THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
44 Pháp Hội Bửu Lương Tụ:
 
c
KINH ÐẠI BẢO TÍCH
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
Mục Lục
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9

LI
PHÁP HỘI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI MỐT
(Hán bộ từ quyển 126 đến quyển 129)
Hán Dịch: Bắc Lương, Tạm Tạng Đàm Vô Sấm
Việt Dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04

 
Lại nầy thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát có tám ánh sáng lớn, do ánh sáng nầy mà hay phá được các sự tối tăm làm cho công hạnh của Bồ Tát thanh tịnh.

Những gì là tám ? Ðó là niệm quang, ý quang, hành quang, pháp quang, trí quang, thiệt quang, thần thông quang và vô ngại trí quang vậy.

Niệm quang có tám : một là chẳng mất pháp lành quá khứ, hai là làm pháp lành vị lai, ba là nghe pháp chẳng quên, bốn là tư duy thiệt nghĩa, năm là chẳng bị sáu trần nhiễm hư, sáu là nhớ giữ chánh pháp như người giữ của, ngăn pháp ác và vì pháp lành mà giữ cửa thành thiện pháp, bảy là chẳng bị tà pháp gạt lầm và tám là có thể làm thêm lớn những pháp thuần thiện vậy.

Ý quang cũng có tám : một là nghĩa ý chẳng phải ý chữ, hai là trí huệ ý chẳng hình thức ý , ba là chánh pháp ý chẳng phải ý người, bốn là thiệt ý chẳng phải hư ý, năm là Bồ Tát ý chẳng phải Thanh Văn ý, chẳng phải Duyên Giác ý, sáu là thượng ý chẳng phải hạ ý, bảy là Phật ý chẳng phải thối thất ý và tám là lân mẫn ý chẳng phải hại ý vậy.

Hành quang cũng có tám : một là pháp hành, hai là nhứt thiết hành, ba là chúng sanh hành, bốn là chúng sanh tâm hành, năm là thập nhị nhơn duyên hành , sáu là quảng thuyết hành, bảy là công hạnh hành và tám là nhứt thiết Phật pháp hành vậy.

Pháp quang cũng có tám : một là thế pháp quang, hai là xuất thế pháp quang, ba là vô lậu pháp quang, bốn là vô vi pháp quang, năm là giải thoát pháp quang, sáu là tâm giải thoát pháp quang, bảy là tất cánh giải thoát pháp quang và tám là huệ phá vô minh pháp quang vậy.

Trí quang cũng có tám : một là nhập chánh trí quang, hai là Tu Ðà Hoàn trí quang, ba là Tu Ðà Hàm trí quang, bốn là A Na Hàm trí quang, năm là A La Hán trí quang, sáu là Bích Chi Phật trí quang, bảy là Bồ Tát trí quang và tám là Chánh Giác trí quang vậy.

Thiệt quang cũng có tám : một là chánh định hạnh, hai là được quả Tu Ðà Hoàn, ba là quả Tư Ðà Hàm, bốn là quả A Na Hàm, năm là quả A La Hán, sáu là quả Bích Chi Phật, bảy là Bồ Tát và tám là Phật Bồ đề vậy.

Thần thông quang cũng có tám : một là nhãn quang hay thấy chánh sắc, hai là nhĩ quang hay nghe chánh thanh, ba là niệm quang hay nhớ quá khứ vô số kiếp chúng sanh, bốn là tánh quang hay quan sát tâm tánh thanh tịnh của chúng sanh, năm là hư không quang dùng đại thần thông có thể đến vô lượng thế giới mười phương, sáu là phương tiện quang vì đủ có trí vô lậu, bảy là công đức trang nghiêm quang vì lợi ích tất cả chúng sanh và tám là trí huệ trang nghiêm quang vì phá lòng nghi lầm của tất cả chúng sanh vậy.

Vô ngại trí quang cũng có tám : một là trí quang, hai là ý quang, ba là huệ quang, bốn là Phật quang, năm là chánh kiến quang, sáu là làm thanh tịnh tâm chúng sanh quang, bảy là giải thoát quang và tám là tất cánh quang vậy.

Ðức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy nên nói kệ rằng :

Tu tập sáng niệm tâm
Chẳng quên nghiệp thiện ác
Thích nghe tán tụng kinh
Tu tập chẳng phóng dật 
Hay điều phục các căn
An trụ trong tịch tĩnh
Thêm lớn các pháp lành
Tu tập niệm quang minh
Hay ngăn dừng pháp ác
Như người giữ thành giỏi
Hay thủ hộ pháp thành 
Chẳng cho bốn ma vào
Chẳng chạy theo âm thanh
Thường tư duy chơn nghĩa
Gần kề thiện tri thức
Hỉ lạc trụ đúng pháp
Trí huệ vô biên thượng
Dứt hẳn các phiền não
Tà pháp chẳng động đươc
Ðời ác chẳng sanh chê
Thành tâm niệm Bồ đề
Chẳng nói tâm Tiểu thừa
Thường thích nhớ thượng ý
Vì người phá hạ ý
Chẳng sợ ma phiền não
Tu tập tâm từ bi
Chẳng nghĩ hại chúng sanh
Ðược đủ trí quang lớn
Hay phá các lòng nghi
Hiểu rõ nghĩa thậm thâm
Biết phương tiện chơn thiệt
Tu bốn trí vô ngại
Thích quán mười hai duyên
Là nhơn của chúng sanh
Biết vô tác vô thọ
Hay tu pháp quang lớn
Hay biết các Phật pháp
Tu hạnh thế xuất thế
Hay đến mười phương cõi 
Biết rõ nghiệp Nhơn Thiên
Tu tập trí vô thượng
Ba thừa về nhứt thừa
Tu tập bát chánh đạo
Vì phá pháp ba đời 
Như thiệt biết rõ rành
Pháp hữu lậu vô lậu
Lợi ích hàng Nhơn Thiên
Dạy họ dứt hữu lậu
Biết rõ đúng chơn thiệt
Pháp hữu vi vô vi
Tịch tĩnh quang vô ngại
Chẳng dính tướng hữu vi
Biết kiết nhập xuất duyên
Biết chúng tâm tánh tịnh
Nếu có Ðại thừa định
Liền biết pháp như vậy
Thích trụ tánh vô lậu
Xong bốn quả Sa Môn
Biết Bồ Tát đạo hạnh
Nên tu vô ngại trí
Phá tà tu thiệt quang
Vào chứng vô sở úy
Thích nói nghĩa chơn thiệt
Vì phá pháp sanh tử
Nhãn nhĩ tịnh không chướng
Thấy nghe sắc thanh chánh
Quá khứ nhớ chẳng lầm
Cũng biết rõ tha tâm
Ðến mười phương vô ngại
Biết pháp như hư không
Ðược vô lậu trí huệ
Vì điều phục chúng sanh
Ðủ công đức trí huệ
Vì lợi ích chúng sanh
Ở trong vô lượng đời
Cầu hai trang nghiêm nầy
Thích thọ trì tịnh giới
Thích thủ hộ Phật pháp
Tu tập chơn thiệt quang
Vì trụ đúng chánh pháp
Phật nói vô lượng quang
Ðể cho chúng sanh được
Có ai tin kinh nầy
Liền được quang như vậy.

 
Lại nầy thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát tu tập đại bi có mười sáu sự.

 
 Những gì là mười sáu ?

 
Một là đại Bồ Tát thấy chúng sanh tham trước ngã kiến, do nơi ngã kiến mà sanh ra các kiến chấp nên luôn bị sanh tử trói buộc, vì vậy nên đại Bồ Tát tu tập đại bi, do tâm đại bi mà vì chúng sanh thuyết pháp giáo hóa để phá các kiến chấp hư vọng như vậy.

 
Hai là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh điên đảo nơi thường thì thấy là vô thường, nơi vô thường thì thấy là thường, nơi khổ thấy là vui nơi vui thì thấy là khổ, nơi tịnh thấy bất tịnh nơi bất tịnh thấy là tịnh, nơi ngã thấy vô ngã nơi vô ngã thấy ngã, do đây đại Bồ Tát tu tập tâm đại bi, do tâm đại bi mà vì các chúng sanh tuyên nói pháp yếu để phá bốn thứ mê chấp điên đảo như vậy.

 
Ba là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh có lòng kiêu mạn, thiệt không có vật mà cho là có vật, thiệt không có sự mà cho là có sự; do đây mà họ sanh ra bảy thứ kiêu mạn, do kiêu mạn mà sanh lớn các pháp ác. Vì vậy mà đại Bồ Tát tu tập tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để phá trừ lòng kiêu mạn của các chúng sanh.

 
Bốn là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh bị ngũ cái che trùm, vì bị che trùm nên lòng họ sanh nghi với chánh pháp nghĩa thậm thâm họ không hiểu được, vì các chúng sanh nầy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để phá năm cái chướng của các chúng sanh ấy.

 
Năm là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh chìm trong biển lục nhập : mắt họ duyên lấy tướng hình sắc, tai họ duyên lấy tướng âm thanh, mũi họ duyên lấy hơi hương, lưỡi họ duyên lấy tướng mùi vị, thân họ duyên lấy tướng chạm xúc và ý họ duyên lấy tướng các pháp, sự duyên lấy tướng như vậy gọi đó là bị chìm, vì các chúng sanh nầy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để vớt chúng sanh khỏi bị chìm trong sáu trần tướng.

 
Sáu là đại Bồ Tát thấy các chún,g sanh có bảy thứ mạn, đó là mạn, đại mạn, mạn mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn, hạ mạn và tà mạn.Vì các chúng sanh nầy mà Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi, đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu chơn chánh để dứt các thứ mạn ấy của chúng sanh.

 
Bảy là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh rời lìa thánh đạo, họ thích làm thế tục đạo và ác đạo, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để dứt trừ thế tục đạo và ác đạo của các chúng sanh.

 
Tám là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh tạo nghiệp ác đạo, lệ thuộc vô minh ái, bị vợ con trói buộc nên chẳng được tự tại, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để dứt sự hệ phược ấy cho chúng sanh xuất ly ác đạo.

 
Chín là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gần gũi bạn xấu ác mà xa lìa bạn lành tốt, lòng họ cam đành tạo gây nghiệp ác, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu để dứt nghiệp ác của chúng sanh khiến họ xa bạn ác và gần bạn lành.

 
Mười là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gây tạo nghiệp xan tham nơi vô minh ái không biết nhàm đủ, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để dứt xan tham vô minh và ái của các chúng sanh ấy và ban cho họ trí huệ.
 
Mười một là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh nhiều ngã kiến đoạn kiến, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu ban bố cho họ trí huệ chơn chánh mười hai nhơn duyên để dứt ngã kiến và đoạn kiến của các chúng sanh.
 
Mười hai là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh hiện hành vô minh tối tăm vó nhiều kiến chấp, đó là ngã kiến, chúng sanh kiến, thọ mạng kiến, nhơn kiến, dị kiến, tà kiến, thủ kiến, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để dứt trừ các kiến chấp của các chúng sanh, ban cho họ chánh kiến trí huệ.
 
Mười ba là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh ưa thích trong sanh tử, với thân ngũ ấm cho là thân thiết, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp để cho chúng sanh thoát khỏi sanh tử trong ba cõi.
 
Mười bốn là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh bị ma trói buộc, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát vì chúng sanh tuyên nói chánh pháp để dứt phá lưới ma nghiệp ma của chúng sanh.
 
Mười lăm là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh ưa thích sự khoái lạc hư đối của thế tục mà chẳng biết được sự vui chơn thiệt và nhân của vui chơn thiệt, vì vậy mà đại Bồ Tát tuyên nói chánh pháp chỉ dạy nhơn hạnh của quả vui chơn thiệt cho chúng sanh.
 
Mười sáu là đại Bồ Tát thấy các chúng sanh cầu cửa vào Niết bàn mà chẳng biết chỗ, vì vậy mà đại Bồ Tát tu tâm đại bi, do tâm đại bi đại Bồ Tát tuyên nói pháp yếu mở cửa Niết bàn cho các chúng sanh.
 
Nầy thiện nam tử ! Do mười sáu nhơn duyên như vậy mà đại Bồ Tát vì các chúng sanh tu tâm đại bi.
 
Lại nầy Ðà La Ni Tự Tại Vương ! Các loài chúng sanh có ba mươi hai nghiệp ác bất thiện. Vì thấy như vậy mà chư đại Bồ Tát tu tập nghiệp thiện để phá trừ các nghiệp ác ấy cho chúng sanh.
 
Những gì là ba mươi hai nghiệp ?
 
Một là thấy có các chúng sanh nặng về vô minh ngủ nghỉ, đại Bồ Tát vì họ mà tu tập trí huệ để phá vô minh thùy miên ấy.
 
Hai là thấy có các chúng sanh hiểu biết thấp hạ mong muốn thấp hạ, đại Bồ Tát vì họ mà tu tập hiểu biết thắng thượng chí nguyện thắng thượng để đem pháp Ðại thừa thắng thượng giáo hóa họ.
 
Ba là thấy có các chúng sanh thích những phi pháp, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp để làm cho các chúng sanh ấy được đại tự tại nơi tất cả pháp.
 
Bốn là thấy có các chúng sanh ưa tà mạng, đại Bồ Tát tu tập chánh mạng để phá trừ tà mạng ấy.
 
Năm là thấy có các chúng sanh vào trong rừng tà, đại Bồ Tát tu tập chánh kiến để làm cho các chúng sanh và ra khỏi rừng tà.
 
Sáu là thấy có các chúng sanh ưa phóng dật, đại Bồ Tát tu tập bất phóng dật để làm cho các chúng sanh xa lìa phóng dật.
 
Bảy là thấy có các chúng sanh ưa thô bạo, đại Bồ Tát tu tập công hạnh đúng chánh pháp để làm cho các chúng sanh xa lìa thô bạo.
 
Tám là thấy có các chúng sanh tham lam bỏn xẻn, đại Bồ Tát tu tập hạnh bố thí rộng lớn để làm cho cac chúng sanh dứt tham lam bỏn xẻn.
 
Chín là thấy có các chúng sanh hay hủy phạm cấm giới, đại Bồ Tát tu trì tịnh giới để trừ lòng phá giới của các chúng sanh.
 
Mười là thấy có các chúng sanh lòng thường giận hờn, đại Bồ Tát tu tâm từ bi nhẫn nhục để phá lòng giận hờn của các chúng sanh.
 
Mười một là thấy có các chúng sanh đối với chánh pháp thiện pháp lười biếng thật hành, đại Bồ Tát tu tập siêng cần tinh tấn để trừ sự lười biếng ấy của các chúng sanh.
 
Mười hai là có các chúng sanh tâm tưởng tán loạn, đại Bồ Tát tu tập chánh định để trừ tâm tán loạn của các chúng sanh.
 
Mười ba là có các chúng sanh tà trí che tâm, đại Bồ Tát tu tập chánh trí để trừ tà trí ấy của các chúng sanh.
 
Mười bốn là có các chúng sanh nói nghĩa điên đảo, đại Bồ Tát tư duy chánh nghĩa để trừ sự điên đảo ấy của các chúng sanh.
 
Mười lăm là thấy có các chúng sanh ưa gây tạo sự nghiệp thế tục, đại Bồ Tát tu tập thiện quyền phương tiện để trừ lòng ưa thích tạo nghiệp thế tục ấy của các chúng sanh. 
 
Mười sáu là thấy có các chúng sanh bị phiền não trói buộc, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp tự dứt trừ phiền não và để làm cho các chúng sanh cũng dứt trừ phiền não.
 
Mười bảy là thấy có các chúng sanh bị buộc chặt nơi ngã kiến, đại Bồ Tát trước tự trừ ngã kiến rồi sau trừ ngã kiến của các chúng sanh.
 
Mười tám là thấy có các chúng sanh các căn chẳng điều phục, đại Bồ Tát tu tập trước tự điều phục các căn rồi sau làm cho các chúng sanh điều phục các căn của họ
 
Mười chín là thấy có các chúng sanh nói không nghiệp nhơn không quả báo, đại Bồ Tát tuyên nói nghiệp nhơn quả báo để phá trừ tà kiến bác nhân quả của các chúng sanh. 
 
Hai mươi là thấy có các chúng sanh chẳng biết ân nghĩa, đại Bồ Tát tuyên nói về ân nghĩa để trừ lòng chẳng biết ơn của các chúng sanh ấy.
 
Hai mươi mốt là thấy có các chúng sanh chưa được mà tự cho là đã được, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp để trừ lỗi tăng thượng mạn của các chúng sanh ấy.
 
Hai mươi hai là thấy có các chúng sanh ác khẩu thô bạo, đại Bồ Tát tu tập thiện ngữ dịu dàng để trừ ác khẩu của các chúng sanh.
 
Hai mươi ba là thấy có các chúng sanh tham lam chẳng biết vừa đủ, đại Bồ Tát tu tập biết đủ để trừ lòng không biết đủ của các chúng sanh.
 
Hai mươi bốn là thấy có các chúng sanh chẳng cung kính cha mẹ và sư trưởng, đại Bồ Tát tu tập hiếu thuận để làm cho chúng sanh biết cúng dường cung kính tôn trọng các bực cha mẹ sư trưởng.
 
Hai mươi lăm là thấy có các chúng sanh nghèo cùng khốn khổ, đại Bồ Tát tu tập bảy thánh tài để trừ sự nghèo cùng khốn khổ của các chúng sanh.
 
Hai mươi sáu là thấy có các chúng sanh bị bốn loại rắn độc làm bịnh, đại Bồ Tát tu tập thân niệm xứ để làm cho các chúng sanh xa lìa bốn loại rắn độc ấy.
 
Hai mươi bảy là thấy có các chúng sanh hiện hành vô minh tối tăm, đại Bồ Tát tu tập trí huệ để làm cho các chúng sanh ấy thắp đèn trí huệ..
 
Hai mươi tám là thấy có các chúng sanh thích nhà ngục tam giới, đại Bồ Tát tu tập pháp giải thoát xuất ly để dạy cho các chúng sanh biết xuất ly tam giới.
 
Hai mươi chín là thấy có các chúng sanh thường hành tà đạo, đại Bồ Tát tu tập chánh đạo để làm cho các chúng sanh trừ bỏ tà đạo.
 
Ba mươi là thấy có các chúng sanh tham ái thân mạng, đại Bồ Tát tu tập lòng chẳng tham ái thân mạng mình để dạy chúng sanh bỏ lòng tham ái thân mạng.
 
Ba mươi mốt là thấy có các chúng sanh chẳng biết cung kính cúng dường Tam bửu, đại Bồ Tát tu tập tâm tịnh tín để làm cho các chúng sanh phát lòng tin ngôi Tam bửu.
 
Ba mươi hai là thấy có các chúng sanh thiệt chẳng phải là Phật Thế Tôn mà tự xưng là Phật Thế Tôn, đại Bồ Tát tu tập sáu chánh niệm để làm cho các chúng sanh ấy biết pháp chơn thiệt vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Trên đây là ba mươi hai nghiệp hữu lậu của chúng sanh, đại Bồ Tát thấy rồi tự mình tu tập pháp đối trị thành tựu đầy đủ pháp lành rồi phá các ác nghiệp khuyên các chúng sanh thật hành thiện nghiệp.
 
Nầy thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát có vô lượng công hạnh, tại sao ? Vì chúng sanh có vô lượng môn, vì đóng bít vô lượng cửa phiền não ấy mà đại Bồ Tát tu tập vô lượng công hạnh lành.
 
Nầy thiện nam tử ! Như có chúng Thanh Văn và Bích Chi Phật đông bằng số cát sông Hằng, muốn đem số đông nầy so sánh với Bồ Tát sơ phát Bồ đề tâm  thì chẳng bằng một phần trăm một phần ngàn, cho đến không thể lấy gì ví dụ được. Tại sao ? Vì hàng nhị thừa vì giải thoát cho mình mà quán xét dứt trừ các phiền não. Còn Bồ Tát thì không phải như vậy. Các Bồ Tát luôn vì chúng sanh làm cho họ được giải thoát mà quán xét đối trừ các phiền não.
 
Nầy thiện nam tử ! Các công nghiệp được làm của chư Bồ Tát là rất hơn công nghiệp của các phàm phu và hàng Nhị thừa. Tại sao ? Vì việc làm của phàm phu tánh chất nó là phiền não là hữu lậu. việc làm của hàng Nhị thừa dầu tánh chất chẳng phải phiền não là vô lậu nhưng có biên tế, còn việc làm của Bồ Tát vô biên vộ lượng, vì vậy mà công hạnh của Bồ Tát hơn cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác”.
 
Bấy giờ Ðà La Ni Tự Tại Vương Bồ Tát nghe pháp ấy rồi lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng mà bạch đức Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Rất là lạ lùng rất là đặc biệt, lời đức Phật dạy chẳng thể nghĩ bàn.
 
Ðức Như Lai đã nói Bồ Tát anh lạc trang nghiêm, đức Như Lai đã nói Bồ Tát quang minh, Bồ Tát đại bi, Bồ Tát thiện nghiệp.
 
Nguyện cầu đức Như Lai tuyên nói chư Phật quán xét các chúng sanh mà sanh khởi tâm đại bi thế nào ? Sao gọi là bi và bi có những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn duyên gì mà sanh khởi, sao gọi là Phật nghiệp và Phật nghiệp có những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn duyên gì mà phát khởi lên ?
 
Lành thay đức Thế Tôn đấng Nhứt Thiết Trí, xin nói rộng về công nghiệp của Như Lai”.
 
Ðức Phật phàn bảo : “Lành thay lành thay ! Nầy thiện nam tử nay ông nên lắng nghe suy nhớ kỹ, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.
 
Nầy thiện nam tử ! Tất cả chư Phật chỗ có đại bi chẳng phát xuất chẳng hiện hành, tại sao, vì thường chẳng biến đổi, vì trong vô lượng kiếp tu tập mà được đại bi, nên đại bi ấy chẳng hiện hành, chẳng chuyển khởi, chẳng tu tập chẳng rời bỏ mà có khả năng làm lợi ích  cho tất cả chúng sanh.
 
Nầy thiện nam tử ! Ðại bi của chư Phật vô lượng vô biên, tâm ấy bình đẳng. Dầu dùng công sức của vô lượng cái lưỡi biện tài trong thời gian nhiều kiếp cũng không thể tuyên nói hết được.
 
Nầy thiện nam tử ! Chư Phật Thế Tôn chưa có lúc nào xa lìa đại bi như vậy. Vô thượng Bồ đề và đại bi ấy, hai pháp như vậy bình đẳng không có sai khác.
 
Nầy thiện nam tử ! Vô thượng Bồ đề của chư Phật Như Lai vô căn vô trụ. Chư Phật Như Lai biết căn biết trụ nên Vô thượng Bồ đề không có căn không có trụ. Tất cả chúng sanh thảy đều không có, không có căn không có trụ. Vì muốn ban cho chúng sanh Vô thượng Bồ đề vô căn vô trụ mà chư Phật Thế Tôn khởi tâm đại bi. Nơi đây, vì muốn cho chúng sanh biết vô căn vô trụ mà đức Như Lai tuyên nói chánh pháp.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh. Thế nào là thanh tịnh, thế nào là tịch tĩnh ? Thanh tịnh gọi là trong, tịch tĩnh gọi là ngoài. Bên trong gọi là nhãn rỗng không , rỗng không gọi là không có ngã không có ngã sở, tại sao, vì tánh là một vậy. Như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý cũng như vậy, tại sao, vì tánh là một vậy.
 
Ðã biết nhãn rỗng không rồi thì không trụ trước nơi sắc hình , tâm chẳng trụ trước nơi sắc thì gọi là tịch tĩnh. Như sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng như vậy.
 
Vì tất cả chúng sanh chẳng biết Bồ đề thanh tịnh tịch tĩnh nên đức Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Tất cả chúng sanh tâm tánh bổn lai thanh tịnh. Vì tánh thanh tịnh nên tất cả phiền não kiết sử không nhiễm ô được. Như hư không chẳng thể nhiễm ô, tâm tánh và không tánh đồng nhau không có sai khác.
 
Chúng sanh vì chẳng biết tâm tánh thanh tịnh nên bị dục tham phiền não trói buộc, vì vậy mà đức Phật Như Lai khởi tâm đại bi  diễn nói chánh pháp làm cho họ được biết vậy.
 
Nầy thiện nam tử luận về Bồ đề chẳng thủ chẳng xả. Thế nào là chẳng thủ ? Chư Phật Như Lai chẳng thấy tất cả pháp có thử ngạn bỉ ngạn, tại sao, vì tất cả pháp rời lìa thử bỉ vậy. Chư Phật Như Lai biết thật như vậy nên gọi là bất thủ.
 
Thế nào là bất xả ? Tất cả chúng sanh chẳng biết pháp giới, chư Phật Như Lai tuyên dạy cho họ biết rõ pháp giới, đây gọi là bất xả vậy. Vì duyên cớ nầy mà chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho chúng sanh biết rõ hai pháp bất thủ và bất xả như vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô tưởng vô duyên . Thế nào là vô tưởng ? Chẳng thấy có nhãn thức cho đến ý thức, chẳng thấy có sắc tướng cho đến pháp tướng, đây gọi là vô tướng. Thế nào là vô duyên ? Ở trong các pháp như vậy, vì chẳng biết chẳng thấy nên không có thủ trước, đây gọi là vô duyên. Vô tưởng và vô duyên gọi là thánh hạnh. Thế nào gọi là Thánh hạnh  ? Vì rằng chẳng hiện hành nghiệp hạnh tam giới vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Chẳng hiện hành nghiệp hạnh giới như vậy gọi là thánh hạnh, tất cả thánh nhơn chẳng hiện hành nơi nghiệp hạnh ấy. Chúng sanh chẳng hiện hành thánh hạnh như vậy, nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho chúng sanh được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề chẳng phải là tam thế. Quá khứ ý, vị lai thức và hiện tại tham đây gọi là ba phần thời gian. Vì biết rõ được ba phần như vậy nên ý với thức và tham không có chỗ an trụ, vì vậy mà chẳng nhớ quá khứ chẳng cầu vị lai chẳng tham ái hiện tại. Nếu thấy tam thế đều bình đẳng thì gọi là chánh kiến. Vì muốn tất cả chúng sanh được chánh kiến bình đẳng như vậy nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô thân vô vi. Thế nào là vô thân ? Chẳng phải nhãn thức giới cho đến chẳng phải ý thức giới, đây gọi là vô thân. Thế nào là vô vi ? Bất sanh bất diệt bất tận bất trụ, không có ba tướng sanh trụ và diệt, đây gọi là vô vi.
 
Nầy thiện nam tử ! Tất cả pháp tánh là vô tánh, nếu vô tánh thì không có sai biệt gọi là không có hai. Vì vậy nên Bồ đề không có thân không có vi tác. Tất cả chúng sanh chẳng biết Bồ đề vô thân vô vi, vì vậy nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ biết rõ như vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề không có phân biệt không có cú nghĩa. Thế nào là không có phân biệt ? Thế nào là không có cú nghĩa ?
 
Vô sở trụ gọi là không có phân biệt, chẳng nhiếp thuộc về chữ gọi là không có cú nghĩa.
 
Chẳng phải có hai gọi là không có phân biệt, chẳng nhập vào pháp giới gọi là không có cú nghĩa.
 
Không động dao gọi là không có phân biệt, chẳng biến đổi gọi là không có cú nghĩa.
 
Vì rỗng không nên gọi là không có phân biệt, vì chẳng thể nói được nên gọi là không có cú nghĩa.
 
Vì không giác không quán nên gọi là không có phân biệt, vì không có tướng nên gọi là không có cú nghĩa.
 
Vì chẳng phát khởi nên gọi là không có phân biệt, vì không có nguyện cầu nên gọi là không có cú nghĩa.
 
Biết chúng sanh giới đồng với hư không gọi là không có phân biệt, không có chúng sanh giới gọi là không có cú nghĩa.
 
Chẳng sanh gọi là không có phân biệt, chẳng trụ gọi là không có cú nghĩa.
 
Chẳng diệt gọi là không có phân biệt, vô vi gọi là không có cú nghĩa.
 
Chẳng hành gọi là không có phân biệt, bình đẳng gọi là không có cú nghĩa.
 
Biết bình đẳng gọi là không có phân biệt, tịch tĩnh gọi là không có cú nghĩa.
 
Vì chúng sanh chẳng biết như vậy, nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ biết rõ các nghĩa ấy.
 
Nầy thiện nam tử ! chẳng thể dùng thân để được, chẳng thể dùng tâm để được, tại sao, vì thân tâm như huyễn vậy. Nếu có thể biết rõ được thân tâm chơn thiệt thì gọi là Bồ đề. Nói gọi là Bồ đề  đó là vì để lưu bố thế tục, nhưng tánh và tướng Bồ đề  thiệt không thể nói được.
 
  Nầy thiện nam tử  !  Luận về Bồ đề thì chẳng thể nói thân, chẳng thể nói tâm, chẳng thể nói pháp, chẳng thể nói phi pháp, chẳng thể nói có, chẳng thể nói không có, chẳng thể nói thiệt, chẳng thể nói rỗng không, tại sao, vì tánh chẳng thể nói được vậy.
 
Bồ đề không có trụ xứ chẳng thể tuyên nói được dường như hư không. Vì biết thiệt tất cả pháp chẳng thể tuyên nói được, trong chữ không có pháp, trong pháp không có chữ, chỉ vì lưu bố theo thế tục mà tuyên nói. Tất cả phàm phu chẳng biết chơn thiệt, nên chư Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho họ biết chơn thiệt.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô thủ vô duyên. Thế nào là vô thủ, thế nào là vô duyên ?
 
Biết nhãn chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhãn không có sắc cảnh gọi là vô duyên.
 
Biết nhĩ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhĩ không có thanh cảnh gọi là vô duyên.
 
Biết tỷ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết tỷ không có hương cảnh gọi là vô duyên.
 
Biết thiệt chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thiệt không có vị cảnh gọi là vô duyên.
 
Biết thân chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thân không có xúc cảnh gọi là vô duyên.
 
Biết ý chơn thiệt gọi là vô thủ, biết ý không có pháp cảnh gọi là vô duyên.
 
Như Lai Thế Tôn do nghĩa như vậy biết Bồ đề vì không có thủ trước nên gọi là không có nhãn, vì không có nhà cửa nên gọi là vô duyên. Nhãn thức chẳng trụ trong cảnh sắc kia gọi đó là không nhà cửa, nhẫn đến ý thức cũng như vậy.
 
Tất cả chúng sanh tâm không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như thiệt biết tâm không có chỗ trụ ở. Chỗ trụ ở có bốn thứ, đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Nơi bốn thứ nầy tâm không có chỗ trụ ở, đây gọi là tâm không có chỗ trụ ở. Vì vậy mà gọi rằng tất cả các pháp đều không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như thiệt biết đó, mà vì các hàng phàm phu không thể biết được, nên Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp để cho họ được biết chơn thiệt vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề gọi là rỗng không, nhưng trong Bồ đề không có tướng rỗng không, đây gọi là rỗng không. Tất cả pháp rỗng không Bồ đề cũng rỗng không, Như Lai Thế Tôn chơn thiệt biết được rỗng không như vậy, nên Như Lai gọi là đấng biết rỗng không. Chư Phật gọi là đấng giác ngộ tất cả các pháp rỗng không trong rỗng không nhưng chẳng có giác tri, cũng hay biết rõ Vô thượng Bồ đề. Rỗng không và Bồ đề là nhứt như, rỗng không cùng Bồ đề là một chẳng phải là hai. Rời rỗng không mà Bồ đề có pháp riêng khác mới được nói là hai. Vì không có hai nên gọi đó là rỗng không, vì không có danh tự nên gọi đó là rỗng không. Vì không có tướng mạo nên gọi đó là rỗng không, vì không có oai nghi nên gọi đó là rỗng không, vì không có tu hành nên gọi đó là rỗng không, vì không có ngôn thuyết nên gọi đó là rỗng không.
 
Nầy thiện nam tử ! Trong đệ nhứt nghĩa không có các pháp thế nào nói là rỗng không. Ví như hư không không có ngôn không có thuyết, vì không có ngôn thuyết nên gọi là hư không. Trong không có ngôn thuyết cũng không có ngôn thuyết, đây gọi là rỗng không.
 
Tất cả các pháp cũng như vậy, pháp không có danh tự nói là danh tự, danh tự như vậy cũng không có chỗ trụ ở. Nếu danh tự không có trụ ở thì các pháp dưới danh tự ấy cũng không có chỗ trụ ở.
 
Như Lai Thế Tôn chơn thiệt biết các pháp như vậy không có sanh không có diệt. Vì chơn thiệt biết nên được giải thoát.
 
Bổn lai không có hệ phược sao lại gọi là được giải thoát ? Vì lẽ ấy nên Như Lai Thế Tôn không có hệ phược không có giải thoát.
 
Các pháp như vậy tất cả hàng phàm phu chẳng có thể biết được, vì thế nên chư Phật Thế Tôn khởi phát lòng đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy đồng như hư không. Tánh hư không chẳng bằng chẳng thấp, Bồ đề cũng như vậy. Nếu pháp đã là không có tánh thì chẳng thể nói là có bằng có thấp. Như Lai Thế Tôn thiệt biết các pháp không có bằng không có thấp nhẫn đến vi trần không có bằng không có thấp.
 
Nếu pháp có tánh chính là như thiệt trí. Bực như thiệt trí biết tất cả pháp trước không nay có, đã có lại không, lúc sanh lúc diệt không chỗ hệ thuộc, theo duyên mà sanh, theo duyên mà diệt, do nghĩa nầy mà gọi là đạo. Do dứt đạo nầy nên gọi là Bồ đề.
 
Vì các hàng phàm phù chằng biết đạo chơn thiệt như vậy, nên chư Phật Thế Tôn phát khởi đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Bồ đề gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt cú ấy tức là Bồ đề. Hai cú như vậy đồng nhau không sai khác. Sắc  cũng như vậy, thọ tưởng hành thức, địa thủy hỏa phong, nhãn giới sắc giới nhãn thức giới, nhĩ giới thanh giới nhĩ thức giới, tỷ giới hương giới tỷ thức giới, thiệt giới vị giới thiệt thức giới, thân giới xúc giới thân thức giới, ý giới pháp giới ý thức giới cũng đều như vậy, đây gọi là pháp lưu bố theo thế tục.
 
Như Lai chơn thiệt biết rõ các ấm nhập giới pháp như vậy không có điên đảo. Bực chẳng điên đảo biết pháp quá khứ bất sanh bất diệt, biết pháp vị lai bất sanh bất diệt, biết pháp hiện tại cũng bất sanh bất diệt, biết như vậy gọi là chẳng điên đảo, gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt cú ấy, như một pháp thì tất cả pháp cũng như vậy, như tất cả pháp thì một pháp cũng như vậy. Chơn thìệt cú nầy các hàng phàm phu chẳng biết, vì vậy nên chư Phật Như Laì phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy, chẳng phải nội chẳng phải ngoại. Thế nào là nội, thế nào là ngoại ?
 
Không bị tạo tác là chẳng phải nội, không bị giác tri là chẳng ngoại.
 
Nội ấy có nghĩa là trụ ở, ngoại ấy có nghĩa là tướng dạng. Thể của Bồ đề chẳng phải trụ ở chẳng phải tướng dạng, nên gọi Bồ đề chẳng phải nội chẳng phải ngoại.
 
Lại nữa, chẳng phải nội là chẳng phải ba nghiệp thân khẩu và ý, chẳng phải ngoại là chẳng phải ba nghiệp duyên.
 
Chẳng phải nội là vô tướng giải thoát môn, chẳng phải ngoại là không giải thoát môn.
 
Các nghĩa như vậy hàng phàm phu chẳng biết. Vì thế chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là vô lậu là vô thủ. Thế nào là vô lậu và thế nào là vô thủ ?
 
Vô lậu là xa lìa bốn lưu, đó là dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu và kiến lưu. Vô thủ là xa lìa bốn thủ, đó là dục thủ, hữu thủ, kiến thủ và giới thủ.
 
Các chúng sanh bị vô minh che trùm luôn đi nơi bốn thủ, do khát ái nên làm ngã và ngã sở.
 
Như Lai Thế Tôn biết rõ ngã không căn bổn nên ngã thanh tịnh, do ngã thanh tịnh nên có thể thanh tịnh chúng sanh. Ngã thanh tịnh thì chẳng giác tri tất cả các pháp cũng chẳng tư duy tất cả phi pháp, chẳng sanh khởi vô minh, do chẳng khởi vô minh nhơn duyên nên chẳng khởi mười hai nhơn duyên hữu, hữu nhơn duyên chẳng khởi thì bất sanh, vì bất sanh nên nhập vào quyết định tụ. Quyết định tụ ấy gọi là liễu nghĩa. Liễu nghĩ ấy gọi là đệ nhứt nghĩa. Ðệ nhứt nghĩa ấy gọi là không có chúng sanh. Nghĩa không có chúng sanh gọi là nghĩa bất khả thuyết. Nghĩa bất khả thuyết chính là nghĩa mười hai nhơn duyên. Nghĩa mười hai nhơn duyên chính là nghĩa pháp. Nghĩa pháp ấy chính là Như Lai. Do nghĩa như vậy nên trong khế kinh nói nếu có ai thấy được mười hai nhơn duyên thì là người thấy pháp. Thấy pháp là thấy Như Lai. Thấy Như Lai ấy chính là không chỗ thấy. Chỗ thấy là tà, tà kiến ấy đó là pháp tướng số. Như Lai không có tưởng cũng không có tưởng số. Do nơi nghĩa nầy nên thấy Như Lai là không có chỗ thấy. Nếu thấy Như Lai không có tướng, không có tác, không có tri, không có giác, thì gọi là chơn thiệt thấy Như Lai.
 
Cũng vậy, đức Như Lai biết rõ tất cả các pháp bình đẳng như vậy, pháp giới vô lậu vô thủ.
 
Các hàng phàm phu chẳng thể rõ biết được như vậy, vì thế Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh. Thế nào là thanh tịnh, thế nào là tịch tĩnh, thế nào là quang minh và thế nào là vô tranh ?
 
Chẳng xen tạp phiền não thì gọi đó là thanh tịnh. Không giải thoát môn thì gọi đó là tịch tĩnh. Vô tướng giải thoát môn và vô nguyện giải thoát môn thì gọi đó là quang minh. Vô sanh vô diệt thì gọi đó là vô tranh. Lại nữa, vô sanh ấy thì gọi đó là thanh tịnh. Vô diệt thì gọi đó là tịch tĩnh. Vô thủ thì gọi là quang minh. Bất xuất thì gọi là vô tranh.
 
Lại nữa, tánh thì gọi là thanh tịnh. Không có các phiền não thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh. 
 
Lại nữa, pháp giới gọi là thanh tịnh. Tánh chơn thiệt gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
 
Lại nữa, tánh hư không gọi là thanh tịnh. Pháp giới vô phân biệt thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
 
Lại nữa, nội ngoại thanh tịnh thì gọi đó là thanh tịnh. Nơi các pháp nội và ngoại chẳng thủ lấy chẳng trụ trước, thì gọi đó là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.
 
Lại nữa, chơn thiệt biết ngũ ấm thì gọi đó là thanh tịnh. Chơn thiệt biết thập bát giới thì gọi đó là tịch tĩnh là quang minh. Xa lìa lục nhập thì gọi đó là vô tranh.
 
Lại nữa, thấy quá khứ tận thì gọi là thanh tịnh. Thấy vị lai chẳng sanh thì gọi là tịch tĩnh. Thấy pháp hiện tại an trụ nơi pháp giới không có động chuyển thì gọi đó là quang minh là vô tranh. 
 
Thanh tịnh tịch tĩnh quang minh và vô tranh, bốn pháp như vậy đồng nhập vào một giới một pháp và một câu. Ba pháp như vậy tức là Niết bàn. Vì xa lìa phiền não nên gọi là thanh tịnh, vì rốt ráo thanh tịnh nên gọi là tịch tĩnh, vì không tối tăm nên gọi là quang minh, vì bất khả thuyết nên gọi là vô tranh. Vì thế nên nói đức Thích Ca Như Lai nín lặng không chỗ nói.
 
Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy tức là hư không. Hư không ấy gọi là pháp. Như pháp, chúng sanh cũng vậy. Như chúng sanh, phước điền cũng vậy. Như phước điền, Niết bàn cũng vậy. Do nghĩa nầy nên tất cả pháp đồng với Niết bàn.
 
Ðức Như Lai có thể biết rõ pháp giới như vậy nên gọi là Phật.
 
Tu tập đầy đủ thanh tịnh tịch tĩnh quang minh và vô tranh, bốn câu như vậy thì gọi đó là Phật”.
 
Vì đức Như Lai có thể biết rõ được thiện phương tiện nên lúc đầu mới được Vô thượng Bồ đề liền nín lặng an trụ không có tuyên nói để chờ Ðại Phạm Vương thưa thỉnh. Lúc ấy, Thi Khí Ðại Phạm Vương cùng sáu vạn tám ngàn vị Phạm Thiên đến chỗ Phật đầu mặt lạy Phật rồi chắp tay tôn kính bạch rằng : Cầu nguyện đức Như Lai vì các chúng sanh chuyển chánh pháp luân, lại tiến nói kệ rằng :
 
Phật pháp ly thanh tịnh, tịch tĩnh
Ðại quang vô ngại, không có tranh
Không chữ, không tiếng cũng không nói
Chơn thiệt biết rõ như pháp giới
Phật vì chúng sanh vô lượng kiếp
Khổ hạnh thọ trì giới thế gian
Ðể thức tỉnh chúng sanh mê ngủ
Mãi làm phóng dật mê thiệt nghĩa
Còn vô lượng chúng trong hội nầy
Chứa căn lành nơi vô lượng Phật
Hay hiểu nghĩa sâu nghĩa chơn thiệt
Nguyện Phật chuyển pháp luân vô thượng
Chúng đây đã phục tất cả ma
Muốn đuợc mở bày cửa cam lộ
Ðức Phật hiệu là chơn Ðạo Sư
Chỉ đường vô thượng cho chúng sanh
Ðức Phật dầu có đại từ bi
Thương mến chúng sanh như con một
Nay tôi thỉnh pháp là đúng thời
Phật chuyển chánh pháp luân vô thượng
Như xưa ba Phật chuyển pháp luân
Nguyện cầu Như Lai nay cũng vậy
Vô lượng Ðạo Sư không thối chuyển
Dạy các chúng sanh đạo nhứt chơn
Như mưa nhuần lớn các cỏ cây
Làm cho chúng sanh hết nóng khát
Phật ban pháp vũ cho chúng sanh
Vì được vô lượng vô thượng quả
Lúc sơ sanh Phật có phát nguyện
Ta sẽ cứu khổ các chúng sanh
Chúng sanh khát mong vị cam lộ
Nguyện đại từ bi ban mưa pháp.
 
Bấy giờ đức Thế Tôn đã thọ thỉnh rồi liền đi qua thành Ba La Nại trong rừng Lộc Dã chỗ ở của các tiên nhơn mà chuyển chánh pháp luân. Pháp luân ấy, tất cả hàng chư Thiên, Ma Vương, Phạm Vương và các Sa Môn hoặc các Bà La Môn khác đều chẳng thể chuyển được. Lúc ấy đức Thế Tôn nói pháp Tứ đế, Tỳ Kheo Kiều Trần Như được pháp nhãn thanh tịnh. Tiếng pháp ấy vang khắp cả cõi Ðại Thiên . Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :
 
Nghĩa pháp thậm thâm chẳng thể nói
Ðệ nhứt nghĩa không tiếng không chữ
Tỳ kheo Trần Như nói các pháp
Chứng được bực tri kiến chơn thiệt
Chính ta thuở xưa vô lượng đời
Chứng được Bồ đề nay đã được.
 
Lúc đức Như Lai chuyển chánh pháp luân như vậy, vô lượng chúng sanh đều được điều phục. Ðức Như Lai thị hiện đại bi thần thông như vậy các chúng sanh được thấy có vô số người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
 
Nầy thiện nam tử ! Mười sáu đại bi của Như Lai như vậy, tất cả đều vì các chúng sanh mà tu tập. Do nhơn duyên đại bi ấy, đức Như Lai vì mỗi mỗi chúng sanh trải qua số kiếp như số cát sông Hằng ở trong đại địa ngục thọ những khổ não mà tâm không thối chuyển , tâm đại bi ấy cũng không bị tổn giảm. Vì nghĩa ấy nên đại bi của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn.
 
Nầy thiện nam tử ! Lòng bi của hàng Thanh Văn và Duyên giác như vẽ trên da, đại bi của Bồ Tát như xẻ thịt, đại bi của Như Lai như chẻ xương thấu tủy. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác tán thán sở tri của Phật, đại bi của Bồ Tát khuyên người thật hành, đại bi của Như Lai thọ ký Vô thượng Bồ đề. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác làm nhơn duyên cho lòng từ, đại bi của Bồ Tát vì điều phục chúng sanh, đại bi của Như Lai vì cứu cánh độ chúng sanh. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác do sự khổ thô thiển mà sanh, đại bi của Bồ Tát do lìa rời sự khổ mà sanh, đại bi của Như Lai do dứt trừ tất cả nhơn duyên mà sanh.
 
Nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai tu tập đại bi như vậy, nếu vì một người mà ở lại thế gian mà trải qua một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp đến vô lượng kiếp trọn chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.
 
Nầy thiện nam tử ! Ðại bi của Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy.
 
Nầy thiện nam tử ! Về quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp, nơi thế gian có đức Phật xuất thế hiệu là Chiên Ðàn Quật, thế giới ấy tên là Ðại Hương, kiếp ấy gọi là Thượng Hương. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật trong ba trăm ba mươi hai vạn kiếp thường đem chánh pháp giáo hóa hàng Thanh Văn. Trên thân Phật Chiên Ðàn Quật mỗi mỗi lỗ lông phát ra hơi hương khắp đầy cả Ðại Thiên thế giới. Thế giới Ðại Hương ấy không có danh từ hôi thúi, bao nhiêu cỏ cây đều có mùi chiên đàn, thân các chúng sanh trong cõi ấy cũng có mùi hương chiên đàn như vậy, tất cả đều không có thân khẩu ý ác. Ðệ tử của đức Phật Chiên Ðàn Quật nghe mùi hương nầy thì được tứ thiền. Sau đó kế tiếp có một vạn chư Phật nối nhau xuất thế đều đồng một hiệu là Chiên Ðàn Quật, do cớ nầy mà kiếp ấy có tên là Thượng Hương.
 
Ðức Chiên Ðàn Quật Như Lai làm Phật sự xong muốn nhập Niết bàn quan sát chúng sanh coi có ai chưa điều phục thì Phật sẽ điều phục cho. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật dùng tịnh nhãn thấy có một vị ở Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đã ở nơi Phật trước gieo giống thượng thiện căn quyết định sẽ nhơn pháp Phật mà được độ thoát chớ chẳng phải nhơn pháp Thanh Văn mà được giải thoát. Vị trời nầy quá tám vạn bốn ngàn kiếp tuổi thọ sẽ sanh xuống cõi Dục sẽ nghe kinh điển Ðại thừa mà phát tâm Vô thượng Bồ đề an trụ bực bất thối chuyển. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật do sức đại bi khởi đại phương tiện bảo các Tỳ Kheo giờ Niết bàn của ta đã đến, nói xong Phật liền nhập Bất Hối tam muội thị hiện cho chúng sanh biết Phật nhập Niết bàn, biết Phật nhập Niết bàn rồi đại chúng sắp bày rộng rãi sự cúng dường, chánh pháp trụ thế đủ sáu mươi tám vạn bốn ngàn năm, trong thời gian các đệ tử của Phật không có đến một người ở nơi chánh pháp mà sanh tưởng tà pháp. Do sức đại định, đức Phật Chiên Ðàn Quật ẩn kín thân Phật qua tám vạn bốn ngàn kiếp chẳng cho đại chúng thấy. Quá kiếp số thọ mạng, vị trời ấy sanh xuống nhơn gian làm con trai nhà đại trưởng giả. Qua tám mươi năm, đức Phật Chiên Ðàn Quật từ tam muội dậy đến nhà trưởng giả, mọi người trong nhà không ai thấy, chỉ có người con trai nầy một mình được thấy đức Phật và được nghe đức Phật thuyết pháp được chẳng thối chuyển tâm Vô thượng Bồ đề. Biết vậy, đức Phật Chiên Ðàn Quật liền thọ ký rằng đời sau quá bảy vạn hai ngàn a tăng kỳ trăm ngàn kiếp ngươi sẽ được thành Vô thượng Bồ đề hiệu là Bửu Thượng Phật. Lời đức Phật Chiên Ðàn Quật thọ ký ngoài người con trai trưởng giả nầy không ai được nghe, chỉ có một vạn hai ngàn chư Thiên nầy nghe rồi đều phát tâm Vô thượng Bồ đề đồng thanh bạch rằng : Cầu nguyện lúc đức Bửu Thượng Phật ra đời, chúng tôi sẽ ở trong pháp hội ấy thỉnh thọ chánh pháp và làm đệ tử. Ðức Phật Chiên Ðàn Quật nghe biết lời bạch của chư Thiên liền thọ ký rằng : Lúc Bửu Thượng Như Lai thành Phật, một vạn hai ngàn chư Thiên các ngươi sẽ làm thọ pháp đệ tử, cũng sẽ được Phật Bửu Thượng thọ ký Vô thượng Bồ đề. Việc làm nầy xong đức Chiên Ðàn Quật mới cứu cánh nhập Niết bàn tất cả chư Thiên thiết lập cúng dường lớn”.
 
Ðức Phật phán tiếp : “Nầy thiện nam tử ! Chư Phật Như Lai có đủ đức đại bi như vậy, chẳng phải là chỗ biết được của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Thuở ấy, đức Phật Chiên Ðàn Quật dầu ở tại thế đem pháp Thanh Văn giáo hóa mà cuối cùng vẫn làm cho giống Phật chẳng dứt. Nếu có chúng sanh nào cúng dường ngôi Tam bảo thì cũng như vậy”.
 
Lúc đức Phật Thế Tôn nói rộng công đức đại bi, trong chúng hội có ba hằng hà sa chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nửa số chúng hội được thành vô sanh pháp nhẫn, phân nửa trong nửa số còn lại được có mười sáu đại bi như vậy, phần còn lại được Phật pháp nhẫn.
 
Tất cả chư Thiên và mọi người nghe pháp vui mừng đồng thanh khen rằng : “Lành thay, lành thay ! Rất lạ lùng rất đặc biệt, đức Phật Thế Tôn tuyên nói pháp môn đại bi như vậy”.
 
Lại nữa, nầy Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát ! Ðức Phật Như Lai còn có ba mươi hai nghiệp.
 
Nầy thiện nam tử ! Như Lai biết rõ thị xứ và phi xứ. Thế nào là Thị xứ và thế nào là phi xứ?
 
Nầy thiện nam tử ! Nếu có người tạo tác thân khẩu ý ác mà được thọ quả an lạc thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu có người tạo tác thân khẩu ý thiện mà thọ quả an lạc thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Nếu có ngưòi quen làm việc tham lam bỏn xẻn mà được báo giàu to thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu có người ban ơn bố thí mà được báo giàu to thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Nếu là người hủy phạm giới cấm mà được báo thân cõi trời thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu là người hộ trì giới cấm thanh tịnh mà được báo thân cõi trời thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người hay sân hận mà được báo thân xinh đẹp thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người thường nhẫn nhục mà được báo thân xinh đẹp thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người lười nhác trong pháp lành lớn mà được đại thần thông thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người siêng tinh tiến nơi pháp lành lớn mà được đại thần thông thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người phóng tâm tán loạn mà được bực chánh định thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người nhiếp tâm bất loạn mà được bực chánh định thì có như vậy, đây gọi là thị xứ .
 
Người ngu si mà dứt tập khí phiền não thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người tu hành trí huệ dứt tập khí phiền não thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người tạo tội ngũ nghịch mà được vô lậu thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ . Người không tội ngũ nghịch mà được vô lậu thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Thân người nữ mà làm Chuyển Luân Thánh Vương thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Thân nam tử làm Chuyển Luân Thánh Vương thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Như làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm Thiên Ðế Thích, làm Phạm Vương và làm Phật cũng như vậy.
 
Nếu là chuyển Luân Thánh Vương mà dùng phi pháp để trị nước thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Chuyển Luân Thánh Vương dùng chánh pháp trị nước thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người Châu Uất Ðơn Việt sau khi chết mà đọa vào ba ác đạo thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người Uất Ðơn Việt thọ chung sanh lên cõi trời thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người thường sát hại sanh mạng chúng sanh mà được báo trường thọ thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Còn do cớ nầy mà thọ mạng yểu ngắn thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Người có tà kiến mà chứng thánh đạo thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người có chánh kiến mà chứng được thánh đạo thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.
 
Bực Tu Ðà Hoàn mà còn có thọ sanh đời thứ tám thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Bực Tu Ðà Hoàn mà liền nhập Niết bàn cũng không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bực A Na Hàm mà thọ sanh trong cõi Dục thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bực A La Hán mà thọ thân đời sau thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Người Hiền Thánh mà học hỏi nơi các dị sư thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bực bất thối nhẫn mà còn thối chuyển Bồ đề thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bồ Tát đến ngồi dưới cây Bồ đề chưa chứng quả Bồ đề mà dậy đi thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bực Phật Như Lai mà có tập khí phiền não thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Bực Phật Như Lai mà trí còn có chướng ngại thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Nếu có ai thấy được đỉnh đầu của đức Phật thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Nếu có chúng sanh biết được cảnh giới nội tâm của đức Phật thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Tâm của đức Phật mà chẳng thường định cũng không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Chư Phật Thế Tôn mà có nhị ngữ thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Như Lai Thế Tôn mà còn có lỗi lầm thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.
 
Nầy thiện nam tử ! Ðây gọi là nghiệp thứ nhứt của Phật Thế Tôn.
 
Ðức Phật nói kệ rằng :
 
Ðại địa được nói tướng chuyển động
Gió mạnh được nói tướng dừng lặng
Hư không được nói tướng có sắc
Phật chẳng nói xứ là phi xứ
Phật diễn nói xứ và phi xứ
Phần hạ trung thượng đều chơn thiệt
Chẳng nói xứ phi xứ là một
Hai xứ như vậy riêng không hai
Như Lai cũng nói hạ trung thượng
Ðều riêng không có ba thứ tướng
Phật biết thị xứ phi xứ rồi
Có thể tuyên nói pháp vô thượng
Như Lai biết rõ lòng chúng sanh
Khéo hay phân biệt tướng vi tế
Sa Môn phạm chí đi trong tối
Chẳng biết nhơn thị xứ phi xứ
Chúng sanh chằng biết xứ phi xứ
Do đó nên chẳng được giải thoát
Như Lai biết rõ xứ phi xứ 
Ðó là hiệu Phật đấng Vô Thượng
Nếu là chúng sanh không pháp khí
Như Lai với họ tu tâm xả
Lập đại phương tiện chờ thời tiết
Vì cho họ được chơn giải thoát
Như Lai Thế Tôn trí vô thượng
Ðây thì gọi là pháp thứ nhứt
Thanh tịnh nghiệp thứ nhứt như vậy
Vì làm chúng sanh được điều phục
Như Lai nói lực thứ nhứt nầy
Rất sâu khó lường không biết được
Diệu pháp như vậy khó biết được
Vì phá tà kiến thương xót nói
 

Xem Tiếp: Trang 03

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx