Như
vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở thành Vương Xá trong
núi Kỳ Xà Quật cùng đại Tỳ Kheo tám ngàn người câu hội.
Còn có sáu ngàn đại Bồ Tát đều bất thối chuyển nơi
Vô thượng Bồ đề, đều là bực nhứt sanh bổ xứ từ các
Phật thế giới mười phương đến đây tập hội.
Bấy
giờ Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp bạch Phật rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Gọi rằng Sa Môn ấy, thế nào là Sa Môn?”.
Ðức
Phật dạy: “Nầy Ðại Ca Diếp! Gọi là Sa Môn vì tịch
diệt vậy, vì điều phục vậy, vì thọ giáo vậy, vì giới
thân thanh tịnh vậy, vì nhập thiền định vậy, vì được
trí huệ vậy, vì hiểu biết thiệt nghĩa được giải thoát
vậy, vì nơi ba môn giải thoát không chỗ nghi vậy, vì an trụ
pháp sở hành của Thánh nhơn vậy, vì khéo tu tứ niệm xứ
vậy, vì lìa tất cả pháp bất thiện vậy, vì an trụ tứ
chánh cần vậy, vì khéo tu tứ như ý túc vậy, vì thành tựu
tín căn vậy, vì tin Phật Pháp Tăng vậy, vì thành tựu kiên
tín nơi Phật Pháp Tăng vậy, vì chẳng tin đạo pháp khác
vậy, vì siêng tu lìa tất cả phiền não vậy, vì khéo tu thất
Bồ đề phần lìa tất cả bất thiện như thiệt tu tất cả
thiện pháp vậy, vì khéo biết chánh niệm chánh trí phương
tiện vậy, vì chuyên niệm tất cả các thiện pháp vậy, vì
khéo biết định huệ phương tiện vậy, vì thành tựu ngũ
lực vậy, vì khéo tu thất Bồ đề phần vậy, vì khéo biết
nhơn duyên phương tiện trong tất cả pháp vậy, vì khéo biết
phương tiện Thánh đạo vậy, vì khéo biết phương tiện chánh
kiến chánh định vậy, vì được sức tứ biệt tài chẳng
tin ngoại đạo vậy, vì y nghĩa chẳng y ngữ, y trí bất y
thức, y kinh liễu nghĩa chẳng y kinh bất liễu nghĩa và y pháp
bất y nhơn vậy, vì lìa tứ ma vậy, vì khéo biết ngũ ấm
vậy, vì dứt tất cả phiền não vậy, vì được tối hậu
thân vậy, vì lìa đường sanh tử vậy, vì lìa tất cả ái
vậy, vì siêng tu biết khổ đoạn tập chứng diệt tu đạo
vậy, vì khéo thấy tứ chánh đế vậy, vì an trụ trong Phật
pháp chẳng tin đạo khác vậy, vì chỗ làm đã xong vậy, vì
dứt tất cả lậu vậy, vì tu bát hội xả vậy, vì được
Thích Phạm Thiên Vương khen vậy, vì từ nào đến giờ chuyên
tâm hành đạo vậy, vì ưa chỗ a lan nhã vậy, vì an trụ trong
thánh pháp vậy, vì vui nghi thức Phật pháp vậy, vì tâm chẳng
khuynh động vậy, vì chẳng thân cận chúng xuất gia tại gia
vậy, vì tâm thích độc hành như sừng con tây, vì sợ chúng
đông nhiều não loạn vậy, vì thích ở một mình vậy, vì
thường kinh sợ tam giới vậy, vì được quả Sa Môn thiệt
vậy, vì lìa tất cả hy vọng vậy, vì lìa tám pháp thế gian
vậy, đó là đối với lợi suy hủy dự xưng cơ khổ lạc
tâm vững chắc bất động như đại địa vậy, vì hộ ý
mình ý người không chỗ phạm vây, vì chẳng trược vậy,
vì chanh hạnh vậy, vì tâm hành thành tựu như hư không vậy,
với các hình tướng tâm không dính mắc như giữa hư không
động tay không vướng ngại vậy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nếu người hay thành tựu các hành pháp
như vậy thì gọi là Sa Môn”.
Trưởng
lão Ma Ha Ca Diếp bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Thiệt chưa từng có, đức Như Lai khéo nói đức hạnh của
Sa Môn.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu đời sau có các Sa Môn chẳng phải
thiệt Sa Môn mà tự nói là Sa Môn, người chẳng phải phạm
hạnh mà tự nói có phạm hạnh, người như vậy tức là đã
xâm tổn Vô thượng Bồ đề được Như Lai tu tập từ vô
lượng vô số kiếp”.
Ðức
Phật dạy: “Nầy Ðại Ca Diếp! Tội xâm tổn Bồ đề
của Như Lai như vậy nói chẳng hết được.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Sau khi ta diệt độ, ông và chư đại đệ
tử cũng đều diệt độ, chư đại Bồ Tát ở thế giới
nầy lại đi qua thế giới chư Phật phương khác, bấy giờ
trong pháp của ta sẽ có hàng Tỳ Kheo ở nơi sở hành tâm
nhiều siểm khúc. Nay ta sẽ nói tội cấu của Sa Môn.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Trong thời kỳ mạt pháp sẽ có Tỳ Kheo
chẳng tu thân chẳng tu giới chẳng tu tâm chẳng tu huệ, ngu
si như trẻ nít hướng đến tối tăm mà không biết, tâm họ
chẳng điều phục nên thành Sa Môn cấu uế.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Cấu uế của Sa Môn có ba mươi hai thứ
mà người xuất gia phải xa lìa:
Dục
giác là Sa Môn cấu, sân giác là Sa Môn cấu, não giác là Sa
Môn cấu, tự khen là Sa Môn cấu, chê người là Sa Môn cấu,
tà cầu lợi dưỡng là Sa Môn cấu, nhơn lợi cầu lợi là
Sa Môn cấu, tổn phước cúng thí của người là Sa Môn cấu,
che giấu tội lỗi là Sa Môn cấu, thân cận người tại gia
là Sa Môn cấu, thân cận người xuất gia là Sa Môn cấu, ư
ở đông ồn náo là Sa Môn cấu, chưa được lợi dưỡng mà
phương tiện cầu là Sa Môn cấu, có lòng hy vọng lợi dưỡng
của người là Sa Môn cấu, với lợi dưỡng của mình lòng
chẳng biết đủ là Sa Môn cấu, tật đố lợi dưỡng người
là Sa Môn cấu, thường tìm lỗi người là Sa Môn cấu, chẳng
thấy lỗi mình là Sa Môn cấu, chẳng kiên trì giới giải
thoát là Sa Môn cấu, chẳng biết tàm quý là Sa Môn cấu, không
có ý cung kính mà khinh mạn là Sa Môn cấu, khởi các kiết
sử là Sa Môn cấu, nghịch mười hai nhơn duyên là Sa Môn cấu,
nhiếp thủ biên kiến là Sa Môn cấu, chẳng tịch diệt chẳng
ly dục là Sa Môn cấu, ưa sanh tử chẳng ưa Niết bàn là Sa
Môn cấu, ưa thích ngoại điển là Sa Môn cấu, ngũ cái che
tâm khởi các phiền não là Sa Môn cấu, chẳng tin nghiệp báo
là Sa Môn cấu, sợ ba môn giải thoát là Sa Môn cấu, chê pháp
thâm diệu và chẳng hành tịch diệt là Sa Môn cấu, ở trong
Tam bảo lòng chẳng tôn kính là Sa Môn cấu. Ðây gọi
là Sa Môn ba mươi hai cấu, nếu có thể rời lìa các cấu
nầy thì gọi là Sa Môn vậy”.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Còn có tám pháp che Sa Môn hạnh:
Chẳng
kính thuận Sư Trưởng, chẳng tôn kính pháp, chẳng khéo tư
duy, với pháp chưa nghe khi được nghe thì phỉ báng, nghe pháp
không có ngã nhơn chúng sanh thọ mạng thì sợ, nghe tất cả
hành pháp bổn lai vô sanh rồi mà hiểu pháp hữu vi chẳng
hiểu pháp vô vi, nghe nói pháp thứ đệ rồi sa vào chỗ chấp
không, nghe tất cả pháp vô sanh vô tánh vô xuất rồi tâm
mê một. Ðây gọi là tám pháp che Sa Môn hạnh nên xa
lìa.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Ta chẳng nói cạo đầu, đắp y gọi là
Sa Môn, mà ta nói người có công đức và nghi thức đầy đủ
gọi là Sa Môn.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thầy Sa Môn thân mặc ca sa tâm phải lìa
tham sân si. Tại sao? Vì tâm không tham sân si ta mới
cho phép mặc ca sa.
Nếu
tâm có tham sân si mà thân mặc ca sa, trừ người chuyên tâm
trì giới, còn những kẻ chẳng trì giới thì gọi là tiêu
diệt ca sa.
Tại
sao? Vì biểu thức của Thánh nhơn là người tùy thuận
tịch diệt hành lòng từ bi ly dục tịch diệt mới nên mặc
vậy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nay ông lắng nghe ta nói biểu thức của
Thánh nhơn có mười hai điều:
Trì
giới là biểu thức của Thánh nhơn, thiền định là biểu
thức của Thánh nhơn, trí huệ là biểu thức của Thánh nhơn,
giải thaót là biểu thức của Thánh nhơn, giải thoát tri kiến
là biểu thức của Thánh nhơn, nhập tứ thánh đế là biểu
thức của Thánh nhơn, hiểu mười hai nhơn duyên là biểu thức
của Thánh nhơn, hành tứ vô lượng tâm là biểu thức của
Thánh nhơn, hành tứ thiền là biểu thức của Thánh nhơn,
hành tứ vô sắc định là biểu thức của Thánh nhơn, nhập
tứ hướng chánh định là biểu thức của Thánh nhơn, dứt
tất cả lậu là biểu thức của Thánh nhơn. Ðây gọi
là mười hai biểu thức của Thánh nhơn. Nếu có Tỳ
Kheo chẳng đủ mười hai điều nầy mà thân họ mặc ca sa
thì ta gọi là tà pháp hành chẳng phải tịch diệt hành, là
ly Phật pháp hành chẳng gần Niết bàn thuận theo sanh tử,
bị ma bắt chẳng khỏi sanh tử, thối thất chánh pháp mà
hành tà pháp.
Vì
thế nên, nầy Ðại Ca Diếp! Thầy Tỳ Kheo thân mặc
ca sa nếu chưa được quả Sa Môn thì nên dùng tám pháp kính
trọng ca sa, đó là đối với ca sa trên thân tưởng như tháp,
tưởng như Phật, tưởng tịch diệt, tưởng từ bi, kính như
Phật, tưởng làm, tưởng quí, tưởng nó khiến tôi đời
sau lìa tham sân si đủ pháp Sa Môn. Ðây là tám pháp kính
trọng ca sa.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nếu có Tỳ Kheo chẳng hành tri túc đối
với tứ thánh chủng thì là lìa pháp Sa Môn, họ cũng chẳng
dùng tám pháp kính trọng ca sa, mà họ riêng có trong số tợ
Sa Môn phải đọa tiểu địa ngục. Trong tiểu địa ngục
ấy, người tợ Sa Môn thọ tội nóng đốt: y bát trên thân
đều cháy đỏ, chỗ ngồi nằm những vật dùng đều cháy
đỏ như đống lửa lớn. Vì họ thành tựu thân khẩu
ý nghiệp bất tịnh nên họ phải đọa chỗ thọ tội ấy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nếu người chẳng phải Sa Môn mà tự
xưng Sa Môn, người chẳng phải phạm hạnh mà tự nói có
phạm hạnh, nếu có người trì giới công đức đầy đủ
hữu nhiễu cung kính tôn trọng. Tỳ Kheo phá giới nầy
thọ sự cúng dướng cung kính ấy mà chẳng tự biết xấu,
do căn bất thiện nầy mắc tám tội kinh: đó là ngu si, miệng
câm ngọng, thân lùn xấu, dung mạo xấu xí, mặt nghiêng méo
người thấy chê cười, thọ thân nữ nhơn nghèo hèn, thân
gầy yếu yểu thọ, người chẳng kính mến thường mang tiếng
xấu và chẳng gặp đời có Phật.
Phá
giới Tỳ Kheo nghe pháp nầy rồi chẳng nên thọ Tỳ Kheo trì
giới lễ bái cúng dường.
Nầy
Ðai Ca Diếp! Nếu có người chẳng phải Sa Môn mà tự
xưng Sa Môn chẳng phải phạm hạnh mà tự nói có phạm hạnh,
người ấy ở khắp đại địa nầy còn không có chỗ để
họ nhổ nước miếng nước mũi huống là chỗ để họ bước
đi co duỗi lui tới. Tại sao, vì quá khứ Ðại Vương
đã đem đại địa nầy bố thí cho người trì giới có hạnh
đức khiến ở trong ấy hành đạo.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Chỗ mà Tỳ Kheo phá giới để bàn chân
đến thì tất cả tín thí chẳng đến người ấy, huống
là tăng phường và tăng xá thường trụ chỗ kinh hành.
Người ấy chẳng nên thọ tất cả tín thí phòng nhà giường
ghế vườn rừng y bát ngọa cụ y dược.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nay ta sẽ nói người phá giới ấy chẳng
thể báo đáp chừng đầu lông cho tín thí. Tại sao?
Vì Thánh chúng phước điền như biển cả tối diệu tối
thắng, trong đây nếu có thí chủ do tịnh tâm bố thí, đem
hột giống bố thí gieo trong phước điền, thí chủ nầy khởi
ý tưởng bố thí vô lượng. Ví như chia một sợi lông
làm trăm phần, nếu phá giới Tỳ Kheo thọ của thí chủ chừng
một phần lông liền tổn mất phần phước báu đại hải
của thí chủ, chẳng thể báo đáp hết được.
Vì
lẽ ấy nên các Tỳ Kheo phải thanh tịnh tâm mình mà thọ
tín thí của người. Phải học như vậy”.
Bấy
giờ trong đại chúng có hai trăm Tỳ Kheo có tịnh hạnh thiểu
dục ly khổ nghe lời trên đây rồi lau lệ bạch đức Phật
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi thà chết chớ
chẳng muốn do chẳng được quả Sa Môn mà thọ của tín thí
dầu chỉ là một bữa ăn”.
Ðức
Phật dạy: “Lành thay lành thay, nầy các thiện nam tử!
Các ông tàm quí lo sợ như vậy, với đời sau dụ như kim
cương, còn hiện đời là an lạc.
Nay
ta sẽ nói trong đời có hai hạng người đáng thọ của tín
thí: một là người siêng tu tinh tiến và hai là người được
giải thoát.
Nếu
có Tỳ Kheo, người được giải thoát, người tu pháp lành
như ta đã nói, người giữ giới vững chắc, người quán
tất cả hành vô thường khổ tất cả pháp vô ngã, người
quán Niết bàn tịch diệt nguyện cầu muốn được. Các
Tỳ Kheo nầy thọ của tín thí khối lượng như núi Tu Di cũng
quyết có thể báo được phước tín thí. Tỳ Kheo nầy
thọ của tín thí khiến thí chủ ấy được lợi ích lớn
được quả báo lớn.
Tại
sao vậy? Vì thường sanh phước đức vậy.
Có
ba thứ phước: một là thường thí thực phẩm, hai là thí
Tăng phường xá và ba là hành từ tâm. Trong ba phước,
đây hành từ tâm là hơn hết.
Nếu
có Tỳ Kheo thọ thí nơi thí chủ những thứ uống ăn y phục
ngọa cụ thuốc men, thọ rồi nếu nhập vô lượng định
thì khiến thí chủ ấy được vô lượng phước vô lượng
báu.
Ví
như tất cả đại hải trong tam thiên Ðại Thiên thế giới
có thể cạn khô, nhưng phước báu của thí chủ ấy vẫn
chẳng hết được.
Trái
lại nên biết phá giới Tỳ Kheo làm tổn mất bao nhiêu phước
đức ấy của thí chủ. Nếu thọ thí chủ cúng thí rồi
mà hành ác pháp thì tổn tín thí ấy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Như vậy, ta nói Sa Môn cấu, Sa Môn tội,
Sa Môn siểm khúc, kẻ giặc trong hành Sa Môn.
Trì
giới Tỳ Kheo phải nên chuyên nhớ xa lìa tất cả ác pháp
như vậy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Gọi là Sa Môn có nghĩa là người mắt
chẳng duyên theo sắc, tai chẳng duyên theo thanh, mũi chẳng
duyên theo hương, lưỡi chẳng duyên theo vị, thân chẳng duyên
theo xúc và ý chẳng duyên theo pháp.
Sa
Môn là người tuyển trạch lục nhập, liễu đạt lục thông,
chuyên niệm lục niệm, an trụ lục kính pháp và hành lục
trọng pháp.
Người
như vậy mới gọi là chơn Sa Môn vậy”.