Như
vầy tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Ba La Nại trong
rừng Thí Lộc cùng chúng đại Tỳ kheo năm trăm người câu
hội, tất cả đều là tri thức của đại chúng, danh hiệu
các Ngài là:
A Nhã
Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già
Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền
Liên, A Nan, La Hầu La v.v... làm thượng thủ.
Còn
có một vạn đại Bồ tát câu hội. Danh hiệu các Ngài là:
Thiện
Ý Bồ tát, Tăng Thượng Ý Bồ tát, Kiên Cố Ý Bồ tát, Sư
Tử Ý Bồ tát, Quan Thế Âm Bồ tát, Ðại Thế Chí Bồ tát,
Biện Tích Bồ tát, Mỹ Âm Bồ tát, Thắng Tràng Bồ tát, Tín
Huệ Bồ tát, Thủy Thiên Bồ tát, Ðế Thắng Bồ tát, Ðế
Thiên Bồ tát, Vô Phan Duyên Bồ tát, Cụ Biện Tài Bồ tát,
Thần Thông Diệu Hoa Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi
Pháp Vương Tử v.v... làm thượng thủ.
Ðức
Thế Tôn có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh cúng
dường cung kính mà vì họ thuyết pháp.
Bấy
giờ Di Lặc Bồ tát ở trong chúng đứng dậy trịch y vai hữu
gối hữu chấm đất đảnh lễ chắp tay mà bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Tôi có chút nghi nay muốn thỉnh hỏi
Như Lai, ngưỡng mong cho phép”.
Ðức
Phật dậy: “Nầy Di Lặc! Nếu có chỗ nghi cho phép ông hỏi,
ta sẽ giải nói cho ông vui mừng”.
Ðược
Phật hứa cho, Di Lặc Bồ tát vui mừng hớn hở bạch Phật
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát thành tựu mấy pháp
được lìa ác đạo và ác tri thức mà mau chứng Vô thượng
Bồ đề?”.
Ðức
Phật dạy: “Lành thay, lành thay, nầy Di Lặc! Nay ông thương
xót tất cả muốn lợi ích an vui cho Trời Người mà hỏi
nơi Như Lai về thâm nghĩa ấy. Ông nên lắng nghe khéo suy nghĩ,
ta sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.
- Vâng
bạch đức Thế Tôn! Tôi xin ưa thích được nghe.
- Nầy
Di Lặc! Có một pháp mà Bồ tát thành tựu thì lìa các ác
đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng
Bồ đề. Ðó là phát tâm Bồ đề ý nguyện thù thắng.
Còn
có hai pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là với xa ma tha thường
siêng tu tập, hai là với tỳ bát xá na thì được thiện xảo.
Còn
có ba pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là thành tựu đại bi, hai
là tu tập pháp không, ba là nơi tất cả pháp chẳng sanh phân
biệt.
Còn
có bốn pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ tịnh giới, hai
là lìa các lưới nghi, ba là thích a lan nhã, bốn là khởi
tâm chánh kiến.
Còn
có năm pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ pháp không, hai
là chẳng cầu tìm lỗi người, ba là thường tự quan sát,
bốn là yêu thích chánh pháp, năm là nhiếp hộ người.
Còn
có sáu pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là không có tham dục, hai
là chẳng sanh sân khuể, ba là chẳng khởi ngu si, bốn là thường
lìa thô ngữ, năm là an trụ tánh không, sáu là tâm như hư
không.
Còn
có bảy pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là an trụ chánh niệm, hai
là thành tựu trạch pháp, ba là phát khởi tinh tiến, bốn
là thường sanh hoan hỷ, năm là thân được khinh an, sáu là
trụ các thiền định, bảy là có đủ hành xả.
Còn
có tám pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là chánh kiến, hai là chánh
tư duy, ba là chánh ngữ, bốn là chánh nghiệp, năm là chánh
mạng, sáu là chánh tinh tiến, bảy là chánh niệm và tám là
chánh định.
Còn
có chín pháp lìa các ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
Vô thượng Bồ đề. Một là xa lìa các pháp tham dục, ác
bất thiện mà an trụ sơ thiền tầm từ hỉ lạc tâm nhứt
cảnh tánh. Hai là xa lìa tầm từ an trụ nhị thiền nội tịnh
hỉ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Ba là xa lìa hỉ an trụ tam thiền
xả niệm huệ lạc tâm nhứt cảnh tánh. Bốn là xa lìa ưu
khổ và hỉ lạc an trụ tứ thiền xả niệm thanh tịnh vô
khổ vô lạc tâm nhứt cảnh tánh. Năm là vượt quá sắc tưởng
không phan duyên dị biệt an trụ vô biên hư không xứ định.
Sáu là vượt qua vô biên hư không xứ định rồi có thể
an trụ vô biên thức xứ định. Bảy là vượt qua vô biên
thức xứ định rồi có thể an trụ vô sở hữu xứ định.
Tám là vượt qua vô sở hữu xứ định rồi có thể an trụ
phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Chín là vượt qua phi tưởng
phi phi tưởng xứ định rồi có thể an trụ diệt thọ tưởng
định.
Còn
có mười pháp xa lìa ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng
được Vô thượng Bồ đề. Một là khéo có thể thành tựu
kim cương tam muội. Hai là thành tựu xứ phi xứ tương ưng
tam muội. Ba là thành tựu phương tiện hành tam muội. Bốn
là thành tựu biến chiếu minh tam muội. Năm là thành tựu
phổ quang minh tam muội. Sáu là thành tựu phổ biến chiếu
minh tam muội. Bảy là thành tựu bửu nguyệt tam muội. Tám
là thành tựu nguyệt đăng tam muội. Chín là thành tựu xuất
ly tam muội. Mười là thành tựu thắng tràng tý ấn tam muội.
Nầy
Di Lặc! Thành tựu các pháp như vậy rồi, Bồ tát lìa các
ác đạo và ác tri thức mau có thể chứng được Vô thượng
Bồ đề”.
Ðược
nghe pháp rồi, Di Lặc Bồ tát rất vui mừng trịch y vai hữu
gối hữu chấm đất chắp tay cung kính ở trước Phật nói
kệ tán thán:
“Phật
ở kiếp quá khứ
Bỏ
vợ con yêu thương
Ðầu
mắt và xương tủy
Ðến
bờ kia bố thí
Phật
thường hộ cấm giới
Như
trâu mao mến đuôi
Tối
thắng không ngang sánh
Ðến
bờ kia trì giới
Phật
dùng sức nhẫn nhục
Bỏ
lìa các đấu tranh
Chẳng
cầu tìm lỗi người
Ðến
bờ kia nhẫn nhục
Phật
dùng sức tinh tiến
Ðược
vô thượng tịch tĩnh
Cứu
cánh thường an vui
Ðến
bờ kia tinh tiến
Phật
dùng sức thiền định
Hay
diệt trừ tội nhơ
Làm
Ðạo Sư Trời Người
Ðến
bờ kia thiền định
Phật
dùng sức trí huệ
Khéo
biết rõ các pháp
Tự
tánh vô sở hữu
Ðến
bờ kia Bát nhã
Phật
tại Bồ đề thọ
Hàng
phục các quân ma
Ðầy
đủ trí tối thắng
Thành
tựu đạo vô thượng
Ðạo
Sư sức vô úy
Nơi
nước Ba La Nại
Chuyển
pháp luân thanh tịnh
Dẹp
phá các ngoại đạo
Trí
huệ lớn vô thượng
Ra
khỏi các thế gian
Hay
phóng tịnh quang minh
Khéo
nói các pháp yếu
Như
Lai sắc thanh tịnh
Trí
huệ và công đức
Vượt
quá các thế gian
Hay
đến nơi bờ kia”.
Trưởng
lão A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Di Lặc
Bồ tát nầy rất hi hữu hay thành tựu vô lượng biện tài
tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà bình đẳng thuyết pháp,
nhưng đối với văn tự không có chỗ buộc dính”.
Ðức
Phật dạy: “Ðúng như vậy, đúng như lời ông nói. Nầy
A Nan! Di Lặc Bồ tát đâu phải chỉ có hôm nay ở trước
ta nói kệ tán thán đức Phật, mà từ quá khứ mười vô
số kiếp, thuở ấy có Phật xuất thế hiệu Diệm Quang Du
Hí Diệu Âm Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.
Bấy giờ có một Bà La Môn tên Hiền Thọ thân tướng đầy
đủ ai thấy cũng đều vui mừng, từ trong vườn đi ra thấy
đức Như Lai đoan chánh thù diệu các căn tịch tĩnh được
xa ma tha như ao nước trong sạch không bợn nhơ, có ba mươi
hai tướng và tám mươi tùy hảo để tự trang nghiêm, như
cây ta la nở hoa, như núi Tu Di cao vọt hơn cả, vẻ mặt tươi
vui như trăng tròn, chiếu sáng rực rỡ như mặt nhựt tỏ
rạng, thân hình tròn trịa như cây ni câu đà.
Thấy
tướng thù thắng của Phật Như Lai, Hiền Thọ sanh lòng tịnh
tín suy nghĩ rằng: Hi hữu Thế Tôn hay thành tựu vô lượng
công đức trang nghiêm như vậy. Tôi cũng nguyện tương lai
cũng thành tựu thân công đức như vậy.
Phát
nguyện xong, Hiền Thọ reo mình xuống đất lại tự nghĩ rằng:
Nếu đời đương lai tôi sẽ được thân Phật nguyện chưn
Như Lai đạp lên mình tôi.
Biết
ý nghĩ ấy, đức Phật Như Lai liền lấy chưn mình dẫm lên
thân Hiền Thọ. Lúc đức Phật Như Lai hạ chưn xuống, Hiền
Thọ được vô sanh pháp nhẫn. Ðức Phật Như Lai ngó ngoái
lại bảo chúng Tỳ kheo rằng các ông chớ đạp lên mình Hiền
Thọ, tại sao, vì đây là đại Bồ tát nay đã chứng vô sanh
pháp nhẫn, lại hay thành tựu thiên nhãn thiên nhĩ tha tâm
túc thần cảnh trí thông.
Hiền
Thọ liền ở trước đức Phật Diệm Quang nói kệ tán thán
rằng:
Phật
ở mười phương cõi
Tối
tôn tối vô thượng
Siêu
quá các thế gian
Nay
tôi cúi đầu lạy
Như
Lai đại quang minh
Chói
che cả nhựt nguyệt
Siêu
quá các thế gian
Nay
tôi cúi đầu lạy
Ví
như sư tử hống
Muôn
thú điều kinh sợ
Thế
Tôn đại oai đức
Xô
dẹp các ngoại đạo
Tướng
lông trắng giữa mày
Trong
sáng như pha lê
Chiếu
khắp các thế gian
Siêu
quá hơn tất cả
Thế
Tôn không ai bằng
Lòng
chưn thiên bức luân
Thanh
tịnh hóa thế gian
Hay
chấn động trời đất
Thành
tựu đạo xuất ly
Siêu
quá biển phiền não
Ðem
các của công đức
Tùy
ý ban tất cả
Như
Lai giới thanh tịnh
Xuất
sanh các công đức
Không
có lòng thương ghét
Dường
như cõi đại địa
Do
nơi sức trí huệ
Biết
rõ các pháp không
Chúng
sanh và tghọ giả
Phân
biệt bất khả đắc
Khéo
rành tánh chúng sanh
Tâm
hành và sở nguyện
Làm
đèn sáng cho đời
Lợi
ích tất cả loài
Thế
gian khổ bức bách
Trôi
chìm trong dòng sâu
Phật
thường vì chúng sanh
Phát
sức tinh tiến lớn
Thế
Tôn lìa phiền não
Sanh
lão và bịnh tử
Ở
đời như hư không
Tất
cả không nhiễm ô
Trí
huệ oai quang lớn
Hay
phá tất cả tối
Lìa
hẳn tham sân si
Nay
tôi cúi đầu lạy.
Hiền
Thọ Bồ tát được thần thông đến nay chẳng còn thối thất.
Nầy A Nan! Hiền Thọ thuở ấy chính là Di Lặc đại Bồ tát
nay ở trong hội nầy vậy.
- Bạch
đức Thế tôn! Di Lặc đại Bồ tát từ lâu đã chứng vô
sanh pháp nhẫn cớ sao chẳng được Vô thượng Bồ đề?
- Nầy
A Nan! Bồ tát có hai thứ trang nghiêm và hai thứ nhiếp thủ.
Ðó là nhiếp thủ chúng sanh và trang nghiêm chúng sanh, nhiếp
thủ Phật quốc và trang nghiêm Phật quốc.
Thuở
quá khứ lúc tu Bồ tát hạnh, Di Lặc Bồ tát thường thích
nhiếp thủ và trang nghiêm Phật quốc, còn ta thì thường ưa
nhiếp thủ và trang nghiêm chúng sanh. Di Lặc Bồ tát tu Bồ
tát hạnh trải qua bốn mươi kiếp bấy giờ ta mới phát tâm
Vô thượng Bồ đề, do vì ta có sức dũng mãnh tinh tiến nên
siêu việt chín kiếp, ở trong Hiền kiếp nầy thành Vô thượng
Bồ đề.
Nầy
A Nan! Ta do mười pháp mà chứng Bồ đề: Một là hay xả thí
vật sở ái, hai là hay thí vợ sở ái, ba là hay thí con sở
ái, bốn là hay thí đầu sở ái, năm la hay thí mắt sở ái,
sáu là hay thí ngôi vua sở ái, bảy là hay thí trân bửu sở
ái, tám là hay thí máu thịt sở ái, chín là hay thí xương
tủy sở ái, mười là hay thí thân phần sở ái. Ta thật hành
mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.
Nầy
A Nan! Còn có mười pháp hay chứng Bồ đề: Một là hộ giới
công đức, hai là thành tựu nhẫn nhục, ba là phát khởi tinh
tiến, bốn là được các thiền định, năm là có đại trí
huệ, sáu là thường chẳng bỏ lìa các chúng sanh, bảy là
khởi tâm bình đẳng đối với chúng sanh, tám là thường
tu tập pháp không, chín là khéo hay thành tựu tánh không chơn
thiệt, mười là khéo hay thành tựu vô tướng vô nguyện.
Ta thật hành mười pháp nầy mà được Vô thượng Bồ đề.
Nầy
A Nan! Thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ tát, Di Lặc Bồ tát
chẳng có thể xả thí tay chưn đầu mắt, chỉ dùng thiện
xảo phương tiện đạo hạnh an lạc mà tích tập Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
- Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là Di Lặc Bồ tát thuở quá khứ
lúc hành đạo Bồ tát chỉ dùng thiện xảo phương tiện đạo
hạnh an lạc mà tích tập Vô thượng Bồ đề?
- Nầy
A nan! Thuở quá khứ lúc hành đạo Bồ tát, Di Lặc ngày đêm
sáu thời trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay đảnh
lễ ở trước chư Phật mà nói kệ rằng:
Nay
tôi quy mạng lễ
Tất
cả Phật mười phương
Bồ
tát chúngThanh văn
Ðấng
đại tiên thiên nhãn
Cùng
lễ tâm Bồ đề
Lìa
xa các ác đạo
Hay
được sanh lên trời
Nhẫn
đến chứng Niết bàn
Nếu
tôi phạm chút tội
Theo
tâm mà sanh ra
Nay
tôi ở trước Phật
Sám
hối cho tiêu diệt
Nay
thân khẩu ý tôi
Chứa
họp các công đức
Nguyện
làm nhơn Bồ đề
Sẽ
thành đạo Vô thượng
Trong
quốc độ mười phương
Những
người cúng dường Phật
Và
Phật vô thượng trí
Nay
tôi đều tùy hỉ
Có
tội đều sám hối
Phước
đức đều tùy hỉ
Nay
tôi lễ chư Phật
Nguyện
thành trí vô thượng
Chư
Bồ tát mười phương
Chứng
được bực thập địa
Nay
tôi cúi đầu lạy
Nguyện
mau chứng Bồ đề
Ðược
chứng Bồ đề rồi
Xô
dẹp các quân ma
Chuyển
pháp luân thanh tịnh
Lợi
ích loài chúng sanh
Thường
nguyện ở thế gian
Vô
lượng câu chi kiếp
Gióng
trống pháp lớn lên
Ðộ
thoát khổ chúng sanh
Tôi
bị ngập bùn dục
Bị
dây tham trói buộc
Nhiều
các thứ triền phược
Nguyện
Phật thương xem xét
Chúng
sanh dầu tội nặng
Chư
Phật chẳng chán bỏ
Nguyện
dùng đại từ bi
Ðộ
thoát biển sanh tử
Hiện
tại chư Thế tôn
Quá
khứ vị lai Phật
Bồ
tát đạo đã làm
Nay
tôi nguyện tu học
Ðầy
đủ Ba la mật
Thành
tựu sáu thần thông
Ðộ
thoát các chúng sanh
Chứng
được đạo vô thượng
Biết
rõ các pháp không
Không
trụ không biểu thị
Chẳng
sanh cũng chẳng diệt
Lại
như đấng Ðại Tiên
Khéo
rõ pháp vô ngã
Không
bổ đặc già la
Nhẫn
đến không thọ giả
Nơi
các sự bố thí
Chẳng
chấp ngã ngã sở
Vì
an lạc chúng sanh
Thí
cho không bỏn xẻn
Nguyệt
vật tôi bố thí
Chẳng
cần công dụng sanh
Quan
sát biết rõ không
Ðủ
Thí ba la mật
Trì
giới không khuyết giảm
Ðược
Phật tịnh thi la
Do
vì vô sở trụ
Ðủ
giới Ba la mật
Nhẫn
nhục như tứ đại
Chẳng
sanh tâm phân biệt
Do
vì không sân khuể
Ðủ
Nhẫn ba la mật
Nguyện
dùng sức thân tâm
Phát
khởi đại tinh tiến
Kiên
cố không giải đãi
Ðủ
Cần ba la mật
Do
như huyễn như hóa
Và
dũng mãnh tinh tiến
Kim
cương các tam muội
Ðủ
Thiển ba la mật
Nguyện
chứng tam muội trí
Nhập
vào tam giải thoát
Rõ
tam thế bình đẳng
Ðủ
Huệ Ba la mật
Chư
Phật diệu sắc thân
Quang
minh oai đức lớn
Bồ
tát tinh tiến hạnh
Nguyện
tôi đều tròn đầy
Di
Lặc Bồ tát ấy
Siêng
tu hạnh như vậy
Ðủ
sáu Ba la mật
An
trụ bực thập địa.
Nầy
A Nan! Di Lặc Bồ tát an trụ thiện xảo phương tiện như vậy
tích tập Vô thượng bồ đề.
Nầy
A Nan! Thuở xưa ta cầu đạo nhận lấy vô lượng khổ mới
có thể tích tập Vô thượng Bồ đề.
Thuở
xa xưa có Thái tử tên Kiên Nhứt Thiết Nghĩa đoan chánh
đẹp lạ có đủ các tướng tốt ai thấy cũng đều vui mừng.
Một hôm Thái tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn đau khổ nặng,
Thái tử xót thương hỏi thăm: Nay bịnh nầy của ngươi há
lại không có thuốc để chữa lành sao? Bịnh nhơn nói kệ
đáp Thái tử:
Bịnh
tôi khó tìm thuốc
Thế
gian chẳng có được
Huống
là kẻ mắc bịnh
Người
giỏi nói y phương
Thông
đạt các sách vở
Dầu
muốn trị bịnh nầy
Thuốc
ấy khó có được.
Thái
tử nói kệ bảo bịnh nhơn:
Vàng
bạc châu ma ni
Nhẫn
đến các voi ngựa
Cần
gì xin người nói
Ðể
trừ khổ cho người.
Bịnh
nhơn lại nói kệ bạch Thái tử:
Nếu
uống huyết Thái tử
Chắc
tôi được an vui
Xin
Thái tử vui lòng
Cho
tôi hết đau khổ.
Thái
tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn:
Nếu
tôi vì chúng sanh
Mà
phải đọa địa ngục
Nhiều
kiếp còn chịu được
Huống
là thân huyết nầy.
Lúc
Thái tử lấy dao bén đâm vào thân chảy máu bảo bịnh nhơn
tùy ý uống chẳng hề có một niệm hối hận.
Nầy
A Nan! Thái tử Kiến Nhứt Thiết Nghĩa thuở xưa kia chính là
thân ta vậy. Nước bốn đại hải còn có thể đong lường,
lúc hành đạo Bồ tát ta xả thí máu nơi thân mình chẳng
tính kể được.
Nầy
A Nan! Thuở xa xưa có Thái tử tên Diệu Hoa đoan chánh đẹp
lạ đủ các tướng tốt người thấy vui mừng. Một hôm Thái
tử du ngoạn thấy một bịnh nhơn ốm gầy sanh lòng thương
hỏi thăm: Nay bịnh của ngươi há lại không có thuốc chữa
lành sao?
Bịnh
nhơn nói kệ bạch Thái tử:
Thế
gian có lương y
Chẳng
chữa được bịnh tôi
Xin
Ngài rủ lòng thương
Trừ
đau khổ cho tôi
Thái
tử nói kệ bảo bịnh nhơn:
Tất
cả đều bố thí
Thân
phần và trân bửu
Cần
gì xin người nói.
Bịnh
nhơn nói kệ bạch Thái tử:
Ví
như đại dược vương
Tùy
ý chữa lành bịnh
Cũng
như nhựt nguyệt sáng
Chiếu
khắp các thế gian
Nếu
được tủy thân Ngài
Thoa
khắp thân thể tôi
Bịnh
nầy sẽ tiêu trừ
Mãi
mãi được an vui.
Thái
tử liền nói kệ bảo bịnh nhơn;
Nếu
có các chúng sanh
Ðập
thân tôi lấy tủy
Vì
lợi ích thế gian
Lòng
tôi chẳng ưu não.
Thái
tử liền tự đập nát thân lấy tủy cho bịnh nhơn tùy ý
dùng không có chút niệm hối hận.
Nầy
A Nan! Nên biết thuở xưa Thái tử Diệu Hoa kia chính là thân
ta. Nước bốn đại hải có thể đong lường, thuở xưa ta
hành đạo Bồ tát xả thí xương tủy nơi thân mình không
thể tính kể được.
Nầy
A Nan! Thuở xa xưa có Quốc vương tên Nguyệt Quang đoan chánh
đẹp lạ đủ tướng tốt người thấy vui mừng, du ngoạn
thấy một người mù ăn xin, chạnh lòng thương nhà vua hỏi:
Người cần dùng gì ta sẽ cấp cho, hoặc đồ ăn uống y phục
đồ trang sức châu ngọc trân bửu, tùy ý người muốn đều
sẽ được ban.
Người
mù nói kệ bạch Quốc vương:
Ðại
vương như nhựt nguyệt
Quang
minh soi thế gian
Ðầy
đủ thắng công đức
Chẳng
lâu sanh lên trời
Tất
cả màu sắc đẹp
Nay
tôi đều chẳng thấy
Xin
vua đại từ bi
Ban
tôi mắt của vua.
Quốc
vương nói kệ đáp người mù:
Người
mau đến lấy mắt
Cho
người được an vui
Người
tôi đến đời sau
Ðược
mắt Phật thanh tịnh
Tôi
hành đạo Bồ tát
Tất
cả đều xả thí
Nếu
tôi chẳng cho người
Thì
trái với bổn nguyện.
Vua
Nguyệt Quang liền tự móc tròng mắt mình thí cho người mù
tùy ý dùng chẳng có một niệm hối hận. Nầy A Nan! Nên biết
thuở xưa vua Nguyệt Quang kia chính là thân ta. Núi Tu Di còn
có thể đo lường, lúc ta hành đạo Bồ tát bố thí con mắt
của mình chẳng thể kể đếm được.
Nầy
A Nan! Di Lặc Bồ tát lúc hành đạo Bồ tát có phát nguyện
rằng: Nếu các chúng sanh tham sân si mỏng thành tựu thập
thiện bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề.
Nầy
A Nan! Ðời đương lai có thuở các chúng sanh tham sân si mỏng
thành tựu thập thiện, bấy giờ Di Lặc Bồ tát sẽ thành
Vô thượng Bồ đề. Tại sao, vì do nơi bổn nguyện lực của
Bồ tát vậy.
Nầy
A Nan! Thuở xưa lúc hành đạo Bồ tát, ta phát lời rằng:
Tôi nguyện sẽ ở nơi đời ác ngũ trược các chúng sanh ác
tham sân si nặng, họ chẳng hiếu với cha mẹ chẳng kính bực
tôn trưởng, nhẫn đến quyến thuộc chẳng hòa thuận nhau,
bấy giờ tôi sẽ thành Vô thượng Bồ đề. Do bổn nguyện
như vậy nên nay ta vào thành ấp tụ lạc, có nhiều chúng
sanh khi mắng ta, họ dùng pháp đoạn pháp thường tụ chúng
hội họp. Hoặc lúc ta đi khất thực, họ rải đất bụi,
họ trộn thuốc độc cho ta ăn. Hoặc họ dùng nữ nhơn hủy
báng ta.
Nầy
A Nan! Nay ta do sức bổn nguyện khởi tâm đại bi vì các chúng
sanh ấy thuyết pháp”.
Trưởng
lão A Nan bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Ðức Như Lai Ứng
Cúng Ðẳng Chánh Giác hay làm việc khó hay nhẫn việc khó,
người chẳng điều phục đều khiến điều phục, mang gánh
những chúng sanh tội cấu như vậy mà thuyết pháp cho họ”.
Ðức
Phật dạy: “Ðúng như lời ông nói. Tại sao, vì do đại
bi của Như Lai nhiếp lấy vậy.
- Bạch
đức Thế Tôn! Tôi nghe thệ nguyện vững chắc của đức
Như Lai mà toàn thân lông dựng đứng. Bạch đức Thế Tôn!
Kinh nầy tên là gì, chúng tôi phải phụng trì thế nào?
- Nầy
A Nan! Kinh nầy tên là Di Lặc Sở Vấn, cũng tên là Vãng Tích
Bổn Nguyện Nhơn Duyên, ông nên phụng trì như vậy”.
Ðức
Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ tát, Tôn giả A Nan, tất
cả thế gian Trời, Người, A Tu La v.v... nghe lời Phật dạy
đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP
HỘI DI LẶC BỒ TÁT SỞ VẤN
THỨ
BỐN MƯƠI HAI
HẾT