XXXVI
PHÁP HỘI
THIỆN TRỤ Ý THIÊN
TỬ
THỨ BA MƯƠi SÁU
Hán dịch:
Tùy Pháp Sư Ðạt Ma Cấp Ða
Việt dịch
: Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Phẩm PHÁ
BỒ TÁT TƯỚNG
Thứ sáu
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như
lời Phật dạy bồ Tát sơ phát tâm ấy, do nghĩa gì gọi là
sơ phát tâm ?”.
Ðức Phật
phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi !Nếu có Bồ Tát bình đẳng
xem tam giới tất cả tưởng sanh như vậy, được nói tối
sơ phát tâm. Ðây gọi là Bồ Tát sơ phát tâm vậy.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát lại bạch Phật : “Bạch đức Thế Tôn !
Như tôi hiểu nghĩa của đức Phật nói : nếu có Bồ Tát
tâm tham dục sanh là sơ phát tâm, tâm sân khuể sanh là sơ
phát tâm , tâm ngu si sanh là sơ phát tâm. Lời đức Thế Tôn
nói phải chăng bảo đó là sơ phát tâm ?”.
Thiện Trụ
Ý Thiên Tử hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch Ðại Sĩ
! Nếu chư Bồ Tát khởi tham sân si mà gọi là sơ phát tâm
thì tất cả cụ phược phàm phu đều tức là sơ phát tâm
Bồ Tát. Tại sao ? Vì từ xưa đến nay các phàm phu ấy thường
phát ba độc tâm tham sân si như vậy”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Ngài nói tất cả
phàm phu từ xưa đến nay thường phát được ba độc tâm
ấy, nghĩa đó không đúng. Tại sao ? Vì tất cả phàm phu tâm
lực kém yếu chẳng thể phát khởi tham sân si ấy. Duy có
chư Phật Thế Tôn tất cả A La Hán Bích Chi Phật bất thối
chuyển địa Bồ Tát mới hay phát khởi tham sân si thôi. Vì
thế nên phàm phu chẳng phát được”.
Thiện Trụ
Ý Thiên Tử nói : “ Bạch Ðại Sĩ ! Nay Ngài cớ chi nói như
vậy khiến chúng hội nầy chẳng hiểu chẳng biết sa vào
lưới nghi rất đáng kinh sợ”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Như chim kia bay qua
bay lại trong hư không, dấu chưn chim ấy tại hư không là
có phát hành hay không có phát hành ?
- Bạch
Ðại Sĩ ! Chẳng phải không phát hành.
- Nầy
Thiên Tử ! Ðúng như vậy. Do nghĩa ấy nên tôi nói nếu có
ai hay phát tham sân si, thì duy chư Phật Thế Tôn Thanh Văn Duyên
Giác bất thối Bồ Tát mới hay phát được thôi.
Nầy Thiên
Tử ! Không có y xứ đó gọi là phát, không có thủ trước
đó gọi là phát. Ðã không y xứ lại không thủ trước thì
tức là không có, đây gọi là phát, là câu vô phân biệt
đây gọi là phát, là câu bất khả sanh đây gọi là phát,
là câu bất thiệt đây gọi là phát, là câu phi vật đây
gọi là phát, là câu bất lai đây gọi là phát, là câu bất
khứ, đây gọi là phát, là câu vô sanh đây gọi là phát,
là câu vô phan duyên đây gọi là phát, là câu vô chứng đây
gọi là phát, là câu bất tránh đây gọi là phát, là câu
bất tư đây gọi là phát, là câu bất hoại đây gọi là
phát, là câu vô ngôn đây gọi là pháp, là câu bất phá đây
gọi là phát, là câu vô tự đây gọi là phát, là câu vô
chấp đây gọi là phát, là câu vô trụ đây gọi là phát,
là câu bất thủ đây gọi là phát, là câu bất xả đây gọi
là phát, là câu bất đạt đây gọi là phát. Nầy Thiên Tử
! Nên biết đây là Bồ Tát sơ phát tâm vậy.
Nầy Thiên
Tử ! Bồ Tát phát tâm nếu ở nơi tất cả pháp như vậy
mà chẳng ái trước chẳng tư tuởng chẳng thấy
chẳng biết chẳng nghe chẳng hiểu chẳng lấy chẳng bỏ
chẳng sanh chẳng diệt thì gọi là chơn phát tâm vậy.
Nầy Thiên
Tử ! Ðại Bồ Tát nếu hay y chỉ pháp giới như vậy bình
đẳng như vậy thiệt tế như vậy phương tiện như vậy thì
tham dục sân khuể ngu si phát. Lại nếu quyết hay y chỉ như
vậy thì nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý kia phát, thì sắc thủ
uẩn thọ tưởng hành thức thủ uẩn kia phát, như vậy
thì tất cả kiến chấp phát, vô minh hữu ái phát, mười
hai nhơn duyên hữu phần phát, ngũ dục các sự phát, ái trước
tam giới phát, ngã kiến phát, ngã sở kiến phát, sáu mươi
hai kiến phát, Phật tưởng phát, Pháp tưởng phát, Tăng tưởng
phát, tự tưởng phát, tha tưởng phát, địa thủy hỏa phong
không thức đại tưởng phát, tứ điên đảo phát, tứ thức
trụ phát, ngũ cái phát, bát tà phát, cửu não phát, thập
ác nghiệp đạo phát. Nói tóm lại, tất cả phân biệt, tất
cả chỗ phân biệt, tất cả ngữ ngôn, tất cả các tướng,
tất cả tiến xu, tất cả hi cầu, tất cả thủ trước, tất
cả tư tưởng, tất cả ý niệm, tất cả chướng ngại Bồ
Tát đều phải phát cả, các Ngài nên biết như thiệt.
Nầy Thiên
Tử ! Do nghĩa ấy nên nếu nay Ngài có thể ở nơi các pháp
nầy mà chẳng ái trước chẳng tư tưởng thì gọi là chơn
thiệt phát vậy ”.
Ðức thế
Tôn khen rằng : “Lành thay lành thay, nầy Văn Thù Sư Lợi,
nay ông có thể vì chư Bồ Tát mà tuyên đủ những nghĩa sơ
phát tâm như vậy. Từ quá khứ ông đã từng cúng dường
vô lượng vô biên quá hằng sa số chư Phật Thế Tôn
nên ông có thể tuyên nói như vậy”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay
chỗ nói của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát về tối sơ phát tâm
và được vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát, trước sau hai sự
bình đẳng không khác ư”.
Ðức Phật
phán dạy: “Ðúng như vậy. Nầy Xá Lợi Phất ! Thuở xưa
đức Nhiên Ðăng Thế Tôn thọ ký ta rằng : Ma Na Bà ! Ðời
vị lai quá a tăng kỳ kiếp ông sẽ được thành Phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác. Nầy Xá Lợi
Phất, lúc ấy ta cũng chẳng lìa tâm nầy mà được vô sanh
pháp nhẫn. Ông nên biết nghĩa sơ phát tâm của tất cả Bồ
Tát đúng như lời Văn Thù Sư Lợi nói không có khác vậy”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn như tôi
hiểu nghĩa của đức Phật nói đều là sơ phát. Tại sao
? Vì như lời Phật nói tất cả sơ phát tức là chẳng phát,
chẳng phát ấy tức là Bồ Tát tối sơ phát tâm”.
Lúc nói
pháp nầy, có hai vạn ba ngàn Bồ Tát chứng vô sanh nhẫn,
năm ngàn Tỳ Kheo ở trong các pháp lậu tận giải thoát, sáu
mươi ức chư Thiên Tử xa lìa trần cấu được pháp nhãn
tịnh.
Tôn giả
Ðại Ca Diếp bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại còn làm được việc khó làm
tuyên nói pháp môn thậm thâm như vậy khiến các chúng sanh
được nhiều lợi ích”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Nầy Tôn giả Ðại Ca Diếp ! Thiệt
tôi chẳng làm việc khó làm. Tại sao ? Vì tất cả pháp đều
vô sở tác; cũng không có đã làm, nay làm sẽ làm. Thưa Ðại
Ca Diếp ! Nơi các pháp tôi chẳng phải làm chẳng làm nghĩa
ấy cũng vậy.
Lại nầy
Tôn giả ! Với chúng sanh tôi không có độ thoát cũng không
trói buộc. Tại sao ?Vì tất cả các pháp vô sở hữu vậy.
Sao Tôn giả ở trước Phật nói là hay làm việc khó làm.
Lại nầy
Tôn giả ! Thiệt tôi chẳng làm. Chẳng phải riêng tôi chẳng
làm mà tất cả Như Lai cũng chẳng làm, Bích Chi Phật cũng
chẳng làm, A La Hán cũng chẳng làm.
Lại nầy
Tôn giả Ðại Ca Diếp ! Có những người nào hay làm việc
khó làm ? Nếu muốn nói đúng hay làm sự khó làm thì chỉ
có tất cả anh nhi phàm phu kia nói như vậy là khéo nói . Tại
sao ?Vì như chư Phật không có đã được nay được sẽ được,
nhẫn đến tất cả Thanh Văn tất cả Bích Chi Phật cũng vô
sở đắc, chỉ có phàm phu kia tất cả đều được”.
Tôn giả
Ðại ca Diếp hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch Ðại
Sĩ ! Tất cả chư Phật chẳng được những gì ?”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Tất cả chư Phật chẳng được ngã,
chẳng được nhơn chúng sanh thọ mạng sĩ phu, chẳng được
đoạn thường; chẳng được ấm nhập giới, chẳng được
các danh sắc, chẳng được Dục giới, Sắc giới, Vô sắc
giới, chẳng được phân biệt tư duy niệm xứ, chẳng được
nhơn sanh, chẳng được điên đảo, chẳng được tham sân
si, chẳng được đời nầy đời kia, chẳng được ngã ngã
sở, nhẫn đến chẳng được tất cả các pháp.
Nầy Tôn
giả ! Tất cả các pháp thứ đệ chẳng được như vậy cũng
lại chẳng mất, chẳng phược chẳng giải, chẳng lấy chẳng
bỏ, chẳng xa chẳng gần. Vì thế nên phải giác liễu pháp
môn như vậy.
Nếu chư
Phật Thế Tôn đều bất đắc thì tất cả pháp chẳng
phải pháp chẳng phải nghe, còn phàm phu tất cả đều đắc
nên phàm phu hay làm sự khó làm, mà chẳng phải chư Phật
làm, chẳng phải Bích Chi Phật làm, chẳng phải A La Hán
làm. Ðây gọi là phàm phu hay làm vậy”.
Tôn giả
lại hỏi : “ Bạch Ðại Sĩ ! Làm những gì?”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Làm đoạn làm thường, làm nhiễm
trước, làm y chỉ, làm tư tưởng ức niệm, làm thủ làm
xả nhẫn đến tất cả hí luận phân biệt tùy thuận cao
hạ các sự việc.
Vì thế
nên các pháp như vậy, chư Phật Thế Tôn đều không làm,
không có đã làm nay làm sẽ làm, chỉ có phàm phu kia hay làm
sự khó làm”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát bạch đức Phật : “Bạch đức Thế Tôn
! Vô sanh nhẫn được nói ấy, thế nào là vô sanh nhẫn ?Bạch
đức Thế Tôn! Lại do nghĩa gì mà còn gọi là pháp vô sanh
nhẫn, Bồ Tất thế nào được nhẫn pháp ấy ?”.
Ðức Phật
phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Thiệt không có người
ở trong sanh pháp mà được vô sanh nhẫn. Nói là được ấy
chỉ có ngữ nôn danh tự.Tại sao ? Vì vô sanh pháp chẳng thể
được vậy, vì lìa phan duyên vậy nên chẳng được pháp
nhẫn, được không chỗ được, không đắc không thất do
đây mà gọi là được vô sanh pháp nhẫn.
Lại nầy
Văn Thù Sư Lợi !Vô sanh pháp nhẫn ấy đó là vì tất cả
pháp vô sanh nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô lai
vô khứ nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô ngã vô chủ
nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô thủ vô xả nên nhẫn
như vậy, vì tất cả pháp vô sở hữu vô thiệt nên nhẫn
như vậy, vì tất cả pháp vô đẳng vô đẳng đẳng nên nhẫn
như vậy, vì tất cả pháp vô tỉ nên nhẫn như vậy, vì tất
cả pháp vô nhiễm như hư không nên nhẫn như vậy, vì tất
cả pháp vô phá hoại nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp
vô đoạn nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô cấu vô
tịnh nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không vô tướng
vô nguyện nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp lìa tham sân
si nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp như như pháp tánh thiệt
tế nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô phân biệt vô
tương ưng vô ức niệm, vô hí luận vô tư duy nên nhẫn như
vậy, vì tất cả pháp vô tác vô lực gầy kém hư cuống như
ảo như mộng như hưởng như ảnh như cảnh tượng như ba
tiêu như tụ mạt như thủy bào nên nhẫn như vậy. Cái bị
được nhẫn cũng không có được nhẫn, chẳng phải pháp
chẳng phải phi pháp, chỉ dùng danh tự nói lên pháp ấy thôi.
Mà danh tự ấy cũng bất khả đắc bổn tánh tự ly. Nói nhẫn
như vậy tin hiểu thích vào không nghi hoặc không kinh bố không
động không mất đầy khắp nơi thân rồi chánh thọ mà hành
chẳng được thân mình cũng không chỗ trụ. Ðây là đại
Bồ Tát ở trong các pháp được vô sanh nhẫn cho đến chẳng
hành tất cả tưởng vậy”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn
! Nói rằng nhẫn ấy, thế nào là nhẫn cho đến chẳng bị
cảnh giới phá hoại nên gọi là nhẫn’’.
Thiện Trụ
Ý Thiên Tử hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Bạch Ðại
Sĩ ! Những gì chẳng bị cảnh giới phá hoại ? ».
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Ðó là nhãn. Pháp
nào hoại nhãn ? Ðó là sắc tốt sắc xấu hay làm hoại nhãn.
Như sắc hoại nhãn, các thứ thanh hoại nhĩ hương hoại tỷ
vị hoại thiệt xúc hoại thân và pháp hoại ý cũng như vậy.
Nầy Thiên
Tử ! Nếu Bồ Tát mắt thấy sắc chẳng nắm lấy tướng
chẳng ham tốt chẳng phân biệt chẳng tư tưởng chẳng ái
chẳng yểm, biết là bổn tánh không chẳng có niệm tưởng,
chẳng bị các sắc nó làm hư hại, cho đến ý đối với
pháp cũng như vậy.
Nầy Thiên
Tử ! Nếu sáu căn ấy không trước không phược không hoại
không hại, Bồ Tát nầy an trụ nơi pháp nhẫn. Vì an trụ
pháp nhẫn nên ở nơi tất cả pháp không chỗ phân biệt không
sanh bất sanh không lậu bất lậu không thiện bất thiện không
vi bất vi, chẳng niệm thế pháp và xuất thế pháp, chẳng
phân biệt chẳng tư duy thì gọi là vô sanh pháp nhẫn”.
Lúc nói
pháp nầy, có sáu vạn ba ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng
Bồ đề, một vạn hai ngàn Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn.
Thiện Trụ
Ý Thiên Tử lại bạch hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch
Ðại Sĩ ! Thế nào là đại Bồ Tát phát khởi thắng hạnh
siêu việt chuyển tăng nhập vào các địa ?”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Nầy Thiên Tử ! Trong ấy ai có thể
phát được thắng hạnh mà Ngài nói các địa có siêu chuyển
ư ?.
- Bạch
Ðại Sĩ ! Ngài há chẳng biết chư Bồ Tát tu hành thù thắng
càng tăng cho đến siêu việt hay viên mãn thập địa ư ?
- Nầy
Thiên Tử ! Chẳng phải vậy. Như tôi được nghe đức Phật
dạy rằng tất cả các pháp như huyễn hóa. Ngài có tin chăng
?
- Bạch
Ðại Sĩ ! Lời chơn thành của đức Phật ai dám chẳng tin
!
- Nầy
Thiên Tử ! Như huyễn nhơn ấy và sự huyễn há lại có thắng
hạnh siêu việt chuyển nhập cho đến đầy đủ thập địa
ư ?
- Bạch
Ðại Sĩ ! không có
- Nầy
Thiên Tử ! Như vậy, giả sử nếu huyễn nhơn và sự huyễn
hay có thắng hạnh siêu việt chuyển nhập thì chư Bồ Tát
chúng tôi sẽ siêu việt chuyển nhập như vậy. Tại sao ? Vì
như đức Thế Tôn nói tất cả pháp như huyễn hóa nên không
có chuyển nhập. Vì thế nên nếu nói chư địa có người
chuyển nhập tức là chẳng phải chuyển nhập.
Tôi cũng
chẳng nói địa có chuyển nhập. Tại sao ? Vì tất cả pháp
không có chuyển nhập vậy. Vì thế nên pháp ở trong pháp
chẳng được chuyển nhập, nghĩa là sắc ở trong thọ, chẳng
được chuyển nhập, thọ ở trong sắc chẳng được chuyển
nhập, các pháp khác cũng như vậy. Tại sao ? Vì tất cả các
pháp tánh nó khác nhau, nó đi trong tự cảnh giới, ngoan si
vô tri không có giác thức, cũng như cỏ cây ngói đá tường
vách, như tượng trong gương, như huyễn như hóa chẳng chứng
xúc được, một tướng không có tướng. Do vì nghĩa như vậy
nên tất cả các pháp không có siêu chuyển, chẳng xuất chẳng
nhập không khứ không lai.
Nầy Thiên
Tử ! Nếu chư Bồ Tát hiểu biết tất cả pháp không siêu
chuyển như vậy thì chẳng lại còn có các địa sai khác,
cũng không nhập đạo, không có xả địa cũng không thối
chuyển , ở trong Bồ đề siêu chuyển ấy không có dứt mất.
Tại sao ?Vì nếu người thấy những ấm giới nhập kia
là chơn thiệt thì không có siêu chuyển. Tại sao ? Vì tất
cả pháp bổn tịnh vậy. Ðây gọi là Bồ Tát siêu việt đạo
địa.
Nầy Thiên
Tử ! Như huyễn sư hóa làm mười thứ xe cộ cung điện rồi
sai hóa nhơn ở trong đó. Nầy Thiên Tử ! Ý Ngài thế
nào, hóa nhơn cung điện ấy có định sở chăng ?
- Bạch
Ðại Sĩ ! Không có chỗ nhứt định.
- Nầy
Thiên Tử ! Ðúng như vậy, người thấy Bồ Tát địa có siêu
chuyển, sự ấy cũng như đây”.