạm Vương Thiên, Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng
Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh
Thiên, Biến Tịnh Thiên, Thiểu Quả Thiên, Quảng Quả Thiên,
Vô Lượng Quả Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Vô Não Thiên, Thiện
Kiến Thiên Diệu kiến thiên, A Ca Nhị Tra Thiên, nếu ở trong
đây sắc nhiễm ngu si hi vọng muốn được tâm gây tạo nghiệp
thì gọi là sắc giới. Vô sắc giới là Không Xứ Thiên, Thức
Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Thiên, nếu ở trong đây vô sắc nhiễm ô ngu si hi vọng
muốn được tâm gây tạo ngiệp thì gọi là vô sắc giới.
Lại biết bốn giới: Dục giới, Sắc giới Vô Sắc giới
và vô vi giới. Lại biết sáu giới: Dục giới, khuể giới
hại giới xuất ly giới bất khuể giới và bất hại
giới: Lại biết sáu giới: Ðịa, Thủy, Hỏa Phong không
và thức. Quan sát địa giới đến thức giới là tướng vô
thường biến hoại không bền không chắtc,nếu vô thường
thì là khổ, nếu khổ là vô ngã, đây gọi là biết
sáu giới.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt xong
thì biết năm ấm: sắc thọ tưởng hành thức ấm. Sắc như
bọt nước, tưởng như dã mã, hành như cây chuối, thức như
huyễn hóa, đều là sanh diệt chẳng được lâu,
đây gọi là biết ngũ ấm.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt xong
thì biết sáu nhập bên trong: nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý
nhập. Nhãn nhập đến ý nhập đều là pháp khổ già chết
không vô ngã vô ngã sở ba độc hẩy hừng sanh lão bệnh tử
ưu bi khổ não cũng hay hẩy hừng các pháp khổ não, đây
gọi là biết sáu nhập bên trong. lại biết sáu nhập bên
ngoài: sắc được mắt thấy, tiếng được tai nghe, hương
được mũi ngửi, vị được lưỡi nếm, xúc được thân
cảm giác và pháp được y biết. Sắc đến pháp, tánh chẳng
được bền chắc không nơi y chỉ cũng không thế lực, tất
cả vô thường chẳng phải thiệt, chẳng như thiệt như huyễn
như hóa, đây gọi là biết sáu nhập bên ngoài.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt
xong thì biết bốn thánh đế. Năm ấm, sáu giới, sáu nhập
bên trong và sáu nhập bên ngoài gọi là khổ đế. Khổ ấy
vô thường như oán tặc như nhọt như tên độc như tù trói
nhốt như chén bể hư chẳng tự tại là vô ngã, hiểu rõ
như vậy thì gọi là biết khổ thánh đế. Những gì là tập
thánh đế? Ðó là tham sân si mạn, ngã mạn, duyên chấp
ngã quyết định chấp ngã thường trụ chẳng hư hoại, ngã
tức là sắc, ngã khác với sắc, ngã tức là tưởng, ngã
khác với tưởng ngã là tưởng phi tưởng, ngã khác tưởng
phi tưởng, ngã là ấm, ngã khác với ấm, trong ngã có ấm
trong ấm có ngã, ngã là giới nhập, ngã khác giới nhập,
trong ngã có giới nhập, trong giới nhập có ngã, ngã là thọ
ngã khác với thọ, ngã là vô thọ ngã khác vô thọ, ngã là
thức ngã khác với thức, ngã là sắc thiểu ngã khác sắc
thiểu, ngã là sắc đa ngã khác sắc đa, ngã là thường, ngã
là vô thường, ngã là thường vô thường, ngã là phi thường
phi vô thường, ngã là hữu biên, ngã là vô biên, ngã là hữu
biên vô biên, ngã là phi hữu biên phi vô biên, sau khi chết
như đi, sau khi chết chẳng như đi, sau khi chết như đi cũng
chẳng như đi, sau khi chết phi như đi phi chẳng như đi, mạng
tức là thân thân tức là mạng, chúng sanh nầy từ nơi nào
đến, đi đến nơi nào, các chúng sanh nầy tức là đoạn
diệt chẳng phải có tương tục, tự tác tự thọ tha tác
tha thọ, chấp có ngã thì có ngã sở, có ngã sở tức
là có ngã, nhiếp thủ như vậy chấp ngã chấp thân, hoặc
kiết hoặc sử hoặc ngã hoặc ngã sở, ngã thọ gốc tham
sân si, hoặc tổng ba nghiệp thân khẩu ý, hoặc tội nghiệp,
hoặc phước nghiệp, hoặc nghiệp Dục giới, hoặc nghiệp
Sắc giới, Vô Sắc giới, đây gọi là tập thánh đế.
Thế nào
là diệt thánh đế? Nếu tham sân si dứt hết, ngã và ngã
sở dứt hết, thọ lấy ba cõi dứt hết thì gọi là diệt
thánh đế. Những gì gọi là đạo thánh đế? Nếu thấy
khổ tập diệt tận suy gẫm tất cả lỗi họa hữu vi thấy
Niết bàn tịch tịnh chỗ làm đã xong, lúc an trụ pháp như
vậy chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định , đây
gọi là đạo thánh đế.
Biết tứ
thánh đế như vậy, lúc Bồ Tát tư duy phân biệt tứ thánh
đế thấy pháp hữu vi là khổ là vô thường là không là
vô ngã, thấy pháp vô vi có thể làm chỗ che chở làm nhà
ở làm chỗ nương, dầu quan sát như vậy mà chẳng chứng
Niết bàn. Bồ Tát biết bốn thánh đế như vậy.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt
xong thì biết mười hai nhơn duyên: vô minh duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập,
lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái
duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử.
Nếu chẳng biết chẳng thấy tứ thánh đế và mười hai nhơn
duyên thì gọi là vô minh. Nếu có ba nghiệp thân khẩu ý nghiệp
phước nghiệp tội nghiệp dục giới nghiệp Sắc giới, Vô
Sắc giới thì gọi là hành. Nếu có tâm ý và thức thì gọi
là thức. Nếu có thọ tưởng tư xúc tư duy thì gọi là danh.
Nếu có tứ đại năng tạo có sắc sở tạo từ ca la lã đến
hóa sanh, hoặc tác sắc chẳng phải tác sắc thì gọi là sắc,
vì danh và sắc hiệp nhau nên gọi là danh sắc. Nếu có nhãn
nhĩ tỷ thiệt thân và ý thì gọi là lục nhập. Nếu
nhãn duyên sắc sanh ra nhãn thức đến ý duyên pháp sanh ra
ý thức, ba thứ hòa hiệp sanh ra xúc thì gọi là xúc. Nếu
có khổ thọ lạc thọ và bất khổ bất lạc thọ thì gọi
là thọ. Nếu có ái nhiễm thì gọi là ái. Nếu có ái kiến
giới thủ thì gọi là thủ. Nếu có sắc thọ tưởng hành
thức thì gọi là hữu. Nếu hữu nầy phát khởi thì gọi
là sanh. Nếu có suy biến thì gọi là lão. Nếu có diệt hoại
thì gọi là tử. Bồ Tát phân biệt tư duy mười hai nhân duyên
như vậy, thấy nghe hay biết địa thủy hỏa phong không và
thức cả sáu đại giới ấy chẳng phải là ngã ta chẳng
sanh ái trước, ngã chẳng phải là sáu đại giới chẳng sanh
ái trước cũng chẳng hi vọng. Thấy nghe hay biết. Niết bàn
chẳng phải ngã chẳng sanh ái trước, ngã chẳng phải Niết
bàn chẳng sanh ái trước, cũng chẳng phải hi vọng! Bồ Tát
nầy thấy các pháp từ nhơn duyên khởi lên liền biết ba
giải thoát môn, rộng tu học thấy không vô tướng và vô
tác. Bồ Tát nầy thấy các pháp từ nhơn duyên khởi lên liền
biết tịch diệt lạc. Siêng năng tu học rộng phân biệt rồi
thì vô minh dứt, vô minh dứt thì hành dứt, đến sanh
dứt thì lão tử dứt. Bồ Tát nầy dầu quán mười hai nhơn
duyên khởi diệt mà chẳng chứng tịch diệt. Bồ Tát biết
mười hai nhơn duyên như vậy.
Bố Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi nhứt tâm tu học rộng phân biệt xong
thì biết tam thế: quá khứ vị lai và hiện tại. Nếu pháp
sanh rồi diệt mất thì gọi là đời quá khứ. Nếu pháp chưa
sanh chưa khởi thì gọi là đời vị lai. Nếu pháp sanh rồi
mà chưa diệt mất thì gọi là đời hiện tại. Bồ Tát nầy
nghĩ đến đời quá khứ các bất thiện căn khinh hủy đáng
ghét trái bỏ rời lìa nó, đời vị lai các bất thiện
căn sẽ thọ quả báo bất thiện chẳng thích chẳng ưa
chẳng thể vừa ý, đời hiện tại các bất thiện căn
sẽ khiến nó chẳng sanh khởi. Bồ Tát nầy hay nhiếp hộ
ba nghiệp thân khẩu ý và sáu tình căn thường phát khởi
thiện nghiệp không thể gián đoạn các thiện căn quá khứ.
Bồ Tát nầy
phát tâm Bồ đề chuyên niệm tâm Bồ đề hy vọng Bồ đề
muốn được tâm Bồ đề. Dùng tâm thâm trọng ưa thích cầu
nguyện cho tất cả chúng sanh đắc độ được giải thoát,
vì được Nhứt thiết trí đủ tất cả Phật pháp vậy.
Bồ Tát nầy
thường chẳng rời lìa tâm ấy trọn chẳng giải đãi thất
niệm phóng dật. Nếu là đời quá khứ ấm giới nhập v.
v…tức là diệt tận chẳng thiệt chẳng còn không ngã không
ngã sở, nếu là đời vị lai ấm giới nhập v.v… là chưa
sanh chưa khởi không ngã không ngã sở, nếu là đời hiện
tại ấm giới nhập v.v…là niệm niệm chẳng dừng ở. Tại
sao? Vì thế pháp không có một niệm an trụ vậy. Nếu
có một niệm thì trong một niệm ấy cũng có sanh trụ và
diệt, chính sanh trụ diệt nầy cũng chẳng an trụ. Như trong
an trụ diệt có ấm giới nhập bên trong bên ngoài thì nội
ngoại ấm giới nhập nầy cũng có sanh trụ diệt. Nếu
chẳng an trụ như vậy tức là chẳng phải ngã chẳng phải
ngã sở. Nếu đời quá khứ diệt mất chẳng thiệt chẳng
còn thì chẳng phải ngã ngã sở, nếu đời vị lai chưa sanh
chưa khởi thì chẳng phải ngã ngã sở, nếu đời hiện tại
niệm niệm chẳng trụ thì chẳng phải ngã ngã sở. nếu thấy
tam thế chẳng phải ngả chẳng phải ngã sở thì gọi là
người trí huệ chơn thiệt. Chẳng thấy ngã ngã sở là ngã
ngã sở thì ở nơi các cõi hành không ngã không ngã sở hành
tưởng ly dục hành tưởng đoạn dứt hành tưởng diệt. Dầu
hành như vậy mà chẳng chứng Niết bàn. Ðây gọi là
Bồ Tát biến tam thế.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt xong
thì biết ba thừa: Thiên thừa, Phạm thừa và Thánh thừa.
Sơ thiền nhị thiền tam thiền và tứ thiền gọi là Thiên
thừa. Từ bi hỉ và xả gọi là Phạm thừa. Chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến,
chánh niệm và chánh định gọi là thánh thừa.
Bồ Tát nầy
luôn luôn tu tập ba thừa ấy giáo hóa chúng sanh khiến họ
an trụ ba thừa, mà tự thân Bồ Tát chẳng chứng giải thoát.
Ðây gọi là Bồ Tá biết ba thừa.
Bồ Tát nầy
lại còn biết ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên Giác thừa, và
Ðại thừa.
Thế nào
là Thanh Văn thừa? Người căn bật nhuyến giải thoát, trong
một niệm rời lià hang ba cõi thích muốn xuất thế muốn
được Niết bàn thấy chỗ tịch diệt, chuyên cần tinh tiến
như cứu cháy đầu, nếu là người chưa hiểu tứ thánh
đế muốn dùng tên trí huệ bắn đức tứ thánh đế muốn
chứng muốn hiểu dùng lòng ưa muốn tinh tiến, đây gọi
là Thanh Văn thừa.
Thế nào
là Duyên Giác thừa? Người căn bực trung giải thoát muốn
tịch tĩnh ở riêng một chỗ để tự lợi ích nhập định
tịch tĩnh phương tiện phân biệt mười hai nhân duyên muốn
được đạo Duyên Giác muốn chứng Duyên giác đây gọi là
Duyên giác thừa .
Thế nào
là Ðại thừa? người căn bực thượng giải thoát muốn khiến
tất cả chúng sanh đắc độ được giải thoát vì được
Nhứt thiết trí đủ tất cả Phật pháp sáu Ba la mật muốn
lợi ích tất cả thế giới muốn dứt tất cả chúng sanh
khổ não, ở trong ngũ dục lạc của tất cả thế giới
tâm thường khinh tiện huống là tại thế gian vô lượng khổ,
muốn cho chúng sanh trì giới vô thượng, muốn được nghe
thấy kinh đại thừa thọ trì phân biệt tư duy tu tập đọc
tụng thông thuộc chuyên cần tinh tiến, nếu có Bồ Tát tu
bốn nhiếp pháp phải đến thân cận, muốn cho chúng sanh nhiếp
lấy chơn trí huệ an trụ trong tứ nhiếp, thường muốn được
nghe các pháp yếu thượng thậm thâm thọ trì phân biệt, muốn
khiến tất cả chúng sanh nhập thiền định, tự bỏ sự vui
của mình để lợi, ích chúng sanh, muốn dùng sức của mình
tùy theo sở thích của người mà làm cho họ an trụ trong ba
thừa, dầu giáo hóa ba thừa mà tự mình an trụ trong đạo
vô thượng chẳng hư chẳng động như kim cương, thường nguyện
được vô thượng Bồ đề, nguyện cầu Bồ đề, đây
gọi là Ðại thừa. Ðây gọi là Bồ Tát biết ba thừa.
Bồ Tát nầy
nghe pháp như vậy rồi thọ trì tu học rộng phân biệt xong
thì biết phương tiện, nơi phật pháp và Tăng năm vóc gieo
xuống đất dùng đây là nghiệp hạnh, với chỗ mình làm
thì nguyện cầu đạo vô thượng, quy y như vậy phát tâm Bồ
đề, lúc đi đứng ngồi nằm ăn uống tắm rửa đều không
có tâm niệm khác mà chỉ nguyện cầu vô thượng Bồ đề
thường tu học rộng lớn như vậy.Bồ Tát nầy lúc mới nhập
định hay nhập định rồi thường nguyện tất cả chúng sanh
đắc độ được giải thoát, vì được nhất thiết trí đủ
tất cả Phật pháp, ở trong tất cả thế giới chuyên
muốn điều phục tất cả chúng sanh, muốn trong tất cả chúng
sanh không ai hơn mình được, muốn đựợc tối thắng, muốn
giáo giới tất cả chúng sanh, muốn tất cả chúng sanh được
tịch diệt, muốn ở trong tất cả pháp được thành chánh
giác đủ tất cả Phật pháp, phát tâm Bồ đề thường tu
học rộng lớn như vậy. Bồ Tát nầy có làm bao nhiêu thiện
căn đều nguyện cho tất cả chúng sanh rời lìa bố úy ra
khỏi ba ác đạo dứt vô lượng khổ đoạn trừ các phiền
não để được Niết bàn. Hiện tại vị lai ai muốn được
Thanh Văn thừa nguyện cho họ được đầy đủ. Hiện tại
vị lai ai muốn được Duyên Giác thừa nguyện cho họ được
đầy đủ. Hiện tại vị lai ai muốn được Ðại thừa nguyện
cho họ được đầy đủ. Nguyện thỉnh cầu hiện tại vị
lai tất cả chư Phật Như Lai trụ thế một kiếp thuyết
pháp. Nguyện thánh chúng theo Phật trụ thế luôn được hòa
hiệp. Bồ Tát nầy suy nghĩ rằng: Mọi nơi tất cả chúng
sanh nếu tu thiện căn, hoặc muốn sanh trong Người hay trên
Trời hoặc muốn an trụ trong ba thừa, tôi đều nguyện cho
họ được đầy đủ cả.
Bồ Tát nầy
do vì pháp yếu thậm thâm vô thượng nên trong ba thời luôn
đọc tụng không thuộc suy nghĩ pháp ấy. Nay tôi quy y
tất cả chư Phật Tôn Pháp và Thánh Tăng, đầu mặt
lễ kính Chư Phật oai đức không ai hơn, tướng Phật rất
đẹp. Bồ Tát nầy thường nghĩ rằng nguyện khắp mọi nơi
thường có chư Phật không có chỗ nào trống để tôi khuyến
thỉnh trụ thế một kiếp tuyên nói Pháp vi diệu. Thường
quở trách các điều ác hoặc đã hay sẽ làm, nay tôi đã
rời lìa tất cả sự ác dầu là trong khoảng một niệm. nguyện
đem tất cả thiện căn khiến các chúng sanh thọ mạng vô
lượng an trụ trong tất cả thiện pháp, mau chuyển pháp luân
như chư Bồ Tát. Khiến chư thánh nhơn được giới định
huệ giải thoát và giải thoát tri kiến. Nguyện cho Phật pháp
thường trụ tại thế gian để được lợi ích chúng sanh.
Kẻ sanh trong ngũ đạo đều được thiện căn. Kính lễ chư
Phật thường cầu nguyện như vậy. Bồ Tát nầy có bao nhiêu
nguyện lành đều khiến các chúng sanh cùng mình được oai
đức vi diệu oai đức thiện diệu. Tất cả Phật Pháp Tăng
Tam bửu hiện tại và vị lai đều khiến trụ thế một kiếp
không cõ các lưu nạn, chư Bồ Tát bửu mau được đủ sáu
Ba La mật mau thành vô thượng Bồ đề cũng không lưu nạn.
muốn cho tất cả chúng sanh dứt trừ bố úy khổ não hành
các hỉ lạc, dứt tất cả bất thiện căn thành tất cả
thiện căn, theo đúng sở nguyện thành tựu ba thừa mau đủ
sáu Ba la mật thọ mạng vô lượng được giải thoát thành
đạo vô thượng. Bồ Tát kính lễ chư Phật thường cầu
nguyện như vậy.
Bồ Tát nầy
thường cầu nguyện cho tất cả chúng sanh dứt các khổ não.
Tất cả chư Phật ở tại tất cả thế gian nhẫn đến pháp
thân, nguyện đem thân mình phụng thí chư Phật, muốn cho tất
cả chúng sanh đắc độ thành đạo vô thượng, tại chỗ
thọ sanh tín kính Tam bửu, dùng hương hoa cúng dường hằng
sa chư Phật Thế Tôn cũng cúng dường Pháp và Tăng chư Bồ
Tát, khiến đồ cúng lượng như núi Tu Di. trong tất cả thế
gian tất cả chúng sanh nếu có cần dùng những thất bửu
phòng nhà y phục đồ uống ăn thuốc men giường nệm,
đều cung cấp đầy đủ không để thiếu. Nếu có người
thích nhẫn nhục tinh tiến trì giới, tôi sẽ tùy theo sở
thích của họ mà giải thuyết khiến họ thành tựu thắng
pháp cho tam bửu đầy đủ, tu sáu Ba la mật mau thành Phật
đạo, rời lìa ác pháp khéo hành thiệt nghĩa , thân khẩu
ý ba nghiệp chẳng thối Bồ đề thích nơi Bồ đề mọi nơi
mọi chỗ thấy Phật và Bồ Tát thường học thiện căn.
Ðặt chúng sanh trong thiện pháp. Bồ tát nầy tự biết đến
những thiện căn của người, xu hướng trí huệ, tư duy trí
huệ, vì muốn cho tất cả chúng sanh đắc độ được
giải thoát để được nhất thiết trí đủ tất cả Phật
pháp. Bồ Tát nầy có trí huệ như vậy.
Nếu là người
không đủ sức tu học như vậy thì phải tự tư duy: Nay tôi
nên chuyên tinh tiến thêm mỗi lúc lần lần dứt trừ vô minh,
lần lần học trí huệ ấy, khiến trí huệ ấy thêm rộng
lớn đầy đủ, đến trọn đời không hề giải đãi
lo rầu.
Bồ Tát phát
tâm Bồ đề như vậy niệm tâm Bồ đề như vậy, tu tâm bồ
đề như vậy hi vọng tâm Bồ đề như vậy. Bồ Tát nầy
có vô lượng vô biên thiện trí huệ. Tại sao? Vì trí huệ
nầy là tối thắng đệ nhứt trong các thiện trí huệ, khiến
tất cả thế gian chúng sanh phát khởi vô lậu trí huệ phát
khởi vô học trí huệ, sanh vô lậu trí huệ sanh vô học trí
huệ.
Nầy Thiện
Tý! Bồ Tát nầy hành trí huệ đấy chẳng lấy làm khó mà
lấy làm vui thích mau đủ Bát Nhã Ba la mật " .
Ðức Phật
nói kinh nầy rồi, Thiện Tý Bồ Tát vui mừng tán thán "Lành
hay lành thay, tín thọ phụng hành ".
PHÁP HỘI
THIỆN TÝ BỒ TÁT
THỨ HAI
MƯƠI SÁU
HẾT