Nầy
Diệu Cát Tường ! Nếu tất cả pháp vô sở đắc thì tất
cả pháp bình đẳng, nếu tất cả pháp bình đẳng thì tất
cả pháp thường trụ, nếu tất cả pháp thường trụ thì
tất cả pháp không động chuyển, nếu tất cả pháp
không động chuyển thì tất cả pháp không có y dựa, nếu
tất cả pháp không có y dựa thì tâm không chỗ trụ trước,
vì tâm không trụ trước nên là vô sanh mà sanh. Nếu quán
trí như vậy thì tâm vương và tâm sở chuyển khởi mà không
điên đảo. Tâm chuyển khởi không điên đảo thì là đúng
như thuyết mà hiện hành, đã như thuyết mà hành thì không
có hí luận. Nếu không hí luận thì hành mà không sở hành,
đã không có sở hành thì không có lưu tán. Nếu không lưu
tán thì không có tụ tập. Nếu tất cả pháp không lưu tán
thì không trái với pháp tánh, nếu không trái pháp tánh thì
ở tất cả chỗ đều tùy thuận pháp tánh, nếu tất cả
chỗ đều tùy thuận thì pháp tự tánh không động chuyển,
nếu pháp tự tánh không động chuyển thì pháp tự tánh bèn
có sở đắc. Nếu pháp tự tánh có sở đắc thì không có
chút pháp gì là có thể duyên lấy được, tại sao, vì phải
biết tất cả pháp đều là tánh nhơn duyên sanh, nếu là tánh
nhơn duyên sanh thì là rốt ráo vô sanh, nếu là rốt ráo vô
sanh thì được tịch tĩnh, nếu được tịch tĩnh thì tất
cả pháp tác ý liền đồng với không y dựa,, nếu tất cả
pháp tác ý đồng với không y dựa thì chính đó đều là
không có y dựa, nếu không có y dựa thì chính là không có
được không chẳng được. Nếu không có được không chẳng
được thì được pháp thường trụ. Nếu được pháp thường
trụ thì tương ưng nơi pháp cứu cánh kiên cố. Nếu tương
ưng nơi pháp cứu cánh kiên cố thì không có chút pháp để
được, cũng không có Phật pháp, tại sao, vì đã giác ngộ
tánh không, nếu giác ngộ tánh không thì chính đó là Bồ
đề. Vì giác ngộ tánh không vô tướng vô nguyện vô tác
vô trụ vô sanh vô thủ vô y như vậy nên gọi là Bồ đề.
Bồ đề đây là tương ưng nơi pháp tánh cứu cánh kiên cố
tên gọi tương ưng do đây mà được kiến lập. Vì thế nên
không cao không hạ là pháp tương ưng, không tạo tác chẳng
phải không tạo tác là pháp tương ưng, không hệ phược không
giải thoát là pháp tương ưng, không một tánh không nhiều
tánh là pháp tương ưng, không đến không đi là pháp tương,
đây chính là tương ưng nơi pháp tánh cứu cánh kiên cố vậy.
Nếu
tương ưng nơi pháp tánh cứu cánh kiên cố thì chính là không
chỗ tương ưng cũng không chỗ dứt diệt lại cũng không có
quả để chứng, tại sao, vì tâm pháp bổn lai tự tánh sáng
suốt chỉ do khách trần phiền não làm ô nhiễm, nhưng thực
ra không thể làm ô nhiễm tự tánh được. Nếu tự tánh vẫn
sáng suốt thi không có phiền não, nếu không có phiền não
thì không có đối trị, nghĩa là do đối trị mà phiền não
đã đều dứt diệt, tại sao, vì không có đã thanh tịnh,
không có sẽ thanh tịnh, bổn lai không rời lìa thanh tịnh.
Nếu đã bổn lai thanh tịnh thì vô sanh, nếu vô sanh là vô
động, nếu vô động thì dứt tất cả hỉ lạc, tất cả
sở ái cũng đều dứt diệt, nếu ái dứt diệt thì nó là
vô sanh, nếu pháp vô sanh thì chính là Bồ đề, nếu là Bồ
đề thì là bình đẳng, nếu bình đẳng thì là chơn như,
nếu chơn như thì tất cả pháp hữu vi tất cả pháp vô vi
đều là vô trụ. Nếu trong chơn như không tất cả pháp hữu
vì vô vi ấy thì là vô nhị. Nếu tất cả pháp hữu vi vô
vi đều vô nhị thì chính là chơn như. Nếu là chơn như thì
là chơn như không dị biệt. Nếu chơn như không dị biệt
thì là chơn như không chủng loại. Nếu chơn như không chủng
loại thì là chơn như không có đến. Nếu chơn như không có
đến thì là chơn như không có đi. Nếu chơn như không có
đến không có đi thì là chơn như đúng như đã được tuyên
nói. Nếu chơn như đúng như đã được tuyên nói thì là chơn
như vô sanh. Nếu chơn như vô sanh thì là không có ô nhiễm
cũng không có thanh tịnh. Nếu không nhiễm không tịnh thì
là không có sanh không có diệt. Nếu không sanh không diệt
thì là Niết bàn bình đẳng. Nếu Niết bàn bình đẳng thì
không có sanh tử cũng không có Niết bàn. Nếu không sanh tử
không Niết bàn thì không có tam thế quá khứ vị lai hiện
tại. Nếu không có quá khứ vị lai hiện tại thì không có
pháp hạ trung thượng. Nếu không có pháp sai biệt hạ trung
thượng thì là chơn như bình đẳng. Danh từ chơn như do đây
mà kiến lập vậy.
Ðây
nói là chơn như cũng gọi chơn thiệt tánh. Ðây nói là thiệt
tánh cũng gọi tên như tánh. Ðây nói là như tánh cũng tức
là chơn như. Chơn như với ta vốn không có hai cũng không có
chủng loại. Tánh nghĩa không hai tức là Bồ đề. Bồ đề
có nghĩa là giác ngộ liễu biệt. Nghĩa ý được nói đây
tức là trí chứng nhập ba môn giải thoát, là trí tuyên nói
tất cả pháp, ngộ nhập tất cả pháp tam thế bình đẳng,
là nghĩa tất cả pháp không hư không hoại . Nghĩa được
nói đây tức là không có nghĩa không có âm thanh không ghi
nhớ không ngôn thuyết không có tỏ bày cũng không có gì được
tỏ bày. Ðây gọi là trí, đó là nghĩa tùy theo trí, thức
tùy theo trí, thắng nghĩa tùy theo trí, như pháp tánh ấy tức
như nghĩa ấy. Nếu là pháp tánh tức là pháp trụ tánh
là pháp tịch tĩnh tánh, pháp tịch tĩnh đó tức là pháp
không động chuyển, nếu pháp không động chuyển thì văn
cùng nghĩa đều binh đẳng cả, nếu văn cùng nghĩa bình đẳng
tức là nghĩa bình đẳng không hai, nếu nghĩa ấy bình đẳng
thì nghĩa thức cũng bình đẳng, đây tức là trí chứng
nhập môn bất nhị bình đẳng. Do đây nên thế tục cùng
thắng nghĩa đều bình đẳng. Vì thế tục nghĩa bình đẳng
nên là nghĩa bình đẳng không là bình đẳng tánh.Nếu tánh
không bình đẳng thì tức là bổ đặc già la bình đẳng tánh
bình đẳng, nếu bổ đặc già la bình đẳng thì tức là pháp
bình đẳng tánh bình đẳng, nếu pháp bình đẳng thì là tín
giải bình đẳng tánh bình đẳng, nếu tín giải bình đẳng
vì giác ngộ đó nên tức là Bồ đề vậy
Nầy
Diệu Cát Tường ! Nếu ở nơi sắc bình đẳng tánh mà có
trụ trước có chướng ngại thì ở nơi nhãn có chướng ngại,
vì sắc và nhãn tự tánh trí không có sở ngại vậy. Nếu
ở nơi kiến văn mà có trụ trước có chướng ngại thì ở
nơi thân có chướng ngại, vì ở trong thân các loài tự tánh
không trí không có sở ngại vậy. Nếu ở nơi tác ý chẳng
sâu vững mà có trụ trước có chướng ngại thì ở nơi pháp
quang minh có chướng ngại, vì tác ý sâu vững quan sát các
pháp tự tánh không trí không có sở ngại vậy. Nếu ở nơi
nghi lầm cấu nhiễm mà có trụ trước có chướng ngại thì
ở nơi giải thoát có chướng ngại, vì trí tín giải giải
thoát như thiệt không cò sở ngại vậy. Nếu ở nơi giải
đãi cấu nhiễm mà có trụ trước có chướng ngại thì ở
nơi hiện chứng kiên cố tinh tiến có chướng ngại, vì tính
giác ngộ pháp được tuyên nói không có sở ngại vậy. Nếu
ở nơi các pháp chướng có trụ trước có chướng ngại thì
ở nơi pháp bảy giác chi có chướng ngại, vì trí giải thoát
vô chướng không có sở ngại vậy. Nên biết rằng tất cả
pháp tự tánh thanh tịnh, chỉ do nhơn duyên hòa hợp mà chuyển
khởi, các vị Bồ Tát phải khéo biết rõ trong tất cả pháp
hoặc là nhiễm nhơn hay tịnh nhơn, nhiễm cùng tịnh đều
thanh tịnh vô sở đắc thì tức là vô sở trụ. Ðây có nghĩa
là khởi lên ngă khởi lên kiến đều là nhiễm nhơn, nếu
chứng nhập vào trí nhẫn không có ngã không có pháp là tịnh
nhơn. Thấy có ngã cùng ngã sở là nhiễm nhơn, ở trong thì
tịch tĩnh ở ngoài thì không duyên lấy là tịnh nhơn. Tham
dục sân khuể thù hại là nhiễm nhơn, từ bi hỉ xả quán
sát pháp nhẫn là tịnh nhơn. Bốn điên đảo là nhiễm nhơn,
bốn niệm xứ là tịnh nhơn. Ngũ cái là nhiễm nhơn, ngũ căn
ngũ lực là tịnh nhơn. Lục xứ là nhiễm nhơn, lục niệm
là tịnh nhơn. Bảy pháp bát chánh là nhiễm nhơn, bảy giác
chi là tịnh nhơn. Tám pháp tà là nhiễm nhơn, tám pháp chánh
là tịnh nhơn. Chín não địa là nhiễm nhơn, chín thứ đệ
định là tịnh nhơn. Mười nghiệp đạo bất thiện là nhiễm
nhơn, mườI nghiệp đạo thiện là tịnh nhơn. Tóm lại, tất
cả tác ý bất thiện đều là nhiễm nhơn, tất cả tác ý
thiện đều là tịnh nhơn. Hoặc nhiễm nhơn hay tịnh nhơn,
tất cả pháp tự tánh vốn rỗng không, không có chúng sanh,
không có thọ mạng, không có dưỡng dục, không có bổ đặc
già la, không có chủ tể, không có nhiếp thọ, không có sở
tác, như ảo huyễn không có tướng dạng nội tâm tịch tĩnh.
Nếu nội tâm tịch tĩnh thì khắp tịch tĩnh. Nếu khắp tịch
tĩnh thì là tự tánh, nếu pháp tự tánh thì vô sở đắc,
nếu vô sở đắc thì không có y chỉ, nếu không có y chỉ
thì như hư không. Nên biết tất cả pháp nhiễm tịnh cùng
với hư không đồng không có sai khác, nhưng hư không ấy cũng
không hư hoại pháp tánh. Tại sao vậy? Nầy Diệu Cát Tường
! Trong đây không có được chút pháp nào hoặc là sanh hay
là diệt.”
Diệu
Cát Tường Bồ Tát bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn !
Nếu như vậy thì đức Như Lai chứng quả Bồ đề là nghĩa
thế nào?”.
Ðức
Phật phán dạy : “Nầy Diệu Cát Tường ! Do vì không có
gốc không có trụ mà đức Như Lai được Bồ đề.
- Bạch
đức Thế Tôn ! Gì gọi là gốc ? Gì gọi là trụ ?
- Nầy
Diệu Cát Tường ! Có thân là gốc, y nơi hư vọng phân biệt
mà trụ. Chư Phật Như Lai do Bồ đề bình đẳng nên là trí
tất cả pháp bình đẳng, thế nên gọi là không có gốc không
có trụ. Do đó nên đức Như Lai hiện thành bực Ðẳng Chánh
Giác.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Phải biết tất cả các pháp là tịch tĩnh
là cận tịch. Sao gọi là tịch tĩnh, sao gọi là cận tịch
?
Nội
tâm gọi là tịch tĩnh, ngoại cảnh gọi là cận tịch. Tại
sao ? Vi nhãn không nên ngã và ngã sở tự tánh cũng không,
đây gọi là tịch tĩnh. Biết nhãn không rồi thì sắc không
có sở thủ, đây gọi là cận tịch. Vì nhĩ không nên ngã
và ngã sở tự tánh cũng không, đây gọi là tịch tĩnh. Biết
nhĩ không rồi thì thanh không có sở thủ, đây gọi là cận
tịch. Vì tỷ không nên ngã và ngã sở tự tánh cũng không,
đây gọi là tịch tĩnh. Biết tỷ không rồi thì hương không
có sở thủ, đây gọi là cận tịch. Vì thiệt không nên ngã
và ngã sở tự tánh cũng không, đây gọi là tịch tĩnh. Biết
thiệt không rồi thì vị không có sở thủ, đây gọi là cận
tịch. Vì thân không nên ngã và ngã sở cũng không, đây gọi
là tịch tĩnh. Biết thân không rồi thì xúc không có sở thủ,
đây gọi là cận tịch. Vì ý không nên ngã và ngã sở cũng
không, đây gọi là tịch tĩnh. Biết ý không rồi thì pháp
không có sở thủ, đây gọi là cận tịch.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Bồ đề tự tánh sáng suốt, tâm tự tánh
sáng suốt. Do cớ gì gọi tự tánh sáng suốt ? Vì tự tánh
bổn lai không có nhiễm ô đồng với hư không, tự tánh hư
không đều cùng khắp, như hư không, tự tánh rốt ráo bổn
lai sáng suốt.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề không có xuất không
có nhập. Sao gọi là không có xuất nhập ? Vì không có nhiếp
thủ nên gọi là không có nhập, vì không có khí xả nên gọi
là không có xuất.
Chỗ
chứng ngộ của đức Như Lai không có xuất nhập, như chỗ
chứng ngộ ấy tức đồng chơn như không có đây không có
kia, vì tất cả các pháp rời lìa đây kia vậy, do đây mà
đức Như Lai hiện thành bực Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề không có tướng cũng
không có sở duyên. Thế nào gọi là không có tướng và không
có sở duyên ? Nghĩa là nhãn thức vô sở đắc, đây gọi
là không có tướng, sắc không có sở quán, đây gọi là không
sở duyên. Nhĩ thức không sở đắc, đây gọi là không có
tướng; thanh không sở văn, đây gọi là không sở duyên. Tỷ
thức không sở đắc, đây gọi là không có tướng ; hương
không sở khứu, đây gọi là không sở duyên. Thiệt thức
không sở đắc, đây gọi là không có tướng ; vị không sở
thường, đây gọi là không sở duyên.Thân thức không sở
đắc, đây gọi là không có tướng ; xúc không sở giác, đây
gọi là không sở duyên. Ý thức không sở đắc, đây gọi
là không có tướng ; pháp không sở phân biệt, đây gọi là
không sở duyên.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Không có tướng không có sở duyên đây
là cảnh giới của bực Thánh. Tất cả cái có trong tam giới
không phải là cảnh giới Thánh, do đây nên phải hiện hành
cảnh giới Thánh.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Bồ đề chẳng phải quá khứ chẳng phải
vị lai chẳng phải hiện tại, vì tam thế bình đẳng vậy.
Vì tam luân dứt diệt vậy. Tam luân dứt có nghĩa là tâm quá
khứ không hiện khởi, thức vị lai không duyên lấy, ý hiện
tại không động chuyển. Dầu cho tâm ý thức ấy mà có sở
trụ cũng vẫn là vô phân biệt chẳng rời phân biệt, không
có kế đạt chẳng rời kế đạt, không có quá khứ đã làm,
không có vị lai lãnh nạp, không có hiện tại hí luận.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề chẳng phải thân thể
được vì là không có làm ra vậy. Chẳng phải là thân
thể được đó có nghĩa là chính nhãn thức không chỗ tỏ
biết, nhĩ thức không chỗ tỏ biết, tỷ thức không chỗ
tỏ biết, thiệt thức không chỗ tỏ biết, thân thức không
chỗ tỏ biết, ý thức không chỗ tỏ biết , do vì chẳng
chỗ tỏ biết của tâm ý thức nên là vô vi vậy.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Ðây gọi là vô vi tức là vô sanh vô trụ
vô diệt tam luân thanh tịnh. Như vô vi đó, với các pháp hữu
vi phải biết như vậy. Tại sao, vì tất cả pháp đều không
có tự tánh. Vì pháp không có tự tánh nên tất cả không
hai không có sai khác.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề là câu vô sai biệt.
Sao gọi là vô sai biệt, còn sao gọi là câu ? không có suy
tưởng là vô sai biệt, còn chơn như là câu. Vô trụ là vô
sai biệt, còn pháp giới là câu. Không có các chủng tánh là
vô sai biệt, còn thiệt tế là câu. Không có sở duyên là
vô sai biệt, còn vô động chuyển là câu. Rỗng không là vô
sai biệt, còn vô tướng là câu. Không tầm từ giác quán là
vô sai biệt, còn vô tưởng là câu. Không cầu nguyện là vô
sai biệt, còn không chúng sanh là câu. Chúng sanh không có tự
tánh là vô sai biệt, còn hư không là câu. Vô sở đắc là
vô sai biệt, còn vô sanh là câu. Vô diệt là vô sai biệt,
còn vô vi là câu. Vô sở hành là vô sai biệt, còn Bồ đề
là câu. Tịch chỉ là vô sai biệt, còn Niết bàn là câu. Vô
sở thủ là vô sai biệt, còn vô sanh là câu.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề ấy chẳng phải thân
thể chứng được, sao vậy, vì thân thể dầu có sanh mà không
có suy tư không có chuyển động như cỏ cây như ngói sạn,
còn tâm ý thì như ảo huyễn, nó rỗng không hư giả không
có tạo tác.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Nếu ở nơi thân tâm mà giác ngộ đúng
thật thì tức là Bồ đề. Bao nhiêu sở lành của thế tục
đều chẳng phải là thắng nghĩa đế, tại sao, vì trong thắng
nghĩa đế không có thân không có tâm, không có pháp không
có phi pháp, không có thiệt không chẳng thiệt, không chơn
không vọng, không có ngữ ngôn không có chẳng ngữ ngôn, tất
cả pháp là Bồ đề vậy.Tại sao, vì Bồ đề không có nơi
không có chỗ, chẳng phải là chỗ tuyên bày biểu thị của
ngữ ngôn. Như hư không vì không có nơi chỗ nên cũng không
có tạo tác vô sanh vô diệt chẳng phải chỗ thuyên biểu
của ngữ ngôn.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Ðức Như Lai vì Bồ đề không có xứ sở
không có tạo tác vô sanh vô dìệt không có thuyên biểu nên
lúc đúng thiệt đúng lý quan sát kỹ, tất cả các pháp kia
đều không có ngôn thuyết, Bồ đề cũng không có ngôn thuyết
như vậy. Tại sao, vì ngữ ngôn không có thiệt , vi ngữ ngôn
không có sanh diệt vậy.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Bồ đề không sở thủ không có chứa cất.
Sao gọi là vô sở thủ và sao gọi là không có chứa
cất ? Vì tỏ biết nhãn nên gọi là vô sở thủ, vì sắc
vô sở đắc nên gọi là không có chứa cất.vì tỏ biết
nhĩ nên gọi là vô sở thủ, vì thanh vô sở đắc nên gọi
là không có chứa cất. Vì tỏ biết tỷ nên gọi là vô sở
thủ, vì hương vô sở đắc nên gọi là không có chứa cất.
Vì tỏ biết thiệt nên gọi là vô sở thủ, vì vị vô sở
đắc nên gọi là không có chứa cất. Vì tỏ biết thân nên
gọi là vô sở thủ, vì xúc vô sở đắc nên gọi là không
có chứa cất. Vì tỏ biết ý nên gọi là vô sở thủ, vì
pháp vô sở đắc nên gọi là không có chứa cất. Vì vô sở
thủ không có chứa cất mà đức Như Lai hiện chứng Bồ đề
rồi thì nhãn vô sở thủ sắc vô sở đắc nhãn thức vô
trụ ; nhĩ vô sở thủ, thanh vô sở đắc nhĩ thức vô
trụ ; tỷ vô sở thủ hương vô sở đắc tỷ thức vô trụ
; thiệt vô sở thủ vị vô sở đắc thiệt thức vô trụ
; thân vô sở thủ xúc vô sở đắc thân thức vô trụ ; ý
vô sở thủ pháp vô sở đắc ý thức vô trụ.Vì thức vô
trụ nên mới gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Phải biết rằng chúng sanh có
bốn thứ pháp mà trụ nơi tâm. Những gì là bốn thứ ? Ðó
là sắc uẩn thọ uẩn tưởng uẩn và hành uẩn, là bốn thứ
pháp mà chúng sanh trụ tâm nó ở đó. Do vì chúng sanh ở trong
bốn pháp ấy tâm chúng nó có an trụ nên đức Như Lai mới
phán nói bất sanh bất diệt không có chỗ để tỏ biết kiến
lập Bồ đề gọi đó là rỗng không. Vì Bồ đề rỗng không
nên tất cả pháp rỗng không đức Như Lai cũng rỗng không.
Do vì rỗng không mà hiện thành Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Chẳng phải vì rỗng không mà chứng nhập
Bồ đề cũng rỗng không, phải biết rằng trong pháp có một
lý trí, đó là tánh không, vì Bồ đề chẳng không nên Bồ
đề không có hai, thế nên Bồ đề và rỗng không đều không
có chủng loại sai khác, vì tất cả pháp kia vốn là
không có hai vậy, nó không có trạng mạo, không có chủng
loại, không có danh hiệu, không có tướng dạng rời lìa tâm
ý thức, không có sanh không có diệt, không có hiện hành không
có chẳng hiện hành, cũng không có tích tập không có văn
tự, không có quên mất. Do vì những cớ ấy mà nói các pháp
rỗng không vô sở thủ. Những lời được nói trong đây chẳng
phải là thắng nghĩa đế. Nghĩa là trong thắng nghĩa đế
không có pháp gì có được nên gọi là không.
Nầy
Diệu Cát Tường ! ví như hư không, đây nói hư không là vì
không có ngôn thuyết nên gọi là hư không.
Nầy
Diệu Cát Tường ! không đây cũng vậy, nói không là vì không
có ngôn thuyết nên gọi là không. Nếu ngộ nhập như vậy
thì tất cả pháp không có danh hiệu, vì không có danh hiệu
nên tất cả pháp kia đều là giả danh thi thiết cả.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Danh hiệu ấy chẳng tại phương sở chẳng
rời phương sở. Vì danh hiệu chẳng tại phương sở chẳng
rời phương sở nên nơi pháp danh tự mới có chỗ diễn nói.
Pháp được nói đó cũng chẳng tại phương chẳng rời phương,
tất cả pháp kia cũng đều chẳng tại phương chẳng rời
phương như vậy.
Ðức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác tỏ biết tất cả
pháp bổn lai như vậy, là bất sanh bất diệt không có khởi
không có tướng rời tâm ý thức không có văn tự không có
âm thanh, như chỗ tỏ ngộ rõ biết cũng không có giải thoát.
Nầy Diệu Cát Tường ! Phải biết tất cả pháp bổn lai không
có hệ phược không có giải thoát
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề đồng như hư không.
Nghĩa là hư không không có cao không có thấp do vì bình đẳng
không cao hạ mà đức Như Lai thành Ðẳng Chánh Giác, dầu
là thành Ðẳng Chánh Giác nhưng cũng không có một chút pháp
hoặc cao hoặc thấp có sự thi vi tạo tác. Các pháp như vậy,
bình đẳng không sai biệt, nếu biết đúng như vậy đó là
thiệt trí.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Do nghĩa gì mà gọi là thiệt trí ? Ðó
là tất cả pháp rõ ràng không căn bổn không có sanh không
có diệt, nó không có thiệt tánh thể cũng là vô sở đắc.
Nếu là có thiệt tánh thể thì là pháp đoạn diệt. Các pháp
dầu có sanh khởi mà vẫn là không có chủ tế lại không
có nhiếp thọ.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Nếu là không có chủ tế không có nhiếp
thọ thì là pháp đoạn diệt. Các pháp ấy, hoặc là sanh hoặc
là diệt phải biết đó chỉ là nhơn duyên hòa hiệp hay ly
tán mà chuyển khởi thôi, cũng vẫn ở trong đây không có
chút pháp thiệt chuyển khởi, dầu vậy, như đức Phật Như
Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác chẳng ở nơi các pháp mà nói
tướng đoạn diệt.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề ấy là câu nói đúng
thật. Do nghĩa gì mà gọi là câu nói đúng thật ? Câu nói
đúng thật là Bồ đề. Như Bồ đề ấy, sắc uẩn thọ uẩn
tưởng uẩn hành uẩn và thức uẩn cũng như vậy, mà vẫn
chẳng rời chơn như. Như Bồ đề ấy, sáu căn nhãn nhĩ tỷ
thiệt thân và ý, sáu trần sắc thanh hương vị xúc và pháp,
sáu thức nhãn nhĩ tỳ thiệt thân và ý thức cũng đều như
vậy, mà cũng vẫn chẳng rời chơn như. Như Bồ đề ấy,
bốn đại chủng địa thủy hỏa và phong cũng như vậy, mà
chẳng rời chơn như. Các pháp ấy thi thiết như vậy, chúng
nó thi thiết như thế ấy gọi là uẩn xứ và giới. Do đây
mà đức Như Lai thành Chánh Ðẳng Chánh Giác. Chánh Ðẳng
Chánh Giác được thành rời lìa các pháp điên đảo. Pháp
trước như vậy pháp sau như vậy pháp giữa cũng như vậy,
tiền tế chẳng sanh hậu tế chẳng diệt trung tế tánh ly.
Các pháp như vậy thì gọi đó là câu nói đúng thiệt. Như
một pháp ấy nhiều pháp cũng vậy, như nhiều pháp một pháp
cũng vậy.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Các pháp hoặc một tánh hoặc nhiều tánh
đều vô sở đắc, hoặc có tướng hoặc không có tướng
đều vô nhập vô trụ.
Sao
gọi là tưóng, sao gọi là không tướng ? Nói là tướng đó
là sanh khởi tất cả pháp lành, còn nói không có tướng là
vì tất cả pháp đều vô sở đắc. Lại nói tướng là phần
vị vô sở trụ của tâm, còn nói không có tướng đó là
vô tướng tam muội giải thoát pháp môn. Lại nói tướng đó
chính là tất cả pháp tư duy cân lường toán số thẩm sát,
còn không có tướng là vì quá ngoài cân lường. Sao gọi là
quá ngoài cân lường ? Là vì vô phân biệt vậy. Lại nói
tướng đó là có thi vi tạo tác có thẩm sát, còn không có
tướng là vô vi vô thẩm sát.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề là vô lậu là vô thủ.
Sao gọi là vô lậu, sao gọi là vô thủ ? Vô lậu là rời
lìa bốn pháp hữu lậu, đó là dục lậu, là hữu lậu, là
vô minh lậu và kiến lậu. Còn vô thủ là rời lìa bốn pháp
thủ trước, đó là dục thủ, là kiến thủ, là giới cấm
thủ và ngã ngữ thủ. Bốn thứ thủ nầy đều do vô minh
tối che yêu thích tư nhuận mà dính lấy lẫn nhau.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Hoặc nếu có người sơ khởi ở nơi căn
bổn của ngã ngữ thủ mà tỏ biết thì là không còn thấy
có ngã là thanh tịnh. Ngã đã thanh tịnh rồi thì theo đó
mà biếr rõ chúng sanh thanh tịnh, nghĩa là không thấy có chúng
sanh. Do vì ngã đã thanh tịnh nên tất cả chúng sanh kia thanh
tịnh. Nếu tất cả chúng sanh thanh tịnh thì pháp không có
hai, không có hai chủng loại. Nghĩa không có hai đó chính là
vô sanh vô diệt.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Nếu vô sanh vô diệt thì không có tâm ý
thức chuyển khởi. Nếu không có tâm ý thức chuyển khởi
thì là vô phân biệt. Nếu vô phân biệt thì tương ưng kiên
cố tác ý mà vô minh không thể phát khởi. Nếu vô minh ấy
không có thể phát khởi thì cả mười hai chi nhơn duyên cũng
chẳng sanh trưởng.
Nếu
mười hai chi nầy không sanh trưởng thì tức là vô sanh. Nếu
pháp vô sanh tức là pháp quyết định. Nếu pháp đã quyết
định thì tức là nghĩa điều phục. Nếu là nghĩa điều
phục thì là thắng nghĩa. Nếu là thắng nghĩa thì là nghĩa
rời lìa bổ đặc già la. Nếu là nghĩa rời lìa bổ đặc
già la thì là nghĩa bất khả thuyết. Nếu là nghĩa bất khả
thuyết thì là nghĩa duyên sanh. Nếu là nghĩa duyên sanh thì
tức là nghĩa pháp. Nếu là nghĩa pháp tức là nghĩa Như Lai.
Như Lời đã nói, nếu thấy duyên sanh thì có thể thấy pháp.
Nếu thấy được pháp thì thấy Như Lai. Bao nhiêu chỗ được
thấy như trên nếu lúc thẩm sát đúng lý thì trong ấy cũng
không có chút pháp gì có thể thấy được.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Gì gọi là chút pháp ? Ðó là chỗ duyên
lấy của tâm. Nếu không có tâm sở duyên thì không có sở
kiến. Do pháp như vậy mà thành Như Lai Chánh Ðẳng Chánh Giác,
vì bình đẳng nên bình đẳng.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Bồ đề ấy là nghĩa thanh tịnh là
nghĩa vô cấu là nghĩa vô trước.
Sao
gọi là thanh tịnh ? Vì không giải thoát môn vậy. Sao gọi
là vô cấu ? Vì vô tướng giải thoát môn vậy. Sao gọi là
vô trước ? Vì vô nguyện giải thoát môn vậy. Lại còn có
những nghĩa, vô sanh là thanh tịnh, vô tác là vô cấu, vô
khởi là vô trước, tự tánh là thanh tịnh, viên tịch là
vô cấu, minh lượng là vô trước, vô hí luận là thanh tịnh,
ly hí luận là vô cấu, hí luận là tịch chỉ là vô trước,
chơn như là thanh tịnh, pháp giới là vô cấu, thiệt tế là
vô trước, hư không là thanh tịnh, liêu quách là vô cấu,
quảng đại là vô trước, biết rõ nội pháp là thanh tịnh,
không duyên theo ngoài là vô cấu, trong ngoài đều vô sở đắc
là vô trước, biết rõ pháp ngũ uẩn là thanh tịnh, tự tánh
thập bát giới là vô cấu, rời lìa thập nhị xứ là vô
trước, trí biết quá khứ hết là thanh tịnh, trí biết vị
lai vô sanh là vô cấu, trí biết pháp giới hiện tại vô trụ
là vô trước.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Bao nhiêu nghĩa thanh tịnh vô cấu và vô
trước như vậy ở trong một câu đều khắp có thể nhiếp
vào cả, đó là câu tịch tĩnh. Nếu là tịch tĩnh thì là
khắp tịch tĩnh, nếu là khắp tịch thì là cận tịch, nếu
cận tịch thì là tịch chỉ, nếu là tịch chỉ thì đây gọi
là pháp Ðại Mâu Ni vậy.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Như hư không kia, Bồ đề cũng vậy,
như Bồ đề kia các pháp cũng như vậy, như các pháp kia chúng
sanh cũng vậy, như chúng sanh kia quốc độ cũng vậy,
như quốc độ kia Niết bàn cũng vậy.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Lời được nói đây là Niết bàn bình
đẳng, vì tất cả pháp biên tế rốt ráo vẫn là thanh tịnh,
là nhơn thanh tịnh, không có đối trị, rời lìa nhơn đối
trị, bổn lai thanh tịnh, bổn lai vô cấu, bổn lai vô trước.
Ðức Như Lai biết rõ các pháp ấy tánh tướng như vậy nên
hiện thành bực Chánh Ðẳng Chánh Giác, sau đó Như Lai mới
quan sát các chúng sanh giới mà kiến lập pháp môn du hí thanh
tịnh vô cấu vô trước, rồi dùng tâm đại từ bi đem danh
tự ấy chuyển dạy cho các chúng sanh.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Thế nào là Bồ Tát thực hành công
hạnh thù thắng của Bồ Tát, đó là Bồ Tát vô tận vô bất
tận vô sanh vô bất sanh, nơi tướng rốt ráo tận không lãnh
thọ, như cũng chẳng hư hoại rốt ráo vô sanh. Nầy Diệu
Cát Tường ! Bồ Tát thật hành như vậy là thật hành công
hạnh thù thắng của Bồ Tát vậy.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ Tát với quá khứ tâm không
hiện hành vì quá khứ đã hết, với vị lai tâm không hiện
hành vì vị lai chưa đến, với hiện tại tâm không hiện
hành vì hiện tại không dừng. Với quá khứ vị lai và hiện
tại tâm Bồ Tát đều không có trụ trước. Thật hành như
đây là công hạnh thù thắng của Bồ Tát vậy.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Về pháp bố thí, chư Phật và
chư Bồ Tát không khác không có hai thứ. Nếu thật hành như
đây là công hạnh thù thắng của Bồ Tát vậy.
Với
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ
cũng vậy, chư Phật cùng chư Bồ Tát không khác không có hai
thứ. Nếu thật hành như đây là công hạnh thù thắng của
Bồ Tát vậy.
Lại
nữa, nầy Diệu Cát Tường ! Bồ Tát chẳng duyên sắc không
chẳng duyên sắc bất không, đây là công hạnh thù thắng
của Bồ Tát vậy. Tại sao, vì sắc tức là không sắc tự
tánh vốn không. Như sắc thọ tưởng hành và thức cũng vậy,
Bồ Tát chẳng duyên thức không chẳng duyên thức bất không,
đây là công hạnh thù thắng của Bồ Tát vậy.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Trong đây không có chút pháp gì là có thể
biết được, có thể dứt được, có thể tu được, có thể
chứng được, tất cả đều là vô sở hữu. Vì như vậy
nên nói là diệt tận, đây mới là tướng rốt ráo tận diệt,
nếu là rốt ráo tận diệt thì là không có tận diệt. Không
có tận cũng không có diệt. Tại sao, vì như đã nói tận
diệt nên không có pháp gì là có thể tận diệt cả. Nếu
không có pháp có thể tận thì tức là vô vi, nếu là vô vi
thì là vô sanh cũng là vô diệt. Hoặc có Phật xuất
thế hay không có Phật xuất thế , pháp tánh vẫn là thường
trụ. Vì pháp thường trụ nên là pháp giới. Vì pháp giới
thường trụ nên trí không chuyển khởi chẳng phải không
chuyển khởi. Vì trí không chuyển khởi chẳng phải không
chuyển khởi nên người ngộ nhập pháp lý như vậy thì được
vô lậu vô sanh vô diệt, đây gọi là bực lậu tận.
Nầy
Diệu Cát Tường ! Vì thế nên biết rằng dầu âm thanh văn
tự trong đời họp nhóm đặt để ra, nhưng trong ấy vẫn
không có chút pháp gì là sanh là diệt cả ».
Bấy
giờ Diệu Cát Tường đại Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng
dậy quỳ gối chắp tay hướng lên đức Phật nói kệ ca ngợi
rằng :
Không
hình sắc cũng không trạng mạo
Trong
đây không diệt cũng không sanh
Không
trụ cũng không có căn bổn
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Do
vô trụ nên không xuất nhập
Cũng
lại không có những phần vị
Ðã
có thể giải thoát sáu trần
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Trong
tất cả pháp không sở trụ
Có
tánh không tánh đều xa rời
Các
hành bình đẳng được viên thành
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðã
hay ra khỏi tam giới khổ
An
trụ hư không tánh bình đẳng
Dục
lạc thế gian chẳng nhiễm tâm
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Thường
an trụ trong đại chánh định
Ði
đứng ngồi nằm đều như vậy
Những
sự oai nghi đều nghiêm túc
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðến
bình đẳng đi cũng bình đẳng
Khéo
an trụ trong tánh bình đẳng
Chẳng
hư pháp môn tánh bình đẳng
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh khéo nhập tánh bình đẳng
Các
pháp an trụ tâm đẳng dẫn
Khéo
nhập pháp môn vô tướng diệu
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh vô trụ vô sở duyên
Trong
đại định chứa cao trí huệ
Khắp
hết các pháp được viên thành
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Oai
nghi các tướng của chúng sanh
Ngôn
ngữ âm thanh cũng như vậy
Khoảng
sát na khắp đều thị hiện
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh đã rời các danh sắc
Uẩn
xứ giới pháp cũng đều dứt
Lại
còn khéo nhập môn vô tướng
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh khéo rời các chấp tướng
Cảnh
giới các tướng cũng xa rời
Ðã
khéo chứng nhập vô tướng môn
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Không
có tư duy không phân biệt
Tịnh
ý cũng lại vô sở trụ
Không
có tác ý không niệm sanh
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Như
hư không kia không chứa cất
Ðã
lìa hí luận không trụ trước
Tâm
Phật bình đẳng như hư không
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Như
hư không không bên không giữa
Chư
Phật pháp tánh cũng như vậy
Ðã
hay siêu việt môn tam thế
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Chư
Phật vô tướng như hư không
Không
tướng đây cũng không có tướng
Ðã
hay giải thoát quả và nhơn
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Trong
tất cả pháp không y chỉ
Như
trăng trong nước không thể lấy
Không
tướng ngã cũng không âm thanh
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh không y chỉ ngũ uẩn
Cũng
không y chỉ xứ và giới
Ðã
hay giải thoát tâm điên đảo
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh đã lìa cả hai bên
Cũng
đã dứt trừ hết ngã kiến
Pháp
giới bình đẳng được viên thành
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Sắc
tướng danh số đã giải thoát
Pháp
bất chánh cũng đã xa lìa
Vô
thủ vô xả tâm bình đẳng
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðã
hay siêu việt các pháp ma
Trong
tất cả pháp đều thông đạt
Pháp
môn vô ngại đã chứng nhập
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Chánh
trí chẳng nói có các pháp
Cũng
lại chẳng nói không các pháp
Không
đường ngữ ngôn không phát khởi
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Phật
chẳng y chỉ nơi hai pháp
Ðã
xô dẹp hết tràng ngã mạn
Pháp
môn vô nhị cũng giải thoát
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Bao
nhiêu lỗi lầm thân ngữ ý
Từ
lâu Ðại Thánh đã dứt trừ
Không
thí dụ được không suy được
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh không chuyển không phát ngộ
Tất
cả lỗi lầm đều xa lìa
Chỗ
làm khắp nơi trí dẫn trước
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Tịnh
niệm vô lậu rất vi diệu
Pháp
thiệt chẳng thiệt đều biết rõ
Cũng
không trụ trước không tư duy
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh nơi tâm vô sở duyên
Mà
hay biết rõ tất cả tâm
Cũng
không sanh tưởng niệm tự tha
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Trong
vô sở duyên có sở duyên
Nơi
tất cả tâm không mê chấp
Pháp
không chướng ngại đã viên minh
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh nơi tâm vô sở duyên
Tự
tánh cũng tại vô sở hữu
Vô
tâm bình đẳng được viên thành
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
thánh chẳng y nơi trí pháp
Mà
hay xem các quốc độ
Xem
khắp việc làm của chúng sanh
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh nơi tâm vô sở đắc
Trong
đây rốt ráo cũng đều không
Là
Chánh Biến Tri tất cả pháp
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Biết
tất cả pháp đều như huyễn
Huyễn
ảo nầy cũng vô sở hữu
Ðã
hay giải thoát huyễn pháp môn
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh xuất hiện tại thế gian
Mà
vẫn không dựa nơi thế pháp
Cũng
không phân biệt pháp thế gian
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh thường đi trong pháp không
Do
pháp không thành cảnh giới không
Không
cùng phi không Phật thường tuyên
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Hiện
tại thần thông biến hóa sự
Ðều
do như huyễn tam ma địa
Khắp
vào pháp môn lìa chủng tánh
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Biết
rõ chẳng một chẳng nhiều tánh
Hoặc
gần hoặc xa đều chẳng chuyển
Tâm
bình đẳng không thấp không cao
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Kim
cương đại định đã hiện ra
Trong
khoảng sát na thành Chánh Giác
Khắp
nhập pháp môn vô đối ngại
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Dầu
rõ Niết bàn không động lay
Cũng
khéo điều phục cả tam thế
Ðầy
đủ tất cả môn phương tiện
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Nơi
tất cả loài chúng sanh kia
Khéo
hiểu trí huệ và phương tiện
Nhưng
vẫn chẳng động môn Niết bàn
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðại
Thánh không tướng không phát ngộ
Ðã
rời hí luận không đối ngại
Vì
vô ngã nên không ngại đối
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Ðã
rời nghi lầm không còn lỗi
Không
ngã cũng lại không ngã sở
Là
Chánh Biến Tri tất cả chỗ
Nay
kính lạy đấng vô sở duyên
Cúi
lạy Thập Lực dứt phiền não
Cúi
lạy quảng đại ban vô úy
Khéo
trụ trong pháp bất cộng
Cúi
đấng tôn thắng thế gian
Cúi
lạy đấng dứt các kiết phược
Cúi
lạy đấng đã ở bờ kia
Cúi
lạy đấng cứu khổ thế gian
Cúi
lạy đấng chẳng còn sanh tử
Thông
đạt tất cả chuyện chúng sanh
Tất
cả mọi nơi lìa ý niệm
Như
sen chẳng dính chẳng thấm nước
Trong
sạch vắng bặt thường gần gũi
Phật
tuyên những câu tối vô thượng
Cúi
lạy đấng qua khỏi biển mê
Khéo
xem khắp thấy môn vô tướng
Nơi
các nguyện cầu vô sở hữu
Phật
đại oai lực bất tư nghị
Dường
hư không kia không dính mắc
Cúi
lạy đấng rộng gìn thắng đức
Cúi
lạy đấng cao như Tu Di.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn khen Diệu Cát Tường đại Bồ Tát
rằng : “ Lành thay, lành thay ! Nầy Diệu Cát Tường ! Ðúng
như vậy dúng như vậy, chớ có đối với chư Phật, mà
khởi kiến chấp sắc tướng, cũng chớ có đối với chư
Phật mà cho là không có tướng, chớ có cho rằng chư Phật
riêng mình ở pháp giới, cũng chớ có cho rằng Phật ở trong
đại chúng, phải biết chư Phật không có thấy không có nghe,
không có được cúng dường cũng không có người cúng dường,
chư Phật Như Lai không có chút pháp gì là một tánh hoặc
là nhiều tánh mà có thể thi vi tạo tác được, cũng chớ
có cho rằng Phật được quả Bồ đề, cũng chớ cho rằng
Phật có pháp hay thị hiện, phải biết chư Phật không thấy
không nghe , không nhớ không biết, Phật cũng không có lời
đã nói pháp sẽ nói pháp đang nói pháp, cũng chẳng phải
chư Phật hiện thành Chánh Ðẳng Chánh Giác, cũng không có
pháp gì là có thể thành Chánh Giác được, cũng chẳng phải
chư Phật, dứt nhiễm chứng tịnh, giả sử Phật có làm cũng
vẫn là rời lìa thấy nghe hay biết, tại sao, nầy Diệu Cát
Tường ! Phải biết rằng vì tất cả bổn lai thanh tịnh vậy.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Các ông phải biết rằng kinh nầy
công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có Bồ Tát làm cho tất
cả chúng sanh bằng số vi trần trong Ðại Thiên thế giới
đều chứng được quả Duyên Giác nhưng đối với chánh pháp
nầy chẳng có lòng tin hiểu, nếu lại có Bồ Tát tin hiểu
chánh pháp nầy thì phước đức rộng nhiều hơn Bồ Tát kia
vô lượng, huống là tự mình chép biên hoặc bảo người
chép biên thì được phước đức càng hơn gấp bội.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Nếu có Bồ Tát làm cho tất cả chúng
sanh trong Ðại Thiên thế giới, những loài noãn sanh, loài
thai sanh, loài thấp sanh, loài hóa sanh, hoặc loài có sắc thân,
loài không có sắc thân, hoặc loài có tưởng, loài không có
tưởng, loài phi tưởng phi phi tưởng, loài hai chưn bốn chưn
không chưn nhiều chưn, tất cả loài chúng ấy đều làm cho
họ đều được thân người toàn vẹn, rồi làm cho tất cả
đều phát tâm đại Bồ đề, họ phát tâm đại Bồ đề
rồi mỗi mỗi vị tân phát Bồ Tát nầy đem món ăn uống
y phục giường mền ghế nệm thuốc men đồ dùng thượng
diệu cúng dường cung cấp cho chư Phật Bồ Tát cùng chúng
Thanh Văn trong bất khả tư nghị hằng hà sa số quốc độ
trải qua hằng hà sa số kiếp, sau khi chư Phật ấy nhập Niết
bàn lại xây dựng tháp bảy báu rộng một do tuần cao trăm
do tuần, giăng treo phan lọng châu báu anh lạc lưới báu chơn
châu na ni mọi thứ trang nghiêm, nếu lại có người thâm tâm
thanh tịnh đối với chánh pháp nhập Phật cảnh giới trí
quang minh trang nghiêm nầy nghe rồi tin hiểu hoặc được ngộ
nhập dùng tâm thanh tịnh vì người diễn nói một ít hoặc
chỉ một kệ bốn câu, người nầy được phước vô lượng
vô biên chẳng thể nghĩ bàn sánh với phước bố thí cúng
dường của Bồ Tát kia thì hơn cả trăm lần ngàn lần trăm
ngàn lần ngàn câu chi lần trăm ngàn câu chi lần, cho đến
toán số thí dụ ưu ba ni sa đà lần cũng chẳng thể sánh
được.
Lại
nầy Diệu Cát Tường ! Nếu có Bồ Tát khắp làm cho tất
cả chúng sanh đều trụ bực bất thối chuyển, lại có Bồ
Tát phát tâm thanh tịnh ở nơi chánh pháp nầy tin hiểu rồi
tự mình biên chép hoặc bảo người biên chép, hoặc vì người
mà tuyên nói rộng rãi hay lược ít, cho đến làm cho một
chúng sanh được nghe tin hiểu ngộ nhập chánh pháp tối thượng
thậm thâm nầy thì được phước đức vô lượng vô số
chẳng thể xưng kể nghĩ bàn được”.
Bấy
giờ đức Thế Tôn khắp vì đại chúng mà nói kệ rằng :
Nếu
có chư Bồ Tát
Cùng
mươi câu chi Phật
Thọ
trì chánh pháp môn
Tội
hết thời gían tế
Còn
với kinh thậm thâm
Yêu
thích mà nghe nhận
Phước
nầy rộng vô biên
Ðược
quả báo tối thắng
Nếu
có chư Bồ Tát
Thần
lực qua mười phưong
Mười
câu chi Phật độ
Thân
cận để cúng dường
Lạy
khắp đấng Thế Tôn
Các
bực Vô Thượng Sĩ
Thương
xót các chúng sanh
Cung
cấp nhiều lợi lạc
Nay
kinh thậm thâm nầy
Chư
Phật đồng tuyên thuyết
Nếu
hay vì người khác
Giây
lát giảng giải cho
Liền
ở trong Phật giáo
Phát
lòng tin thanh tịnh
Người
nầy được quả phước
Rộng
lớn còn hơn kia
Chư
Phật lòng đại bi
Tuyên
dạy chánh pháp nầy
Như
vừng sáng lớn rộng
Soi
khắp cõi Nhơn Thiên
Người
có huệ mãnh lợi
Và
đủ nguyện lực lớn
Hay
phát lòng tin hiểu
Mau
được thành quả Phật
Lời
Phật dạy như đây
Nếu
có người được nghe
Nghe
rồi truyền dạy người
Xoay
vần dạy bảo nhau
Như
vi mười phương Phật
Các
đấng Thiên Nhơn Sư
Nhập
đại Vô dư y
Niết
bàn thanh tịnh rồi
Xây
dựng tháp bảy báu
Rộng
cao và đẹp lạ
Trang
nghiêm nhiều châu ngọc
Cao
khỏi Trời Hữu Ðảnh
Dựng
phan lọng thù thắng
Linh
báu vang tiếng hay
Suốt
đến trời cứu cánh
Nghiêm
tốt lại lớn rộng
Nếu
lại có Bồ Tát
Yêu
thích kinh điển nầy
Ðúng
như trong chánh pháp
Nghe
rồi phát lòng tin
Ở
chỗ thanh tịnh kia
Bố
trí chánh pháp nầy
Ðược
phước đức rộng lớn
Hơn
phước cúng dường trên
Nếu
có chư Bồ Tát
Thọ
trì chánh pháp nầy
Rộng
lưu thông cho người
Trừ
sạch lòng tiếc pháp
Người
nầy được công đức
Vô
lượng và thù thắng
Phát
tâm cầu Bồ đề
Tùy
nguyện thanh tịnh được
Kinh
điển thậm thâm nầy
Là
pháp của Phật dạy
Các
chúng đại Bồ Tát
Nhiều
thọ trì tuyên nói
Mười
phương tất cả Phật
Khắp
cả cõi hư không
Hiện
khắp thân Như Lai
Khiến
tất cả chiêm ngưỡng
Ðức
Phật nói kinh nầy rồi, Diệu Cát Tường đại Bồ Tát và
vô số bất tư nghị bất khả thuyết chúng Bồ Tát cùng chư
đại Thanh Văn, tất cả thế gian, Trời, Người, A Tu La, Càn
Thát Bà v.v…nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ
phụng hành.
PHÁP
HỘI NHẬP PHẬT CẢNH GIỚI
TRÍ
QUANG MINH TRANG NGHIÊM
THỨ
NĂM MƯƠI
HẾT