Như
vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ vườn
Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc.
Bấy
giờ vua nước Xá Vệ là Ba Tư Nặc Vương và Mạc Lợi phu
nhơn mới chứng đạo pháp xong cùng bảo nhau rằng : Con gái
chúng ta là Thắng Man sáng suốt từ ái đa văn trí huệ, nếu
nó được thấy đức Như Lai thì ở nơi pháp thậm thâm sẽ
có thể mau thấu hiểu, không còn các sự nghi hoặc. Chúng
ta nên sai người giỏi khuyến dụ đến phát khởi lòng thành
kính của nó .
Bàn
luận xong, vua và phu nhơn viết thư khen ngợi công đức chơn
thiệt của Như Lai, sai quan Chơn Ðề La làm sứ mang thư đến
thành Vô Ðấu trao cho Thắng Man phu nhơn.
Sau
khi xem thơ của cha mẹ, Thắng Man phu nhơn vui mừng đảnh thọ,
hướng Chơn Ðề La mà nói kệ rằng :
Tôi
nghe tiếng Như Lai
Thế
gian khó được gặp
Lời
nầy nếu chơn thiệt
Sẽ
ban người y phục
Nếu
đức Phật Thế Tôn
Vì
lợi thế gian hiện
Tất
phải được xót thương
Cho
tôi thấy chơn tướng.
Thắng
Man phu nhơn nghĩ tưởng đến Phật mà nói ra lời ấy, trong
giây lát sau đức Phật hiện thân tướng bất tư nghì tại
hư không phóng quang minh chiếu khắp thế giới.
Thắng
Man phu nhơn cùng quyến thuộc đều hợp đến chiêm ngưỡng
chắp tay đảnh lễ Phật nói kệ khen rằng :
Như
Lai thân sắc đẹp
Thế
gian không ai bằng
Không
sanh chẳng nghĩ bàn
Thế
nên nay kính lạy
Thân
Như Lai vô tận
Trí
huệ cũng như vậy
Tất
cả pháp thường trụ
Vì
thế tôi quy y
Khéo
điều tâm lìa lỗi
Ðiều
thân khẩu cũng vậy
Ðều
đến bất tư nghị
Thế
nên tôi kính lạy
Biết
các pháp sở tri
Thân
và trí vô ngại
Nơi
pháp không quên mất
Vì
thế tôi kính lạy
Cúi
lạy đấng Vô Lượng
Cúi
lạy đấng Vô Ðẳng
Cúi
lạy đấng Pháp Vương
Cúi
lạy đấng Nan Tư
Mong
thương gia hộ tôi
Cho
giống pháp thêm lớn
Mãi
đến thân rốt sau
Thường
ở tại trước Phật
Bao
nhiêu phước tôi tu
Ðời
nầy và đời khác
Do
sức căn lành nầy
Mong
Phật luôn nhiếp thọ.
Nói
kệ xong, Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc và tất cả đại
chúng đảnh lễ chưn Phật.
Bấy
giờ đức Thế Tôn vì Thắng Man phu nhơn mà nói kệ rằng
:
Xưa
ta vỉ Bồ đề
Ðã
từng khai thị ngươi
Nay
ngươi lại gặp ta
Ðến
đời sau cũng vậy
Nói
kệ xong, đức Phật ở giữa chúng hội thọ ký Vô thượng
Chánh Ðẳng Giác cho Thắng Man rằng : « Nay ngươi ca ngợi
công đức thù thắng của Như Lai, do căn lành nầy, ngươi
sẽ ở trong a tăng kỳ kiếp làm vua tự tại trong hàng trời
người đầy đủ đồ thọ dụng. Ngươi sanh tại chỗ nào
cũng thường được gặp Phật cúng dường khen ngợi như nay
không khác. Ngươi còn sẽ cúng dường vô lượng vô số chư
Phật Thế Tôn. Quá hai vạn a tăng kỳ kiếp ngươi sẽ thành
Phật hiệu Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, quốc độ
của Phật Phổ Quang ấy không có các ác đạo suy già bệnh
khổ, cũng không có danh từ bất thiện ác nghiệp đạo, chúng
sanh cõi ấy hình sắc đoan nghiêm, đủ cảnh đẹp cõi trời,
thuần thọ hưởng vui sướng hơn cả Trời Tha Hóa Tự Tại.
Chúng sanh cõi ấy đều hướng về Ðại Thừa, ai học Ðại
Thừa như vậy đều sanh về quốc độ ấy ».
Khi
Thắng Man phu nhơn được thọ ký xong, có vô lượng trời
người sanh lòng vui mừng hớn hở đều nguyện sanh về thế
giới của Phật Phổ Quang. Ðức Thế Tôn đều thọ ký cho
họ sẽ được sanh cõi nước ấy.
Ðược
nghe đức Phật thọ ký xong, Thắng Man phu nhơn chắp tay đứng
trước Phật phát mười hoằng thệ : « Bạch đức Thế Tôn
! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng sanh tâm niệm
phạm nơi giới đã được thọ .
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày Bồ đề, tôi chẳng sanh
lòng kiêu mạn đối với các bực Sư Trưởng.
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng
lòng giận hờn đối với các chúng sanh.
Bạch
dức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng
sanh lòng đố kỵ với người hơn mình và sự hơn mình.
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng
sanh lòng bỏn xẻn dầu chỉ có ít thức ăn.
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng
vì mình mà nhận chứa của cải. Nếu có nhận chứa thì chỉ
vì cứu tế loài hữu tình nghèo khổ.
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi hành
tứ nhiếp sự mà chẳng cầu ân báo, không lòng tham lợi,
không lòng nhàm đủ, không lòng hạn ngại, luôn nhiếp thọ
chúng sanh.
Bạch
đức thế Tôn ! từ nay đến ngày thành Bồ đề, thấy có
chúng sanh nào không chỗ nương tựa, bị giam cầm trói buộc
bịnh tật khổ não các thứ nguy ách, thì tôi trọn chẳng
bỏ lìa họ, quyết mong cho họ được an ổn đem lợi ích
lành cho họ.
Bạch
dức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, nếu tôi
thấy có ai hủy phạm cấm giới thanh tịnh của đức Như
Lai, nếu thuộc về thành ấp tụ lạc của tôi quản nhiếp,
kẻ đáng điều phục tôi sẽ điều phục, kẻ đáng nhiếp
thọ tôi sẽ nhiếp thọ. Tại sao ? Vì điều phục nhiếp thọ
kẻ phá giới thì làm cho chánh pháp được còn lâu, chánh
pháp còn lâu thì trời người đông đúc, mà ác đạo giảm
ít có thể làm cho pháp luân của Như Lai được thường chuyển.
Bạch
đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi nhiếp
thọ chánh pháp không để quên mất. Nếu quên mất Ðại thừa
thì quên Ba la mật, nếu quên Ba la mật thì quên Ðại thừa.
Nếu chư Bồ Tát chẳng quyết định nơi Ðại thừa thì nhiếp
thọ chánh pháp không được bền vững thì chẳng kham siêu
việt bực phàm phu, là mất mát lớn.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hiện tại và vị lai chư Bồ Tát nhiếp thọ
chánh pháp phát hoằng thệ nầy thì đầy đủ vô biên lợi
ích rộng lớn.
Ðức
Thế Tôn dầu là chứng biết mà các loài hữu tình căn lành
kém mỏng hoặc phát khởi lưới nghi, do đây nên mười hoằng
thệ khó thành tựu được, họ sẽ mãi mãi chứa hợp các
pháp bất thiện, thọ những khổ não. Vì lợi ích cho các
chúng sanh ấy nên nay tôi ở trước đức Phật phát thệ thành
thiệt.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nay tôi phát mười hoằng thệ ấy nếu là
chơn thiệt chẳng hư luống thì trên đại chúng sẽ mưa hoa
trời phát âm thanh cõi trời ».
Thắng
Man phu nhơn ở trước đức Phật nói vùa dứt lời, trên hư
không liền mưa hoa trời và phát ra âm thanh trời rằng
: « Lành thay, lành thay ! Như lời thệ cúa Thắng Man phu
nhơn chơn thiệt không sai khác ».
Bấy
giờ chúng hộì thấy cảnh lành nầy dứt lòng nghi hoặc rất
đỗi vui mừng đồng thanh xướng rằng : « Nguyện cùng Thắng
Man phu nhơn sanh nơi nào đều đồng một nguyện hạnh ».
Ðức
Phật thọ ký cho tất cả đại chúng ấy đều mãn sở nguyện.
Thắng
Man phu nhơn lại ở trước Phật phát ba hoằng nguyện, do nguyện
lực nầy mà lợi ích vô biên loài hữu tình.
Ðiều
nguyện thứ nhứt : Tôi do căn lành trong tất cả đời được
chánh pháp trí.
Ðiều
nguyện thứ hai : Chỗ tôi sanh nếu tôi được chánh trí rồi
vì các chúng sanh diễn thuyết không hề mỏi.
Ðiều
thứ ba : Tôi vì nhiếp thọ hộ trì chánh pháp nên đối với
thân thể không tiếc sanh mạng.
Ðức
Phật nghe ba điều nguyện xong, bảo Thắng Man phu nhơn rằng
: « Như tất cả hình sắc đều nhập vào không giới,
hằng sa điều nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện
ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đại ».
Thắng
Man phu nhơn lại bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi
sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói
đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho ».
Ðức
Phật dạy : « Nầy Thắng Man ! Cho phép ngươi nói ».
Thắng
Man phu nhơn nói :“ Bồ Tát có hằng sa điều nguyện, tất
cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nhiếp thọ
chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp như vậy chơn thiệt quảng
đại ».
Ðức
Phật bảo : « Lành thay, nầy Thắng Man ! Ngươi từ lâu tu
tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu
rõ ý nghĩa của ngươi nói, người nầy đã vun trồng cội
lành từ lâu.
Nầy
Thắng Man ! Nhiếp thọ chánh pháp như ngươi đã nói,
đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ
nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng
nhiều thứ tướng để nói nhiếp thọ chánh pháp. Ca ngợi
nhiếp thọ chánh pháp như vậy được công đức không ngằn
mé. Như Lai trí huệ cũng không nguyện của Bồ Tát đêu nhập
vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đạỉ.
Thắng
Man phu nhơn lại bạch rằng :“ Bạch đức Thế Tôn nay tôi
sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói
đại nguyện, mong đức Thế² Tôn thương mà hứa khả cho
’’.
Ðức
Phật dạy :“ Nầy Thắng Man cho ! Cho phép ngươi nói ’’.
Thắng
Man phu nhơn nói :“ Bồ Tát có hằng sa điều nguyện, tất
cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nhiếp thọ
chánh pháp.Nhiếp thọ chánh pháp như vậy chơn thiệt quảng
đại’’.
Ðức
Phật bảo :“Lành thay, ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương
tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi
nói, người nầy đã vun trồng cội lành từ lâu.
Nầy
Thắng Man ! Nhiếp thọ chánh pháp do ngươi đã nói, đều là
quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay
nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều
thứ tướng để nói nhiếp thọ chánh pháp như vậy được
công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ cũng không ngằn
mé, Tại sao ? Vì nhiếp thọ chánh pháp đây có đại công
đức có đại lợi ích’’.
Thắng
Man phu nhơn bạch rằng :“ Bạch đức Thế Tôn ! tôi sẽ nương
thần lực của đức Phật mà nói nghĩa nhiếp thọ chánh pháp
quảng đại’’.
Ðức
Phật dạy :“ Nầy Thắng Man ! Cho phép ngươi nói’’.
Thắng
Man phu nhơn nói :“ Nghĩa nhiếp thọ chánh pháp quảng đại
là vì được vô lượng tất cả Phật pháp nhẫn đến hay
nhiếp tám vạn hành môn.
Ví
như kiếp sơ nổi lên các sắc mây mưa các trận mưa báu.
Cũng vậy, mây thiện căn nhiếp thọ chánh pháp hay mưa các
trận mưa vô lượng phước báu.
Ví
như kiếp sơ trong đại thủyhay sanh tam thiên Ðại Thiên giới
tạng và bốn trăm ức các thứ loại lục địa. Cũng vậy,
nhiếp thọ chánh pháp xuất sanh Ðại thừa vô lượng giới
tạng cùng các thứ thần thông lực các thứ pháp môn của
Bồ Tát, thế gian và xuất thế gian đầy đủ an lạc mà tất
cả thiên nhơn chưa hề có.
Ví
như đại địa mang nặng bốn gánh nặng : Ðó là biển cả,
núi non, cây cỏ và chúng sanh. Cũng vậy, thiện nam tử, thiện
nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp thì có thể kham được bốn
trọng nhiệm hơn đại dịa kia : Ðó là đối với
các loài hữu tình rời lìa thiện hữu không nghe pháp phạm
các tội lỗi thì dùng căn lành trời người để thành thục
họ, với kẻ cầu Thanh Văn dạy họ Thanh Văn thừa, với kẻ
cầu Duyên Giác dạy họ Duyên Giác thừa và với kẻ cầu
Ðại thừa dạy họ Ðại thừa.
Bạch
đức Thế Tôn ! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ
chánh pháp như vậy thì kham được bốn trọng nhiệm hơn cả
đại địa, khắp vì chúng sanh làm bạn lành chẳng chờ mời,
đại bi thương xót làm lợi ích cho các loài hữu tình, là
mẹ pháp của thế gian.
Ví
như đại địa là chỗ sản sanh bốn thứ báu : Ðó là các
báu vô giá, thượng giá, trung giá và hạ giá. Cũng vậy, thiện
nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp, các hữu tình
gặp rồi thì được bốn báu lớn thù thắng nhứt trong các
thứ báu, đó là các hữu tình gặp bạn lành nầy rồi thì
hoặc được căn lành trời người, hoặc chứng Thanh Văn,
chứng Bích Chi Phật và hoặc được thiện căn công đức
Vô thượng thừa.
Bạch
đức Thế Tôn ! Xuất sanh báu lớn ấy thì gọi là chơn thiệt
nhiếp thọ chánh pháp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nói nhiếp thọ chánh pháp là chánh pháp
vô dị biệt, nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt là nhiếp
thọ chánh pháp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Ba la mật vô dị biệt nhiếp thọ Ba la mật
vô dị biệt là nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp
là Ba la mật. Tại sao ? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp
thọ chánh pháp, nếu đáng dùng bố thí để thành thục thì
dùng bố thí nhẫn đến xả thân mạng tùy thuận ý họ để
thành thục họ cho họ an trụ nơi chánh pháp, đây gọi là
Bố thí Ba la mật.
Nếu
đáng dùng giới luật để thành thục thì thủ hộ sáu căn
tịnh thân ngữ ý nhẫn đến oai nghi tùy thuận ý họ mà thành
thục họ cho hữu tình ấy an trụ chánh pháp, đây gọi là
Giới Ba la mật.
Nếu
người đáng dùng nhẫn nhục để thành thục, thì hoặc có
bị người ấy mắng chửi hủy nhục chê bai não loạn liền
dùng lòng không giận hờn và lòng làm lợi ích cùng sức nhẫn
tối thượng nhẫn đến nhan sắc cũng chẳng đổi khác tùy
thuận ý người ấy để thành thục họ cho họ an trụ chánh
pháp, đây gọi là Nhẫn Ba la mật.
Nếu
người đáng dùng tinh tỉến để thành thục thì đối với
người ấy chẳng sanh lòng giải đải hạ liệt mà khởi lòng
thích muốn tinh tiến tối thượng, trong bốn oai nghi tùy thuận
ý người ấy mà thành thục họ cho họ an trụ chánh pháp,
đây là Tinh tiến Ba la mật.
Nếu
người dùng tĩnh lự để thành thục thì dùng tâm không tán
loạn thành thục chánh niệm, việc đã làm trọn chẳng quên
mất tùy thuận ý họ mà thành thục họ cho họ an trụ chánh
pháp, đây gọi là Tĩnh lự Ba la mật.
Nếu
người đáng dùng trí huệ để thành thục, người ấy vì
lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì dùng lòng không mỏi chán
mà vì họ diễn nói tất cả các luận tất cả minh xứ nhẫn
đến các thứ công xảo xứ cho được cứu cánh, tùy thuận
ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp,
đây gọi là Trí huệ Ba la mật.
Bạch
đức Thế Tôn ! Thế nên Ba la mật không dị biệt, nhiếp
thọ chánh pháp không dị biệt, nhiếp thọ chánh pháp tức
là Ba la mật”.
Thắng
Man phu nhơn lại bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Nay
tôi nương sức oai thần biện tài của đức Phật sẽ nói
về đại nghĩa. Mong đức Thế Tôn hứa khả”.
Ðức
Phật dạy : “ Nầy Thắng Man ! Ta cho phép ngươi nói ».
Thắng
Man phu nhơn nói : « Bạch đức Thế Tôn ! Nhiếp thọ chánh
pháp là nhiếp thọ chánh pháp không dị biệt. Nhiếp thọ
chánh pháp không dị biệt là nhiếp thọ chánh pháp. Thiện
nam tử, thiện nữ nhơn phải nhiếp thọ chánh pháp như vậy.
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp vì
chánh pháp mà xả bỏ thân mạng tài sản. Do xả bỏ thân
thể nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu lìa xa
già bịnh dược pháp thân Như Lai chẳng hư hoại thường hằng
không biến đổi cứu cánh tịch tĩnh chẳng thể nghĩ bàn.
Do xả bỏ sanh mạng nên những người ấy chứng sanh tử tối
hậu lìa hẳn sự chết được vô biên thường trụ, thành
tựu các công đức lành, chẳng thể nghĩ bàn, an trụ nơi
tất cả Phật pháp thần biến, do xả bỏ tài sản nên những
người ấy chứng sanh tử tối hậu vượt qua khỏi hữu tình
không cùng tận không tổn giảm quả báo viên mãn có đủ
công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, được các loài
hữu tình tôn trọng cúng dường.
Bạch
đức Thế Tôn ! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ
chánh pháp xả bỏ thân mạng tài được chư Như Lai thọ ký.
Bạch
đức Thế Tôn !Lúc chánh pháp sắp diệt, có hàng Tỳ kheo,
Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di kết bè kết đảng phát khởi
những tranh tụng, nếu nam tử, thiện nữ nhơn dùng lòng chẳng
siểm khúc chẳng khi dối mến thích chánh pháp nhiếp thọ
chánh pháp mà vào trong nhóm bạn lành, người vào nhóm bạn
lành nầy tất được chư Phật thọ ký.
Bạch
đức Thế Tôn ! Tôi thấy người nhiếp thọ chánh pháp có
sức mạnh lớn như vậy, đức Như Lai dùng làm con mắt dùng
làm cội gốc pháp, dùng làm pháp dẫn đạo, dùng làm pháp
thông đạt ».
Ðức
Thế Tôn nghe Thắng Man phu nhơn nói về nhiếp thọ chánh pháp
có đại oai lực thì khen rằng : « Ðúng như vậy, đúng như
vậy, lành thay ! Nầy Thắng Man đúng như lời ngươi nói nhiếp
thọ chánh pháp có oai lực lớn.
Như
đại lực sĩ hơi chạm chà bóp ai thì người ấy đau đớn
khổ lắm còn thêm bịnh nặng. Cũng vậy, giả sử chút phần
nhiếp thọ chánh pháp cũng làm cho ma Ba Tuần dau đớn sầu
não khóc rên than thở.
Nầy
Thắng Man ! Ta thường chẳng thấy một thiện pháp nào khác
làm cho ma sầu não hằng nhiếp thọ chánh pháp một ít phần.
Nầy
Thắng Man ! Ví như ngưu vương hình sắc đoan chánh thân lượng
đặc biệt lạ hơn hẳn các loài ngưu khác. Cũng vậy, người
tu Ðại thừa nếu ít phần nhiếp thọ chánh pháp thì hơn
hẳn tất cả pháp lành của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.
Lại
như núi Tu Di cao rộng trang nghiêm xinh đẹp hơn các núi khác,
cũng vậy, người mới đến Ðại thừa dùng lòng lợi ích
chẳng đoái thân mạng mà nhiếp thọ chánh pháp thì có thể
vượt hơn tất cả thiện căn của người ở lâu nơi Ðại
thừa mà đoái thân mạng.
Nầy
Thắng Man ! Thế nên phải dùng nhiếp thọ chánh pháp mà khai
hóa tất cả hữu tình. Nhiếp thọ chánh pháp được phước
lợi lớn và đại quả báo.
Nầy
Thắng Man ! Trong vô số a tăng kỳ kiếp ta ca ngợi nhiếp thọ
chánh pháp như vậy được công đức vô lượng vô biên. Nhiếp
thọ chánh pháp thì thành tựu vô lượng công đức như vậy”.
Ðức
Phật bảo Thắng Man phu nhơn : “Nay ngươi lại nên diễn tả
nhiếp thọ chánh pháp đã được ta nói mà tất cả chư Phật
đồng ưa thích”.
Thắng
Man phu nhơn bạch rằng : “Lành thay, bạch đức Thế Tôn !
Nhiếp thọ chánh pháp thì gọi là Ðại Thừa. Tại sao ? Vì
Ðại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh
Văn, Duyên giác thế gian và xuất thế gian.
Như
ao A Nậu Ðạt phát xuất tám sông lớn, cũng vậy, Ðại thừa
xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên
Giác.
Lại
như tất cả cây cỏ lùm rừng đều nương đại địa mà
được sanh trưởng, cũng vậy, tất cả pháp lành của Thanh
Văn, Duyên Giác đều nương Ðại thừa mà được sanh trưởng.
Vì thế nên an trụ Ðại thừa nhiếp thọ Ðại thừa tức
là trụ và nhiếp bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn,
Duyên Giác thế gian và xuất thế gian.
Như
đức Phật Thế Tôn đã nói sáu xứ : Ðó là chánh pháp trụ,
chánh pháp diệt, biệt giải thoát, tỳ nại gia, chánh xuất
gia, thọ cụ túc. Vì Ðại thừa mà đức Phật nói sáu xứ
ấy. Tại sao ? Vì chánh pháp trụ là vì đại thừa mà nói,
Ðại thừa trụ thì chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là vì
Ðại thừa mà nói, Ðại thừa diệt thì chánh pháp diệt.
Biệt giải thoát và Tỳ Nại gia, hai pháp nầy tên khác mà
nghĩa một. Tỳ nại gia là Ðại thừa, tại sao, vì Phật mà
xuất gia mà thọ cụ túc, thế nên khối giới Ðại thừa
là Tỳ nại gia , là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.
Bạch
Thế Tôn ! A La Hán không có xuất gia không thọ cụ túc, tại
sao, vì A La Hán chẳng vì Như Lai mà xuất gia thọ cụ túc,
A La Hán có ý tưởng bố úy mà quy y Như Lai, tại sao, vì đối
với tất cả hành A La Hán có tưởng bố úy coi như người
cầm kiếm muốn đến hại mình, do đây nên A La Hán chẳng
chứng được giải thoát an lạc cứu cánh.
Bạch
đức Thế Tôn ! Quy y nơi chằng cầu quy y, như các chúng sanh
không chỗ quy y, chúng nó sợ hải nên tìm nơi quy y để được
an ổn. Cũng vậy, vì có bố úy mà A La Hán quy y nơi Như Lai.
Vì
thế nên hàng A La Hán Bích Chi Phật còn có sanh pháp, chưa
lập phạm hạnh, chỗ làm chưa xong, sẽ còn có chỗ dứt diệt
vì chưa cứu cánh vậy. Họ còn cách xa Niết bàn. Tại sao
? Vì chỉ có Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác chứng
được Niết bàn thành tựu vô lượng vô biên công đức chẳng
thể nghĩ bàn, chỗ đáng dứt đã dứt hết cứu cánh thanh
tịnh, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, vượt quá
cảnh giới của nhị thừa và Bồ Tát. Còn hàng A La Hán thì
chẳng phải như vậy. Nói rằng A La Hán được Niết bàn đó
chỉ là phương tiện của Phật thôi. Thế nên A La Hán cách
Niết bàn rất xa.
Ðức
Thế Tôn nói A La Hán và Bích Chi Phật quán sát giải thoát
bốn trí cứu cánh được rồi xong đó, đều là lời tùy
tha ý và thuyết bất liễu nghĩa của Như Lai. Tại sao vậy
? Có hai thứ tử : một là phần đoạn, hai là biến dịch.
Phần đoạn tử là hữu tình tương tục, biến dịch tử là
A La Hán và Bích Chi Phật cùng bực tự tại Bồ Tát được
ý sanh thân nhẫn đến Bồ đề.Trong hai thứ tử ấy đem phần
đoạn tử nói về A La Hán và Bich Chi Phật là sanh nơi trí
ngã sanh đã hết. Vì đã chứng được quả hữu dư y nên
sanh nơi trí phạm hạnh đã lập. Vì tất cả ngu phu chẳng
làm được, bảy hàng học nhơn chưa làm xong và tương tục
phiền não đã dứt rốt ráo, nên sanh nơi trí việc làm đã
xong.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nói rằng sanh chẳng thọ lấy thân sau, người
trí bảo là A La Hán và Bích Chi Phật chẳng dứt được tất
cả phiền não, trí họ chẳng biết rõ tất cả thọ sanh.
Tại sao ? Vì A La Hán và Bích Chi Phật còn có thừa phiền
não chẳng dứt hết nên chẳng biết rõ được tất cả thọ
sanh vậy.
Phiền
não có hai loại, đó là trụ địa phiền não và khởi
phiền não.
Trụ
địa phiền não có bốn thứ, đó là kiến nhứt xứ trụ
địa phiền não, dục ái trụ địa phiền não, sắc ái trụ
địa phiền não và hữu ái trụ địa phiền não.
Bạch
đức Thế Tôn ! Bốn thứ trụ địa ấy hay sanh tất cả biến
khởi phiền não. Khởi phiền não ấy sát na sát na cùng tương
ưng với tâm.
Bạch
đức Thế Tôn ! Vô minh trụ địa từ vô thỉ đến nay chẳng
tương ưng với tâm.
Bạch
đức Thế Tôn ! Sức lực của bốn trụ địa phiền não làm
sở y cho biến khởi phiền não sánh với vô minh trụ địa
thì toán số thí dụ chẳng bằng được.
Ðúng
vậy, đối với hữu ái trụ địa phiền não thì sức lực
của vô minh trụ địa rất lớn.
Ví
như Ma Vương và chúng quyến thuộc sắc lực oai đức hơn
hẳn bốn trụ địa hơn hẳn chư Thiên Tha Hóa Tự Tại. Cũng
vậy, vô minh trụ địa hơn hẳn bốn trụ địa hơn số hằng
hà sa lần, nó làm sở y cho phiền não và cũng làm cho bốn
thứ phiền não còn mãi. Trí của Thanh Văn và Duyên Giác chẳng
dứt được vô minh trụ địa, chỉ có trí của Như Lai là
dứt hết được nó.
Bạch
đức Thế Tôn ! Ðúng vậy, đúng vậy sức lực của vô minh
trụ địa rất lớn.
Như
thủ chi làm duyên hữu lậu nghiệp nhơn mà sanh ra ba cõi Dục,
Sắc và Vô Sắc, cũng vậy, vô minh trụ địa làm duyên vô
lậu nghiệp nhơn hay sanh A La Hán, Bích Chi Phật và đại lực
Bồ Tát tùy ý sanh thân và vô lậu nghiệp đều lấy vô minh
trụ địa làm chỗ sở y, dầu là sở duyên mà cũng hay làm
duyên. Thế nên tùy ý sanh thân và vô lậu nghiệp đều
dùng vô minh trụ địa làm duyên đồng như hữu ái trụ địa
phiền não.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hữu ái trụ địa chẳng đồng nghiệp vời
vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa khác bốn trụ địa.
Khác bốn trụ địa đây chỉ có Phật dứt được hết. Tại
sao ? Vì A La Hán và Bích Chi Phật dứt bốn trụ địa mà đối
với lậu tận lực chẳng được tự tại chẳng hiện chứng
được. Thế nên A La Hán, Bích Chi Phật nhẫn đến chư Bồ
Tát tối hậu hữu vì bị vô minh trụ địa nó che lấp nên
ở nơi các pháp ấy chẳng biết chẳng thấy nên đáng dứt
chẳng dứt đáng hết chẳng hết. Vì ở nơi các pháp ấy
chẳng dứt chẳng hết nên được hữu dư giải thoát mà chẳng
phải nhứt thiết giải thoát được hữu dư thanh tịnh mà
chẳng phải nhứt thiết thanh tịnh, được hữu dư công đức
mà chẳng phải nhứt thiết công đức.
Bạch
đức Thế Tôn ! Vì được hữu dư nên ở nơi Thánh đế,
các bực ấy biết khổ hữu dư, dứt tập hữu dư, chứng
diệt hữu dư và tu đạo hữu dư.
Nếu
còn là biết hữu dư khổ dứt, hữu dư tập chứng, hữu dư
diệt và tu hữu dư đạo, thì là chút phần diệt độ chúng,
chút phần Niết bàn giới.
Nếu
biết tất cả khổ dứt, tất cả tập chứng, tất cả diệt
và tu tất cả đạo, bực nầy ở nơi thế gian vô thường,
bại hoại chứng được Niết bàn thường tịch thanh tịnh,
bực nầy ở nơi thế gian không giúp không nương làm chỗ
giúp chỗ nương.
Tại
sao ? Vì người ở nơi các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng
chứng được Niết bàn. Người trí bình đẳng, giải thoát
bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng mới chứng được Niết
bàn. Vì thế nên Niết bàn gọi là bình đẳng nhứt vị, đó
là vị giải thoát vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu vô minh trụ địa chẳng dứt chẳng hết
thì chẳng chứng được Niết bàn nhứt vị bình đẳng. Tại
sao ? Vì vô minh trụ địa chẳng dứt chẳng hết thì hơn số
hằng hà sa những pháp sai lầm đáng dứt còn chằng dứt,
đáng hết còn chẳng hết. Vì còn hơn số hằng hà sa những
pháp sai lầm chẳng dứt chẳng hết nên quá hằng hà sa số
các pháp công đức chẳng trọn chẳng chứng được. Thế
nên vô minh trụ địa là nơi sanh ra các tùy phiền não tất
cả pháp lỗi lầm đáng dứt đáng hết. Từ đó sanh ra phiền
não chướng tâm, phiền não chướng chỉ, phiền não chướng
quán, phiền não chướng tịnh lự, nhẫn đến chướng tam
ma đề gia hạnh trí quả chứng thập lực tứ vô sở úy
Hơn
cả số hằng hà sa các phiền não, các khởi phiền não mà
trí kim cương Ðẳng Chánh Giác của Như Lai hay dứt diệt,
tất cả đều nương nơi vô minh trụ địa, vì vô minh trụ
địa làm nhơn duyên vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Khởi phiền não đây sát na sát na cùng tương
ưng với tâm. Từ vô thỉ đến nay vô minh trụ địa chẳng
tương ưng với tâm.
Bạch
đức Thế Tôn ! Ví như tất cả giống của cây cỏ đều
nương nơi đại địa mà sanh trưởng, nếu đại địa hoại
hư thì chúng nó cũng hoại hư.
Cũng
vậy, hơn số hằng hà sa các pháp đáng được dứt diệt
bởi trí kim cương Ðẳng Chánh Giác của đức Như Lai đều
nương nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng, nếu vô minh trụ
địa dứt hết thì các pháp phiền não ấy cũng dứt hết.
Vì hơn số hằng hà sa các pháp đáng dứt diệt cùng tất
cả phiền não và khởi phiền não đã dứt diệt hết nên
chứng được quá số hằng hà sa các pháp chư Phật bất khả
tư nghị, ở nơi các pháp chứng được vô ngại thần thông,
được các trí kiến, rời lìa tất cả sai lầm, được tất
cả công đức, làm Ðại Pháp Vương tự tạI nơi tất cả
pháp chứng bực nhứt thiết pháp tự tại, chánh sư tử hống
rằng : Ngã sanh đã hết phạm hạnh đã lập việc làm đã
xong chẳng còn thọ thân sau. Do đó đức Thế Tôn dùng sư
tử hống y nơi liễu nghĩa một mực ghi nhận như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Trí chẳng thọ thân sau ấy có hai thứ :
Một
là chư Phật Như Lai dùng sức điều ngự xô dẹp bốn ma siêu
việt các thế gian được các loài hữu tình chiêm ngưỡng,
chứng pháp thân thanh tịnh chẳng nghĩ bàn, nơi bực sở tri
được pháp tự tại tối thắng vô thượng, không còn phải
làm, chẳng thấy còn có bực nào phải được chứng nữa,
đầy đủ mười trí lực lên bực tối thắng vô úy, nơi
tất cả pháp quan sát vô ngại chánh sư tử hống chẳng thọ
thân sau.
Hai
là A La Hán và Bích Chi Phật được khỏi vô lượng sanh tử
bố úy, thọ vui giải thoát, tự nghĩ rằng : Nay ta đã rời
lìa sanh tử bố úy chẳng thọ các sự khổ.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hàng A La Hán và Bích Chi Phật quan sát như
vậy rồi chẳng thọ thân sau, họ chẳng chứng được Niết
bàn tịch diệt đệ nhứt, vì họ ở nơi các bực chưa chứng
chẳng gặp được pháp để có thể hiểu biết rằng nay ta
chứng được bực Hữu dư y quyết định sẽ chứng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh Giác.
Tại
sao ? Vì Thanh Văn và Duyên Giác đều nhập vào Ðại thừa,
mà Ðại thừa là Phật thừa, thế nên Tam thừa tức là Nhứt
thừa. Người chứng Nhứt thừa thì được Vô thượng Bồ
đề. Vô thượng Bồ đề tức là Niết bàn. Nói Niết bàn
đây tức là Pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Người chứng
Pháp thân tức là Nhứt thừa không có Như Lai khác, không có
Pháp thân khác. Nói Như Lai ấy tức là Pháp thân. Người chứng
Pháp thân cứu cánh là cứu cánh Nhứt thừa. Người cứu cánh
Nhứt thừa tức là rời lìa tương tục.
Tại
sao ? Bạch đức Thế Tôn ! Vì Như Lai thường trụ không có
hạn lượng bằng với hậu tế ! Như Lai hay dùng đại bi vô
hạn, thệ nguyện vô hạn đem lợi ích lại cho các thế gian.
Người nói như trên đây thì gọi là lời nói phải.
Nếu
lại nói rằng Như Lai là thường là pháp vô tận chỗ y tựa
cứu cánh của tất cả thế gian thì cũng gọi là lời nói
phải.
Vì
thế nên Như Lai ở nơi thế gian không được giúp đỡ không
chỗ y tựa làm chỗ quy y vô tận, chỗ quy y thường trụ,
chỗ quy y cứu cánh mãi đến hậu tế.
Nói
rằng pháp Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác ấy là đạo
nhứt thừa. Tăng đó là chúng tam thừa, hai chỗ quy y nầy
chẳng phải là cứu cánh quy y mà gọi là thiểu phần quy y.
Tại
sao ? Vì nói đạo nhứt thừa, chứng pháp thân cứu cánh rồi
sau đó không còn nói đạo nhứt thừa. Chúng tam thừa vì có
khủng bố nên quy y Như Lai cầu xuất gia tu học, vì có sở
tác, vì hướng đến Vô thượng Bồ đề. Thế nên Pháp và
Tăng chẳng phải chỗ quy y cứu cánh, là chỗ quy y hữu hạn.
Nếu
các hữu tình được Như Lai điều phục quy y nơi Như Lai được
pháp thấm nhuần do lòng tin ưa mà quy y nơi Pháp và Tỳ Kheo
Tăng. Hai sự quy y nầy do pháp thấm nhuần mà tín nhập quy
y.
Như
Lai ấy chẳng phải pháp thấm nhuần tín nhập quy y. Nói Như
Lai ấy là chơn thiệt quy y.
Hai
sự quy y kia cứ nơi nghĩa chơn thiệt thì gọi là cứu cánh
quy y Như Lai Tại sao ? Vì Như Lai chẳng khác với hai sự quy
y ấy, thế nên Như Lai tức là tam quy y.
Tại
sao ? Vì nói đạo nhứt thừa, Như Lai tối thắng đủ tứ
sở úy chánh sư tử hống.
Nếu
chư Như Lai tùy theo sở dục của người mà dùng phương tiện
nói pháp nhị thừa tức là Ðại thừa. Bởi đệ nhứt nghĩa
không có nhị thừa. Nhị thừa ấy đồng vào nhứt thừa.
Nhứt thừa ấy tức là thắng nghĩa thừa.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác lúc mới đầu
chứng Thánh đế chẳng phải dùng nhứt trí mà dứt các trụ
địa phiền não, cũng chẳng phải dùng nhứt trí chứng các
công đức như tứ biến tri v.v... cũng chẳng phải dùng pháp
hay khéo biết rõ nghĩa bốn pháp nầy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nơi trí xuất thế không có bốn trí tuần
tự đến tuần tự duyên . Trí xuất thế không có pháp lần
lượt đến như kim cương dụ.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác dùng các thứ
trí Thánh đế để dứt các trụ địa , họ thấy có trí
xuất thế đệ nhứt nghĩa.
Chỉ
có đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác dùng trí
bất tư nghị không tánh phá được vỏ của các phiền não.
Trí phá vỏ phiền não cứu cánh ấy gọi là trí xuất thế
đệ nhứt nghĩa, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn
và Duyên Giác Trí Thánh đế sơ khởi chẳng phải trí cứu
cánh, mà là trí hướng đến Vô thượng Bồ đề.
Bạch
đức Thế Tôn ! Chơn Thánh đế nghĩa ấy thì chẳng phải
thuộc về nhị thừa. Tại sao ? Vì hàng Thanh Văn và Duyên
Giác chỉ thành tựu được chút phần công đức mà gọi là
Thánh.
Nói
rằng Thánh đế ấy, chẳng phải là đế của hàng Thanh Văn,
Duyên Giác và công đức của họ.
Mà
Thánh đế nầy, chỉ có đức Như Lai biết rõ rồi đem diễn
nói khai thị cho thế gian chúng sanh bị nhốt trong vỏ vô minh,
do đây mà gọi là Thánh đế.
Bạch
đức Thế Tôn ! Thánh đế nầy rất sâu rất vi diệu khó
thấy khó rõ, chẳng thể phân biệt chẳng phải cảnh giới
suy lường, tất cả thế gian chẳng tin hiểu được chỉ có
đức Như Lai là biết rõ. Tại sao ? Vì Thánh đế nầy nói
về Như Lai tạng thậm thâm, mà Như Lai tạng là cảnh giới
Phật, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.
Cứ
nơi Như Lai tạng mà nói Thánh đế nghĩa, Như Lai tạng nầy
rất sâu vi diệu, Thánh đế được nói ra ấy cũng rất sâu
vi diệu. Khó thấy khó rõ chẳng thể phân biệt chẳng phải
cảnh tư lương, tất cả thế gian khó tin hiểu, chỉ có đức
Như Lai biết rõ.
Nếu
ở nơi Như Lai tạng bị triền phược bởi vô lượng phiền
não mà chẳng nghi hoặc thì đối với Như Lai pháp thân tạng
ra khỏi tất cả phiền não cũng không nghi hoặc.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu có ai ở trong tạng Như Lai nầy và ở
nơi Phật pháp thân cảnh giới bí mật bất tư nghị của
Phật mà tâm được cứu cánh, thì đối với hai nghĩa Thánh
đế đã nói kia hay tin hay rõ hay sanh thắng giải.
Những
gì là hai nghĩa Thánh đế ? Ðó là hữu tác Thánh đế và
vô tác Thánh đế.
Hữu
tác Thánh đế là nghĩa tứ Thánh đế chẳng viên mãn. Tại
sao ? Vì y hộ nơi tha mà chẳng biết được tất cả khổ,
dứt tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo.
Do đó nên chẳng biết hữu vi và Niết bàn.
Vô
tác Thánh đế là nói nghĩa tứ Thánh đế viên mãn. Tại sao
? Vì tự y hộ nên biết tất cả khổ, dứt tất cả tập,
chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo.
Tám
nghĩa Thánh đế đã nói như vậy, đức Như Lai chỉ đem tứ
Thánh đế ra nói. Nơi nghĩa vô tác tu Thánh đế nầy chỉ
có đức Như Lai là hoàn thành cứu cánh, chẳng phải sức
lực của A La Hán và Bích Chi Phật đến được. Tại sao ?
Vì chẳng phải các pháp thắng liệt hạ trung thượng mà có
thể chứng được Niết bàn.
Thế
nào là đức Như Lai đối với vô tác Thánh đế được hoàn
thành cứu cánh ? Chư Như Lai biết khắp tất cả khổ, dứt
hẳn khổ tập bị nhiếp bởi tất cả phiền não và khởi
phiền não, chứng được khổ diệt, sở hữu của tất cả
khối ý sanh thân và tu tất cả đạo khổ diệt.
Bạch
đức Thế Tôn ! Chẳng phải hoại mất pháp mà gọi là khổ
diệt. Nói khổ diệt là vô thỉ vô tác vô khởi vô tận thường
trụ bất động bổn tánh thanh tịnh ra khỏi vỏ phiền não.
Bạch
đức Thế Tôn ! Chư Phật Như Lai thành tựu quá số hằng
hà sa pháp bất tư nghị đủ trí giải thoát gọi là pháp
thân. Pháp thân nầy chẳng rời lìa phiền não thì gọi là
Như Lai tạng. Như Lai tạng đây là trí Như Lai không tánh mả
tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa hề thấy chưa hề
được, chỉ có Phật thấy biết rõ và chứng được.
Bạch
đức Thế Tôn ! Trí không tánh Như Lai tạng nầy lại có hai
thứ : đó là không và bất không Như Lai tạng. Không Như Lai
tạng là Như Lai tạng rời lìa nơi trí chẳng giải thoát tất
cà phiền não. Bất không Như Lai tạng là Như Lai tạng có
đủ quá số hằng hà sa pháp bất tư nghị trí Phật giải
thoát.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hai thứ không trí nầy các đại Thanh Văn
do tin mà được vào. Trí không tánh của tất cả hàng Thanh
Văn và Duyên Giác như vậy đối với cảnh tứ điên đảo
luôn phan duyên mà chuyển hiện. Do đó nên đối với tất
cả khổ diệt ấy, tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa
hề thấy chưa hề chứng, chỉ có Phật hiện chứng, đoạn
hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt.
Bạch
đức Thế Tôn ! Trong bốn Thánh đế, ba vô thường một thường
trụ. Vì ba đế vào trong tướng hữu vi, tướng hữu vi là
vô thường . Nói rằng vô thường ấy là pháp phá hoại, pháp
phá hoại thì chẳng phải đế chẳng phải thường chẳng
phải chỗ quy y. Do đệ nhứt nghĩa nên ba đế ấy chẳng phải
đế chẳng phải thường chẳng phải chỗ quy y.
Bạch
đức Thế Tôn ! Một đế khổ diệt rời lìa tướng hữu
vi, lìa tướng hữu vi thì tánh thường trụ, tánh thường
trụ chẳng phải pháp phá hoại, chẳng phải pháp phá hoại
thì là đế, là thường, là chỗ quy y. Do thắng nghĩa nên
khổ diệt đế là đế, là thường, là chổ quy y.
Khổ
diệt đế nầy là bất tư nghị, quá cảnh giới tâm thức
của hữu tình, cũng chẳng phải trí của hàng Thanh Văn và
Duyên Giác kịp được.
Ví
như người sanh manh chẳng thấy được các màu sắc, trẻ
sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời. Cũng vậy, khổ diệt
đế chẳng phải cảnh duyên của tâm thức hàng phàm phu, mà
cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác.
Tâm
thức hàng phàm phu là hai biên kiến. Trí của hàng Thanh Văn
Dưyên Giác thì gọi là tịnh trí.
Nói
rằng biên kiến đó là đối với ngũ thủ uẩn chấp nắm
làm ngã rồi sanh ra phân biệt sai khác, đó là thường kiến
và đoạn kiến hai thứ kiến chấp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu lại có ai thấy sanh tử vô thường,
Niết bàn là thường, thì chẳng phải kiến chấp đoạn thường
mà gọi là chánh kiến.
Tại
sao ? Vì kẻ kế đạt ấy thấy các thân căn và nào thọ nào
tư hiện hành diệt hoại, với thân tương tục họ chẳng
biết được, là kẻ mù không mắt trí huệ nên phát khởi
đoạn kiến, với tâm tương tục sát na diệt hoại, họ ngu
tối chẳng biết cảnh giới ý thức nên phát khởi thường
kiến.
Nhưng
những nghĩa ấy quá các phân biệt và quá kiến thức hạ
liệt, do hàng ngu phu vọng sanh ý tưởng dị biệt rồi điên
đảo chấp trước cho là đoạn là thường.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hàng hữu tình điên đảo đối ngũ thủ uẩn
vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã
tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh.
Hàng
Thanh Văn và Duyên Giác có tịnh trí, đối với cảnh giới
và pháp thân của Phật chưa hề thấy được hoặc vì tin
Như Lai nên đối với Như Lai sanh ra ý tưởng là thường,
là lạc là ngã, là tịnh, đây chẳng phải kiến chấp điên
đảo mà là chánh kiến. Tại sao ? Vì Như Lai pháp thân là
Thường Ba la mật, là Lạc Ba la mật, là Ngã Ba la mật, là
Tịnh Ba la mật vậy.
Nếu
các hữu tình có ý tưởng như trên đây thì gọi là chơn
Phật tử từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp
hóa sanh được Phật pháp phần.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nói rằng tịnh trí ấy là Trí Ba la mật của
hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Tịnh trí nầy đối với khổ
diệt đế còn chẳng phải cảnh giới, huống khổ diệt đế
là sở hành của bốn trí nhập lưu. Tại sao ? Vì hàng tam
thừa sơ nghiệp, người chẳng ngu pháp, có thể ở nơi nghĩa
ấy sẽ chứng sẽ tỏ.
Bạch
đức Thế Tôn ! Do nghĩa gì mà nói bốn nhập lưu ?
Bạch
đức Thế Tôn ! Bốn nhập lưu nầy là pháp thế gian. Chỉ
có một nhập lưu đối với các nhập lưu là hơn hết là
trên hết, bởi đệ nhứt nghĩa là nhập lưu là khổ diệt
đế.
Bạch
đức Thế Tôn ! Sanh tử ấy y tựa Như Lai tạng. Do Như Lai
tạng nên nói rằng tiền tế chẳng biết được.
Bạch
đức Thế Tôn ! Do có Như Lai tạng nên được có sanh tử
, đây là lời nói phải.
Bạch
đức Thế Tôn ! Sanh tử ấy, các thọ căn diệt vô gián tương
tục thọ căn kế khởi, gọi là sanh tử.
Bạch
đức Thế Tôn ! Hai pháp sanh tử là Như Lai tạng, nơi pháp
thế tục gọi đó là sanh tử.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nói rằng tử là nói thọ căn diệt và
sanh là các thọ căn khởi. Như Lai tạng thì chẳng sanh chẳng
tử chẳng thăng chẳng trụy rời lìa tướng hữu vi.
Bạch
đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy thường hằng chẳng
hoại , nên Như Lai tạng là y là trì là kiến lập cho tạng
trí chẳng lìa giải thoát và cũng là y trì kiến lập cho các
pháp hữu vi trí rời lìa chẳng giải thoát.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu không có Như Lai tạng thì không có chán
khổ vui cầu Niết bàn. Tại sao ? Vì ở nơi sáu thức nầy
và cảnh sở tri, bảy pháp như vậy sát na không dừng chẳng
nhận chịu các khổ chẳng kham nhàm lìa nguyện cầu Niết
bàn. Như Lai tạng ấy không có tiền tế không sanh không diệt
pháp nhĩ nhận chịu các khổ, nó là nhàm khổ nguyện cầu
Niết bàn.
Bạch
đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy chẳng phải là có ngã nhơn
chúng sanh thọ giả. Như Lai tạng ấy chẳng phải là cảnh
sở hành của các hữu tình thân kiến, điên đảo và không
kiến.
Bạch
đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy là tạng pháp giới, tạng
pháp th ân, tạng xuất thế gian, tạng tánh thanh tịnh, là
bổn tánh thanh tịnh.
Như
chỗ tôi hiểu thì Như Lai tạng ấy dầu bị khách trần phiền
não làm ô nhiễm vẫn còn là cảnh giới Như Lai bất khả
tư nghị. Tại sao ? Vì sát na sát na tâm bất thiện tâm thiện
cùng khách trần phiền não chẳng ô nhiễm được Như Lai tạng.
Tại sao ? Vì phiền não chẳng chạm đến tâm, mà tâm cũng
chẳng chạm đến phiền não. Pháp chẳng chạm xúc làm
sao có thể nhiễm được tâm.
Bạch
đức Thế Tôn ! Vì có phiền não nên có tâm tùy nhiễm. Tùy
theo phiền não nhiễm ấy khó hiểu khó rõ. Chỉ có đức Phật
Thế Tôn là mắt, là trí, là cội rễ pháp, là tôn thượng,
là Ðạo Sư, là chỗ y tựa của chánh pháp mới như thiệt
thấy biết thôi ».
Bấy
giờ đức Thế Tôn khen ngợi Thắng Man phu nhơn : « Lành thay,
lành thay ! Ðúng như lời ngươi vừa nói. Tánh thanh tịnh tâm
theo phiền não khó rõ biết được.
Nầy
Thắng Man ! Còn có hai thứ pháp khó rõ biết được :
đó là tánh thanh tịnh tâm khó rõ biết được và tâm ấy
bị phiền não ô nhiễm cũng khó rõ biết được. Hai pháp
nầy, ngươi và Bồ Tát thành tựu đại pháp mới có thể
nghe hiểu nhận lãnh. Các hàng Thanh Văn do tín tâm mả hiểu
được.
Nầy
Thắng Man ! Nếu các đệ tử ta, người có tăng thượng tín
tâm tùy thuận pháp trí, ở nơi pháp nầy mà được cứu cánh.
Thuận
pháp trí là quán sát tâm thức và cảnh, quán sát nghiệp báo,
quán sát A La Hán ngủ, quán sát tâm tự tại ưa thích thiền
duyệt, quán sát thánh thần thông biến của Thanh Văn Duyên
Giác, do thành tựu năm pháp quán sát thiện xảo nầy
nên hiện tại và vị lai các hàng Thanh Văn đệ tử do nơi
tăng thượng tín tâm tùy thuận pháp trí khéo hiễu rõ được
tánh thanh tịnh tâm bị phiền não ô nhiễm mà được cứu
cánh.
Nầy
Thắng Man ! Cứu cánh nầy là nhơn của Ðại thừa, nay ngươi
nên biết, ngươi tin Như Lai thì đối với pháp thậm thâm
chẳng sanh lòng phỉ báng”.
Thắng
Man phu nhơn bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Còn có các
nghĩa hay đem lại nhiều lợi ích, tôi sẽ thừa sức oai thần
của đức Phật diễn nói các sự ấy”.
Ðức
Phật bảo : “Lành thay ! Nay cho phép ngươi nói”.
Thắng
Man phu nhơn nói :“ Có ba hạng thiện nam tử, thiện nữ nhơn
đối pháp thậm thâm rời lìa sự tự phá hại sanh nhiều
công đức vào đạo Ðại thừa : Một là người thành tựu
thậm thâm pháp trí, hai là người tùy thuận pháp trí, ba là
người đối với pháp thậm thâm nầy chẳng hiểu rõ được
mà kính tôn đức Như Lai chỉ có đức Phật biết được
chẳng phải cảnh giới của tôi.
Trừ
ba hạng người nầy, các hữu tình khác đối với pháp thậm
thâm tùy theo chỗ mình nắm lấy mà chấp trước vọng thuyết,
chống trái chánh pháp, huân tập chủng tử hủ bạI các ngoại
đạo. Dầu họ có ở phương khác cũng phải đến đó trừ
diệt những kẻ hủ bại ấy. Tất cả nhơn thiên cũng phải
cùng nhau xô dẹp họ’’.
Nói
lời ấy xong, Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc đảnh
lễ chưn Phật.
Ðức
Phật khen rằng : “Lành thay ! Thắng Man ở nơi pháp thậm
thâm phương tiện thủ hộ hàng phục oán địch, khéo có thể
thông đạt.
Ngươi
đã gần gũi muôn ngàn cu chi chư Phật Như Lai nên có thể
nói được nghĩa ấy”.
Bấy
giờ đức Thế Tôn phóng quang minh thù thắng chiếu khắp đại
chúng, hiện thân lên hư không cao bảy cây đa la, dùng sức
thần thông chưn bước trên hư không trở về thành Xá Vệ.
Thắng
Man phu nhơn và các quyến thuộc chiêm ngưỡng đức Như Lai
mắt không tạm rời. Quá tầm mắt rồi tất cả vui mừng
hớn hở cùng nhau thay phiên ca ngợi công đức của Như Lai
và đồng nhứt tâm niệm Phật, trở về thành Vô Ðấu khuyên
vua Hữu Xưng kiến lập Ðại thừa. Nữ nhơn trong thành từ
bảy tuổi trở lên, Thắng Man phu nhơn đem Ðại thừa giáo
hóa. Vua Hữu Xưng cũng đem Ðại thừa giáo hóa các nam tử
từ bảy tuổi trở lên. Nhơn dân trong nước không ai là chẳng
học Ðại thừa pháp.
Bấy
giờ đức Thế Tôn vào rừng Thệ Ða gọi Tôn giả A Nan và
nghĩ đến Thiên Ðế. Ứng theo tâm nghĩ của Phật, Thiên Ðế
Thích cùng quyến thuộc chư Thiên đến chỗ đức Phật.
Ðức
Thế Tôn bảo Thiên Ðế Thích : Nầy Kiều Thi Ca ! Ngài nên
thọ trì kinh nầy rồi diễn thuyết khai thị cho chư Thiên
cõi Ðao Lợi để họ được an lạc”
Ðức
Thế Tôn lại bảo Tôn giả A Nan : “Ông cũng thọ trì vì
hàng tứ chúng là phân biệt diễn thưyết’’.
Thiên
Ðế Thích bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Kinh nầy
sẽ đặt tên là gì và phụng trì thế nào ?”.
Ðức
Phật dạy : “ Nầy Kiều Thi Ca ! Kinh nầy thành tựu vô biên
công đức lực của Thanh Văn và Duyên Giác không đến được
huống là các hữu tình khác. Nên biết rằng kinh nầy là khối
đại công đức thậm thâm vi diệu. Nay sẽ vì Ngài mà nói
lược tên kinh.
Lắng
nghe lắng nghe khéo suy nghĩ nhớ lấy !”.
Thiên
Ðế Thích và Tôn giả A Nan đồng bạch rằng : “ Lành thay
đức Thế Tôn ! Kính vâng thọ giáo”.
Ðức
Phật dạy : “Kinh nầy tán thán Như Lai chơn thiệt công đức,
phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói mười điều hoằng thệ
bất tư nghị, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy dùng một
đại nguyện nhiếp tất cả nguyện, phải thọ trì như vậy.
Kinh nầy nói nhiếp thọ chánh pháp bất tư nghị, phải thọ
trì như vậy. Kinh nầy nói nhập nhứt thừa, phải thọ trì
như vậy. Kinh nầy nói vô biên tế, phải thọ trì như vậy.
Kinh nầy nói Như Lai tạng, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy
nói Phật pháp thân, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói
không tánh nghĩa che ẩn chơn thiệt, phải thọ trì như vậy.
Kinh nầy nói nghĩa một Thánh Ðế, phải thọ trì như vậy.
Kinh nầy nói một sở y thường trụ bất động tịch tĩnh,
phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói điên đảo chơn thiệt,
phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói tự tánh thanh tịnh tâm
bị phiền não che ẩn, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói
chơn Phật tử, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói Thắng
Man phu nhơn chánh sư tử hống, phải thọ trì như vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca ! Chỗ nói của kinh nầy dứt tất cả nghi
hoặc quyết định liễu nghĩa nhập vào đạo Nhứt thừa.
Nầy
Kiều Thi Ca ! Nay đem kinh Thắng Man phu nhơn sư tử hống đã
được nói đây giao phó cho Ngài mãi đến thời gian chánh
pháp còn. Ngài nên đem diễn thuyết khai thị khắp mười phương’’.
Thiên
Ðế Thích bạch rằng : “ Lành thay đức Thế Tôn ! Kính vâng
thọ giáo”.
Bấy
giờ Thiên Ðế Thích, Tôn giả A Nan và các chúng trong đại
hội, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v... nghe lời Phật
dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP
HỘI THẮNG MAN PHU NHƠN
THỨ
BỐN MƯƠI TÁM
HẾT