XXXVI
PHÁP HỘI
THIỆN TRỤ Ý THIÊN
TỬ
THỨ BA MƯƠI SÁU
Hán dịch:Pháp
Sư Ðạt Ma Cấp Ða
Việt dịch:Việt
Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM BỒ
TÁT THÂN HÀNH
THỨ NĂM
Bấy
giờ Tôn giả Ma Ha Ca Diếp bạch Phật rằng : “Bạch đức
Thế Tôn ! Chúng tôi nguyện thỉnh Văn Thù Sư Lợi làm cho
chúng tôi xem thấy chư đại Bồ Tát. Vì chư Ðại Sĩ ấy
khó được gặp gỡ vậy ».
Ðức Phật
phán bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Ông nên biết nay đại
chúng cũng đều khát ngưỡng muốn thấy thập phương vân
tập chư đại Bồ Tát. Hiện đã phải lúc ông nên hiển
hiện”.
Tuân lời
Phật dạy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo chư đại Bồ Tát
mười phương vân tập đến như là Pháp Luân Bồ Tát, Nguyệt
Quang Bồ Tát, Hàng Ma Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Ly Cấu
Bồ Tát,
Tịch Diệt Bồ Tát, Tuyển Trạch Bồ Tát, Pháp Vương Hống
Bồ Tát, vô lượng Bồ Tát như vậy rằng : “Chư Ðại Sĩ
! Nay các Ngài đều nên ở tại cung điện tự hiện thân mình
rõ ràng đúng như hình trạng tại bổn quốc của các Ngài”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát phát xuất lời ấy xong, chư đại Bồ Tát
từ tam muội dậy đều hiện bổn thân khiến tất cả đại
chúng đều thấy :
Hoặc có
Bồ Tát thân cao lớn như Tu Di sơn vương hoặc có Bồ Tát
thân lớn tám vạn bốn ngàn do tuần, hoặc trăm ngàn do tuần,
hoặc chín mươi ngàn do tuần nhẫn đến có mười ngàn do
tuần, nhẫn đến có một trăm do tuần, nhẫn đến có mười
do tuần, chín do tuần, tám do tuần đến một do tuần lần
lượt cho đến hoặc có bồ Tát thân hình lớn nhỏ rộng
hẹp bằng thân người ở Ta Bà thế giới nầy. Lúc nầy đại
chúng đầy chật cả Ðại Thiên thế giới không còn một
chỗ trống bằng đầu gậy.
Tất cả
chúng đại Bồ Tát ấy đều là công đức nguy nguy tri huệ
sâu xa đầy đủ oai lực thành tựu thần thông phóng đại
quang minh chiếu khắp mười phương vô lượng trăm ngàn Phật
độ.
Nhẫn đến
chư Thiên đại oai đức cùng chư Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát
Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn Phi Nhơn,
chư đại vương, chư tiểu vương đều đông đủ.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát đứng dậy chỉnh y phục trịch y vai hữu
gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng
: “Bạch Thế tôn ! Nay tôi muốn thưa hỏi đức Như Lai Ứng
Ðẳng Chánh Giác chút ít để giải quyết lòng nghi , chẳng
biết đức Thế Tôn có thương cho phép chăng ?”.
Ðức Phật
phán : “Cho phép ông hỏi, Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác sẽ
giải thích quyết dứt lòng nghi cho ông khiến ông vui mừng”.
Văn Thù
Sư lợi Bồ Tát Bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế
nào gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát , Nói Bồ Tát ấy có những
nghĩa gì ? ».
Ðức Phật
phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Ông hỏi thế nào là
Bồ Tát và Bồ Tát có nghĩa gì?
Do vì hay
giác liễu tất cả pháp nên gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát vậy
!
Nầy Văn
Thù Sư Lợi ! Tất cả pháp mà Bồ Tát giác liễu đó là ngôn
thuyết.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu tất cả
pháp ? Những là giác liễu nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý.
Bồ Tát giác liễu nhãn căn v.v…bổn tánh là không, giác liễu
như vậy rồi trọn chẳng sanh niệm rằng tôi hay giác tri.
Giác liễu
nhãn v.v…như vậy rồi, bồ Tát lại giác liễu sắc thanh
hương vị xúc và pháp bổn tánh tự không. Giác liễu như
vậy rồi bồ Tát cũng chẳng phân biệt rằng tôi hay giác
tri.
Ðây là
Bồ Tát giác liễu tất cả pháp vậy.
Nầy Văn
thù Sư Lợi ! Bồ Tát giác liễu ngũ ấm thế nào ? Bồ Tát
xem thấy ngũ ấm thể tánh vốn tự không. Vì giác liễu
như vậy nên quán vô tướng. Vì giác liễu như vậy nên quán
vô nguyện. Vì giác liễu như vậy nên quán vô dục. Vì giác
liễu như vậy nên quán tịch tĩnh. Vì giác liễu như vậy
nên quán viễn ly. Vì giác liễu như vậy nên quán sở hữu.
Vì giác liễu như vậy nên quán vô thiệt. Vì giác liễu như
vậy nên quán vô động. Vì giác liễu như vậy nên quán vô
sanh. Vì giác liễu như vậy nên quán vô diệt. Vì giác liễu
như vậy nên quán vô lai. Vì giác liễu như vậy nên quán vô
khứ. Vì giác liễu như vậy nên quán vô chơn. Vi giác liễu
như vậy nên quán vô chủ. Vì giác liễu như vậy nên quán
vô chứng . Vì giác liễu như vậy nên quán vô tri. Vì giác
liễu như vậy nên quán vô kiến.Vì giác liễu như vậy nên
quán vô nhơn. Vì giác liễu như vậy nên quán vô tưởng. Vì
giác liễu như vậy nên quán bất khả thuyết.Vì giác liễu
như vậy nên quán đản hữu danh. Vì giác liễu như vậy nên
quán vô ngã. Vì giác liễu như vậy nên quán phân biệt khởi.
Vì giác liễu như vậy nên quán tùng duyên sanh. Vì giác liễu
như vậy nên quán như huyễn. Vì giác liễu như vậy nên quán
như hóa. Vì giác liễu như vậy nên quán như mộng. Vì giác
liễu như vậy nên quán như cảnh tượng. Vì giác liễu như
vậy nên quán như thanh hưởng. Vì giác liễu như vậy nên
quán như ba tiêu. Vì giác liễu như vậy nên quán bất cửu
trụ. Vì giác liễu như vậy nên quán bất lao cố. Vì giác
liễu như vậy nên quán hư vọng. Vì giác liễu như vậy nên
quán vô vật. Vì giác liễu như vậy nên gọi Bồ Tát giác
liễu tất cả pháp.
Lại nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là đại Bồ Tát giác liễu tham
sân si ? Bồ Tát giác liễu tham dục, kia nhơn vì phân biệt
mà khởi, giác liễu sân khuể kia nhơn vì phân biệt mà khởi,
giác liễu ngu si kia nhơn vì phân biệt mà khởi nhưng cũng
giác liễu phân biệt kia không, vô sở hữu, vô vật, vô hí
luận, vì bất khả thuyết bất khả chứng vậy. Ðây là Bồ
Tát giác liễu tất cả pháp.
Lại nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu tam giới?
Bồ Tát giác liễu Dục giới không ngã nhơn. Sắc giới vô
sở tác, Vô Sắc giới không vô hữu. Giác liễu tam giới đều
viễn ly vậy. Ðây là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.
Lại nầy
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu chúng
sanh hành ? Bồ Tát giác liễu chúng sanh nầy tham dục hành,
chúng sanh nầy sân khuể hành, chúng sanh nầy ngu si hành, chúng
sanh nầy đẳng phần hành. Giác liễu như vậy chứng tri như
vậy, vì chúng sanh mà giảng thuyết như vậy giáo hóa như
vậy khiến được giải thoát như vậy. Ðây là Bồ Tát giác
liễu tất cả pháp.
Lại nầy
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu chúng
sanh ? Bồ Tát giác liễu chúng sanh chỉ có văn tự, rời lìa
văn tự ấy, thì không có chúng sanh riêng , thế nên tất cả
chúng sanh tức là một chúng sanh, một chúng sanh tức là tất
cả chúng sanh. Chúng sanh như vậy tức là phi chúng sanh. Nếu
ai có thể vô phân biệt như vậy đó là đại Bồ Tát giác
liễu tất cả pháp.
Lại giác
liễu tất cả pháp thế nào? Có thể giác liễu Bồ đề đạo
như vậy đó là đại Bồ Tát giác liễu tất cả pháp”.
Thuyết minh
lại nghĩa nầy, đức Thế Tôn nói kệ rằng :
“Giác liễu
nhãn với nhĩ
Tự thể
thường không tịch
Chẳng nói
tôi hay giác
Thì gọi
là Bồ Tát
Quán tỉ
cùng với thiệt
Bổn tánh
vô sở hữu
Chẳng phân
biệt tôi giác
Thì gọi
là Bồ Tát
Trí huệ
quan sát thân
Cũng giác
ý tự nhiên
Giác
rồi nói dạy người
Thì gọi
là Bồ Tát
Sắc thanh
hương vị xúc
Ý chỗ thích
trần cảnh
Giác tri
bổn tánh không
Thì gọi
là Bồ Tát
Giác sắc
cùng thọ tưởng
Hành ấm
và thức tâm
Tất cả
đồng như huyễn
Thì gọi
là bồ Tát
Ngũ ấm
tụ như mộng
Giác nó
không một tướng
Chẳng phân
biệt tôi biết
Thì gọi
là Bồ Tát
Chẳng sanh
cũng chẳng xuất
Không tác
cũng không nói
Chỉ có
danh tự thôi
Danh ấy
cũng không vật
Giác tham
dục sân khuể
Ðều do
phân biệt khởi
Phân biệt
ấy không thể
Cứu cánh
trọn tự không
Si cũng phân
biệt sanh
Phân
biệt nhơn duyên sanh
Duyên đây
sanh kiến chấp
Kiến chấp
bất khả đắc
Giác sát
tam giới không
Tất cả
không chơn thiệt
Nơi kia bất
khả động
Nên gọi
là Bồ Tát
Dục giới
chẳng thành tựu
Ðều do
phân biệt khởi
Sắc giới
vô sắc giới
Tất cả
chẳng bền vững
Sở hành
của chúng sanh
Người trí
đều biết rõ
Tham dục
cùng sân khuể
Và ngu si
kia thảy
Tất cả
các chúng sanh
Tức là
một chúng sanh
Trí giả
không sở giác
Chẳng niệm
chúng sanh kia
Các pháp
được sanh khởi
Ðều nhơn
điên đảo sanh
Giác liễu
điên đảo ấy
Biết chơn
tướng điên đảo
Trí huệ
rất vi diệu
Chẳng lấy
các âm thanh
Giác rồi
vô sở trước
Nên gọi
là Bồ Tát
Hay xả thịt
thân mình
Cũng trọn
không y chỉ
Giác chơn
thiệt như vậy
Mới gọi
là Bồ Tát
Trì giới
đến bỉ ngạn
Cũng chẳng
niệm bỉ ngạn
Giác liễu
giới hạnh như
Không sanh
cũng không tận
Từ tâm
khắp chúng sanh
Chẳng được
tướng chúng sanh
Giác liễu
chúng sanh tế
Chỉ do giả
ngôn tuyên
Dũng mãnh
đại tinh tiến
Thâm tâm
chán hữu vi
Thấy tam
giới không hư
Chứng Vô
thượng Ðẳng giác
Thường
nhập thiền vi diệu
Vô trước
vô sở y
Không trụ
không phan duyên
Trí
giả định như vậy
Hay dùng
dao bén trí
Dứt trừ
các dây kiến
Quan sát
tánh pháp giới
Không dứt
cũng không tổn
Nếu người
chơn giác liễu
Tất cả
pháp như thiệt
Liền đó
lợi chúng sanh
Mới gọi
là Bồ Tát ».