Trưởng
lão Ma Ha Ca Diếp lại bạch rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn!
Ngang chỗ nào gọi là Tỳ Kheo a lan nhã? Ngang chỗ nào
gọi là Tỳ Kheo khất thực? Ngang chỗ nào gọi là Tỳ
Kheo chứa y phấn tảo? Ngang chỗ nào gọi là Tỳ Kheo
ngồi dưới cội cây? Ngang chỗ nào gọi là Tỳ Kheo ở
gò mả? Ngang chỗ nào gọi là Tỳ Kheo ở gò mả?
Ngang chỗ nào gọi là Tỳ Kheo ở đất trống?".
Ðức
Phật dạy: "Nầy Ðại Ca Diếp! Gọi là Tỳ Kheo a lan
nhã tức phải là người ưa chỗ a lan nhã và ở chỗ a lan
nhã. Chỗ a lan nhã là chỗ không có tiếng lớn, không
có tiếng chúng ồn náo, lìa cheo, nai, cọp, sói và các chim
chóc, xa trộm cướp và kẻ chăn súc vật, chỗ thuận với
hạnh Sa Môn. Chỗ a lan nhã như vậy nên ở trong đó tu hành.
Tỳ
Kheo kia lúc muốn đến chỗ a lan nhã phải tư duy tám pháp:
Một là tôi nên xả thân, hai là tôi nên xả mạng, ba là tôi
nên xả lởi dưỡng, bốn là rời lìa tất cả chỗ yêu thích,
năm là tôi ở trong núi chết sẽ như con nai chết, sáu là
tôi ở chỗ a lan nhã sẽ thọ hạnh a lan nhã, bảy là tôi
sẽ dùng pháp để tự sống, tám là tôi chẳng dùng phiền
não để tự sống.
Ðây
là tám pháp a lan nhã mà Tỳ Kheo phải tư duy, tư duy rồi sẽ
đi đến chỗ a lan nhã.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo đến chỗ a lan nhã rồi hành
pháp a lan nhã, dùng tám pháp hành từ sanh lòng thương với
tất cả chúng sanh: Một là dùng từ tâm làm lợi ích, hai
là dùng từ tâm an vui, ba là dùng từ tâm không sân hận, bốn
là từ tâm chơn chánh, năm là từ tâm không dị diệt, sáu
là từ tâm thuận tùy, bảy là từ tâm quán tất cả các pháp
và tám là từ tâm tịnh như hư không. Tỳ Kheo dùng tám pháp
hành nầy sanh từ tâm đối với chúng sanh.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo đến chỗ a lan nhã rồi phải
tư duy như vầy: Tôi dầu đến nơi xa ở một mình không bè
bạn, nếu tôi làm lành hay làm chẳng lành không người dạy
răn. Rồi lại nghĩ rằng: Nơi đây có Thiên, Long, Quỉ, Thần,
chư Bồ Tát, chư Phật Thế Tôn biết tôi chuyên tâm. Các Ngài
sẽ chứng cho tôi, nay tôi ở tại đây tu pháp a lan nhã tâm
bất thiện của tôi chẳng được tự tại phát sanh.
Rồi
lại tự suy rằng: Tôi đến chỗ rất xa không bạn bè nầy,
không người thân cận không có sở hữu, tôi nên cảnh giác
lòng tham lòng sân lòng si, các pháp bất thiện khác cũng phải
cảnh giác. Nay tôi chẳng nên chẳng khác với người
thích ở chúng đông, hcẳng nên chẳng khác với người ưa
gần tụ lạc. Nếu chẳng khác mà xưng a lan nhã thì là
khi dối chư Thiên, Long, Quỉ, Thần. Chư Phật thấy tôi,
chính tôi cũng chẳng vui vẻ. Nếu tôi hành đúng pháp
a lan nhã tất chư Thiên, Long, Quỉ, Thần chẳng quở trách
tôi. Chư Phật thấy tôi liền vui mừng.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo ở chỗ a lan nhã hành
pháp a lan nhã nhứt tâm giữ chắc giới giải thoát, khéo hộ
giới chúng, tịnh khẩu thân ý, không làm siểm khúc, tịnh
nơi chánh mạng, tâm hướng đến các chánh định, pháp được
nghe nên ghi nhớ, siêng chánh tư duy hướng đến ly dục tịnh
diệt Niết bàn, sợ các sanh tử quán ngũ ấm như oan gia, quán
tứ đại như độc xà, quán lục nhập như nhà hoang, khéo
phương tiện quán mười hai nhơn duyên, lìa rời kiến đoạn
chấp thường, quán không có ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng,
hiểu pháp không đạt vô tướng lần bớt sở tác mà hành
vô tác, lòng thường kinh sợ đi trong tam giới thường xuyên
tu hành như cứu đầu cháy, thường tinh tiến trọn không thối
chuyển, quán thân thiệt tướng, nên suy nghĩ rằng: Quán pháp
như vậy phải biết gốc khổ dứt tất cả tập nhơn
chứng nơi diệt tận siên tu chánh đạo hành từ tâm an trụ
Tứ niệm xứ, lìa pháp bất thiện vào môn thiện pháp, an
trụ Tứ chánh cần nhập Tứ như ý túc, hộ tứ thiện căn
tự tại nơi Ngũ lực, tỏ Bảy Bồ đề phần siên hành Bát
Thánh đạo phần, thọ trì thiền định dùng huệ phân biệt
các pháp tướng.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nói pháp như vậy để nghiêm sức a lan
nhã. Tỳ Kheo nghiêm sức như vậy rồi an trụ núi rừng,
đầu hôm cuối đêm siêng tu các công hạnh chớ nên ngủ nghỉ,
thường nhớ muốn được pháp xuất thế!
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo khi ở chỗ nào đều
thường thành đạo mà chẳng trang sức thân thể và các y
phục, lượm cỏ khô trải làm chỗ ngồi, tự dùng tọa cụ
của mình mà lìa vật của thường trụ Tăng và tứ phương
Tăng. Ở nơi a lan nhã, với y phục, Tỳ Kheo tri túc vừa
đủ che thân để hành Thánh đạo.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo khi khất thực vào thành
ấp tụ lạc phải suy nghĩ như vầy: Tôi từ chỗ a lan nhã
đến thành ấp tụ lạc, hoặc được vật thực hay chẳng
được lòng tôi vẫn không ưu hỉ. Nếu khất chẳng được
nên sanh lòng vui nhớ nghiệp báo đời trước, nay tôi nên
siêng tu tập phước nghiệp. Lại nhớ đức Như Lai khất
thực cũng chẳng luôn luôn được.
A lan
nhã Tỳ Kheo vào thành khất thực phải dùng pháp trang nghiêm.
Dùng pháp trang nghiêm xong rồi sau mới vào thành khất thực.
Thế nào là pháp trang nghiêm? Nếu thấy sắc vừa ý chẳng
nên tham trước, nếu thấy sắc chẳng vừa ý chẳng nên sanh
giận ghét. Với thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng chẳng
sanh tham sân như vậy, luôn nhiếp hộ các căn nhìn kỹ một
tầm, điều phục tâm mình chẳng cho pháp mà mình suy niệm
rời khỏi tâm, chẳng để vật thực nhiễm ô tâm mà hành
khất thực, nên thứ đệ khất thực. Nơi khất thực được
chẳng sanh lòng mừng, nơi khất thực chẳng được cũng chẳng
sanh lòng sân. Nếu đến mười nhà hoặc quá mười nhà mà
chẳng được vật thực chẳng nên sanh lòng ưu phiền mà nên
nghĩ rằng các Trưởng giả, các Bà La Môn cư sĩ có nhiều
duyên sự nên chẳng rảnh đem vật thực cho tôi, vả lại
các người tại gia ấy chưa từng nhớ đến tôi huống là
cho vật thực. Nếu có thể suy nghĩ như vậy thì Tỳ Kheo a
lan nhã đi khất thực không hề kinh sợ.
Nầy
đại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo đi khất thực trong thành ấp
tụ lạc nếu thấy nam nữ, đồng nam đồng nữ, nhẫn đến
súc sanh nên phát tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh phát
nguyện tu hành tinh tiến cầu mong chúng sanh ai thấy tôi cho
tôi vật thực đều được sanh lên cõi trời.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo đi khất thực được ngon
được dở xem bốn phương mà nghĩ rằng nơi đây ai là kẻ
nghèo cùng, tôi sẽ bớt phần ăn cấp cho họ. Nếu thấy kẻ
nghèo cùng liền chia nửa phần ăn cấp cho, nếu không thấy
thì nên nghĩ rằng: Chúng sanh mà mắt tôi không thấy, trong
thức ăn nầy chỗ ngon tôi xin thí cho họ, tôi làm thí chủ,
họ làm người thọ.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo khất thực được rồi mang
về chỗ a lan nhã, rửa sạch tay chưn, tịnh nghi thức Sa Môn,
đủ tất cả tịnh pháp, đúng pháp lấy cỏ trải chỗ ngồi
rồi kiết già phu tọa mà ăn, lòng không ái trước cũng không
sân hận cũng không cống cao không trược loạn. Lúc sắp ăn
suy nghĩ rằng: Nay trong thân thể nầy có tám vạn hộ trùng,
nó được ăn chắc sẽ an vui. Nay tôi dùng món ăn nhiếp các
hộ trùng ấy, lúc tôi thành Phật sẽ dùng pháp để nhiếp
chúng nó.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Có lúc ăn chẳng đủ a lan nhã Tỳ Kheo nên
quan niệm: Nay thân thể nhẹ nhàng có thể tu nhẫn nhục dứt
các điều ác, lại ít tiểu ít đại tiện, thân thể nhẹ
nhàng rồi cũng được tâm nhẹ nhàng, được ít ngủ cũng
chẳng khởi dục.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Nếu khất thực được nhiều, a lan nhã Tỳ
Kheo nên quan niệm tri túc, nên giảm lấy một vắt để trên
phiến đá sạch và suy nghĩ rằng: Có chim muông nào có thể
ăn được tôi xin bố thí, chúng nó là kẻ thọ nhận.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Ăn xong, a lan nhã Tỳ Kheo rửa bát lau chùi sạch
khô, súc miệng rửa tay, cất Tăng già lê, đúng hạnh a lan
nhã chẳng rời bổn sở suy gẫm pháp tướng.
Nầy
Ðại Ca Diếp! Lúc hành công hạnh a lan nhã, nếu Tỳ Kheo ấy
là phàm phu chưa được quả Sa Môn, có lúc hổ lang đến thì
chẳng nên có lòng hãi sợ mà nên quan niệm rằng: Từ trước
lúc tôi đến chỗ a lan nhã vốn đã có tâm xả bỏ thân mạng
nên tôi chẳng kinh sợ, mà nên phát tâm từ bi trừ tất cả
ác. Nếu hổ lang ấy giết tôi ăn thịt tôi, tôi sẽ được
lợi ích lớn vì đem thân chẳng bền mà đổi thân bền. Hổ
lang ấy ăn thịt tôi rồi vó sẽ được thân tâm an vui.
A lan
nhã Tỳ Kheo hành pháp a lan nhã phải quan niệm xả thân mạng
như vậy.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo hành pháp a lan nhã, nếu có
phi nhơn đến hiện sắc đẹp hay sắc dữ, với phi nhơn ấy
Tỳ Kheo không nên sanh lòng yêu, không nên sanh lòng giận.
Nếu
có chư Thiên đã từng thấy Phật đến vấn nạn, khi họ
vấn nạn rồi, a lan nhã Tỳ Kheo tùy sức hiểu biết của
mình mà vì họ thuyết pháp. Nếu chư Thiên hỏi thâm pháp
không thể đáp được, a lan nhã Tỳ Kheo chẳng nên lòng kiêu
mạn, mà nên nói rằng tôi học chẳng được nhiều, các Ngài
chớ nên khinh tôi, nay tôi sẽ siêng tu học Phật pháp, nếu
lúc tôi được thông Phật pháp rồi sẽ xin giải đáp tất
cả. Lại nên thỉnh chư Thiên vì mình mà thuyết pháp để
được lãnh thọ, và nên tạ rằng xin các Ngài chớ phiền
tôi.
Lại
nầy Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo hành pháp a lan nhã khéo
tu a lan nhã tưởng như cỏ cây ngói đá không có chủ không
có ngã cũng không sở thuộc, thân thể nầy cũng vậy không
có ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng không tranh tụng các pháp
nầy đều từ duyên hiệp mà sanh, trong pháp nầy nếu khéo
tư duy, tôi sẽ dứt được các kiến chấp, nên thường tư
duy pháp không vô tướng vô tác.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo lúc tu pháp a lan nhã suy nghiệm
bông trái cỏ thuốc và những rừng cây hòa hiệp thế nào?
Tán diệt thế nào? Các vật ngoài ấy không chủ không ngã
không sở thuộc, không tranh tụng, nó tự sanh tự diệt khôngcó
ai sanh diệt. Như cỏ cây không có chủ ngã ngã sở, thân thể
nầy cũng không có ngã nhơn chúng sanh thọ mạng không có tranh
tụng, nó từ các duyên sanh, duyên tan thì nó diệt, trong lẽ
như diệt ấy không có một pháp nào hoặc sanh hoặc diệt
cả.
Pháp
như trên đây, a lan nhã Tỳ Kheo đến chỗ a lan nhã phải nên
tu tập.
Nầy
Ðại Ca Diếp! A lan nhã Tỳ Kheo hành pháp như vậy nếu học
Thanh Văn thừa thì mau chứng quả Sa Môn, nếu là người có
tội chướng nên hiện đời chẳng được quả Sa Môn thì
bất quá thấy một hai hoặc ba đứt Phật sẽ dứt hết tất
cả lậu. Nếu là người học Bồ Tát thừa thì hiện đời
được vô sanh háp nhẫn được pháp vô chướng tất thấy
vị lai chư Phật mau thành Vô thượng Bồ đề”.
Lúc
đức Phật nói pháp a lan nhã, có năm trăm Tỳ Kheo dứt tất
cả lậu tâm được giải thoát.