|
|
|
|
|
|
|
|
44
Pháp Hội Bửu Lương Tụ:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
KINH
ÐẠI BẢO TÍCH
Việt
dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất
bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
LI
PHÁP HỘI TỰ TẠI
VƯƠNG BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI MỐT
(Hán bộ
từ quyển 126 đến quyển 129)
Hán Dịch:
Bắc Lương, Tạm Tạng Đàm Vô Sấm
Việt Dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai khéo biết những nghiệp
được có của các chúng sanh hiện tại và các chúng sanh vị
lai, biết rõ nghiệp, biết rõ báo, biết rõ nhơn, biết rõ
xứ. Nếu nghiệp quá khứ là nhơn bất thiện thì đức Như
Lai biết rõ là đời vị lai được quả bất thiện. Nếu
nghiệp vị lai có nhơn duyên thối chuyển thì Như Lai biết
rõ là nhơn thối chuyển. Nếu nghiệp vị lai hay làm tăng trưởng
pháp thì đức Như Lai biết rõ do nhơn duyên nầy hay làm tăng
trưởng pháp. Nếu nghiệp hiện tại hoặc tiến hoặc thối
thì đức Như Lai biết rõ do nhơn duyên nầy nên có tiến có
thối. Nếu có nghiệp được làm là nhơn Thanh Văn là nhơn
Duyên Giác, là nhơn Bồ Tát, là nhơn Như Lai, thì đức Như
Lai đều biết rõ do nhơn duyên nầy mà thành là nhơn Thanh
Văn, là nhơn Duyên Giác, là nhơn Bồ Tát, là nhơn Như Lai.
Ðây gọi là nghiệp thứ hai của đức Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai chứng được trí Vô thượng
Nên
biết rõ được nghiệp nhơn quả
Biết
nhiếp tam thế chẳng tam thế
Biết
được tam thế nghiệp chúng sanh
Khéo
biết chúng sanh nhơn an lạc
Phật
cũng biết rõ nhơn khổ não
Phật
phá tà kiến không nhơn quả
Do
đây tu tập nghiệp thứ hai
Thông
đạt nhơn hai pháp tiến thối
Nghiệp
quả thiện ác cũng như vậy
Như
Lai tri kiến không chướng ngại
Như
xem trái cây trong bàn tay
Biết
tướng chơn thiệt thượng trung hạ
Sở
nhơn ba thừa cũng như vậy
Như
Lai biết rõ nghiệp chúng sanh
Cũng
biết các nghiệp quả thiện ác
Chúng
sanh nghiệp quả thuộc tam thế
Biết
rõ chẳng sai gọi Chánh Giác.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn biết rõ các loại
dục giải của chúng sanh : hoặc là tham dục, hoặc là sân
hận, hoặc là ngu si, đời hiện tại tham dục khởi đời
vị lai tham sân si, đời hiện tại sân hận khởi đời vị
lai tham sân si, đời hiện tại ngu si khởi đời vị lai tham
dục sân hận ngu si. Ðức Như Lai biết rõ các chúng sanh hiện
tại trụ ở thiện dục vị lai ác dục, hiện tại trụ ác
dục vị lai thiện dục. Ðức Như Lai biết rõ các chúng sanh
đời hiện tại trụ hạ dục đời vị lai hạ trung thượng
phần, đời hiện tại trụ trung dục đời vị lai hạ trung
thượng phần, đời hiện tại trụ thượng dục đời vị
lai hạ trung thượng phần. Ðức Như Lai biết rõ chúng sanh
tà tụ có thể làm chánh tụ, chúng sanh bất định tụ an
trụ ở chánh định tụ. Ðức Như Lai biết rõ chúng sanh cõi
Dục có dục giải cõi Sắc, cõi Vô Sắc. Ðức Như Lai biết
rõ người Thanh Văn có dục giải Duyên Giác có dục giải
Phật. Vì đức Như Lai chơn thiệt thông đạt biết rõ nên
vì họ mà thuyết pháp. Ðây gọi là nghiệp thứ ba của Như
Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Dục
giải của chúng sanh có nhiều loại
Ý
đó có nhiều chẳng phải một
Phật
chơn thiệt biết rõ các dục
Nên
hay tùy ý diễn nói pháp
Tánh
tham dục sân hận ngu si
Theo
tướng biết rõ không sai lầm
Hạ
trung thượng phẩm cũng biết rõ
Thiện
ác nghiệp nhơn quả chơn thiệt
Thông
đạt ba tụ chẳng nhứt định
Tất
cả ba thừa cũng bất định
Biết
tam thế chẳng nhiếp tam thế
Lực
thứ ba vì chúng sanh nói.
Lại
nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai biết rõ vô lượng thế
giới, hoặc tu thiện hạnh, hoặc hành ác pháp, hoặc hành
vô ngại hạnh, thế nào gọi là biết, vì là nội không ngoại
không và nội ngoại không vậy.
Lại
nữa, Ðức Như Lai biết rõ nhãn, biết rõ sắc và biết rõ
nhãn thức, thế nào mà biết, vì là như hư không vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc
giới, thế nào mà biết, vì như giác quán vậy.
Lại
nữa đức Như Lai biết rõ nơi hành giới, thế nào mà biết,
vì như tánh của hành vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ phiền não giới, thế nào mà biết,
vì là tánh khách trần vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ giới chẳng nhiễm ô, thế nào
mà biết, vì tánh của các pháp bổn thanh tịnh vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ giới sanh tử, thế nào mà biết,
vì vô minh nhơn duyên vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ giới Niết bàn, thế nào mà biết,
vì là chơn thiệt tư duy vậy.
Lại
nữa, đức Như Lai biết rõ các giới : thế trụ, thế ái,
thế sân, thế si, thế thanh tịnh, thế thanh tịnh tâm.
Vì
biết rõ các giới nên có thể như thiệt thuyết pháp, đây
gọi là nghiệp thứ tư của đức Như Lai”.
Ðức
Như Lai nói kệ rằng :
Phật
là sư tử Vương trong đời
Hay
chơn thiệt biết chúng sanh giới
Như
Lai trí huệ không bờ mé
Nên
biết thế gian không bờ mé
Biết
hạnh thiện ác hạnh giải thoát
Cũng
biết nhãn sắc và nhãn thức
Thông
đạt tất cả vô lượng pháp
Tánh
nó bổn lai thường thanh tịnh
Nội
ngoại chơn thiệt vô sở hữu
Ngũ
ấm lục nhập thập bát giới
Thân
khẩu ý nghiệp và tứ đại
Các
pháp như vậy đều không thiệt
Biết
rõ chúng sanh giới như vậy
Tất
cả đều đồng cảnh hư không
Tam
giới tánh tướng không chơn thiệt
Các
phiền não giới cũng không chơn
Phiền
não tánh tướng không bền vững
Vô
lậu giải thoát cũng như vậy
Như
Lai dầu biết chơn thiệt giới
Trọn
chẳng vì biết mà kiêu mạn
Hư
không vô lượng vô biên tế
Tất
cả chúng sanh giới cũng vậy
Như
Lai trí huệ vô biên tế
Xa
lìa ba tướng của hữu vi
Trí
Phật vô thượng rất sâu diệu
Tất
cả chúng sanh chẳng biết được
Như
Lai vì thương xót chúng sanh
Tuyên
nói lực thứ tư như vậy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai biết rõ tất cả chúng
sanh các căn lợi độn. Thế nào mà biết ? Như Lai biết rõ
là thượng trung hay hạ, biết là tăng, biết là giảm, cũng
biết tham dục có một ức thứ, sân hận và ngu si cũng
đều có một ức thứ, biết là tham dục nặng, biết là tham
dục nhẹ, biết là ngu si nặng, biết là ngu si nhẹ, biết
một loại căn hay tăng thêm sanh tử biết một loại căn hay
giảm bớt sanh tử; biết thiện căn biết căn bất thiện biết
căn chẳng thiện chẳng bất thiện, biết căn giải thoát biết
căn sáu tình thức, biết căn nam, căn nữ, căn mạng, căn khổ,
căn lạc, căn ưu, căn hỉ, căn xả, căn tín, căn tiến, căn
niệm, căn định, căn huệ, căn vị tri dục tri, căn tri, căn
dĩ tri. Biết rõ nhơn nhãn căn, nhơn nhĩ căn, nhơn tỷ căn,
nhơn thiệt căn, nhơn thân căn, nhơn ý căn. Biết rõ nhơn nhĩ
căn làm duyên nhãn căn, nhơn tỷ căn làm duyên thiệt căn,
nhơn ý căn làm duyên thân căn, biết rõ giới trang nghiêm thì
có thể tu hạnh bố thí, biết rõ thí trang nghiêm thì có thể
tu giới trang nghiêm. Ðức Như Lai biết rõ ai có thể nói được
thí, ai có thể nói được giới, ai có thể nói được nhẫn,
ai có thể nói được tinh tiến, ai có thể nói được thiền,
ai có thể nói được huệ, ai có thể nói được tứ niệm
xứ, ai có thể nói được tứ chánh cần, ai có thể nói được
tứ thần túc, ai có thể nói được ngũ căn, ai có thể nói
được ngũ lực, ai có thể nói được thất giác chi, ai có
thể nói được bát chánh đạo phần, ai có thể vì chúng
sanh nói Thanh Văn thừa, ai có thể vì chúng sanh nói Duyên Giác
thừa, ai có thể vì chúng sanh nói vô thượng Phật thừa.
Ðức Như Lai biết rõ căn Duyên Giác học Thanh Văn thừa, căn
Chánh Giác học Thanh Văn thừa học Bích Chi Phật thừa, biết
người hạ căn có thể tu thượng căn, biết người thượng
căn tu hạ căn. Ðức Như Lai biết rõ các chúng sanh mà căn
chưa có thể điều phục được thì sanh xả tâm, biết chúng
sanh tâm có thể điều phục được thì vì hạng nầy mà nói
chánh pháp. Ðức Như Lai biết rõ căn thục mà chẳng thục,
căn chẳng thục mà thục, căn chẳng thục chẳng thục, căn
thục có thục. Ðức Như Lai biết rõ căn sanh tử, căn giải
thoát, căn trang nghiêm, căn cụ túc. Tất cả căn tánh nhơn
duyên quả báo Phật đều biết rõ thấy rõ, đây gọi là
nghiệp thứ năm của chư Phật Như Lai”.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
“Như
Lai biết căn đã rốt ráo
Nên
biết trình độ các chúng sanh
Cũng
biết rõ căn hạ trung thượng
Gồm
đến các nghiệp cũng biết rõ
Biết
rõ phiền não căn nặng nhẹ
Các
căn khó điều hay dễ điều
Biết
căn sanh tử căn giải thoát
Biết
rõ nhãn căn đến ý căn
Biết
căn hành xứ và diệt xứ
Biết
rõ các căn ba thừa
Chuyển
được hay chẳng chuyển được
Căn
chúng sanh thục hay chẳng thục
Theo
đúng căn cơ mà thuyết pháp
Khéo
lời trách dịu để điều phục
Biết
kẻ chẳng thể dạy bảo được
Vì
hạng nầy mà tu tâm xả
Như
Lai khéo biết các phương tiện
Ðể
phá phiền não trang nghiêm trí
Vì
phá phiền não của chúng sanh
Nên
nói lực thứ năm của Phật.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chơn thiệt biết chí
xứ đạo. Biết thế nào ?
Ðức
Như Lai biết là chánh định tụ, biết là tà định tụ, biết
là bất định tụ, biết nghiệp nhơn lực và quả báo lực,
biết nhơn duyên phước đức đời quá khứ, biết nhơn duyên
trang nghiêm đời hiện tại, biết khó điều hay dễ điều,
biết nói lược mà giải rộng, biết nói rộng mà lược giải,
biết là chúng sanh có thể được giải thoát, biết là chúng
sanh chẳng được giải thoát, biết là người bất định
gặp thiện tri thức thì trụ ở chánh định tụ, nếu
chẳng được thiện tri thức thì không giải thoát, biết rồi
đức Như Lai theo đúng ý nguyện mà vì người đó thuyết
pháp, người ấy nghe rồi nhiếp niệm tư duy chứng được
thiện quả. Ðức Như Lai xuất thế chỉ vì hạng bất định
tụ mà trọn chẳng vì hạng tà định thuyết pháp, tại sao,
vì họ chẳng phải là pháp khí họ chẳng thể được chơn
giải thoát, vì vậy mà ở nơi hạng nầy đức Như Lai tu tập
tâm xả. Ðại Bồ Tát biết thiệt rõ rồi siêng tu trang nghiêm
để phá chúng sanh tà định như vậy, do đây mà Bồ Tát phát
tâm Vô thượng Bồ đề.
Ðức
Như Lai khéo biết tham có ba loại : một là vì do thấy đẹp
sạch, hai là vì nhơn duyên nhận thọ, ba là vì nhơn duyên
trước. Biết sân cũng có ba loại, đó là nhơn duyên sân,
nhơn duyên thọ và nhơn duyên trước. Biết si cũng có ba loại,
đó là nhơn duyên vô minh, nhơn duyên ngã kiến và nhơn duyên
lưới si mê.
Lại
nữa, đức Như Lai biết các chúng sanh khổ trì được thông,
khổ tốc được thông. Biết người khổ trì có thể được
lạc tốc, biết người lạc tốc có thể được khổ trì,
biết người lạc trì có thể được lạc tốc, biết là người
có tu lực, biết là người có trí lực. Lại biết có đạo
có đủ tu lực mà chẳng đủ trí lực, có đủ trí lực mà
chẳng đủ tu lực; có đủ tu lực và có đủ trí lực, chẳng
có đủ tu lực và chẳng có đủ trí lực. Lại biết có đạo
có thể tâm thanh tịnh mà chẳng thể trang nghiêm, có thể
trang nghiêm mà không thể tâm thanh tịnh, có thể tâm thanh
tịnh và có thể trang nghiêm, không thể tâm thanh tịnh và
không thể trang nghiêm. Lại biết có đạo có thể thanh tịnh
thân mà chẳng thể thanh tịnh khẩu ý, có thể thanh tịnh
khẩu ý mà chẳng thể thanh tịnh thân, có thể thanh tịnh
cả thân khẩu ý, chẳng thể thanh tịnh cả thân khẩu ý.
Ðây gọi là lực thứ sáu của Như Lai”.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai biết rõ đạo chỗ đến
Cũng
biết nhơn duyên các chúng sanh
Cũng
hay biết rõ định bất định
Thông
đạt rõ ràng điều chẳng điều
Chẳng
vì tà định mà nói pháp
Cũng
chẳng điều phục căn chưa thục
Biết
rõ tham sân si ba loại
Cũng
biết các kiết tướng khinh trọng
Biết
rõ bốn đạo chuyển chẳng chuyển
Vì
thế Phật biết đạo rốt ráo
Chơn
thiệt biết tu lực trí lực
Hạ
trung thượng lực biết rõ
Biết
thân khẩu ý tịnh chẳng tịnh
Tâm
tịnh trang nghiêm cũng biết rõ
Chúng
sanh các căn phiền não giới
Như
Lai biết rồi vì họ phá
Vì
chúng sanh vô minh tối kia
Nói
nghiệp thứ sáu của Như Lai
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai biết thiền giải thoát,
tam muội phiền não giải thoát, biết thế nào ?
Ðức
Như Lai biết các chúng sanh do nhơn duyên mà thích sanh tử,
biết các chúng sanh do nhơn duyên mà ưa Niết bàn. Thế nào
gọi là nhơn và thế nào gọi là duyên ?
Nếu
các chúng sanh tư duy bất thiện đây gọi là sanh tử nhơn
duyên. Do bất thiện tư duy mà sanh trưởng vô minh, vì vậy
bất thiện là nhơn và vô minh là duyên. Do vô minh mà sanh hành,
vì vậy vô minh là nhơn và hành là duyên. Do hành mà sanh thức,
vì vậy hành là nhơn và thức là duyên. Do thức mà sanh danh
sắc, vì vậy thức là nhơn và danh sắc là duyên. Do danh sắc
mà sanh lục nhập, vì vậy danh sắc là nhơn và lục nhập
là duyên. Do lục nhập mà sanh xúc, vì vậy lục nhập là nhơn
và xúc là duyên. Do xúc mà sanh thọ, vi vậy xúc là nhơn thọ
là duyên. Do thọ sanh ái, vì vậy thọ là nhơn và ái là duyên.
Do ái sanh thủ, vì vậy ái là nhơn và thủ là duyên. Do thủ
sanh hữu, vì vậy thủ là nhơn và hữu là duyên. Do hữu sanh
sanh, vì vậy hữu là nhơn mà sanh là duyên. Do sanh thì có các
khổ lão tử v.v ...vì vậy sanh là nhơn và lão tử là duyên.
Phiền não là nhơn và các nghiệp là duyên. Các kiến chấp
là nhơn và ái kiết là duyên. Phiền não là nhơn và ngũ cái
là duyên. Như vậy gọi là nhơn và gọi là duyên. Các chúng
sanh do những nhơn và duyên nầy mà tham ưa sanh tử.
Do
nhơn duyên gì mà ưa thích Niết bàn ?
Có
hai nhơn và hai duyên làm cho chúng sanh ưa thích Niết bàn. Những
gì là hai ?
Một
là vui mừng nghe chánh pháp, hai là thích chánh tư duy.
Một
là xa ma tha, hai là tỳ bà xá na.
Một
là trí bất khứ, hai là trí bất lai.
Một
là quán sanh tử, hai là quán Niết bàn.
Một
là thọ trì đúng pháp, hai là được chứng nhập.
Một
là tu giải thoát môn, hai là được quả giải thoát.
Một
là tận trí, hai là vô sanh trí
Một
là tứ đế trí, hai là quán thập nhị nhơn duyên.
Trên
đây gọi là nhơn và gọi là duyên, mà các chúng sanh do các
nhơn duyên nầy ưa thích Niết bàn.
Ðức
Như Lai biết rõ các loại thiền tam muội giải thoát. Ðã
biết rõ rồi lìa bỏ các pháp dục ác bất thiện có giác
quán ly sanh hỉ lạc nhâp vào sơ thiền, nhập sơ thiền xuất
diệt tận định, nhập diệt tận định xuất sơ thiền, nhẫn
đến bát giải thoát cũng nhập xuất như vậy. Tất cả chúng
sanh đều chẳng thể biết được chỗ nhập chỗ xuất của
Như Lai. Ðức Như Lai biết rõ trụ định bình đẳng, cho đến
thượng và hạ. Các chúng sanh bảo rằng đức Phật nhập
một tam muội, mà thiệt thì đức Phật nhập tất cả tam
muội. Các chúng sanh thấy đức Phật khởi tất cả định,
mà thiệt thì đức Phật nhập một chánh định. Tam muội
của đức Như Lai không có thứ đệ, mà chẳng phải là chẳng
chánh định. Tất cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát
đều chẳng biết được.
Ðức
Như Lai lại biết rõ nhơn duyên thuyết pháp gì được Thanh
Văn tam muộì, nhơn duyên thuyết pháp gì được Duyên Giác
tam muội, nhơn duyên thuyết pháp gì được Bồ Tát tam muội,
biết rõ rồi đức Như Lai tùy ý vì họ mà thuyết pháp. Ðây
gọi là nghiệp thứ bảy của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai biết rõ nhơn sanh tử
Cũng
thông đạt nhơn duyên giải thoát
Biết
rõ rồi vì đại chúng nói
Phá
hoại nhơn bất thiện sanh tử
Bất
thiện tư duy vô minh nhơn
Vô
minh nhơn duyên lớn sanh tử
Phiền
não nhơn duyên thọ nghiệp quả
Các
kiết nhơn duyên tăng ái kiết
Nếu
được gần kề thiện tri thức
Chí
tâm nghe nhận pháp vô thượng
Quán
sát nội ngoại không tam muội
Có
thể vượt khỏi biển sanh tử
Tu
tập vô thượng định và huệ
Quán
pháp bình đẳng không khứ lai
Nếu
hay quán thấy không sanh diệt
Thì
được mắt tịch tĩnh sáng suốt
Tu
tập vô thượng giải thoát môn
Có
đủ tận trí vô sanh trí
Ðã
tự mình được trí vô ngại
Lại
hay vì chúng sanh thuyết pháp
Nhập
sơ thiền xuất diệt tận định
Nhập
diệt tận định tùy ý xuất
Như
Lai tam muội không thứ đệ
Nên
gọi Như Lai thường ở định
Các
chánh định được Như Lai nhập
Cùng
các pháp giới không sai khác
Nhị
thừa chẳng biết chỗ Phật trụ
Bồ
Tát chẳng biết chỗ Phật thâm định
Chúng
sanh thường ở vô minh tối
Chẳng
biết chỗ nhập xuất của Phật
Vô
thượng Thế Tôn thương chúng sanh
Vì
họ mà nói nghiệp thứ bảy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai biết rõ những nghiệp
đời quá khứ của mình, một đời hai đời đến vô lượng
đời, một thời gian tam tai đến vô lượng thời gian tam tai,
một kiếp đến vô lượng kiếp. Ðức Như Lai nhớ rõ sanh
ra danh tánh, ăn uống, hình sắc, dung mạo, khổ vui, thọ mạng
cõi nầy chết sanh đến cõi kia. Ðức Như Lai cũng nhớ biết
rõ đời trước của người khác như nhớ biết rõ của mình
vậy.
Ðức
Như Lai biết rõ nghiệp nhơn của các chúng sanh, các chúng
sanh ấy tạo nghiệp nhơn ấy được thân ở cõi kia, các chúng
sanh ấy tạo nghiệp nhơn ấy được thân ở cõi nầy.
Ðức
Như Lai biết tâm và nhơn duyên tâm của các chúng sanh, tâm
nầy diệt rồi thứ đệ sanh tâm.
Các
sự như vậy, tất cả chúng sanh đều không thể biết rõ
được.
Trí
túc mạng của đức Phật biết rõ sự việc thỉ chung của
tất cả tam thế. Túc mạng trí nầy chẳng thể suy lường
được.
Ðức
Như Lai khuyên các chúng sanh : Nay ngươi nên nhớ biết sự
việc thiện ác đã trải qua trong đời quá khứ. Do Phật lực
nên chúng sanh nhớ biết được vô lượng thiện căn đã được
vun trồng từ đời trước, hoặc ở bên Phật mà vun trồng,
hoặc ở bên Bồ Tát hay ở bên Thanh Văn và Duyên Giác mà
vun trồng. Chúng sanh ấy đã nhớ biết rồi, đức Như Lai
tùy ý thuyết pháp cho họ chẳng thối chuyển. Ðây gọi là
nghiệp thứ tám của đức Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai nhớ biết vô lượng đời
Hoặc
tự hoặc tha nghiệp thiện ác
Thấy
rõ việc trong vô lượng kiếp
Như
thấy rõ trái trong bàn tay
Dòng
họ tên hiệu đều biết rõ
Hình
sắc sanh tử cũng biết rõ
Biết
rõ thọ mạng và chỗ ở
Nghiệp
nhơn thìện ác cũng biết rõ
Biết
tâm thứ đệ của chúng sanh
Biết
chỗ sở nhơn tâm sanh diệt
Biết
khắp đời trong vô lượng kiếp
Cũng
chẳng cùng tận trí vô ngại
Phật
trí vô lượng chẳng kể được
Nhị
thừa chẳng biết cảnh giới Phật
Vì
cho chúng sanh nhớ quá khứ
Nên
Phật tuyên nói nghiệp thứ tám.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai thiên nhãn thanh tịnh
vi diệu thấy rõ các chúng sanh sanh tử đọa lạc, hoặc kẻ
thọ thân lành hoặc kẻ thọ thân ác, hoặc sanh cõi lành hoặc
sanh cõi ác. Ðức Như Lai cũng biết thấy rõ các nghiệp nhơn
của chúng sanh. Biết chúng sanh nầy thân khẩu ý ác, chê bai
thánh nhơn thêm lớn tà kiến, do nghiệp ác nên khi bỏ thân
nầy phải đọa địa ngục. Biết các chúng sanh nầy thân
khẩu ý lành, tôn kính thánh nhơn thêm lớn chánh kiến, do
nghiệp lành nên bỏ thân nầy được sanh cõi lành.
Thiên
nhãh của Như Lai thấy khắp mười phương thế giới không
có ngằn mé như hư không, không có hạn lượng như pháp giới.
Thấy rõ các chúng sanh lúc sanh lúc chết, thấy rõ các thế
giới lúc thành lúc hoại. Cũng biết các chúng sanh phát tâm
Bồ đề lúc sanh lúc chết. Cũng thấy tất cả chư Phật mới
thành Chánh giác chuyển pháp luân nhập Niết bàn. Cũng thấy
các bực Thanh Văn lúc chứng được giải thoát, được giải
thoát rồi nhập Niết bàn. Thấy hàng Duyên Giác dùng sức
thần thông để báo ơn tín thí của các chúng sanh. Các sự
việc như vậy tất cả hàng ngũ thông Thanh Văn Duyên Giác
và Bồ Tát đều không thấy biết được. Thiên nhãn của
đức Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy. Do thiên
nhãn ấy nhìn xem các chúng sanh ai đáng được Phật hóa độ,
ai nên được Thanh Văn hoặc Duyên Giác hóa độ. Nếu là người
đáng từ nơi Phật mà được độ thì đức Như Lai vì người
ấy mà thị hiện thân Phật, các chúng sanh khác đều không
ai thấy. Ðây gọi là nghiệp thứ chín của đức Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng
Tu
nghiệp lành trong vô lượng kiếp
Phật
được tịnh thiện nhãn như vậy
Thấy
được mười phương các chúng sanh
Thành
tựu được sắc thân thiện ác
Thầy
các chúng sanh thượng trung hạ
Cũng
thấy thọ thân cõi thiện ác
Biết
được nghiệp lành thân khẩu ý
Nghiệp
nhơn cảm được các quả báo
Cũng
biết Thanh Văn Bích Chi Phật
Các
bực Bồ Tát cảnh giới lành
Thấy
mười phương Phật phá ma quân
Chuyển
chánh pháp luân nhập Niết bàn
Thấy
các Thanh Văn được giải thoát
Giáo
hóa chúng sanh rồi diệt độ
Thấy
Bích Chi Phật hiện thần thông
Ðể
đền ơn đức của thí chủ
Chơn
thiện pháp của Như Lai nói
Nghe
rồi hay qua biển sanh tử
Bồ
Tát Thanh Văn và Duyên Giác
Chẳng
biết được chỗ thấy của Phật
Như
lai thấy rõ các vi trần
Cũng
thấy rõ vô biên thế giới
Như
Lai giáo hóa các chúng sanh
Vì
vậy nên nói nghiệp thú chín.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai Thế Tôn biết các
lậu tận rốt ráo giải thoát, sanh tử ta đã hết, phạm hạnh
ta đã lập, việc làm đã xong không còn thân đời sau. Trí
lậu tận của Phật thanh tịnh vi diệu. Nói là thanh tịnh
là không có các tập khí. Trí Thanh Văn hữu biên hữu lượng,
tại sao, vì có tập khí vậy. Trí Bích Chi Phật cũng có biên
có lượng, tại sao, vì không có đại bi vậy.
Trí
lậu tận của Phật vô lượng vô biên, tại sao, vì biết
tất cả hành vậy, vì thành tựu Nhứt thiết trí vậy, vì
dứt hẳn tất cả tập khí vậy, đã nhiếp lấy đại từ
đại bi, trang nghiêm tứ vô sở úy, nơi tất cả pháp không
có tập khí duyên lấy tướng dạng, tất cả thế gian chẳng
thế hơn được, đi đứng ngồi nằm không có lỗi lầm.
Như
hư không thanh tịnh trong sáng chẳng xen tạp khói mây. Trí
lậu tận của đức Phật cũng vậy, chẳng xen tạp tất cả
phiền não tập khí. Ðức Như Lai thành tựu thanh tịnh đầy
đủ trí lậu tận ấy, có thể vì chúng sanh mở bày tuyên
nói cho họ nghe rồi dứt các phiền não, chư Bồ Tát nghe rồi
phát đại trang nghiêm để dứt các phiền não . Ðây gọi
là nghiệp thứ mười của đức Phật Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Phật
lậu tận trí không có biên
Thanh
tịnh chẵng tạp phiền não tập
Nhị
thừa còn tập khí phiền não
Nên
trí lậu tận chẳng thanh tịnh
Như
Lai đầy đủ đại từ bi
Vì
vậy trí Phật không ngằn mé
Ðầy
đủ thành tựu tất cả hạnh
Nên
biết chỗ lậu hạnh chúng sanh
Phật
diễn nói vô thường vô ngã
Cho
chúng biết rỗng không không vui
Tu
thiện tư duy được tịnh nhãn
Biết
không chúng sanh không tướng nhơn
Ðại
bi thương xót các chúng sanh
Ðầy
đủ thập lực tứ vô úy
Trí
vô ngại vì dứt phiền não
Vì
vậy tuyên nói nghiệp thứ mười .
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai đầy đủ bốn vô
sở úy mà thành Như Lai nghiệp.
Ðức
Như Lai biết rõ tất cả pháp, hoặc có Trời, hoặc có Người,
hoặc Ma, hoặc Phạm, hoặc Sa Môn, hoặc Bà La Môn nào mà có
thể đúng thiệt nói rằng Như Lai chẳng biết pháp chẳng
rõ pháp, thì không bao giờ có. Tại sao vậy, vì Như Lai Thế
Tôn hiệu là bực Biến Chánh Giác, biết rõ pháp bình đẳng,
hoặc pháp phàm phu, hoặc pháp thánh nhơn, hoặc pháp Thanh Văn,
hoặc pháp Duyên Giác, hoặc pháp Bồ Tát, hoặc pháp Phật,
hoặc pháp hữu học, hoặc pháp vô học, hoặc pháp thế gian,
hoặc pháp xuất thế gian, hoặc pháp thiện, hoặc pháp bất
thiện, hoặc pháp hữu lậu, hoặc pháp vô lậu, các pháp như
vậy đều bình đẳng biết rõ nên hiệu là đấng Biến Chánh
Giác. Nói bình đẳng là thấy rỗng không bình đẳng vì pháp
chơn thiệt vậy, là vô tướng bình đẳng vì hoại các tướng
vậy, là vô nguyện bình đẳng vì chẳng trụ trước ba cõi
vậy, là bất sanh bình đẳng vì tánh vô sanh vậy là vô hành
bình đẳng vì tánh vô hành vậy, là vô xuất bình đẳng vì
tánh vô xuất vậy, là vô chí xứ bình đẳng vì tánh vô chí
xứ vậy, là chơn thiệt bình đẳng vì tánh không có tam thế
vậy, trí giải thoát bình đẳng vì tánh không có vô minh vậy,
là Niết bàn bình đẳng vì tánh không có sanh tử vậy. Thấy
tất cả pháp như vậy thảy đều bình đẳng nên đức Như
Lai hiệu là bực Biến Chánh Giác.
Thấy
rõ như vậy rồi dùng đại từ bi đức Như Lai vì các chúng
sanh mà tuyên dương thuyết pháp.
Hoặc
có kẻ chẳng phải Thế Tôn mà tưởng là Thế Tôn, chẳng
phải Chánh Giác mà tưởng là Chánh Giác, chẳng phải lậu
tận mà tưởng là lậu tận. Ðức Như Lai có đủ bốn vô
sở úy có thể phá hoại các ác tưởng như vậy. Ðây gọi
là nghiệp thứ mười một của Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Phật
biết tất cả pháp bình đẳng
Nên
được hiệu là Nhứt Thiết Trí
Phàm
thánh Bồ Tát và Phật hạnh
Thế
gian xuất thế nghiệp thiện ác
Không
vô tướng nguyện vô sanh diệt
Tất
cả thấy rõ chơn thiệt ấy
Như
Lai thấy rõ pháp bình đẳng
Vì
chúng nói nghiệp thứ mười một.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chơn thiệt dứt hết
hẳn các lậu phiền não tập khí nên xướng lên rằng : Phật
hết các lậu. Chẳng có hoặc là Trời, là Người, là Ma,
là Phạm, hoặc là Sa Môn, là Bà La Môn nào có thể chơn thiệt
nói rằng Phật chưa hết lậu.
Thế
nào gọi là đức Như Lai lậu tận ?
Ðức
Phật ở nơi dục lậu, tâm được giải thoát ở nơi hữu
lậu, nơi vô minh lậu, nơi tất cả tập khí, nơi tất cả
kiến lậu, tâm được giải thoát. Vì vậy đức Như Lai hiệu
là bực lậu tận.
Trong
đệ nhứt nghĩa, chơn trí của thánh nhơn, không có giác, không
có đoạn, không có chứng, không có tu, vì lưu bố thế tục
mà gọi là tận lậu. Tại sao, vì tận là vô sanh vô diệt
vô tận không có thể tuyên nói được. Vì chẳng nói được
nên gọi là vô vi. Luận về vô vi thì không có tướng sanh
trụ diệt. Ðức Phật hoặc xuất thế hoặc chẳng xuất thế,
pháp tánh luôn thường trụ. Ðức Như Lai chẳng thấy có ngã
và ngã đoạn dứt, vì đại từ bi mà đức Như Lai vì chúng
sanh nói ngã đoạn dứt. Ðây gọi là nghiệp thứ mười hai
của Như Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai dứt hẳn các lậu kiết
Cũng
dứt vô biên các tập khí
Vì
vậy thế pháp chẳng nhiễm được
Như
sen ở nước nước không thấm
Ðấng
Ðại Bi Pháp Vương trong đời
Vì
chúng sanh mà lưu bố nói
Chơn
thiệt biết rõ không sanh diệt
Vô
ngã ngã sở cũng biết thiệt
Tất
cả các pháp không tăng giảm
Theo
tánh tướng nó nói chơn thiệt
Như
Lai được sức đại tự tại
Vì
chúng nối nghiệp thứ mười hai
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chơn thiệt nói pháp
ngăn chướng đạo. Chẳng có hoặc Trời, Người, Ma, Phạm,
hoặc Sa Môn Bà La Môn nào có thể chơn thiệt nói rằng pháp
ấy chẳng thể ngăn chướng được đạo.
Thế
nào gọi là ngăn ? Thế nào là chẳng ngăn ?
Có
một pháp hay ngăn đạo đó là phóng dật. Còn có hai pháp
đó là vô tàm và vô quý. Còn có ba pháp đó là thân, khẩu,
ý, ác. Còn có bốn pháp đó là tham dục, sân hận, kinh bố
và ngu si. Còn có năm pháp đó là sát sanh, trộm cướp, tà
dâm dục, vọng ngữ, và uống rượu. Còn có sáu pháp đó
là chẳng kính trọng Phật, Pháp, Tăng, giới, tam muội và
bất phóng dật. Còn có bảy pháp đó là mạn, đại mạn,
mạn mạn, tà mạn, tà ngữ, tà mạng và tà niệm. Còn có
tám pháp, đó là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp,
tà mạng tà phương tiện, tà niệm và tà định. Còn có chín
pháp, đó là có người muốn làm các điều ác hiện tại
làm, làm rồi đổ cho người thân mình, có người đem điều
lành muốn đang đã làm đổ cho kẻ oán mình, có người đem
điều ác muốn đang đã làm đổ cho thân mình, đây gọi là
chín pháp. Còn có mười pháp, đó là thập ác : sát sanh, trộm
cướp, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, vô nghĩa
ngữ, tham ganh, sân hại và tà kiến.
Nếu
có Tỳ kheo khởi ác tư duy, do đây mà chẳng biết là có nhiều
các lỗi lầm. Do chẳng biết mà sanh tâm điên đảo. Do tâm
điên đảo mà thêm lớn ngũ cái. Do lớn ngũ cái làm cho các
phiền não ngăn chướng pháp lành. Do phiền não mà thân khẩu
ý tạo gây các điều ác. Ðức Như Lai như thìệt biết các
pháp như vậy hay ngăn chướng nơi đạo. Ðã tự biết rõ
rồi vì chúng sanh mà diễn nói để phá hoại các pháp ngăn
đạo như vậy. Ðây gọi là nghiệp thứ mười ba của Như
Lai ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Nếu
ai quen hành theo phóng dật
Thì
thiệt chẳng thể được giải thoát
Thân
khẩu ý tạo các ác nghiệp
Vô
tâm vô quí các phiền não
Gần
gũi ác pháp thì ngăn đạo
Biết
rõ đối trị chẳng đối trị
Ðể
phá phiền não nên diễn nói
Nghiệp
thứ mười ba của Như Lai
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chơn thiệt nói thánh
đạo rốt ráo.
Nếu
có chúng sanh gần kề chánh niệm thì chắc được giải thoát.
Chẳng có ai hoặc là Trời, Người, Ma, Phạm , hoặc là Sa
Môn, Bà La Môn, Bà La Mộn nào mà có thể chơn thiệt nói rằng
người tu tập thánh đạo chẳng được rốt ráo vô thượng
giải thoát.
Những
gì là chơn thiệt thánh đạo ?
Có
một thứ đó nhứt thừa. Còn có hai thứ, đó là xa ma tha
và tỳ bà xá na. Còn có ba thứ, đó là không tam muội, vô
tướng tam muội và vô nguyện tam muội. Còn có bốn thứ,
đó là tứ niệm xứ. Còn có năm thứ, đó là ngũ căn. Còn
có sáu thứ, đó là lục niệm xứ. Còn có bảy thứ, đó
là thất giác chi. Còn có tám thứ, đó là bát chánh đạo
phần. Còn có chín thứ, đó là sơ thiền đến diệt tận
định. Còn có mười thứ, đó là thập thiện. Ðây gọi là
rốt ráo chơn thiệt thánh đạo.
Lại
rốt ráo thánh đạo là không có thể làm tăng giảm lấy bỏ,
không có nắm không có buông, chẳng phải chánh chẳng phải
tà, chẳng phải một chẳng phải hai, đây gọi là thánh đạo
rốt ráo chơn thiệt vậy. Vì thương xót các chúng sanh mà
đức Như Lai tuyên nói thánh đạo như vậy. Ðây gọi là nghiệp
thứ mười bốn của đức Như Lai.
Ðức
Như Lai nói kệ rằng :
Như
Lai biết rõ pháp tịch tĩnh
Ai
tu tập thì được giải thoát
Như
Lai không thấy không ai dạy
Tự
nhiên mà được vị cam lộ
Ai
tu ba mươi bảy trợ đạo
Phiền
não kiết dứt được giải thoát
Tư
duy biết rõ pháp chơn thiệt
Chẳng
trụ pháp tánh chơn giải thoát
Như
Lai thấy pháp như hư không
Như
huyễn như hóa như dương diệm
Ðấng
đủ thập lực vô biên thân
Vì
chúng nói nghiệp thứ mười bốn
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Thân nghiệp Như Lai không có lầm
lỗi. Hoặc kẻ ngu hoặc người trí không ai có thể chơn thiệt
nói Phật có lỗi lầm. Tại sao, đức Như Lai hoặc đi hoặc
ngồi, hoặc đứng, hoặc đắp y, hoặc cầm bát, hoặc thọ
ăn uống, hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc nói, hoặc nhập xuất
thành ấp thôn lạc nhà cửa, bàn chưn Phật không đạp đất,
thường bước đi trên hoa sen ngàn cánh. Nếu có chúng sanh
nào gặp chạm bóng thân Phật thì trong bảy ngày an vui không
nghĩ tưởng đến ăn uống, khi bỏ thân sanh về cõi lành.
Y phục của Như Lai mặc lìa cách thân Phât bốn tấc, sức
gió mạnh bạo không làm động được. Ðức Như Lai dầu có
những sự việc hành động nói năng như vậy, mà nội tâm
Phật chưa lúc nào chẳng định. Vì vậy mà thân Như Lai không
có lỗi lầm.
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai khẩu nghiệp cũng không có lỗi lầm.
Tại sao, vì đức Như Lai luôn là thời ngữ, chơn thiệt, ngữ
chánh ngữ, kỳ ngữ, nghĩa ngữ, thanh tịnh ngữ, vi diệu ngữ,
vô dị ngữ, nhất âm ngữ, lời nói chẳng nhiều, lời hiểu
tất cả, lời đúng như làm. Vì vậy nên Như Lai khẩu không
có lỗi lầm.
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai ý nghiệp cũng không có lỗi lầm. Tại
sao, vì đức Như Lai thường làm tất cả Phật sự luôn mà
nội tâm Phật không hề có kiêu mạn. Ðức Như Lai chẳng
nhọc suy nghĩ mà biết rõ cùng tận hết tất cả pháp, nên
gọi là Phật vô ngại trí. Vì vậy mà Như Lai ý nghiệp không
có lỗi lầm. Vì thương xót chúng sanh nên đức Như Lai tuyên
nói thân khẩu ý Phật không có lỗi lầm như vậy. Ðây gọi
là nghiệp thứ mười lăm của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Thân
khẩu ý Như Lai tịch tĩnh
Vì
vậy nên không có lỗi lầm
Thiệt
chẳng nói được mà tuyên nói
Nghiệp
chẳng phải nghiệp nói là nghiệp.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chẳng sanh việc tranh
cãi với hàng Trời, Người, Ma, Phạm, Sa Môn, Bà La Môn. Tại
sao, vì Như Lai rốt ráo lìa thương và giận vậy. Do đây nên
tất cả thế gian cúng dường cung kính, tâm Phật chẳng cao
ngạo cũng chẳng vui mừng. Tất cả thế gian khinh mạn chê
bai, tâm Phật không có xúc động.Phàm việc được Phật làm
thì không có sự nào là chẳng thành tựu. Phật hoàn toàn
không có tạo tác nghiệp bất thiện. Ðức Như Lai thiệt không
có sự tranh luận với tất cả thế gian, cũng luôn an trụ
vô tránh tam muội. Ðức Như Lai không có ngã không có ngã
sở hữu, vì phá sự thị phi tranh tụng của chúng sanh mà
nói nghiệp nầy. Ðây gọi là nghiệp thứ mười sáu của
đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai tu tập vô tránh định
Nên
tâm Phật không giận không mừng
Như
Lai vì dứt các phiền não
Nên
tuyên nói nghiệp thứ mười sáu.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Tâm Như Lai không có quên lầm, với
bát giải thoát không có mất niệm tâm. Như Lai thường quán
ý hành của tất cả chúng sanh, quán rồi lại hay tùy nghi
thuyết pháp. Với bốn vô ngại cũng không thất niệm. Ở
trong tam thế nhớ biết không quên. Ðã tự mình chẳng mất
tâm nhớ biết lại vì chúng sanh mà tuyên nói pháp nhớ biết
nầy. Ðây gọi là nghiệp thứ mười bảy của Như Lai.
Ðức
Như Lai nói kệ rằng :
Như
Lai tu tập bát giải thoát
Nên
với các pháp chẳng thất niệm
Biết
tâm chúng sanh tùy nghi nói
Cho
chúng được niệm nói nghiệp nầy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai chơn thiệt không có
tâm bất định. Hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm,
hoặc nói, hoặc nín, thướng biết nghĩa thâm diệu của các
pháp. Tất cả thế gian hoặc có người nhập định hoặc
chẳng nhập định, không ai có thể biết được tâm Như Lai,
chỉ trừ chư Phật gia đạo lực cho họ. Vì muốn cho vô lượng
tất cả chúng sanh thường tại chánh định nên nói nghiệp
Phật như vậy. Ðây gọi là nghiệp thứ mười tám của đức
Như Lai.
Ðức
Như Lai nói kệ rằng :
Như
Lai chánh giác thường tại định
Việc
được Phât làm không tán loạn
Thường
nhập tam muội không ai biết
Vì
vậy tuyên nói nghiệp mười tám.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai chơn thiệt không có các
loại suy tưởng. Ðó là không có phân biệt là phước điền
là chẳng phải phước điền, cũng không có phân biệt là
chúng sanh là pháp là chánh giác là pháp giới, không có phân
biệt là trì giới là phá giới, cũng không có phân biệt là
oán là thân, là thọ nhận là chẳng thọ nhận, cũng không
có tưởng phân biệt là chánh kiến là tà kiên. Vì vậy mà
đức Như Lai không có các ý tưởng. Muốn phá các thứ tưởng
phân biệt như vậy của các chúng sanh mà đức Như Lai tuyên
nói nghiệp nầy. Ðây gọi là nghiệp thứ mười chín của
đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai dứt hẳn tất cả tưởng
Do
đây biết rõ các pháp giới
Vì
phá chúng sanh ngần ấy tưởng
Nói
nghiệp thứ mười chín của Phật.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai theo trí mà tâm xả.
Không có chẳng biết mà xả, tại sao, vì tu thân vì tu giới
vì tu định vì tu huệ vì dứt nghi vậy.
Tâm
xả của Như Lai ra khỏi các thế gian, tức là thánh xả, là
rốt ráo xả, là chuyển thanh tịnh phạm luân xả, là hai mươi
tám đại bi xả, là lợi ích chúng sanh xả, là đối trị
xả. Các đức xả như vậy không có tăng không có giảm, chẳng
cao chẳng thấp, chẳng xen tạp phiền não, chẳng một chẳng
hai, chẳng quán thời tiết, chẳng có đối không có ngại,
chẳng dừng chẳng động, chẳng ẩn chẳng hiển, là chơn
thiệt bất hư vậy.
Ðức
Như Lai thành tựu đức đại xả như vậy mà có thể vì các
chúng sanh tuyên nói. Ðây gọi là nghiệp thứ hia mươi của
đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai tu thân giới tâm huệ
Từ
trí huệ mà tu tâm xả
Với
các chúng sanh không thương giận
Chẵng
động chẳng dừng chon thiệt xả
Ðấng
Vô thượng đại từ đại bi
Có
đủ đức đại xả như vậy
Trí
vô ngại điều phục chúng sanh
Nói
nghiệp thứ hai mươi thanh tịnh.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Nghiệp thích muốn của đức Như
Lai không có tăng không có giảm. Những gì gọi là thích muốn
? Ðó là thích muốn các pháp lành, những là đại từ đại
bi thuyết pháp độ người an trụ tịch tĩnh khuyên dạy các
Bồ Tát học đạo Bồ đề làm cho giống tam thừa nối nhau
không dứt. Tất cả các thích muốn như vậy chẳng theo tâm
thích muốn sanh, mà theo trí huệ sanh. Vì muốn cho tất
cả chúng sanh có đủ Vô thượng Bồ đề nên Như Lai diễn
nói chánh pháp nầy. Ðây gọi là nghiệp thứ hai mươi mốt
của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Ðức
muốn của Phật không tăng giảm
Do
đại từ bi nên thuyết pháp
Chẳng
dứt tam thừa vô biên thân
Vì
chúng nói nghiệp Phật như vậy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Ðức Như Lai tinh tiến không có
thôi nghỉ. Thế nào là chẳng thôi nghỉ ? Ðó là điều phục
chúng sanh thuyết pháp giáo hóa. Giả sử có một người có
thể trong thời gian vô lượng kiếp ở bên Phật nghe pháp
đức Như Lai sẽ vì người nầy thuyết pháp không thôi nghỉ.
Nếu có một Phật trong vô lượng kiếp thuyết pháp Như Lai
cũng nghe mãi không có lòng nhác lười thôi bỏ. Nếu quá vô
lượng hằng hà sa thế giới có một chúng sanh đáng được
độ. Như Lai cần phải theo chẳng rời bỏ chẳng ăn chẳng
nghỉ, chẳng hề sanh tâm mõi mệt hối hận thối chuyển,
Phật thường khuyên bảo chúng sanh cho họ siêng năng tinh tiến.
Ðây gọi là nghiệp thứ hai mươi hai của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Ðấng
có đức tinh tiến Vô thượng
Ở
trong đại chúng khen tinh tiến
Tinh
tiến thuyết pháp không thôi nghỉ
Là
nghiệp Phật thứ hai mươi hai.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai niệm tâm không có tăng không
có giảm. Tại sao, lúc mới được Vô thượng Bồ đề, Như
Lai quán khắp tâm tất cả chúng sanh quá khứ vị lai hiện
tại, sau đó lúc thuyết pháp chẳng mất niệm trước, nhớ
rõ ba tụ trước và ba loại căn tánh, phàm lúc Như Lai thuyết
pháp không lúc nào chẳng niệm. Ðây gọi là nghiệp thứ hai
mươi ba của Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai lúc mới được Bồ đề
Quán
khắp chúng sanh tâm đúng thiệt
Phàm
lúc thuyết pháp chẳng thất niệm
Phật
nói nghiệp thứ hai mươi ba.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai tam muội với tất cả pháp
bình đẳng không có giảm, vì vậy nên chư Phật tất cả
bình đẳng, nơi tất cả một ức loại tham dục sân hận
ngu si và một ức loại không tham sân si, tâm Phật bình đẳng
không có sai biệt. Với tất cả loại hữu vi vô vi sanh tử
Niết bàn cũng như vậy.
Như
Lai tam muội bình đẳng như vậy chẳng rời nhãn nhĩ tỷ thiệt
thân ý tứ đại tam giới, chẳng phải đây chẳng phải kia,
cũng chẳng phải tất cả, chẳng phải tăng chẳng phải giảm.
Vì làm cho chúng sanh được tam muội như vậy nên Như Lai tuyên
nói chánh pháp. Ðây gọi là nghiệp thứ hai mươi bốn của
đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai quán khắp tất cả pháp
Tâm
Phật thường định không tán loạn
Chẳng
bị nhiếp thuộc bởi tam giới
Sáu
căn tứ đại cũng như vậy
Tất
cả các pháp vô sai biệt
Bình
đẳng quán sát thiện bất thiện
Vi
muốn chúng sanh được định nầy
Nên
nói nghiệp Phật thứ hai bốn.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai trí huệ thường không giảm
ít. Dùng trí lực nầy biết tất cả pháp hay tùy ý thích
của chúng sanh mà thuyết pháp. Như Lai được trí vô ngại
biết tất cả nghĩa, biết tất cả chữ, biết tất cả câu,
trong vô lượng kiếp diễn nói một câu pháp ra vô lượng
nghĩa dứt tất cả nghi. Như Lai nói pháp tam thừa đến tám
vạn bốn ngàn pháp môn. Ðây gọi là vô lượng vô biên trí
huệ. Vì cho chúng sanh được trí huệ như vậy mà đức Như
Lai diễn nói chánh pháp. Ðây gọi là nghiệp thứ hai mươi
lăm của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Phật
trí huệ vô ngại vô biên
Hay
nói vô ngại vô biên pháp
Diễn
một chữ làm vô lượng câu
Diễn
một câu làm vô lượng nghĩa
Nói
tám vạn bốn ngàn pháp môn
Cũng
nói số khối pháp như vậy
Làm
cho chúng được trí vô ngại
Nên
Phật nói nghiệp hai mươi lăm.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai giải thoát không có giảm
ít. Hàng Thanh Văn do nghe pháp nơi người khác mà được giải
thoát. Hàng Duyên Giác từ nhơn duyên mà được giải thoát.
Chư Phật Như Lai không có thấy tự nhiên giác ngộ dứt hẳn
phiền não và tập khí. Với quá khứ chẳng xét, với vị
lai chẳng dính, với hiện tại chẳng trụ, cũng chẳng tham
trước hai pháp nhãn sắc, nhĩ thanh, tỷ hương, thiệt vị,
thân xúc, ý pháp . Như Lai biết rõ tâm tánh thanh tịnh nên
xướng lên rằng, trong một niệm Như Lai được Vô thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì muốn chúng sanh trong một niệm
được Vô thượng Bồ đề nên Như Lai diễn nói chánh pháp.
Ðây gọi là nghiệp thứ hai mươi sáu của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Thanh
Văn do nghe được giải thoát
Duyên
Giác nhơn duyên được tỏ ngộ
Như
Lai giải thoát không sở nhơn
Chẳng
trước tam thế tâm tánh tịnh
Phật
diễn thuyết pháp vì giải thoát
Quán
các chúng sanh Vô thượng đạo
Ðại
từ đại bi vì chúng nói
Nghiệp
Như Lai thứ hai mươi sáu.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai thân nghiệp tùy trí huệ
hành, luôn bao quanh bởi trí huệ, do thân nghiệp nầy mà Như
Lai lúc thuyết pháp, lúc nín lặng, lúc đi đứng ngồi nằm,
lúc uống ăn, lúc đi ra thành ấp tụ lạc, đủ ba mươi hai
tướng đại trượng phu và tám mươi vẻ đẹp, chúng sanh
thấy hay nghe đều được điều phục, vì vậy mà tất cả
thân nghiệp Như Lai tủy trí huệ hành. Ðây gọi là nghiệp
thứ hai mươi bảy của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Thân
nghiệp Như Lai vì chúng sanh
Nên
hiện những tướng tốt vi diệu
Phàm
có cử động lợi chúng sanh
Phật
vì đại chúng nói nghiệp nầy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai khẩu nghiệp tùy trí huệ
hành, tại sao, vì thanh tịnh thuyết pháp vậy, vì không có
thất thoát vậy, vì là lời chơn chánh, lời dễ hiểu, lời
dễ biết, lời chẳng cao chẳng hạ, lời chẳng cong vạy,
lời chẳng thô, lời chẳng ác, lời chẳng mờ tối, lời
dịu dàng, lời chẳng khinh, lời chẳng mau, lời chẳng e sợ,
lời chẳng phải chẳng hiểu nghĩa, lời chẳng phải tiếng
ác, lời chẳng chậm, lời cam lộ, lời khả ái, lời có thứ
đệ, lời trang nghiêm, lời cung kính, lời thích nghe, lời
chẳng tham, lời chẳng nhơ, lời thanh tịnh, lời rốt ráo,
lời chẳng lừa dối, lời chẳng si mê, lời vô ngại, lời
rộng rãi, lời chơn thiệt, lời chẳng tạo tác, lời vô tận,
lời an lạc, lời tịch tĩnh, lời tham tịch tĩnh, lời sân
tịch tĩnh, lời si tịch tĩnh, lời phá ma, lời phá tà luận,
tiếng phạm âm, tiếng ca lăng tần già, tiếng Ðế Thích,
tiếng hải triều, tiếng câu luân xà, tiếng khổng tước
mùa thu, tiếng câu chỉ la, tiếng chim mạng mạng, tiếng nga
vương, tiếng lộc vương, tiếng đờn, tiếng trống, tiếng
ốc, tiếng nhạc, tiếng người thích nghe , tiếng nhĩ căn
thích, lời tăng pháp lành, lời câu nghĩa vô tận, lời hiệp
chữ câu nghĩa, lời đúng thời, lời lược gọn, lời tri
túc, lời điều các căn, lời bố thí trang nghiêm, lời giới
luật thanh tịnh, lời cùng chung với đức nhẫn nhục, lời
tinh tiến thần thông, lời lìa xa dục giới, lời đầy đủ
trí huệ, lời từ, lời bi, lời hỉ, lời xả, lời nói pháp
Tam thừa, lời chẳng dứt tam bửu, lời giải thích ba tụ,
lời giải thích tam thế, lời giải thích ba giải thoát, lời
phân biệt tứ đế, lời tu tập, lời tán thán, lời Phật,
lời thánh, lời vô biên, lời vô hành. Nầy thiện nam tử
! Như Lai thành tựu những lời nói như vậy, nên khẩu nghiệp
Như Lai là tùy trí huệ hành. Ðây gọi là nghiệp thứ hai
mươi tám của đức Như Lai.
Ðức
Như Lai nói kệ rằng :
Lời
nói của Phật như tịnh châu
Thành
tựu vô lượng các công đức
Tiếng
Phật khắp cùng mười phương cõi
Nhứt
âm hay làm mọi loài hiểu
Phàm
lời diễn nói chẳng tác niệm
Lại
chẳng xem cảnh giới chúng tâm
Như
Lai âm thanh như tiếng vang
Không
nói không nghe cũng như vậy
Ðại
từ đại bi lời thanh tịnh
Vì
chúng giải thích các loại pháp
Muốn
cho chúng sanh được như Phật
Nên
nói khẩu nghiệp hai mươi tám.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai ý nghiệp tùy trí nghiệp
hành. Tại sao, đức Như Lai biết rõ tâm ý thức của tất
cả chúng sanh, cũng chẳng theo ý theo duyên theo tham sân si,
xa lìa dối lầm, xa lìa ngã ngã sở vô minh tối tăm, bình
đẳng thanh tịnh không có biên tế như hu không, đây là Như
Lai ý nghiệp tùy trí huệ hành. Ðây gọi là nghiệp thứ hai
mươi chín của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Tâm
Như Lai chẳng thể lường được
Như
dùng sợi lông cất núi lớn
Thường
quán chúng sanh tâm duyên cảnh
Xa
lìa các ma lìa phiền não
Như
Lai Pháp Vương nói nghiệp lành
Ðể
phá chúng sanh các nghiệp ác
Vì
tịnh chúng sanh thân khẩu ý
Nghiệp
hai mươi chín nay đã nói.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai trí huệ biết đời quá
khứ, trí ấy không có ngại cũng không có chướng. Trí ấy
thế nào ? Trí ấy biết vô lượng vô số chư Phật quá khứ
cùng với các thế giới của chư Phật ấy, những là cỏ
cây và số lượng chúng sanh, tâm cảnh của họ, các loại
âm thanh ngôn ngữ của họ, cũng biết chư Phật quá khứ ấy
nói những pháp gì, có bao nhiêu chúng sanh chứng được Thanh
Văn thừa, Bích Chi Phật thừa, Bồ Tát thừa, biết rõ chư
Phật quá khứ ấy thọ mạng dài ngắn, số đại chúng nhiều
ít, các thứ danh tự, sự ăn uống ngồi nằm, biết rõ chúng
sanh ấy những là căn giới ý giới pháp giới tâm giới hành
giới, tâm họ thứ đệ sanh diệt xuất hiện ẩn mất. Tất
cả đều biết rõ như thiệt cho đến biết rõ số lượng,
chẳng phải dùng tỉ trí so tính để biết. Ðây gọi là nghiệp
thứ ba mươi của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Phật
trí vô ngại cũng vô chướng
Nên
biết rõ được vô lượng cõi
Biết
rõ tất cả các Phật sự
Chúng
sanh các căn và pháp giới
Như
Lai Pháp Vương biết quá khứ
Như
xem trái cây trong bàn tay
Vì
muốn chúng sanh được trí ấy
Phật
nói nghiệp thứ ba mươi nầy.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai trí huệ biết đời vị
lai, trí ấy vô ngại cũng vô chướng .
Trí
ấy biết thế nào ? Trí ấy biết tất cả thế giới thuở
vị lai, hoặc thành hoặc hoại, mấy kiếp hỏa tai, mấy kiếp
thủy tai, mấy kiếp phong tai, bao nhiêu Phật thế giới, bao
nhiêu Phật xuất thế, trong thế giới có bao nhiêu vi trần,
có bao nhiêu Thanh Văn, bao nhiêu Duyên Giác, bao nhiêu Bồ Tát,
cũng biết sự ăn uống hành động đi đứng ngồi nằm của
chư Phật ấy, bao nhiêu chúng sanh chứng Thanh Văn giải thoát,
bao nhiêu chúng sanh chứng Duyên Giác giải thoát, bao nhiêu chúng
sanh chứng Chánh Giác giải thoát, bao nhiêu chúng sanh tu tập
các phẩm trợ đạo, tử bi hỉ xả, cũng biết rõ các chúng
sanh thuở vị lai ấy bao nhiêu thứ đệ tâm sanh, tâm diệt.
Tất cả sự việc như vậy đều biệt rõ chơn thiệt chẳng
phải dùng tỉ trí so tính để biết. Ðây gọi là nghiệp
thứ ba mươi mốt của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai biết rõ đời vị lai
Sự
sanh diệt của tất cả pháp
Biết
các thế giới và chư Phật
Chúng
sanh tâm thứ đệ sanh diệt
Lưu
chuyển các đạo chứng tam thừa
Y
báo chánh báo biết chơn thiệt
Vì
muốn đại chúng được trí nầy
Phật
nói nghiệp thứ ba mươi mốt.
Lại
nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai trí huệ biết đời hiện
tại, trí ấy vô ngại cũng vô chướng.
Trí
ấy thế nào ? Như Lai biết rõ hiện tại mười phương các
thế giới, số lượng chư Phật Bồ Tát Duyên Giác Thanh Văn,
những nhựt nguyệt tinh tú cỏ cây vi trần địa thủy hỏa
phong đại hải núi sông vườn rừng, các loại chúng sanh lông
tóc hình sắc tâm ý thứ đệ sanh diệt ẩn mất. Cũng biết
chúng sanh địa ngục ngạ quỷ súc sanh hiện nghiệp quả báo
ở đời bao lâu lúc nào giải thoát, biết rõ phiền não giới,
chư căn giới, ý giới, pháp giới. Tất cả sự việc hiện
tại mười phương trí Như Lai biết rõ chơn thiệt, chẳng
phải dùng tỉ trí so tính để biết. Ðây gọi là nghiệp
thứ ba mươi hai của đức Như Lai.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Như
Lai Vô thượng chẳng nghĩ bàn
Không
ai biết Phật cảnh sở duyên
Chỗ
biết của Phật như hư không
Vô
lượng vô biên không thể nói
Phật
nói vi diệu đệ nhứt nghĩa
Vì
muốn chúng sanh được nghiệp Phật
Tự
Tại Vương khéo hỏi Như Lai
Phật
Thế Tôn đã tùy ý đáp.
Xem
Tiếp: Trang 04

|