Ðức
Phật bảo Trưởng lão Ðại Ca Diếp: “Thế nào là chiên
đà la Sa Môn?
Nầy
Ðại Ca Diếp! Ví như người chiên đà la không có tâm
từ bi nhìn các chúng sanh, họ thường ở trong gò mả tìm
tử thi, họ được thấy tử thi thì lòng họ rất vui mừng.
Cũng vậy Sa Môn chiên đà la thường không có từ tâm, họ
đến nhà thí chủ hành tâm bất thiện cầu các lợi dưỡng,
cầu được rồi sanh lòng quí trọng, thọ lợi dưỡng nơi
nhà thí chủ rồi họ chẳng dạy thí chủ về Phật pháp giới
luật, họ vì lợi dưỡng mà thân cận tại gia chớ chẳng
vì Phật pháp, họ cũng không có từ tâm thường cầu lợi
dưỡng. Ðây gọi là Sa Môn chiên đà la.
Ví
như chiên đà la bị mọi người bỏ rời, những hàng quốc
vương đại thần trưởng giả sát lợi Bà La Môn các thứ
dân cho đến kẻ hạ tiện đều xa rời họ chẳng muốn cùng
làm tri thức với họ. Cũng vậy, Sa Môn chiên đà la bị
tất cả người trì giới có đức đáng kính Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, chư Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát
Bà xa rời, vì biết họ phá giới làm ác vậy. Ðây gọi
là Sa Môn chiên đà la.
Ví
như chiên đà la có những đồ vật dụng như y phục ẩm thực
đều chẳng phải là vật mà người tốt ưa thích cũng chẳng
thọ dùng. Cũng vậy, Sa Môn chiên đà la nếu có y bát
vật dụng đều là do phá giới phi pháp thân khẩu ý nghiệp
siểm khúc mà được, các vật dụng ấy chẳng được Sa Môn
Bà La Môn trì giới ưa thích cũng chẳng thọ dùng, thường
sanh lòng thương xót đối với kẻ ấy. Ðây gọi là
Sa Môn chiên đà la.
Ví
như chiên đà la lòng thẹn thùng cầm chén bát xin ăn nơi người.
Cũng vậy, Sa Môn chiên đà la lòng luôn thẹn thùng khi vào
nhà người hoặc đến trong chúng, họ cũng thẹn thùng khi
đến chỗ Phật, họ thẹn thùng lễ tháp Như Lai, đến lui
cúi ngửu đi đứng ngồi nằm họ đều thẹn thùng, vì họ
che đậy ác pháp vậy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nay ta nói chỗ đến của người chiên
đà la chẳng đến chỗ lành, vì họ tự hànhg ác pháp vậy.
Cũng thế, Sa Môn chiên đà la chỗ đi đến cũng chẳng đến
thiệnt đạo vì họ làm nhiều nghiệp ác không ngăn pháp ác
đạo vậy. Ðây gọi là Sa Môn chiên đà la.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là Sa Môn bại hoại?
Ví
như rượu tốt được cất lấy hết khí vị thơm ngon, còn
lại cặn bã bị người chê bỏ. Cũng vậy Sa Môn bại
hoại rời lìa pháp vị lấy cặn phiền não, họ bỏ hương
trì giới mà ngửi mùi hôi phiền não, họ đến chỗ nào đều
chẳng thể tự lợi cũng chẳng lợi cho người. Ðây
gọi là Sa Môn bại hoại.
Ví
như thực phẩm được ăn biến thành phẩn uế hôi thúi bất
tịnh bị người chán lìa. Cũng vậy, Sa Môn bại hoại
thân khẩu ý nghiệp chẳng thanh tịnh nhơ uế cũng như vậy.
Ví
như hột giống hư gieo vào đất trọn chẳng mọc mầm kết
trái. Cũng vậy, Sa Môn bại hoại dầu ở trong Phật pháp
mà chẳng sanh thiện căn chẳng được quả Sa Môn.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là trấp Sa Môn?
Ví
như cái trấp sơn vẽ do thợ khéo làm thành, trong ấy đựng
các thứ bất tịnh hôi thúi. Cũng vậy, trấp Sa Môn ngoài
hiện thành tựu tợ hạnh Sa Môn mà nội tâm nhiều thứ cấu
uế hành những nghiệp ác.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là Sa Môn câu lan trà?
Ví
như hoa câu lan trà màu sắc sáng đẹp cứng như gỗ đá có
mùi hôi thúi như trét phẩn. Người có trí nếu thấy
hoa nầy thì chẳng gần chẳng chạm đến mà tránh đi xa, kẻ
ngu chẳng biết lợi hại, họ thấy hoa ấy liền đến gần
để ngửi. Cũng vậy, Sa Môn câu lan trà hiện tợ hạnh
Sa Môn mà có thô bạo ngạo mạn tự cao ác bất tịnh, họ
lại phá giới phá chánh kiến. Người trí chẳng thân
cận lễ kính họ, vì họ là ác nhơn nên người trí lánh
xa. Có kẻ ngu si như trẻ nít thân cận lễ kính họ tin
lời họ nói. Ðây gọi là Sa Môn câu lan trà.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là Sa Môn cầu lợi?
Ví
như có người siểm khúc tâm thường bỏn xẻn bị tham che
lấp, nếu thấy tài vật người thì hy vọng muốn được,
chứa dao bén gậy cứng không lòng hổ thẹn không lòng thương
xót thường có lòng tổn hại, lúc đi trong núi chầm tụ lạc
có tâm nguyện đối với tài vật người mong cầu muốn được,
thường ẩn núp chẳng cho người thấy.
Cũng
vậy, Sa Môn cầu lợi long thường bỏn xẻn bị tham che lấp,
nơi lợi dưỡng đã được lòng không biết đủ, nơi tài
vật người hy vọng muốn được, khi đến thành ấp tụ lạc
thì vì lợi dưỡng chẳng vì thiện phap, che giấu tội ác,
cho rằng các Tỳ Kheo tốt chỉ sanh lòng e sợ, thường dua
nịnh hiện làm nghi thức. Chư Thiên Long Quỉ Thần có
thiên nhãn thấy biết Tỳ Kheo nầy đến là tặc đến, đi
là tặc đi, ngồi là tặc ngồi, nằm là tặc nằm, dậy là
tặc dậy, lấy y là tặc y, mặc y là tặc mặc y, vào tụ
lạc là tặc vào tụ lạc, xuất tụ lạc là tặc xuất, ăn
là tặc ăn, uống là tặc uống, cạo tóc là tặc cạo tóc.
Người ngu si ấy đến đi cử động đều bị chư Thiên Long
Quỉ Thần thấy biết liền quở mắng kẻ ác nầy chính là
kẻ làm hoại diệt pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sa
Môn cầu lợi nầy xuất gia trong Phật pháp chẳng sanh được
một niệm tịch diệt ly dục
huống
là được quả Sa Môn. Ðây gọi là Sa Môn cầu lợi.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là Sa Môn cỏ dại?
Ví
như trong ruộng lúa mọc cỏ dại giống cây lúa khó phân biệt
được, nông phu cho là lúa tốt, đến khi trổ bông mới biết
chẳng phải là lúa. Cũng vậy, Sa Môn cỏ dại ở trong đại
chúng giống như người trì giới có đức hạnh, thí chủ
thấy cho là Sa Môn, mà kẻ si nầy chẳng phải Sa Môn tự nói
là Sa Môn, chẳng phạm tự xưng phạm hạnh, từ trước đã
bại hoại rời trì giới cũng chẳng vào số Tăng chúng, trong
Phật pháp không có trí huệ mạng sẽ đọa ác đạo như cỏ
dại ở trong ruộng lúa. Bấy giờ chư Thiên Long Thần có thiên
nhãn thấy kẻ si ấy đọa địa ngục họ bảo nhau rằng:
Ðây là người ngu si trước kia tợ Sa Môn mà hành pháp bất
thiện nay sẽ đọa trong đại địa ngục, từ nay về sau trọn
không có được đức hạnh Sa Môn và quả Sa Môn như cỏ dại
ở trong ruộng lúa. Ðây gọi là Sa Môn cỏ dại.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là bồ sanh Sa Môn?
Ví
như cỏ lác mọc trong ruộng lúa, vì nó chẳng chín nên gọi
là bồ sanh, vì nó không có hột bị gió thổi bay nó không
có sức cứng nặng, tợ lúa mà chẳng phải lúa. Cũng
vậy, bồ sanh Sa Môn thân hình tợ Sa Môn mà không người dạy
bảo không có đức lực bị ma phong thổi bay, họ cũng không
sức huyết khí trì giới, lìa đa văn tổn thất định lực,
cũng xa trí huệ chẳng thể phá hoại giặc phiền não, người
như vậy yếu kém không có sức lực bị hệ thuộc nơi ma
bị ma nó câu chìm trong tất cả phiền não, bị ma phong thổi
bay như bồ sanh trong ruộng lúa.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Hột cỏ lác không dùng làm giống lúa
được, không mọc mầm lúa được. Cũng vậy, ở trong
Phật pháp bồ sanh Sa Môn không có chủng tử đạo, trong pháp
hiền thánh không được giải thoát. Bồ sanh Sa Môn là
Tỳ Kheo phá giới làm ác. Ðây gọi là bồ sanh Sa Môn.
Lại
nầy Ðại Ca Diếp! Thế nào là hình tợ Sa Môn?
Ví
như có thợ khéo dùng vàng mạ lên đồng màu sắc tợ vàng
mà giá trị chẳng đồng với vàng, lúc chà mài mới biết
chẳng phải vàng.
Cũng
vậy, người hình tợ Sa Môn ưa tự nghiêm sức thờng tắm
rửa đắp y tề chỉnh, nghi thức Sa Môn tất cả đều đủ,
đến đi cúi ngước thường đúng nghi thu, nhung nguo nầy thường
bị tham sân si làm hại, cũng bị lợi dưỡng cung kính tán
thán làm hại, cũng bị ngã mạn tăng thượng mạn tất cả
phiền não làm hại, dầu được người quí trọng mà y kông
trọng pháp, thường siêng trang nghiêm thân mà chỉ cầu ẩm
thực chẳng cầu Tháng pháp, chẳng lo sợ đời sau, thấy sự
tôn trọng hiện tại chẳng phải tương lai tôn trọng, chỉ
lo mập béo thêm dựa nơi lợi dưỡng chẳng phải dựa nơi
pháp, nhiều thứ hệ phược, siêng tạo gia nghiệp thuận lòng
người tại gia cũng tùy theo sở thọ của họ, lúc khổ thọ
khổ lúc vui thọ vui, bị ghét thương làm hại, nơi pháp Sa
Môn họ không có lòng muốn thiệt hành rời các nghi thức,
tất sẽ đọa địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Người nầy không
có thiệt nghĩa Sa Môn, không có thiệt danh Sa Môn, chẳng đồng
với Sa Môn. Ðây gọi là hình tợ Sa Môn.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Thế nào là mất huyết khí Sa Môn?
Ví
như có nam tử hay nữ nhơn, hoặc đồng nam hay đồng nữ bị
phi nhơn ăn mất huyết khí. Người nầy gầy yếu xanh
xao vì bị mất huyết khí, các thứ thuốc men chú thuật và
dao gậy chẳng chữa trị được, tất phải chết. Cũng
vậy, Sa Môn không có huyết khí giới định huệ giải thoát
giải thoát tri kiến và huyết khí từ bi hỷ xả, cũng không
có huyết khí bố thí điều phục hộ thân khẩu ý nghiệp,
cũng không có huyết khí an trụ tứ thánh chủng, không có
huyết khí nghi thức Sa Môn, không có huyết khí tịnh thanh
thân khẩu ý. Ðây gọi là Sa Môn mất huyết khí.
Sa Môn mất huyết khí nầy dầu thọ pháp dược Như Lai mà
chẳng dùng pháp dược để tự độ: như là nếu khởi dâm
dục phải quán bất tịnh, nếu sanh sân hận phải hành từ
tâm, nếu khởi ngu si nên quán thập nhị nhân duyên, với các
phiền não nên chánh tư duy, rời lìa lòng ưa thích chúng đông,
xả bỏ sở hữu, ba sự xuất gia phải nên mến gìn: một
là trì giới thanh tịnh, hai là điều phục tâm mình và ba
là nhập định chẳng loạn. Các pháp dược như vậy
được Như Lai tuyên nói, được Như Lai cho phép uống.
Người nầy dầu thọ pháp dược ấy mà chẳng dùng tự độ.
Lại còn những pháp xuất thế, như là không quán, vô tướng
quán, vô tác quán, tỏ ấm giới nhập, biết bốn thánh đế
và mười hai nhơn duyên.
Các
pháp dược nhu vậy cũng chẳng được người ấy dùng tự
độ. Sa Môn nầy hôi thúi bất tịnh vì phá giới vì bạc
đức vậy, sẽ sanh chỗ tột thấp vì kiêu mạn vậy. Nơi
thân ấy chết tất chẳng sanh nơi nào khác mà quyết sẽ đọa
đại địa ngục, như người mất huyết khí quyết rồi sẽ
chết. Ðây gọi là Sa Môn mất huyết khí”.
Lúc
đức Phật tuyên nói như vậy rồi, có năm trăm Tỳ Kheo xả
giới hoàn tục. Các Tỳ Kheo khác quở rằng: Ở trong
Phật pháp nếu chư Ðại Ðức bỏ mà hoàn tục là phi thiện
là phi pháp.
Ðức
Phật bảo các Tỳ Kheo: "Các ông chớ nói như vậy. Tại
sao, vì làm như vậy gọi là thuận pháp. Nếu Tỳ Kheo
chẳng muốn thọ của tín thí mà thối lui hoàn tục thì gọi
là thuận pháp. Các Tỳ Kheo kia vì tâm tín giải nhiều
nên sanh lòng hối lỗi. Họ nghe lời dạy trên kia rồi
tự suy nghĩ chúng ta hoặc có thể hành bất tịnh hạnh mà
thọ của tín thí, chúng ta phải sanh lòng hối lỗi thối lui
mà hoàn tục.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nay ta nói chư Tỳ Kheo thối lui hoàn tục
ấy sau khi mạng chung sanh Trời Ðâu Suất chỗ của Di Lặc
Bồ Tát. Thời kỳ Di Lặc Như Lai xuất thế, chư Tỳ
Kheo ấy sẽ ở trong pháp hội đầu tiên".