Lại
nầy thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát có tám ánh sáng lớn, do
ánh sáng nầy mà hay phá được các sự tối tăm làm cho công
hạnh của Bồ Tát thanh tịnh.
Những
gì là tám ? Ðó là niệm quang, ý quang, hành quang, pháp quang,
trí quang, thiệt quang, thần thông quang và vô ngại trí quang
vậy.
Niệm
quang có tám : một là chẳng mất pháp lành quá khứ, hai là
làm pháp lành vị lai, ba là nghe pháp chẳng quên, bốn là tư
duy thiệt nghĩa, năm là chẳng bị sáu trần nhiễm hư, sáu
là nhớ giữ chánh pháp như người giữ của, ngăn pháp ác
và vì pháp lành mà giữ cửa thành thiện pháp, bảy là chẳng
bị tà pháp gạt lầm và tám là có thể làm thêm lớn những
pháp thuần thiện vậy.
Ý
quang cũng có tám : một là nghĩa ý chẳng phải ý chữ, hai
là trí huệ ý chẳng hình thức ý , ba là chánh pháp ý chẳng
phải ý người, bốn là thiệt ý chẳng phải hư ý, năm là
Bồ Tát ý chẳng phải Thanh Văn ý, chẳng phải Duyên Giác
ý, sáu là thượng ý chẳng phải hạ ý, bảy là Phật ý chẳng
phải thối thất ý và tám là lân mẫn ý chẳng phải hại
ý vậy.
Hành
quang cũng có tám : một là pháp hành, hai là nhứt thiết hành,
ba là chúng sanh hành, bốn là chúng sanh tâm hành, năm là thập
nhị nhơn duyên hành , sáu là quảng thuyết hành, bảy là công
hạnh hành và tám là nhứt thiết Phật pháp hành vậy.
Pháp
quang cũng có tám : một là thế pháp quang, hai là xuất thế
pháp quang, ba là vô lậu pháp quang, bốn là vô vi pháp quang,
năm là giải thoát pháp quang, sáu là tâm giải thoát pháp quang,
bảy là tất cánh giải thoát pháp quang và tám là huệ phá
vô minh pháp quang vậy.
Trí
quang cũng có tám : một là nhập chánh trí quang, hai là Tu Ðà
Hoàn trí quang, ba là Tu Ðà Hàm trí quang, bốn là A Na Hàm trí
quang, năm là A La Hán trí quang, sáu là Bích Chi Phật trí quang,
bảy là Bồ Tát trí quang và tám là Chánh Giác trí quang vậy.
Thiệt
quang cũng có tám : một là chánh định hạnh, hai là được
quả Tu Ðà Hoàn, ba là quả Tư Ðà Hàm, bốn là quả A Na Hàm,
năm là quả A La Hán, sáu là quả Bích Chi Phật, bảy là Bồ
Tát và tám là Phật Bồ đề vậy.
Thần
thông quang cũng có tám : một là nhãn quang hay thấy chánh sắc,
hai là nhĩ quang hay nghe chánh thanh, ba là niệm quang hay nhớ
quá khứ vô số kiếp chúng sanh, bốn là tánh quang hay quan
sát tâm tánh thanh tịnh của chúng sanh, năm là hư không quang
dùng đại thần thông có thể đến vô lượng thế giới mười
phương, sáu là phương tiện quang vì đủ có trí vô lậu,
bảy là công đức trang nghiêm quang vì lợi ích tất cả chúng
sanh và tám là trí huệ trang nghiêm quang vì phá lòng nghi lầm
của tất cả chúng sanh vậy.
Vô
ngại trí quang cũng có tám : một là trí quang, hai là ý quang,
ba là huệ quang, bốn là Phật quang, năm là chánh kiến quang,
sáu là làm thanh tịnh tâm chúng sanh quang, bảy là giải thoát
quang và tám là tất cánh quang vậy.
Ðức
Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy nên nói kệ rằng :
Tu
tập sáng niệm tâm
Chẳng
quên nghiệp thiện ác
Thích
nghe tán tụng kinh
Tu
tập chẳng phóng dật
Hay
điều phục các căn
An
trụ trong tịch tĩnh
Thêm
lớn các pháp lành
Tu
tập niệm quang minh
Hay
ngăn dừng pháp ác
Như
người giữ thành giỏi
Hay
thủ hộ pháp thành
Chẳng
cho bốn ma vào
Chẳng
chạy theo âm thanh
Thường
tư duy chơn nghĩa
Gần
kề thiện tri thức
Hỉ
lạc trụ đúng pháp
Trí
huệ vô biên thượng
Dứt
hẳn các phiền não
Tà
pháp chẳng động đươc
Ðời
ác chẳng sanh chê
Thành
tâm niệm Bồ đề
Chẳng
nói tâm Tiểu thừa
Thường
thích nhớ thượng ý
Vì
người phá hạ ý
Chẳng
sợ ma phiền não
Tu
tập tâm từ bi
Chẳng
nghĩ hại chúng sanh
Ðược
đủ trí quang lớn
Hay
phá các lòng nghi
Hiểu
rõ nghĩa thậm thâm
Biết
phương tiện chơn thiệt
Tu
bốn trí vô ngại
Thích
quán mười hai duyên
Là
nhơn của chúng sanh
Biết
vô tác vô thọ
Hay
tu pháp quang lớn
Hay
biết các Phật pháp
Tu
hạnh thế xuất thế
Hay
đến mười phương cõi
Biết
rõ nghiệp Nhơn Thiên
Tu
tập trí vô thượng
Ba
thừa về nhứt thừa
Tu
tập bát chánh đạo
Vì
phá pháp ba đời
Như
thiệt biết rõ rành
Pháp
hữu lậu vô lậu
Lợi
ích hàng Nhơn Thiên
Dạy
họ dứt hữu lậu
Biết
rõ đúng chơn thiệt
Pháp
hữu vi vô vi
Tịch
tĩnh quang vô ngại
Chẳng
dính tướng hữu vi
Biết
kiết nhập xuất duyên
Biết
chúng tâm tánh tịnh
Nếu
có Ðại thừa định
Liền
biết pháp như vậy
Thích
trụ tánh vô lậu
Xong
bốn quả Sa Môn
Biết
Bồ Tát đạo hạnh
Nên
tu vô ngại trí
Phá
tà tu thiệt quang
Vào
chứng vô sở úy
Thích
nói nghĩa chơn thiệt
Vì
phá pháp sanh tử
Nhãn
nhĩ tịnh không chướng
Thấy
nghe sắc thanh chánh
Quá
khứ nhớ chẳng lầm
Cũng
biết rõ tha tâm
Ðến
mười phương vô ngại
Biết
pháp như hư không
Ðược
vô lậu trí huệ
Vì
điều phục chúng sanh
Ðủ
công đức trí huệ
Vì
lợi ích chúng sanh
Ở
trong vô lượng đời
Cầu
hai trang nghiêm nầy
Thích
thọ trì tịnh giới
Thích
thủ hộ Phật pháp
Tu
tập chơn thiệt quang
Vì
trụ đúng chánh pháp
Phật
nói vô lượng quang
Ðể
cho chúng sanh được
Có
ai tin kinh nầy
Liền
được quang như vậy.
Lại
nầy thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát tu tập đại bi có mười
sáu sự.
Những
gì là mười sáu ?
Một
là đại Bồ Tát thấy chúng sanh tham trước ngã kiến, do nơi
ngã kiến mà sanh ra các kiến chấp nên luôn bị sanh tử trói
buộc, vì vậy nên đại Bồ Tát tu tập đại bi, do tâm đại
bi mà vì chúng sanh thuyết pháp giáo hóa để phá các kiến
chấp hư vọng như vậy.
Hai
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh điên đảo nơi thường
thì thấy là vô thường, nơi vô thường thì thấy là thường,
nơi khổ thấy là vui nơi vui thì thấy là khổ, nơi tịnh thấy
bất tịnh nơi bất tịnh thấy là tịnh, nơi ngã thấy vô
ngã nơi vô ngã thấy ngã, do đây đại Bồ Tát tu tập tâm
đại bi, do tâm đại bi mà vì các chúng sanh tuyên nói pháp
yếu để phá bốn thứ mê chấp điên đảo như vậy.
Ba
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh có lòng kiêu mạn, thiệt
không có vật mà cho là có vật, thiệt không có sự mà cho
là có sự; do đây mà họ sanh ra bảy thứ kiêu mạn, do kiêu
mạn mà sanh lớn các pháp ác. Vì vậy mà đại Bồ Tát tu
tập tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp
yếu để phá trừ lòng kiêu mạn của các chúng sanh.
Bốn
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh bị ngũ cái che trùm,
vì bị che trùm nên lòng họ sanh nghi với chánh pháp nghĩa
thậm thâm họ không hiểu được, vì các chúng sanh nầy mà
đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát
tuyên nói pháp yếu để phá năm cái chướng của các chúng
sanh ấy.
Năm
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh chìm trong biển lục nhập
: mắt họ duyên lấy tướng hình sắc, tai họ duyên lấy tướng
âm thanh, mũi họ duyên lấy hơi hương, lưỡi họ duyên lấy
tướng mùi vị, thân họ duyên lấy tướng chạm xúc và ý
họ duyên lấy tướng các pháp, sự duyên lấy tướng như
vậy gọi đó là bị chìm, vì các chúng sanh nầy mà đại
Bồ Tát tu tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để
vớt chúng sanh khỏi bị chìm trong sáu trần tướng.
Sáu
là đại Bồ Tát thấy các chún,g sanh có bảy thứ mạn, đó
là mạn, đại mạn, mạn mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn,
hạ mạn và tà mạn.Vì các chúng sanh nầy mà Bồ Tát tu tâm
đại bi, do tâm đại bi, đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu
chơn chánh để dứt các thứ mạn ấy của chúng sanh.
Bảy
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh rời lìa thánh đạo,
họ thích làm thế tục đạo và ác đạo, vì vậy mà đại
Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên
nói pháp yếu để dứt trừ thế tục đạo và ác đạo của
các chúng sanh.
Tám
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh tạo nghiệp ác đạo,
lệ thuộc vô minh ái, bị vợ con trói buộc nên chẳng được
tự tại, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại
bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để dứt sự hệ phược
ấy cho chúng sanh xuất ly ác đạo.
Chín
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gần gũi bạn xấu ác
mà xa lìa bạn lành tốt, lòng họ cam đành tạo gây nghiệp
ác, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi
đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để dứt nghiệp ác của
chúng sanh khiến họ xa bạn ác và gần bạn lành.
Mười
là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gây tạo nghiệp xan tham
nơi vô minh ái không biết nhàm đủ, vì vậy mà đại Bồ
Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói
chánh pháp để dứt xan tham vô minh và ái của các chúng sanh
ấy và ban cho họ trí huệ.
Mười
một là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh nhiều ngã kiến
đoạn kiến, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm
đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu ban bố cho họ trí
huệ chơn chánh mười hai nhơn duyên để dứt ngã kiến và
đoạn kiến của các chúng sanh.
Mười
hai là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh hiện hành vô minh
tối tăm vó nhiều kiến chấp, đó là ngã kiến, chúng sanh
kiến, thọ mạng kiến, nhơn kiến, dị kiến, tà kiến, thủ
kiến, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại
bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để dứt trừ các kiến
chấp của các chúng sanh, ban cho họ chánh kiến trí huệ.
Mười
ba là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh ưa thích trong sanh tử,
với thân ngũ ấm cho là thân thiết, vì vậy mà đại Bồ
Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói
chánh pháp để cho chúng sanh thoát khỏi sanh tử trong ba cõi.
Mười
bốn là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh bị ma trói buộc,
vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại
Bồ Tát vì chúng sanh tuyên nói chánh pháp để dứt phá lưới
ma nghiệp ma của chúng sanh.
Mười
lăm là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh ưa thích sự khoái
lạc hư đối của thế tục mà chẳng biết được sự vui
chơn thiệt và nhân của vui chơn thiệt, vì vậy mà đại Bồ
Tát tuyên nói chánh pháp chỉ dạy nhơn hạnh của quả vui
chơn thiệt cho chúng sanh.
Mười
sáu là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh cầu cửa vào Niết
bàn mà chẳng biết chỗ, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại
bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu mở cửa
Niết bàn cho các chúng sanh.
Nầy
thiện nam tử ! Do mười sáu nhơn duyên như vậy mà đại Bồ
Tát vì các chúng sanh tu tâm đại bi.
Lại
nầy Ðà La Ni Tự Tại Vương ! Các loài chúng sanh có ba mươi
hai nghiệp ác bất thiện. Vì thấy như vậy mà chư đại Bồ
Tát tu tập nghiệp thiện để phá trừ các nghiệp ác ấy
cho chúng sanh.
Những
gì là ba mươi hai nghiệp ?
Một
là thấy có các chúng sanh nặng về vô minh ngủ nghỉ, đại
Bồ Tát vì họ mà tu tập trí huệ để phá vô minh thùy miên
ấy.
Hai
là thấy có các chúng sanh hiểu biết thấp hạ mong muốn thấp
hạ, đại Bồ Tát vì họ mà tu tập hiểu biết thắng thượng
chí nguyện thắng thượng để đem pháp Ðại thừa thắng
thượng giáo hóa họ.
Ba
là thấy có các chúng sanh thích những phi pháp, đại Bồ Tát
tu tập chánh pháp để làm cho các chúng sanh ấy được đại
tự tại nơi tất cả pháp.
Bốn
là thấy có các chúng sanh ưa tà mạng, đại Bồ Tát tu tập
chánh mạng để phá trừ tà mạng ấy.
Năm
là thấy có các chúng sanh vào trong rừng tà, đại Bồ Tát
tu tập chánh kiến để làm cho các chúng sanh và ra khỏi rừng
tà.
Sáu
là thấy có các chúng sanh ưa phóng dật, đại Bồ Tát tu tập
bất phóng dật để làm cho các chúng sanh xa lìa phóng dật.
Bảy
là thấy có các chúng sanh ưa thô bạo, đại Bồ Tát tu tập
công hạnh đúng chánh pháp để làm cho các chúng sanh xa lìa
thô bạo.
Tám
là thấy có các chúng sanh tham lam bỏn xẻn, đại Bồ Tát
tu tập hạnh bố thí rộng lớn để làm cho cac chúng sanh dứt
tham lam bỏn xẻn.
Chín
là thấy có các chúng sanh hay hủy phạm cấm giới, đại Bồ
Tát tu trì tịnh giới để trừ lòng phá giới của các chúng
sanh.
Mười
là thấy có các chúng sanh lòng thường giận hờn, đại Bồ
Tát tu tâm từ bi nhẫn nhục để phá lòng giận hờn của
các chúng sanh.
Mười
một là thấy có các chúng sanh đối với chánh pháp thiện
pháp lười biếng thật hành, đại Bồ Tát tu tập siêng cần
tinh tấn để trừ sự lười biếng ấy của các chúng sanh.
Mười
hai là có các chúng sanh tâm tưởng tán loạn, đại Bồ Tát
tu tập chánh định để trừ tâm tán loạn của các chúng
sanh.
Mười
ba là có các chúng sanh tà trí che tâm, đại Bồ Tát tu tập
chánh trí để trừ tà trí ấy của các chúng sanh.
Mười
bốn là có các chúng sanh nói nghĩa điên đảo, đại Bồ Tát
tư duy chánh nghĩa để trừ sự điên đảo ấy của các chúng
sanh.
Mười
lăm là thấy có các chúng sanh ưa gây tạo sự nghiệp thế
tục, đại Bồ Tát tu tập thiện quyền phương tiện để
trừ lòng ưa thích tạo nghiệp thế tục ấy của các chúng
sanh.
Mười
sáu là thấy có các chúng sanh bị phiền não trói buộc, đại
Bồ Tát tu tập chánh pháp tự dứt trừ phiền não và để
làm cho các chúng sanh cũng dứt trừ phiền não.
Mười
bảy là thấy có các chúng sanh bị buộc chặt nơi ngã kiến,
đại Bồ Tát trước tự trừ ngã kiến rồi sau trừ ngã kiến
của các chúng sanh.
Mười
tám là thấy có các chúng sanh các căn chẳng điều phục,
đại Bồ Tát tu tập trước tự điều phục các căn rồi
sau làm cho các chúng sanh điều phục các căn của họ
Mười
chín là thấy có các chúng sanh nói không nghiệp nhơn không
quả báo, đại Bồ Tát tuyên nói nghiệp nhơn quả báo để
phá trừ tà kiến bác nhân quả của các chúng sanh.
Hai
mươi là thấy có các chúng sanh chẳng biết ân nghĩa, đại
Bồ Tát tuyên nói về ân nghĩa để trừ lòng chẳng biết
ơn của các chúng sanh ấy.
Hai
mươi mốt là thấy có các chúng sanh chưa được mà tự cho
là đã được, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp để trừ lỗi
tăng thượng mạn của các chúng sanh ấy.
Hai
mươi hai là thấy có các chúng sanh ác khẩu thô bạo, đại
Bồ Tát tu tập thiện ngữ dịu dàng để trừ ác khẩu của
các chúng sanh.
Hai
mươi ba là thấy có các chúng sanh tham lam chẳng biết vừa
đủ, đại Bồ Tát tu tập biết đủ để trừ lòng không
biết đủ của các chúng sanh.
Hai
mươi bốn là thấy có các chúng sanh chẳng cung kính cha mẹ
và sư trưởng, đại Bồ Tát tu tập hiếu thuận để làm
cho chúng sanh biết cúng dường cung kính tôn trọng các bực
cha mẹ sư trưởng.
Hai
mươi lăm là thấy có các chúng sanh nghèo cùng khốn khổ,
đại Bồ Tát tu tập bảy thánh tài để trừ sự nghèo cùng
khốn khổ của các chúng sanh.
Hai
mươi sáu là thấy có các chúng sanh bị bốn loại rắn độc
làm bịnh, đại Bồ Tát tu tập thân niệm xứ để làm cho
các chúng sanh xa lìa bốn loại rắn độc ấy.
Hai
mươi bảy là thấy có các chúng sanh hiện hành vô minh tối
tăm, đại Bồ Tát tu tập trí huệ để làm cho các chúng sanh
ấy thắp đèn trí huệ..
Hai
mươi tám là thấy có các chúng sanh thích nhà ngục tam giới,
đại Bồ Tát tu tập pháp giải thoát xuất ly để dạy cho
các chúng sanh biết xuất ly tam giới.
Hai
mươi chín là thấy có các chúng sanh thường hành tà đạo,
đại Bồ Tát tu tập chánh đạo để làm cho các chúng sanh
trừ bỏ tà đạo.
Ba
mươi là thấy có các chúng sanh tham ái thân mạng, đại Bồ
Tát tu tập lòng chẳng tham ái thân mạng mình để dạy chúng
sanh bỏ lòng tham ái thân mạng.
Ba
mươi mốt là thấy có các chúng sanh chẳng biết cung kính
cúng dường Tam bửu, đại Bồ Tát tu tập tâm tịnh tín để
làm cho các chúng sanh phát lòng tin ngôi Tam bửu.
Ba
mươi hai là thấy có các chúng sanh thiệt chẳng phải là Phật
Thế Tôn mà tự xưng là Phật Thế Tôn, đại Bồ Tát tu tập
sáu chánh niệm để làm cho các chúng sanh ấy biết pháp chơn
thiệt vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Trên đây là ba mươi hai nghiệp hữu lậu của
chúng sanh, đại Bồ Tát thấy rồi tự mình tu tập pháp đối
trị thành tựu đầy đủ pháp lành rồi phá các ác nghiệp
khuyên các chúng sanh thật hành thiện nghiệp.
Nầy
thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát có vô lượng công hạnh, tại
sao ? Vì chúng sanh có vô lượng môn, vì đóng bít vô lượng
cửa phiền não ấy mà đại Bồ Tát tu tập vô lượng công
hạnh lành.
Nầy
thiện nam tử ! Như có chúng Thanh Văn và Bích Chi Phật đông
bằng số cát sông Hằng, muốn đem số đông nầy so sánh với
Bồ Tát sơ phát Bồ đề tâm thì chẳng bằng một phần
trăm một phần ngàn, cho đến không thể lấy gì ví dụ được.
Tại sao ? Vì hàng nhị thừa vì giải thoát cho mình mà quán
xét dứt trừ các phiền não. Còn Bồ Tát thì không phải như
vậy. Các Bồ Tát luôn vì chúng sanh làm cho họ được giải
thoát mà quán xét đối trừ các phiền não.
Nầy
thiện nam tử ! Các công nghiệp được làm của chư Bồ Tát
là rất hơn công nghiệp của các phàm phu và hàng Nhị thừa.
Tại sao ? Vì việc làm của phàm phu tánh chất nó là phiền
não là hữu lậu. việc làm của hàng Nhị thừa dầu tánh
chất chẳng phải phiền não là vô lậu nhưng có biên tế,
còn việc làm của Bồ Tát vô biên vộ lượng, vì vậy mà
công hạnh của Bồ Tát hơn cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác”.
Bấy
giờ Ðà La Ni Tự Tại Vương Bồ Tát nghe pháp ấy rồi lòng
rất vui mừng hớn hở vô lượng mà bạch đức Phật rằng
: “Bạch đức Thế Tôn ! Rất là lạ lùng rất là đặc biệt,
lời đức Phật dạy chẳng thể nghĩ bàn.
Ðức
Như Lai đã nói Bồ Tát anh lạc trang nghiêm, đức Như Lai đã
nói Bồ Tát quang minh, Bồ Tát đại bi, Bồ Tát thiện nghiệp.
Nguyện
cầu đức Như Lai tuyên nói chư Phật quán xét các chúng sanh
mà sanh khởi tâm đại bi thế nào ? Sao gọi là bi và bi có
những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn duyên
gì mà sanh khởi, sao gọi là Phật nghiệp và Phật nghiệp
có những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn
duyên gì mà phát khởi lên ?
Lành
thay đức Thế Tôn đấng Nhứt Thiết Trí, xin nói rộng về
công nghiệp của Như Lai”.
Ðức
Phật phàn bảo : “Lành thay lành thay ! Nầy thiện nam tử
nay ông nên lắng nghe suy nhớ kỹ, Phật sẽ vì ông mà phân
biệt giải nói.
Nầy
thiện nam tử ! Tất cả chư Phật chỗ có đại bi chẳng phát
xuất chẳng hiện hành, tại sao, vì thường chẳng biến đổi,
vì trong vô lượng kiếp tu tập mà được đại bi, nên đại
bi ấy chẳng hiện hành, chẳng chuyển khởi, chẳng tu tập
chẳng rời bỏ mà có khả năng làm lợi ích cho tất
cả chúng sanh.
Nầy
thiện nam tử ! Ðại bi của chư Phật vô lượng vô biên,
tâm ấy bình đẳng. Dầu dùng công sức của vô lượng cái
lưỡi biện tài trong thời gian nhiều kiếp cũng không thể
tuyên nói hết được.
Nầy
thiện nam tử ! Chư Phật Thế Tôn chưa có lúc nào xa lìa đại
bi như vậy. Vô thượng Bồ đề và đại bi ấy, hai pháp như
vậy bình đẳng không có sai khác.
Nầy
thiện nam tử ! Vô thượng Bồ đề của chư Phật Như Lai
vô căn vô trụ. Chư Phật Như Lai biết căn biết trụ nên
Vô thượng Bồ đề không có căn không có trụ. Tất cả chúng
sanh thảy đều không có, không có căn không có trụ. Vì muốn
ban cho chúng sanh Vô thượng Bồ đề vô căn vô trụ mà chư
Phật Thế Tôn khởi tâm đại bi. Nơi đây, vì muốn cho chúng
sanh biết vô căn vô trụ mà đức Như Lai tuyên nói chánh pháp.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh.
Thế nào là thanh tịnh, thế nào là tịch tĩnh ? Thanh tịnh
gọi là trong, tịch tĩnh gọi là ngoài. Bên trong gọi là nhãn
rỗng không , rỗng không gọi là không có ngã không có ngã
sở, tại sao, vì tánh là một vậy. Như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân và ý cũng như vậy, tại sao, vì tánh là một vậy.
Ðã
biết nhãn rỗng không rồi thì không trụ trước nơi sắc
hình , tâm chẳng trụ trước nơi sắc thì gọi là tịch tĩnh.
Như sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng như vậy.
Vì
tất cả chúng sanh chẳng biết Bồ đề thanh tịnh tịch tĩnh
nên đức Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp
cho họ được biết vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Tất cả chúng sanh tâm tánh bổn lai thanh tịnh.
Vì tánh thanh tịnh nên tất cả phiền não kiết sử không
nhiễm ô được. Như hư không chẳng thể nhiễm ô, tâm tánh
và không tánh đồng nhau không có sai khác.
Chúng
sanh vì chẳng biết tâm tánh thanh tịnh nên bị dục tham phiền
não trói buộc, vì vậy mà đức Phật Như Lai khởi tâm đại
bi diễn nói chánh pháp làm cho họ được biết vậy.
Nầy
thiện nam tử luận về Bồ đề chẳng thủ chẳng xả. Thế
nào là chẳng thủ ? Chư Phật Như Lai chẳng thấy tất cả
pháp có thử ngạn bỉ ngạn, tại sao, vì tất cả pháp rời
lìa thử bỉ vậy. Chư Phật Như Lai biết thật như vậy nên
gọi là bất thủ.
Thế
nào là bất xả ? Tất cả chúng sanh chẳng biết pháp giới,
chư Phật Như Lai tuyên dạy cho họ biết rõ pháp giới, đây
gọi là bất xả vậy. Vì duyên cớ nầy mà chư Phật Như
Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho chúng
sanh biết rõ hai pháp bất thủ và bất xả như vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề vô tưởng vô duyên . Thế nào là
vô tưởng ? Chẳng thấy có nhãn thức cho đến ý thức, chẳng
thấy có sắc tướng cho đến pháp tướng, đây gọi là vô
tướng. Thế nào là vô duyên ? Ở trong các pháp như vậy,
vì chẳng biết chẳng thấy nên không có thủ trước, đây
gọi là vô duyên. Vô tưởng và vô duyên gọi là thánh hạnh.
Thế nào gọi là Thánh hạnh ? Vì rằng chẳng hiện hành
nghiệp hạnh tam giới vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Chẳng hiện hành nghiệp hạnh giới như vậy
gọi là thánh hạnh, tất cả thánh nhơn chẳng hiện hành nơi
nghiệp hạnh ấy. Chúng sanh chẳng hiện hành thánh hạnh như
vậy, nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói
chánh pháp cho chúng sanh được biết.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề chẳng phải là tam thế. Quá khứ
ý, vị lai thức và hiện tại tham đây gọi là ba phần thời
gian. Vì biết rõ được ba phần như vậy nên ý với thức
và tham không có chỗ an trụ, vì vậy mà chẳng nhớ quá khứ
chẳng cầu vị lai chẳng tham ái hiện tại. Nếu thấy tam
thế đều bình đẳng thì gọi là chánh kiến. Vì muốn tất
cả chúng sanh được chánh kiến bình đẳng như vậy nên chư
Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề vô thân vô vi. Thế nào là vô thân
? Chẳng phải nhãn thức giới cho đến chẳng phải ý thức
giới, đây gọi là vô thân. Thế nào là vô vi ? Bất sanh bất
diệt bất tận bất trụ, không có ba tướng sanh trụ và diệt,
đây gọi là vô vi.
Nầy
thiện nam tử ! Tất cả pháp tánh là vô tánh, nếu vô tánh
thì không có sai biệt gọi là không có hai. Vì vậy nên Bồ
đề không có thân không có vi tác. Tất cả chúng sanh chẳng
biết Bồ đề vô thân vô vi, vì vậy nên chư Phật Như Lai
phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ biết rõ
như vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề không có phân biệt không có cú nghĩa.
Thế nào là không có phân biệt ? Thế nào là không có cú
nghĩa ?
Vô
sở trụ gọi là không có phân biệt, chẳng nhiếp thuộc về
chữ gọi là không có cú nghĩa.
Chẳng
phải có hai gọi là không có phân biệt, chẳng nhập vào pháp
giới gọi là không có cú nghĩa.
Không
động dao gọi là không có phân biệt, chẳng biến đổi gọi
là không có cú nghĩa.
Vì
rỗng không nên gọi là không có phân biệt, vì chẳng thể
nói được nên gọi là không có cú nghĩa.
Vì
không giác không quán nên gọi là không có phân biệt, vì không
có tướng nên gọi là không có cú nghĩa.
Vì
chẳng phát khởi nên gọi là không có phân biệt, vì không
có nguyện cầu nên gọi là không có cú nghĩa.
Biết
chúng sanh giới đồng với hư không gọi là không có phân
biệt, không có chúng sanh giới gọi là không có cú nghĩa.
Chẳng
sanh gọi là không có phân biệt, chẳng trụ gọi là không
có cú nghĩa.
Chẳng
diệt gọi là không có phân biệt, vô vi gọi là không có cú
nghĩa.
Chẳng
hành gọi là không có phân biệt, bình đẳng gọi là không
có cú nghĩa.
Biết
bình đẳng gọi là không có phân biệt, tịch tĩnh gọi là
không có cú nghĩa.
Vì
chúng sanh chẳng biết như vậy, nên chư Phật Như Lai phát
khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ biết rõ các
nghĩa ấy.
Nầy
thiện nam tử ! chẳng thể dùng thân để được, chẳng thể
dùng tâm để được, tại sao, vì thân tâm như huyễn vậy.
Nếu có thể biết rõ được thân tâm chơn thiệt thì gọi
là Bồ đề. Nói gọi là Bồ đề đó là vì để lưu
bố thế tục, nhưng tánh và tướng Bồ đề thiệt không
thể nói được.
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề thì chẳng
thể nói thân, chẳng thể nói tâm, chẳng thể nói pháp, chẳng
thể nói phi pháp, chẳng thể nói có, chẳng thể nói không
có, chẳng thể nói thiệt, chẳng thể nói rỗng không, tại
sao, vì tánh chẳng thể nói được vậy.
Bồ
đề không có trụ xứ chẳng thể tuyên nói được dường
như hư không. Vì biết thiệt tất cả pháp chẳng thể tuyên
nói được, trong chữ không có pháp, trong pháp không có chữ,
chỉ vì lưu bố theo thế tục mà tuyên nói. Tất cả phàm
phu chẳng biết chơn thiệt, nên chư Phật Như Lai khởi tâm
đại bi diễn nói chánh pháp làm cho họ biết chơn thiệt.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề vô thủ vô duyên. Thế nào là vô
thủ, thế nào là vô duyên ?
Biết
nhãn chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhãn không có sắc
cảnh gọi là vô duyên.
Biết
nhĩ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhĩ không có thanh cảnh
gọi là vô duyên.
Biết
tỷ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết tỷ không có hương
cảnh gọi là vô duyên.
Biết
thiệt chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thiệt không có vị
cảnh gọi là vô duyên.
Biết
thân chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thân không có xúc cảnh
gọi là vô duyên.
Biết
ý chơn thiệt gọi là vô thủ, biết ý không có pháp cảnh
gọi là vô duyên.
Như
Lai Thế Tôn do nghĩa như vậy biết Bồ đề vì không có thủ
trước nên gọi là không có nhãn, vì không có nhà cửa nên
gọi là vô duyên. Nhãn thức chẳng trụ trong cảnh sắc kia
gọi đó là không nhà cửa, nhẫn đến ý thức cũng như vậy.
Tất
cả chúng sanh tâm không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như
thiệt biết tâm không có chỗ trụ ở. Chỗ trụ ở có bốn
thứ, đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn.
Nơi bốn thứ nầy tâm không có chỗ trụ ở, đây gọi là
tâm không có chỗ trụ ở. Vì vậy mà gọi rằng tất cả
các pháp đều không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như
thiệt biết đó, mà vì các hàng phàm phu không thể biết được,
nên Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh
pháp để cho họ được biết chơn thiệt vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề gọi là rỗng không, nhưng trong Bồ
đề không có tướng rỗng không, đây gọi là rỗng không.
Tất cả pháp rỗng không Bồ đề cũng rỗng không, Như Lai
Thế Tôn chơn thiệt biết được rỗng không như vậy, nên
Như Lai gọi là đấng biết rỗng không. Chư Phật gọi là
đấng giác ngộ tất cả các pháp rỗng không trong rỗng không
nhưng chẳng có giác tri, cũng hay biết rõ Vô thượng Bồ đề.
Rỗng không và Bồ đề là nhứt như, rỗng không cùng Bồ
đề là một chẳng phải là hai. Rời rỗng không mà Bồ đề
có pháp riêng khác mới được nói là hai. Vì không có hai
nên gọi đó là rỗng không, vì không có danh tự nên gọi
đó là rỗng không. Vì không có tướng mạo nên gọi đó là
rỗng không, vì không có oai nghi nên gọi đó là rỗng không,
vì không có tu hành nên gọi đó là rỗng không, vì không có
ngôn thuyết nên gọi đó là rỗng không.
Nầy
thiện nam tử ! Trong đệ nhứt nghĩa không có các pháp thế
nào nói là rỗng không. Ví như hư không không có ngôn không
có thuyết, vì không có ngôn thuyết nên gọi là hư không.
Trong không có ngôn thuyết cũng không có ngôn thuyết, đây
gọi là rỗng không.
Tất
cả các pháp cũng như vậy, pháp không có danh tự nói là danh
tự, danh tự như vậy cũng không có chỗ trụ ở. Nếu danh
tự không có trụ ở thì các pháp dưới danh tự ấy cũng
không có chỗ trụ ở.
Như
Lai Thế Tôn chơn thiệt biết các pháp như vậy không có sanh
không có diệt. Vì chơn thiệt biết nên được giải thoát.
Bổn
lai không có hệ phược sao lại gọi là được giải thoát
? Vì lẽ ấy nên Như Lai Thế Tôn không có hệ phược không
có giải thoát.
Các
pháp như vậy tất cả hàng phàm phu chẳng có thể biết được,
vì thế nên chư Phật Thế Tôn khởi phát lòng đại bi diễn
nói chánh pháp cho họ được biết.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy đồng như hư không.
Tánh hư không chẳng bằng chẳng thấp, Bồ đề cũng như vậy.
Nếu pháp đã là không có tánh thì chẳng thể nói là có bằng
có thấp. Như Lai Thế Tôn thiệt biết các pháp không có bằng
không có thấp nhẫn đến vi trần không có bằng không có
thấp.
Nếu
pháp có tánh chính là như thiệt trí. Bực như thiệt trí biết
tất cả pháp trước không nay có, đã có lại không, lúc sanh
lúc diệt không chỗ hệ thuộc, theo duyên mà sanh, theo duyên
mà diệt, do nghĩa nầy mà gọi là đạo. Do dứt đạo nầy
nên gọi là Bồ đề.
Vì
các hàng phàm phù chằng biết đạo chơn thiệt như vậy, nên
chư Phật Thế Tôn phát khởi đại bi tuyên nói chánh pháp
cho họ được biết.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ đề gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt
cú ấy tức là Bồ đề. Hai cú như vậy đồng nhau không sai
khác. Sắc cũng như vậy, thọ tưởng hành thức, địa
thủy hỏa phong, nhãn giới sắc giới nhãn thức giới, nhĩ
giới thanh giới nhĩ thức giới, tỷ giới hương giới tỷ
thức giới, thiệt giới vị giới thiệt thức giới, thân
giới xúc giới thân thức giới, ý giới pháp giới ý thức
giới cũng đều như vậy, đây gọi là pháp lưu bố theo thế
tục.
Như
Lai chơn thiệt biết rõ các ấm nhập giới pháp như vậy không
có điên đảo. Bực chẳng điên đảo biết pháp quá khứ
bất sanh bất diệt, biết pháp vị lai bất sanh bất diệt,
biết pháp hiện tại cũng bất sanh bất diệt, biết như vậy
gọi là chẳng điên đảo, gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt
cú ấy, như một pháp thì tất cả pháp cũng như vậy, như
tất cả pháp thì một pháp cũng như vậy. Chơn thìệt cú
nầy các hàng phàm phu chẳng biết, vì vậy nên chư Phật Như
Laì phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được
biết.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy, chẳng phải nội chẳng
phải ngoại. Thế nào là nội, thế nào là ngoại ?
Không
bị tạo tác là chẳng phải nội, không bị giác tri là chẳng
ngoại.
Nội
ấy có nghĩa là trụ ở, ngoại ấy có nghĩa là tướng dạng.
Thể của Bồ đề chẳng phải trụ ở chẳng phải tướng
dạng, nên gọi Bồ đề chẳng phải nội chẳng phải ngoại.
Lại
nữa, chẳng phải nội là chẳng phải ba nghiệp thân khẩu
và ý, chẳng phải ngoại là chẳng phải ba nghiệp duyên.
Chẳng
phải nội là vô tướng giải thoát môn, chẳng phải ngoại
là không giải thoát môn.
Các
nghĩa như vậy hàng phàm phu chẳng biết. Vì thế chư Phật
Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ
được biết.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là vô lậu là vô thủ.
Thế nào là vô lậu và thế nào là vô thủ ?
Vô
lậu là xa lìa bốn lưu, đó là dục lưu, hữu lưu, vô minh
lưu và kiến lưu. Vô thủ là xa lìa bốn thủ, đó là dục
thủ, hữu thủ, kiến thủ và giới thủ.
Các
chúng sanh bị vô minh che trùm luôn đi nơi bốn thủ, do khát
ái nên làm ngã và ngã sở.
Như
Lai Thế Tôn biết rõ ngã không căn bổn nên ngã thanh tịnh,
do ngã thanh tịnh nên có thể thanh tịnh chúng sanh. Ngã thanh
tịnh thì chẳng giác tri tất cả các pháp cũng chẳng tư duy
tất cả phi pháp, chẳng sanh khởi vô minh, do chẳng khởi vô
minh nhơn duyên nên chẳng khởi mười hai nhơn duyên hữu, hữu
nhơn duyên chẳng khởi thì bất sanh, vì bất sanh nên nhập
vào quyết định tụ. Quyết định tụ ấy gọi là liễu nghĩa.
Liễu nghĩ ấy gọi là đệ nhứt nghĩa. Ðệ nhứt nghĩa ấy
gọi là không có chúng sanh. Nghĩa không có chúng sanh gọi là
nghĩa bất khả thuyết. Nghĩa bất khả thuyết chính là nghĩa
mười hai nhơn duyên. Nghĩa mười hai nhơn duyên chính là nghĩa
pháp. Nghĩa pháp ấy chính là Như Lai. Do nghĩa như vậy nên
trong khế kinh nói nếu có ai thấy được mười hai nhơn duyên
thì là người thấy pháp. Thấy pháp là thấy Như Lai. Thấy
Như Lai ấy chính là không chỗ thấy. Chỗ thấy là tà, tà
kiến ấy đó là pháp tướng số. Như Lai không có tưởng
cũng không có tưởng số. Do nơi nghĩa nầy nên thấy Như Lai
là không có chỗ thấy. Nếu thấy Như Lai không có tướng,
không có tác, không có tri, không có giác, thì gọi là chơn
thiệt thấy Như Lai.
Cũng
vậy, đức Như Lai biết rõ tất cả các pháp bình đẳng như
vậy, pháp giới vô lậu vô thủ.
Các
hàng phàm phu chẳng thể rõ biết được như vậy, vì thế
Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp
cho họ được biết.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh
là quang minh là vô tranh. Thế nào là thanh tịnh, thế nào là
tịch tĩnh, thế nào là quang minh và thế nào là vô tranh ?
Chẳng
xen tạp phiền não thì gọi đó là thanh tịnh. Không giải
thoát môn thì gọi đó là tịch tĩnh. Vô tướng giải thoát
môn và vô nguyện giải thoát môn thì gọi đó là quang minh.
Vô sanh vô diệt thì gọi đó là vô tranh. Lại nữa, vô sanh
ấy thì gọi đó là thanh tịnh. Vô diệt thì gọi đó là tịch
tĩnh. Vô thủ thì gọi là quang minh. Bất xuất thì gọi là
vô tranh.
Lại
nữa, tánh thì gọi là thanh tịnh. Không có các phiền não
thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
Lại
nữa, pháp giới gọi là thanh tịnh. Tánh chơn thiệt gọi là
tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
Lại
nữa, tánh hư không gọi là thanh tịnh. Pháp giới vô phân
biệt thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
Lại
nữa, nội ngoại thanh tịnh thì gọi đó là thanh tịnh. Nơi
các pháp nội và ngoại chẳng thủ lấy chẳng trụ trước,
thì gọi đó là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
Lại
nữa, chơn thiệt biết ngũ ấm thì gọi đó là thanh tịnh.
Chơn thiệt biết thập bát giới thì gọi đó là tịch tĩnh
là quang minh. Xa lìa lục nhập thì gọi đó là vô tranh.
Lại
nữa, thấy quá khứ tận thì gọi là thanh tịnh. Thấy vị
lai chẳng sanh thì gọi là tịch tĩnh. Thấy pháp hiện tại
an trụ nơi pháp giới không có động chuyển thì gọi đó
là quang minh là vô tranh.
Thanh
tịnh tịch tĩnh quang minh và vô tranh, bốn pháp như vậy đồng
nhập vào một giới một pháp và một câu. Ba pháp như vậy
tức là Niết bàn. Vì xa lìa phiền não nên gọi là thanh tịnh,
vì rốt ráo thanh tịnh nên gọi là tịch tĩnh, vì không tối
tăm nên gọi là quang minh, vì bất khả thuyết nên gọi là
vô tranh. Vì thế nên nói đức Thích Ca Như Lai nín lặng không
chỗ nói.
Nầy
thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy tức là hư không. Hư
không ấy gọi là pháp. Như pháp, chúng sanh cũng vậy. Như
chúng sanh, phước điền cũng vậy. Như phước điền, Niết
bàn cũng vậy. Do nghĩa nầy nên tất cả pháp đồng với Niết
bàn.
Ðức
Như Lai có thể biết rõ pháp giới như vậy nên gọi là Phật.
Tu
tập đầy đủ thanh tịnh tịch tĩnh quang minh và vô tranh,
bốn câu như vậy thì gọi đó là Phật”.
Vì
đức Như Lai có thể biết rõ được thiện phương tiện nên
lúc đầu mới được Vô thượng Bồ đề liền nín lặng
an trụ không có tuyên nói để chờ Ðại Phạm Vương thưa
thỉnh. Lúc ấy, Thi Khí Ðại Phạm Vương cùng sáu vạn tám
ngàn vị Phạm Thiên đến chỗ Phật đầu mặt lạy Phật
rồi chắp tay tôn kính bạch rằng : Cầu nguyện đức Như
Lai vì các chúng sanh chuyển chánh pháp luân, lại tiến nói
kệ rằng :
Phật
pháp ly thanh tịnh, tịch tĩnh
Ðại
quang vô ngại, không có tranh
Không
chữ, không tiếng cũng không nói
Chơn
thiệt biết rõ như pháp giới
Phật
vì chúng sanh vô lượng kiếp
Khổ
hạnh thọ trì giới thế gian
Ðể
thức tỉnh chúng sanh mê ngủ
Mãi
làm phóng dật mê thiệt nghĩa
Còn
vô lượng chúng trong hội nầy
Chứa
căn lành nơi vô lượng Phật
Hay
hiểu nghĩa sâu nghĩa chơn thiệt
Nguyện
Phật chuyển pháp luân vô thượng
Chúng
đây đã phục tất cả ma
Muốn
đuợc mở bày cửa cam lộ
Ðức
Phật hiệu là chơn Ðạo Sư
Chỉ
đường vô thượng cho chúng sanh
Ðức
Phật dầu có đại từ bi
Thương
mến chúng sanh như con một
Nay
tôi thỉnh pháp là đúng thời
Phật
chuyển chánh pháp luân vô thượng
Như
xưa ba Phật chuyển pháp luân
Nguyện
cầu Như Lai nay cũng vậy
Vô
lượng Ðạo Sư không thối chuyển
Dạy
các chúng sanh đạo nhứt chơn
Như
mưa nhuần lớn các cỏ cây
Làm
cho chúng sanh hết nóng khát
Phật
ban pháp vũ cho chúng sanh
Vì
được vô lượng vô thượng quả
Lúc
sơ sanh Phật có phát nguyện
Ta
sẽ cứu khổ các chúng sanh
Chúng
sanh khát mong vị cam lộ
Nguyện
đại từ bi ban mưa pháp.
Bấy
giờ đức Thế Tôn đã thọ thỉnh rồi liền đi qua thành
Ba La Nại trong rừng Lộc Dã chỗ ở của các tiên nhơn mà
chuyển chánh pháp luân. Pháp luân ấy, tất cả hàng chư Thiên,
Ma Vương, Phạm Vương và các Sa Môn hoặc các Bà La Môn khác
đều chẳng thể chuyển được. Lúc ấy đức Thế Tôn nói
pháp Tứ đế, Tỳ Kheo Kiều Trần Như được pháp nhãn thanh
tịnh. Tiếng pháp ấy vang khắp cả cõi Ðại Thiên . Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Nghĩa
pháp thậm thâm chẳng thể nói
Ðệ
nhứt nghĩa không tiếng không chữ
Tỳ
kheo Trần Như nói các pháp
Chứng
được bực tri kiến chơn thiệt
Chính
ta thuở xưa vô lượng đời
Chứng
được Bồ đề nay đã được.
Lúc
đức Như Lai chuyển chánh pháp luân như vậy, vô lượng chúng
sanh đều được điều phục. Ðức Như Lai thị hiện đại
bi thần thông như vậy các chúng sanh được thấy có vô số
người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nầy
thiện nam tử ! Mười sáu đại bi của Như Lai như vậy, tất
cả đều vì các chúng sanh mà tu tập. Do nhơn duyên đại bi
ấy, đức Như Lai vì mỗi mỗi chúng sanh trải qua số kiếp
như số cát sông Hằng ở trong đại địa ngục thọ những
khổ não mà tâm không thối chuyển , tâm đại bi ấy cũng
không bị tổn giảm. Vì nghĩa ấy nên đại bi của đức Như
Lai chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
thiện nam tử ! Lòng bi của hàng Thanh Văn và Duyên giác như
vẽ trên da, đại bi của Bồ Tát như xẻ thịt, đại bi của
Như Lai như chẻ xương thấu tủy. Lòng bi của Thanh Văn và
Duyên Giác tán thán sở tri của Phật, đại bi của Bồ Tát
khuyên người thật hành, đại bi của Như Lai thọ ký Vô thượng
Bồ đề. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác làm nhơn duyên
cho lòng từ, đại bi của Bồ Tát vì điều phục chúng sanh,
đại bi của Như Lai vì cứu cánh độ chúng sanh. Lòng bi của
Thanh Văn và Duyên Giác do sự khổ thô thiển mà sanh, đại
bi của Bồ Tát do lìa rời sự khổ mà sanh, đại bi của Như
Lai do dứt trừ tất cả nhơn duyên mà sanh.
Nầy
thiện nam tử ! Ðức Như Lai tu tập đại bi như vậy, nếu
vì một người mà ở lại thế gian mà trải qua một kiếp,
trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp đến vô lượng kiếp trọn
chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.
Nầy
thiện nam tử ! Ðại bi của Như Lai thành tựu vô lượng công
đức như vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Về quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp,
nơi thế gian có đức Phật xuất thế hiệu là Chiên Ðàn
Quật, thế giới ấy tên là Ðại Hương, kiếp ấy gọi là
Thượng Hương. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật trong ba trăm ba
mươi hai vạn kiếp thường đem chánh pháp giáo hóa hàng Thanh
Văn. Trên thân Phật Chiên Ðàn Quật mỗi mỗi lỗ lông phát
ra hơi hương khắp đầy cả Ðại Thiên thế giới. Thế giới
Ðại Hương ấy không có danh từ hôi thúi, bao nhiêu cỏ cây
đều có mùi chiên đàn, thân các chúng sanh trong cõi ấy cũng
có mùi hương chiên đàn như vậy, tất cả đều không có
thân khẩu ý ác. Ðệ tử của đức Phật Chiên Ðàn Quật
nghe mùi hương nầy thì được tứ thiền. Sau đó kế tiếp
có một vạn chư Phật nối nhau xuất thế đều đồng một
hiệu là Chiên Ðàn Quật, do cớ nầy mà kiếp ấy có tên
là Thượng Hương.
Ðức
Chiên Ðàn Quật Như Lai làm Phật sự xong muốn nhập Niết
bàn quan sát chúng sanh coi có ai chưa điều phục thì Phật
sẽ điều phục cho. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật dùng tịnh
nhãn thấy có một vị ở Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
đã ở nơi Phật trước gieo giống thượng thiện căn quyết
định sẽ nhơn pháp Phật mà được độ thoát chớ chẳng
phải nhơn pháp Thanh Văn mà được giải thoát. Vị trời nầy
quá tám vạn bốn ngàn kiếp tuổi thọ sẽ sanh xuống cõi
Dục sẽ nghe kinh điển Ðại thừa mà phát tâm Vô thượng
Bồ đề an trụ bực bất thối chuyển. Ðức Phật Chiên Ðàn
Quật do sức đại bi khởi đại phương tiện bảo các Tỳ
Kheo giờ Niết bàn của ta đã đến, nói xong Phật liền nhập
Bất Hối tam muội thị hiện cho chúng sanh biết Phật nhập
Niết bàn, biết Phật nhập Niết bàn rồi đại chúng sắp
bày rộng rãi sự cúng dường, chánh pháp trụ thế đủ sáu
mươi tám vạn bốn ngàn năm, trong thời gian các đệ tử của
Phật không có đến một người ở nơi chánh pháp mà sanh
tưởng tà pháp. Do sức đại định, đức Phật Chiên Ðàn
Quật ẩn kín thân Phật qua tám vạn bốn ngàn kiếp chẳng
cho đại chúng thấy. Quá kiếp số thọ mạng, vị trời ấy
sanh xuống nhơn gian làm con trai nhà đại trưởng giả. Qua
tám mươi năm, đức Phật Chiên Ðàn Quật từ tam muội dậy
đến nhà trưởng giả, mọi người trong nhà không ai thấy,
chỉ có người con trai nầy một mình được thấy đức Phật
và được nghe đức Phật thuyết pháp được chẳng thối
chuyển tâm Vô thượng Bồ đề. Biết vậy, đức Phật Chiên
Ðàn Quật liền thọ ký rằng đời sau quá bảy vạn hai ngàn
a tăng kỳ trăm ngàn kiếp ngươi sẽ được thành Vô thượng
Bồ đề hiệu là Bửu Thượng Phật. Lời đức Phật Chiên
Ðàn Quật thọ ký ngoài người con trai trưởng giả nầy không
ai được nghe, chỉ có một vạn hai ngàn chư Thiên nầy nghe
rồi đều phát tâm Vô thượng Bồ đề đồng thanh bạch rằng
: Cầu nguyện lúc đức Bửu Thượng Phật ra đời, chúng tôi
sẽ ở trong pháp hội ấy thỉnh thọ chánh pháp và làm đệ
tử. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật nghe biết lời bạch của
chư Thiên liền thọ ký rằng : Lúc Bửu Thượng Như Lai thành
Phật, một vạn hai ngàn chư Thiên các ngươi sẽ làm thọ
pháp đệ tử, cũng sẽ được Phật Bửu Thượng thọ ký
Vô thượng Bồ đề. Việc làm nầy xong đức Chiên Ðàn Quật
mới cứu cánh nhập Niết bàn tất cả chư Thiên thiết lập
cúng dường lớn”.
Ðức
Phật phán tiếp : “Nầy thiện nam tử ! Chư Phật Như Lai
có đủ đức đại bi như vậy, chẳng phải là chỗ biết
được của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Thuở ấy, đức Phật
Chiên Ðàn Quật dầu ở tại thế đem pháp Thanh Văn giáo hóa
mà cuối cùng vẫn làm cho giống Phật chẳng dứt. Nếu có
chúng sanh nào cúng dường ngôi Tam bảo thì cũng như vậy”.
Lúc
đức Phật Thế Tôn nói rộng công đức đại bi, trong chúng
hội có ba hằng hà sa chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nửa số chúng hội được thành vô sanh pháp nhẫn, phân nửa
trong nửa số còn lại được có mười sáu đại bi như vậy,
phần còn lại được Phật pháp nhẫn.
Tất
cả chư Thiên và mọi người nghe pháp vui mừng đồng thanh
khen rằng : “Lành thay, lành thay ! Rất lạ lùng rất đặc
biệt, đức Phật Thế Tôn tuyên nói pháp môn đại bi như
vậy”.
Lại
nữa, nầy Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát ! Ðức Phật
Như Lai còn có ba mươi hai nghiệp.
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai biết rõ thị xứ và phi xứ. Thế nào
là Thị xứ và thế nào là phi xứ?
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có người tạo tác thân khẩu ý ác mà
được thọ quả an lạc thì không bao giờ có, đây gọi là
phi xứ. Nếu có người tạo tác thân khẩu ý thiện mà thọ
quả an lạc thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Nếu
có ngưòi quen làm việc tham lam bỏn xẻn mà được báo giàu
to thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu có người
ban ơn bố thí mà được báo giàu to thì có như vậy, đây
gọi là thị xứ.
Nếu
là người hủy phạm giới cấm mà được báo thân cõi trời
thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu là người
hộ trì giới cấm thanh tịnh mà được báo thân cõi trời
thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Người
hay sân hận mà được báo thân xinh đẹp thì không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ. Người thường nhẫn nhục mà được
báo thân xinh đẹp thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Người
lười nhác trong pháp lành lớn mà được đại thần thông
thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người siêng tinh
tiến nơi pháp lành lớn mà được đại thần thông thì có
như vậy, đây gọi là thị xứ.
Người
phóng tâm tán loạn mà được bực chánh định thì không bao
giờ có, đây gọi là phi xứ. Người nhiếp tâm bất loạn
mà được bực chánh định thì có như vậy, đây gọi là
thị xứ .
Người
ngu si mà dứt tập khí phiền não thì không bao giờ có, đây
gọi là phi xứ. Người tu hành trí huệ dứt tập khí phiền
não thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Người
tạo tội ngũ nghịch mà được vô lậu thì không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ . Người không tội ngũ nghịch mà
được vô lậu thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Thân
người nữ mà làm Chuyển Luân Thánh Vương thì không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ. Thân nam tử làm Chuyển Luân Thánh
Vương thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Như
làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm Thiên Ðế Thích, làm Phạm
Vương và làm Phật cũng như vậy.
Nếu
là chuyển Luân Thánh Vương mà dùng phi pháp để trị nước
thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Chuyển Luân Thánh
Vương dùng chánh pháp trị nước thì có như vậy, đây gọi
là thị xứ.
Người
Châu Uất Ðơn Việt sau khi chết mà đọa vào ba ác đạo thì
không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người Uất Ðơn Việt
thọ chung sanh lên cõi trời thì có như vậy, đây gọi là
thị xứ.
Người
thường sát hại sanh mạng chúng sanh mà được báo trường
thọ thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Còn do cớ
nầy mà thọ mạng yểu ngắn thì có như vậy, đây gọi là
thị xứ.
Người
có tà kiến mà chứng thánh đạo thì không bao giờ có, đây
gọi là phi xứ. Người có chánh kiến mà chứng được thánh
đạo thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
Bực
Tu Ðà Hoàn mà còn có thọ sanh đời thứ tám thì không bao
giờ có, đây gọi là phi xứ. Bực Tu Ðà Hoàn mà liền nhập
Niết bàn cũng không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
Bực
A Na Hàm mà thọ sanh trong cõi Dục thì không bao giờ có, đây
gọi là phi xứ.
Bực
A La Hán mà thọ thân đời sau thì không bao giờ có, đây gọi
là phi xứ.
Người
Hiền Thánh mà học hỏi nơi các dị sư thì không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ.
Bực
bất thối nhẫn mà còn thối chuyển Bồ đề thì không bao
giờ có, đây gọi là phi xứ.
Bồ
Tát đến ngồi dưới cây Bồ đề chưa chứng quả Bồ đề
mà dậy đi thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
Bực
Phật Như Lai mà có tập khí phiền não thì không bao giờ có,
đây gọi là phi xứ.
Bực
Phật Như Lai mà trí còn có chướng ngại thì không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ.
Nếu
có ai thấy được đỉnh đầu của đức Phật thì không bao
giờ có, đây gọi là phi xứ.
Nếu
có chúng sanh biết được cảnh giới nội tâm của đức Phật
thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
Tâm
của đức Phật mà chẳng thường định cũng không bao giờ
có, đây gọi là phi xứ.
Chư
Phật Thế Tôn mà có nhị ngữ thì không bao giờ có, đây
gọi là phi xứ.
Như
Lai Thế Tôn mà còn có lỗi lầm thì không bao giờ có, đây
gọi là phi xứ.
Nầy
thiện nam tử ! Ðây gọi là nghiệp thứ nhứt của Phật Thế
Tôn.
Ðức
Phật nói kệ rằng :
Ðại
địa được nói tướng chuyển động
Gió
mạnh được nói tướng dừng lặng
Hư
không được nói tướng có sắc
Phật
chẳng nói xứ là phi xứ
Phật
diễn nói xứ và phi xứ
Phần
hạ trung thượng đều chơn thiệt
Chẳng
nói xứ phi xứ là một
Hai
xứ như vậy riêng không hai
Như
Lai cũng nói hạ trung thượng
Ðều
riêng không có ba thứ tướng
Phật
biết thị xứ phi xứ rồi
Có
thể tuyên nói pháp vô thượng
Như
Lai biết rõ lòng chúng sanh
Khéo
hay phân biệt tướng vi tế
Sa
Môn phạm chí đi trong tối
Chẳng
biết nhơn thị xứ phi xứ
Chúng
sanh chằng biết xứ phi xứ
Do
đó nên chẳng được giải thoát
Như
Lai biết rõ xứ phi xứ
Ðó
là hiệu Phật đấng Vô Thượng
Nếu
là chúng sanh không pháp khí
Như
Lai với họ tu tâm xả
Lập
đại phương tiện chờ thời tiết
Vì
cho họ được chơn giải thoát
Như
Lai Thế Tôn trí vô thượng
Ðây
thì gọi là pháp thứ nhứt
Thanh
tịnh nghiệp thứ nhứt như vậy
Vì
làm chúng sanh được điều phục
Như
Lai nói lực thứ nhứt nầy
Rất
sâu khó lường không biết được
Diệu
pháp như vậy khó biết được
Vì
phá tà kiến thương xót nói
Xem
Tiếp: Trang 03