Như
vầy tôi nghe một lúc đức Phật ở thành Vương Xá trong núi
Kỳ Xà Quật cùng chúng đại Tỳ Kheo ngàn hai trăm năm mươi
người câu hội.
Còn
có một vạn đại Bồ Tát cùng họp, đó là Huệ Tràng Bồ
Tát, Pháp Tràng Bồ Tát, Nguyệt Tràng Bồ Tát, Nhựt Tràng
Bồ Tát, Vô Biên Tràng Bồ Tát v.v…
Còn
có mười sáu tại gia Bồ Tát, Bạt Ðà Bà La Bồ Tát làm
thượng thủ.
Còn
có sáu mươi vô tỉ dụ tâm đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát làm thượng thủ.
Còn
có tất cả đại Bồ Tát trong Hiền kiếp, Di Lặc Bồ Tát
làm thượng thủ.
Còn
có sáu vạn đại Bồ Tát, Vô Tận Huệ Bồ Tát làm thượng
thủ.
Bấy
giờ Vô Tận Huệ Bồ Tát đứng dậy trịch y vai hữu, gối
chấm đất chắp tay lễ Phật, đem các hoa báu phụng tán trên
Phật mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nói là tâm
Bồ đề ấy, do nghĩa gì mà gọi là tâm Bồ đề? Bồ
Tát lại do bao nhiêu pháp thành tâm Bồ đề? Thế nào
là tâm Bồ đề? Trong Bồ đề, tâm bất khả đắc; trong
tâm, Bồ đề cũng bất khả đắc; lìa Bồ đề, tâm bất
khả đắc; lìa tâm, Bồ đề cũng bất khả đắc.
Bồ
đề ấy không sắc không tướng chẳng ngôn thuyết được,
tâm ấy cũng không sắc không tướng chẳng hiển thị được.
Chúng sanh cũng như vậy, đều bất khả đắc.
Bạch
đức Thế Tôn! Các pháp như vậy sẽ y cứ nghĩa gì mà
tu hành?”
Ðức
Phật dạy: “Nầy Vô Tận Huệ! Nay ông lắng nghe kỹ
và khéo suy nghĩ.
Ta
nói Bồ đề ấy vốn không danh tự ngôn thuyết. Tại
sao, vì trong Bồ đề danh tự ngôn thuyết bất khả đắc vậy.
Tâm và chúng sanh cũng lại như vậy, nếu biết như vậy thì
gọi là tâm Bồ đề.
Bồ
đề ấy chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại. Tâm
và chúng sanh cũng chẳng phải quá vị hiện tại. Nếu
biết nghĩa ấy thì gọi là Bồ Tát, nhưng trong ấy cũng bất
khả đắc.
Với
tất cả pháp đều vô sở đắc thì gọi là được tâm Bồ
đề.
Như
A La Hán được quả A La Hán mà ở trong ấy đều vô sở đắc
chỉ trừ theo thế tục gọi là đắc quả, nơi tất cả pháp
đều vô sở đắc. Ðược tâm Bồ đề cũng vậy, vì
muốn dẫn nhiếp sơ nghiệp Bồ Tát nên nói tâm Bồ đề,
nhưng ở trong ấy không có tâm. Không có tâm gọi là
không có Bồ đề, không có Bồ đề gọi là không có chúng
sanh, không có chúng sanh gọi là không có Thanh Văn, không có
Thanh Văn gọi là không có Ðộc Giác, không có Ðộc Giác gọi
là không có Như Lai, không có Như Lai gọi là không có hữu
vi, không có hữu vi gọi là không có vô vi, không có vô vi
gọi là không có hiện được không có sẽ được.
Nầy
Vô Tận Huệ! Nay ta y theo ngôn thuyết mà giải bày như
vầy: Nếu có chúng sanh thiện căn rộng lớn siêu các chúng
sanh như núi Tu Di cao hơn tất cả, là sợ phát tâm làm nhơn
cho Bố thí Ba la mật. Dường như đại địa khéo có
thể an trụ tất cả sự nghiệp, là đệ nhị phát tâm làm
nhơn cho Giới Ba la mật. Chí ý dũng mãnh an thọ phiền
não như sư tử vương oai phục bầy dã thú than không kinh sợ,
là đệ tam phát tâm làm nhơn cho Nhẫn nhục Ba la mật.
Thế lực hùng mạnh nhanh nhẹn hay phục phiền não như Na La
Diên xô dẹp mọi kẻ khác là đệ tứ phát tâm làm nhơn cho
Tinh tiến Ba la mật. Các công đức thiện căn khai phát
như cây ba lợi chất đa câu bệ đà la nở hoa, là đệ ngũ
phát tâm làm nhơn cho Thiền Ba la mật. Trừ bỏ si ám
như mặt nhựt ánh sáng vô biên là đệ lục phát tâm làm
nhơn cho Bát Nhã Ba la mật. Công đức ý lạc tất cả
trang nghiêm đều được viên mãn như đại thương chủ của
vật giàu có hay dùng phương tiện thiện xảo khỏi các hiểm
nạn, là đệ thất phát tâm làm nhơn cho Phương tiện Ba la
mật. Chướng ngại đã trừ diệt ý lạc đầy đủ như
trăng tròn sáng, là đệ bát phát tâm làm nhơn cho Lực Ba la
mật. Phật độ và chúng sanh đều nghiêm tịnh cả đầy
đủ pháp lành việc làm thành tựu như người nghèo được
vô tận tạng sở nguyện viên mãn, là đệ cửu phát tâm làm
nhơn cho Nguyện Ba la mật. Phước trí vô biên như hư
không tự tại với tất cả pháp như Chuyển Luân Vương đã
thọ quán đảnh, là đệ thập phát tâm làm nhơn cho Trí Ba
la mật.
Nầy
Vô Tận Huệ! Nếu tu tập thành tựu mười thứ phát
tâm nầy thì gọi là Bồ Tát, gọi là tối thắng chúng sanh,
là vô chướng ngại chúng sanh, là chẳng phải hạ liệt chúng
sanh. Nhưng cứ nơi thiệt nghĩa thì bất khả đắc, thế
nên trong ấy không có chúng sanh không có tâm không có Bồ
đề.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Thí Ba la mật lấy
mười pháp làm đầu là: Tín căn, tín lực, ý lạc, tăng thượng
ý lạc, lợi ích chúng sanh, đại từ, đại bi, hành tứ nhiếp
pháp, ái lạc Phật pháp và cầu Nhứt thiết trí.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Giới Ba la mật lấy mười
pháp làm đầu là: Thân nghiệp thanh tịnh, ngữ nghiệp thanh
tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, không tâm oán hại, trừ sạch
ác thú, xa rời bát nạn, siêu hơn bực Thanh Văn và Bích Chi
Phật, an trụ Phật công đức, đầy đủ các sở nguyện và
thành tựu đại nguyện.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Nhẫn Ba la mật lấy mười
pháp làm đầu là: Bỏ lìa sân hận, chẳng kể thân, chẳng
kể mạng, tín giải thành tựu chúng sanh, từ lực, tùy thuận
pháp nhẫn, thậm thâm pháp nhẫn, quản đại thắng nhẫn và
phá tối vô minh.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Tinh tiến Ba la mật dùng
mười pháp làm đầu là: Tùy theo chỗ làm của chúng sanh mà
làm thân khẩu ý nghiệp thường sanh tùy hỉ, không giải đãi,
chuyên tiến đến, tu chánh cần, tu niệm xứ, phá kẻ thù
phiền não, quan sát các pháp, thành tựu chúng sanh và cầu
Nhứt thiết trí.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Thiền Ba la mật lấy mười
pháp đầu là: An trụ thiện pháp, tâm duyên một cảnh, duyên
cảnh định, chánh định, thiền giải thoát, định c8an, định
lực, phá hoại kẻ thù phiền não, định tụ viên mãn và
hộ pháp tam muội.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Bát Nhã Ba la mật dùng
mười pháp làm đầu là: Khéo quan sát các ấm, khéo quan sát
các giới các xứ, chánh kiến, chánh niệm, biết rõ thánh
đế, bỏ lìa các kiến chấp, huệ căn vô sanh pháp nhẫn,
huệ lực và vô ngại trí.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Phương tiện Ba la mật
lấy mười pháp làm đầu là: Nhập vào sở nguyện tâm hành
của các chúng sanh, dùng sức lực giúp vào chúng sanh, đại
từ đại bi, thành thục chúng sanh không hề chán mỏi, bỏ
lìa bực Thanh Văn, Bích Chi Phật, tri kiến thù thắng, tu tập
các Ba la mật, như thiệt quán các pháp, nhiếp bất tư nghị
lực và bất thối chuyển địa.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Lực Ba la mật dùng mười
pháp làm đầu là:: Biết rừng rậm tâm hành của tất cả
chúng sanh, biết rừng rậm phiền não hiện hành của tất
cả chúng sanh, biết rừng rậm ý lạc thắng giải hiện hành
của tất cả chúng sanh, biết rừng rậm các thứ giới hành
của tất cả chúng sanh, biết rừng rậm tùy phiền não hành
của tất cả chúng sanh, biết rừng rậm tập khí phiền não
hành của tất chúng sanh và dùng tâm không mỏi nhọc thành
thục rừng rậm các căn hành của tất cả chúng sanh.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Nguyện Ba la mật dùng
mười pháp làm đầu là: Biết tất cả pháp vô sanh, biết
tất cả pháp vô tướng, biết tất cả pháp vô diệt, biết
tất cả pháp vô sở hữu, biết tất cả pháp không chấp
trước, biết tất cả pháp vô lai, biết tất cả pháp vô
khứ, biết tất cả pháp không tự tánh, biết tất cả pháp
bình đẳng không có sơ trung hậu và đối với tất cả pháp
sơ trung hậu không phân biệt.
Nầy
Vô Tận Huệ! Chư Bồ Tát hành Trí Ba la mật dùng mười
pháp làm đầu là: Với tất cả pháp khéo có thể biết rõ
quyết trạch, khéo có thể viên mãn bạch pháp, chứa họp
vô lượng tư lương của Bồ Tát thành tựu tư lương phước
trí quảng đại, viên mãn đại bi, vào các loại thế giới
sai biệt, vào phiền não hành của tất cả chúng sanh, tác
ý vào cảnh giới Như Lai, tiến vào cảnh giới thù thắng
thập lực vô sở úy bất cộng pháp và thọ vị quánh đảnh
thành tựu tướng tối thắng Nhứt thiết trí.
Ðây
là đại Bồ Tát hành mười Ba la mật đều dùng mười pháp
làm đầu.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Thế nào là nghĩa Ba la mật? Ðó
là vì nói rõ siêu quá sở hành của Nhị thừa vậy.
Vì quảnh đại viên mãn trí Như Lai vậy. Vì chẳng chấp
trước nơi hữu vi vô vi vậy. Vì như thiệt biết rõ
lỗi họa sanh tử vậy. Vì những kẻ chưa giác ngộ đều
khiến giác ngộ vậy. Vì được Như Lai vô tận pháp
tạng vậy. Vì được vô ngại giải thoát vậy.
Vì dùng bố thí độ thoát các chúng sanh vậy. Vì dùng
trì giới để viên mãn bổn thệ nguyện vậy. Vì dùng
nhẫn nhục để đầy đủ tướng hảo đoan nghiêm vậy.
Vì dùng tinh tiến để đầy đủ các Phật pháp vậy.
Vì dùng thiền định để xuất sanh tứ vô lượng tâm vậy.
Vì dùng Bát Nhã để diệt trừ các phiền não vậy. Vì
dùng phương tiện để chứa hợp các Phật pháp vậy.
Vì dùng nguyện có thể khiến các Phật pháp được viên mãn
vậy. Vì dùng lực hay khiến chúng sanh tịnh tín vậy.
Vì dùng trí để đầy đủ Như Lai Nhứt thiết trí vậy.
Vì được vô sanh pháp nhẫn vậy. Vì được bất thối
chuyển vậy. Vì nghiêm tịnh Phật độ vậy. Vì
thành thục chúng sanh vậy. Vì ở đạo tràng Bồ đề
viên mãn tất cả Như Lai trí vậy. Vì hàng phục chúng
ma vậy. Vì du hí tứ thần túc vậy. Vì nơi sanh
tử và Niết bàn đều không an trụ vậy. Vì siêu quá
công đức của tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ Tát
vậy. Vì xô dẹp tất cả dị luận vậy. Vì thành
tựu thập lực, tứ vô úy, thập bát bất cộng Phật pháp
vậy. Vì chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
vậy. Vì chuyển mười hai loại pháp luân vậy.
Tất
cả như vậy là nghĩa của Ba la mật.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Lúc đại Bồ Tát sắp an trụ nơi
Hoan hỉ địa trước tiên có tướng như vầy: Thầy trong tam
thiên Ðại Thiên thế giới có trăm ngàn ức na do tha phục
tạng các thứ bửu. Ðại Bồ Tát sắp an trụ đệ nhị
Ly cấu địa trước tiên có tướng nầy: Thấy tam thiên Ðại
Thiên thế giới mặt đất bằng phẳng như lòng bàn tay có
vô lượng trăm ngàn ức na do tha các thứ hoa sen báu thanh tịnh
nghiêm sức.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ Tam minh địa trước tiên có tướng
nầy: Thấy tự thân mặc giáp cầm trượng dũng mãnh kiên
cố dẹp phục oán địch.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ tứ Diệm địa trước tiên có tướng
nầy: Thấy bốn phương gió thổi các thứ danh hoa rải đầy
mặt đất.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ ngũ Nam thắng địa trước tiên có
tướng nầy: Thấy bốn phương gió thổi các thứ danh hoa rải
đầy mặt đất.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ ngũ Nan thắng địa trước tiên có
tướng nầy: Thấy nữ nhơn đầu đội vòng hoa a đề mục
đa, vòng hoa bà lợi sư ca, vòng hoa chiêm bặc ca, trên thân
đeo các thứ báu trang nghiêm.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ lục Hiện tiền địa trước tiên
có tướng nầy: Thấy ao hoa đầy nước bát công đức đứng
trong, đáy ao trải cát vàng ròng, bốn bờ bực đường bằng
chất báu, trong ao trang nghiêm với những hoa sen xanh, hoa sen
vàng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng, lại thấy tự thân du hí
trong ao ấy.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ thất Viễn hành địa trước tiên
có tướng nầy: Thấy tự thân hai bên tả hữu đều có địa
ngục đi vượt qua các địa ngục ấy mà không bị thương
tổn.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ bát Bất động địa trước tiên
có tướng nầy: Thấy tự thân trên hai vai mang tướng sư tử
chúa, tất cả muông thú đều hãi sợ.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ cửu Thiện huệ địa trước tiên
có tướng nầy: Thấy tự thân làm Chuyển Luân Vương dùng
chánh pháp giáo hóa được vô lượng trăm ngàn ức na do tha
vua chúa chầu hầu vây quanh, có lọng bát trang nghiêm sạch
trắng che trên Bồ Tát.
Ðại
Bồ Tát sắp an trụ đệ thập Pháp vân địa trước tiên
có tướng nầy: Thấy tự thân làm màu chơn kim đủ ba mươi
hai tướng hảo Như Lai đại trượng phu, viên quan chiếu một
tầm ngồi an trên tòa sư tử cao rộng, vô lượng trăm ngàn
ức na do tha Phạm Thiên vi nhiễu trước sau cung kính cúng dường
để nghe thuyết pháp.
Ðại
Bồ Tát dùng sức tam muộn hiển hiện trước tiên của Thập
địa như vậy.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Sơ địa Bồ Tát viên mãn Thí Ba la
mật, nhị địa Bồ Tát viên mãn Giới Ba la mật, tam địa
Bồ Tát viên mãn Nhẫn Ba la mật, tứ địa Bồ Tát viên mãn
Tinh tấn Ba la mật, ngũ địa Bồ Tát viên mãn Thiền Ba la
mật, lục địa Bồ Tát viên mãn Bát Nhã Ba la mật, thất
địa Bồ Tát viên mãn Phương tiện Ba la mật, bát địa Bồ
Tát viên mãn Lực Ba la mật, cửu địa Bồ Tát viên mãn Nguyện
Ba la mật, thập địa Bồ Tát viên mãn Trí Ba la mật.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Bồ Tát sơ phát tâm được Hiện bửu
tam muội, đệ nhị phát tâm được Thiện trụ tam muội, đệ
tam phát tâm được Bất động tam muội, đệ tứ phát tâm
được Bất thối chuyển tam muội, đệ ngũ phát tâm được
Bửu hoa tam muội, đệ lục phát tâm được Nhựt luân quang
minh tam muội, đệ thất phát tâm được Thành tựu nhứt thiết
nghĩa tam muội, đệ bát phát tâm được Trí cự tam muội,
đệ cửu phát tâm được Hiện chứng Phật pháp tam muội,
đệ thập phát tâm được Thủ lăng nghiêm tam muội.
Lại
nầy Vô Tận Huệ! Ðại Bồ Tát ở trong sơ địa được
đà la ni thù thắng gia trì, ở trong nhị địa được đà
la ni vô năng thắng, ở trong tam địa được đà la ni thiện
trụ, ở trong tứ địa được đà la ni bất khả hoại, ở
trong ngũ địa được đà la ni vô cấu, ở trong lục địa
được đà la ni trí luân đăng, ở trong thất địa được
đà la ni thù thắng hạnh, ở trong bát địa được đà la
ni thanh tịnh phân biệt, ở trong cửu địa được đà la ni
thị hiện vô biên pháp môn, ở trong thập được đà la ni
vô tận pháp tạng”.
Lúc
ấy ở trong hội có Thiên Tử tên Vô Ngại Quang Minh Sư Tử
Tràng đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất chắp
tay hướng lên đức Phật bạch rằng: “Hi hữu Thế Tôn!
Hi hữu Thiện Thệ! Pháp môn như vậy rất sâu rất rộng
lớn, có thể hàm nhiếp tất cả Phật pháp”.
Ðức
Phật dạy: “Nầy Thiên Tử! Ðúng như lời ông nói.
Nếu có Bồ Tát ở nơi pháp môn nầy có thể tạm nghe nhận
tất chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, tại sao, vì
Bồ Tát ấy từng đã trồng căn lành, vì đã thành thục căn
lành, nên được nghe kinh điển như vậy và được kinh điển
như vậy ấn chứng.
Nầy
Thiên Tử! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn được
nghe kinh nầy thì thiện căn được họ trồng đều thanh tịnh
sẽ được chẳng bỏ rời thấy Phật nghe pháp cúng dường
chúng Tăng, được chẳng rời bỏ đà la ni hải ấn, đà la
ni xuất hiện vô tận, đà la ni nhập chúng sanh chí nguyện
tâm hành, đà la ni thanh tịnh nhựt quang tràng, đà la ni vô
cấu nguyệt quang tràng, đà la ni tức nhứt thiết kiết sử,
đà la ni tối diệt vô biên phiền não kiên cố như kim cương
sơn, đà la ni nhập chơn thiệt ngữ ngôn âm thanh, đà la ni
như hư không hiển hiện vô biên thanh tịnh ấn sở ấn, đà
la ni thành tựu hiển hiện vô biên Phật thân.
Thành
tựu các đà la ni như vậy, đại Bồ Tát có thể nơi tất
cả Phật độ mười phương biến hiện thân Phật giáo hóa
chúng sanh mà với pháp tánh không có lai khứ cũng không có
giáo hóa chúng sanh, nơi pháp được nói chẳng trước văn
tự bình đẳng vô động. Dầu hiện thân sanh tử mà
không có khởi diệt cũng không có chút pháp khứ lai, biết
rõ các hành bổn lai tịch tĩnh an trụ Phật pháp. Tại
sao, vì tất cả pháp ấy không có phân biệt vậy”.
Lúc
đức Phật nói pháp nầy, trong chúng có ba vạn Bồ Tát được
vô sanh pháp nhẫn, vô lưỡng Bồ Tát được chẳng thối chuyển
Vô thượng Bồ đề, vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ đề,
vô lượng Tỳ Kheo được pháp nhãn tịnh.
Ðức
Phật nói kinh nầy rồi, Vô Tận Huệ Bồ Tát và chư Tỳ Kheo,
tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v...
đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP
HỘI VÔ TẬN HUỆ BỒ TÁT
THỨ
BỐN MƯƠI LĂM
HẾT