|
|
|
|
|
|
|
|
44
Pháp Hội Bửu Lương Tụ:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
KINH
ÐẠI BẢO TÍCH
Việt
dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất
bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
LI
PHÁP HỘI TỰ TẠI
VƯƠNG BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI MỐT
(Hán bộ
từ quyển 126 đến quyển 129)
Hán Dịch:
Bắc Lương, Tạm Tạng Đàm Vô Sấm
Việt Dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn có đủ ba mươi hai nghiệp
như vậy thì có thể điều phục tất cả chúng sanh.
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn vì chúng sanh nói các nghiệp
ấy, mà thiệt thì Như Lai vô lượng nghiệp Vô thượng không
thể kể nói.
Nầy
thiện nam tử ! Nghiệp của Như Lai, tất cả thế gian chúng
sanh chẳng suy nghĩ được, chẳng biết rõ được cũng chẳng
tuyên nói được.
Nghiệp
Như Lai ấy đều có thể bình đẳng biết khắp tất cả quốc
độ như hư không. Tại sao ? Vì mười phương chư Phật đều
bình đẳng vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Chư Phật Như Lai quan sát chúng sanh cùng thế
giới giải thoát Niết bàn đều bình đẳng không sai khác.
Ðức Phật Thế Tôn quán pháp giới đều bình đẳng nhứt
vị rồi chuyển chánh pháp luân chẳng chuyển được.
Nầy
thiện nam tử ! Ví như người thợ ngọc biết rành các loại
châu báu, ở nơi núi báu được một viên bửu châu mang về
ngâm trong nước, ngâm nước xong vớt ra ngâm dấm, rồi ngâm
nước đậu, ngâm rượu đắng, ngâm xong để trong các chất
nước thuốc, sau đó dùng nĩ nhuyễn mài chà thành chơn chánh
thanh lưu ly châu.
Cũng
vậy, vì biết chúng sanh giới chẳng sáng chẳng sạch nên
Như Lai vì chúng sanh mà nói pháp Vô thường khổ bất tịnh
để phá tâm tham ưa sanh tử của họ. Ðức Như Lai tinh tiến
không thôi nghỉ, lại vì chúng sanh nói pháp không vô tướng
vô nguyện cho họ biết rõ chánh pháp của Phật. Ðức Như
Lai tinh tiến không thôi nghỉ lại vì họ thuyết pháp cho họ
chẳng thối tâm Vô thượng Bồ đề biết tất cả pháp ba
đời thành đạo Bồ đề, gọi là đại trân bửu Vô thượng
phước điền lành tốt.
Vì
vậy nên biết nghiệp của Như Lai chẳng thể tư duy chẳng
thể cân lường chẳng thể tuyên nói được.
Ðức
Như Lai có đủ ba mươi hai nghiệp, dầu biết thân Phật như
hư không mà ở nơi thế giới thị hiện thân Phật và cũng
thuyết pháp chẳng thể thuyết được.
Ðức
Như Lai đã dứt hẳn nhơn duyên tất cả tâm nên biết rõ
tâm giới của tất cả chúng sanh, cũng biết rõ cảnh giới
của tất cả Bồ Tát.
Nầy
thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn chơn thiệt nghiệp trọn chẳng
đoạn tuyệt, thọ ký cho Bồ Tát. Ðây gọi là nghiệp chơn
thiệt của Như Lai”.
Lúc
đức Thế Tôn nói nghiệp Phật trên đây rồi, mười phương
thế giới chấn động sáu cách, quang minh lớn chiếu khắp
nơi, vô lượng vô biên thứ hương thơm hoa đẹp từ trên
không tuôn xuống. Ðại chúng hiện tại trong phường đình
báu lớn cho đến hàng Trời, Rồng,Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A
Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Người và Phi Nhơn
nghe lời đức Phật tuyên nói về nghiệp Như Lai, tất cà
đều rất vui mừng. Ðại chúng lại đem các thứ hương hoa,
kỹ nhạc, bửu tràng, bửu phan, bửu cái, cúng dường, đức
Phật. Trong pháp hội lại có các chúng đem đủ loại vàng
ngọc châu báu cùng những vật trang sức, như là tràng chuổi
thoa xuyến, những thanh lưu ly châu, liên hoa châu, kim sí điểu
châu, diêm phù bửu châu, đế thích bửu châu, hỏa châu, quang
châu, vô lượng quan châu, vô lượng sắc châu, nhu nhuyến
thanh tịnh châu, kim cương bửu châu và bạch chơn châu, còn
có đem các thứ hương quý như là hương bột, hương chiên
đàn hòa với kim sa, hương da già la, hương trầm thủy, hương
huân lục, hương di khư đa, hương ma la bạt, còn rải các
thứ hoa, những là hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, hoa
mạn thù sa, hoa ma ha mạn thù sa, hoa câu tỳ đà la, hoa ba lợi
chất đa la, hoa hỉ lạc, hoa sa la, hoa đại sa la, hoa bách
diệp, hoa thiên diệp, hoa nhiễu diệp, hoa đại quang, hoa hương,
hoa lạc hương, hoa lạc kiến, hoa vô lượng sắc, hoa bất
định sắc, các loại hoa sanh trong nước như là hoa ưu bát
la, hoa ba đầu ma, hoa câu vật đầu, hoa phân đà lợi các
loại, các loại hoa trên đất như là hoa bà lợi sư, hoa ma
lê, hoa tu mạn na, hoa dục kỳ, hoa đàn nội già lê, hoa a đề
mục đa già, hoa chiêm bà, hoa a thúc ca, cũng cúng dường đức
Phật các loại kỹ nhạc, các thứ phan lọng.
Lúc
bấy giờ chư Bồ Tát đến từ thập phương thế giới đều
thẳng lên hư không trên phường đình báu lớn rồi buông
mình rơi xuống đất để cúng dường đức Phật, thân chư
Bồ Tát ấy rơi xuống đất tan mất hóa ra lưới thất bửu
trùm khắp trên phường đình, lại hiện thân các Ngài ở
trong lưới báu ấy.
Lúc
bấy giờ mười phương tất cả chư Phật đều riêng sai một
cây ba lợi đến phường đình dùng để cúng dường đức
Phật Thích Ca Mâu Ni. Do thấn lực Phật, mỗi mỗi cây ba lợi
ấy đến trang nghiêm phường đình báu lớn.
Trong
pháp hội có vô lượng chúng phát tâm Vô thượng Chánh Giác,
vô lượng chúng được Vô sanh Pháp nhẫn.
Ðức
Thế Tôn đứng dậy ngắm nhìn hàng đại chúng như tượng
vương nhìn mà tuyên lời rằng : Các thiện nam tử ! Ai có
thể thủ hộ các vật cúng dường nầy và cả phường đình
báu lớn đây cho khỏi bị hủy hoại hư hao tổn thất, chờ
đến Di Lặc thành Vô thượng Chánh giác rồi mười sáu năm
sau sẽ cúng dường lên đức Phật ấy và cũng gìn giữ để
cúng dường năm trăm đức Như Lai kế tiếp trong Hiền Kiếp.
Bấy
giờ trong chúng hội có một đại Bồ Tát hiệu là Chư Pháp
Thần Thông Tự Tại Vương liền từ chỗ ngồi dậy quỳ chắp
tay bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Tôi có thể thủ
hộ những vật cúng dường và phường đình báu lớn nầy
chẳng cho hư không hủy hoại để chờ Di Lặc thành Phật
được mười sáu năm sẽ cúng dường cho đức Phật ấy và
cũng thủ hộ cúng dường cho năm trăm đức Phật kế tiếp
trong Hiền kiếp nầy”.
Lúc
ấy trong đại chúng có một ma vương hiệu là Thần Thông
ở nước Tứ Thiên Hạ nói với đại Bồ Tát Chư Pháp Thần
Thông Tự Tại Vương rằng nay Ngài để những vật cúng dường
và bửu phường đình nầy ở trong khí cụ gì để thủ
hộ cho khỏi hư hao hủy hoại ?
Chư
Pháp Thần Thông Tự Tại Vương đại Bồ Tát nói : “ Nầy
thiện nam tử ! Phàm nói là khí cụ thì tánh nó là Vô thường,
mà thân thể nầy của tôi luôn thường trụ không biến đổi.
Nay Ngài nên nhìn kỹ thân của tôi”
Ma
vương Thần Thông nghe xong liền y theo lời bảo mà nhìn kỹ
thân của đại Bồ Tát Chư Pháp Thần Thông Tự Tại Vương,
thấy trong rún có một thế giới tên là Thủy Vương Quang
hiện tại có đức Phật Thế Tôn hiệu là Bửu Ưu Bát La,
trong thế giới Thủy Vương Quang ấy có một bửu sơn lớn,
Bửu Ưu Bát La Như Lai ở trong đại bửu sơn ấy ngồi Kiết
già cùng chư Bồ Tát tuyên nói chánh pháp.
Thần
Thông ma vương thấy rõ rồi trong lòng rất lấy làm lạ mà
khen ngợi, liền lạy Chư Pháp Thần Thông Tự Tại Vương đại
Bồ Tát mà bạch rằng : “Lành thay lành thay ! Bạch Ðại
Sĩ ! Nay tôi mới biết là Ngài có khí cụ vi diệu có thể
hộ trì được các vật cúng dường và đại bửu phường
đình nầy khỏi bị hư hao hủy hoại”.
Thần
Thông ma vương lại đảnh lễ đức Phật bạch rằng : “Bạch
đức Thế Tôn ! Từ trước tôi chưa từng thấy đại Bồ
Tát như vậy, cũng chưa từng được nghe pháp vi diệu như
vậy, nên tôi muốn học pháp Thanh Văn nhập Niết bàn. Nay
tôi được thấy oai thần lực của Chư Pháp Thần Thông Tự
Tại Vương đại Bồ Tát tôi liền phát tâm Vô thượng Bồ
đề. Bạch đức Thế Tôn ! Giả sử trong hằng hà sa số kiếp
thân tôi chịu khổ nơi địa ngục, rồi sau mới được thành
đạo Vô thượng, tôi quyết chẳng rời bỏ Bồ đề tâm”.
Ðức
Phật phán dạy : “Lành thay lành thay ! Nầy thiện nam tử
! Ông có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề tốt như vậy,
ông cũng sẽ được Vô lượng thần thông lực như vậy”.
Lúc
ấy trong pháp hội có một đại Bồ Tát hiệu là Sư Tử Tràng
nói với Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát rằng : “Bạch
Ngài, đại Bồ Tát được môn đà la ni gì mà có thể thọ
trì tất cả lời chư Phật dạy, những chữ câu và nghĩa
được diễn nói đều không cùng tận ?”.
Ðà
La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát nói : « Bạch Ngài Sư Tử
Tràng đại Bồ Tát, có tám môn đà la ni mà đại Bồ Tát
nếu chứng được thì có thể thọ trì tất cả lời dạy
của chư Phật và thuyết pháp chữ câu và nghĩa không có cùng
tận.
Những
gì là tám môn đà la ni ?
Một
là Tịnh Thanh Quang Minh đà la ni môn.
Hai
là Vô Tận Khí đà la ni môn.
Ba
là Vô Lượng Tế đà la ni môn.
Bốn
là Ðại Hải đà la ni môn.
Năm
là Liên Hoa đà la ni môn.
Sáu
là Nhập Vô Ngại Môn đà la ni môn.
Bảy
là Tứ Vô Ngại Trí đà la ni môn.
Tám
là Phật Trang Nghiêm Anh Lạc đà la ni môn.
Nếu
có đại Bồ Tát an trụ trong tám môn đà la ni nầy thì có
thể thọ trì tất cả lời dạy của chư Phật và thuyết
pháp chữ câu nghĩa đều không có cùng tận ».
Sư
Tử Tràng đại Bồ Tát nói : « Lành thay bạch Ðại Sĩ ! Xin
Ngài nói rộng cho. Chư Bồ Tát nghe rồi sẽ được thọ trì
tất cả Phật pháp ».
Ðà
La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát nói : « Nầy Ngài, xin lắng
nghe kỹ tôi sẽ vì Ngài mà nói.
Môn
Tịnh Thanh Quang Minh đà la ni ấy, nếu an trụ được
thì đại Bồ Tát có thể ở nơi chỗ vô lượng vô biên chư
Phật Thế Tôn mà thành tựu đầy đủ vô lượng công đức
được, tứ đại thanh tịnh, do đây mà âm thanh vi diệu, lúc
tuyên thuyết chánh pháp âm thanh ấy vang khắp một Phật thế
giới, khắp hai Phật thế giới, khắp năm Phật thế giới
, khắp mười Phật thế giới, khắp hai mươi ba mươi Phật
thế giới, khắp bốn mươi năm mươi Phật thế giới, khắp
trăm Phật thế giới, khắp ngàn Phật thế giói, cho đến
khắp trăm ngàn vạn Phật thế giới không thể kể không thể
đếm được. Pháp được đại Bồ Tát ấy nói ra đều được
nghe khắp nơi. Lúc đại Bồ Tát ấy thuyết pháp, pháp tòa
sư tử được ngồi hoặc rộng một do tuần, hoặc lớn như
núi Tu Di, rộng lớn như bửu tòa Phạm Thiên Vương.
Giả
sử có mười phương vô lượng chư Phật giảng tuyên đạo
hóa đại Bồ Tát nầy đều nghe được khắp hết và thọ
trì chẳng quên sót, hiểu rành chữ câu và ý nghĩa. Ðồng
thời tự mình thuyết pháp và nghe chư Phật thuyết pháp không
có trở ngại cả hai sự việc. Ở trong một chữ diễn nói
tất cả pháp, đó là chữ a. Chữ a là đầu của các chữ.
Lúc đại Bồ Tát nầy nói chữ a liền có thể nói tất cả
pháp. Chữ a có nghĩa là không có. Không có ấy là các pháp
không có căn, không có sanh, không có sơ khởi, không có biên
tế, không có tận cùng, không có tạo tác, không có lai, không
có khứ, không có trụ, không có tánh, không có xuất, không
có hành, không có tăng, không có cao, không có giảm, không
có chữ không có tác dụng, không có nguyện cầu, không có
hí luận cũng không giác quán, không nói, không nghe, không ở,
không vào, các pháp không có ngã, không có chúng sanh, không
tịnh, không mạng, không tên, không chủ, không sĩ phu, không
nội, không ngoại, không thường, không tướng, không nhớ,
không lường, không làm không dấu vết, không câu, không chữ,
không ngại, không cùng chung, không theo mình, không theo người,
không thâu, không phóng, không thủ, không xả, không số, không
thân, không tịnh, không uế, không chuyển, không biến, không
thọ nhận, không âm thanh, không tướng hình, không kiết gút,
không nhơ, không cuồng, không lậu, không hữu, không che, không
đục, không đối, cũng không có sắc thọ tưởng hành thức,
không có nhơn quả, không có ấm nhập giới, không có nhơn
duyên, không có cảnh giới, không có Dục giới, Sắc giới,
Vô Sắc giới, không có thọ sanh, không có dẫn dắt, không
có đen trắng, không cặn bã, không tư duy, không thời gian,
không quy về, không thanh tịnh, không tạp uế, không thiêu
đốt, không quên tập, không nhà cửa, không chi tiết, không
lay động, không đứng ngừng, không bền chắc, không mỏng
manh, không thấy được, không chạm được, không sáng, không
tối, không lỗi, không tội, không thiệt, không hư, không si
ngu, không quán huệ, không chứng không tu, không kiến, không
văn, không giác, không trí, không xúc, không thúc.
Thưa
Ngài Sư Tử Tràng ! Ðại Bồ Tát được đà la ni Tịnh Thanh
Quang Minh như vậy thì ở một chữ có thể diễn nói tất
cả pháp. Trong một chữ nầy nói vô lượng nghĩa không có
sai lầm, chẳng hoại pháp giới, chẳng mất chữ nghĩa.
Ðại
Bồ Tát được đà la ni Tịnh Thanh Quang Minh nầy thì thân
khẩu và ý đều thanh tịnh cả.
Cử
động đi ở chúng sanh thích thấy, đó là thân thanh tịnh.
Pháp được diễn nói chúng sanh thích nghe đó là khẩu thanh
tịnh. Tu tập tâm từ bi hỉ xả đó là ý thanh tịnh.
Ðại
Bồ Tát được đà la ni nầy rồi thì có thể thanh tịnh hai
bố thí, đó là tài thí và pháp thí. Có thể thanh tịnh giới
hạnh, thấy kẻ phá giới chẳng sanh tâm chê ghét. Có thể
thanh tịnh nhẫn nhục, thấy kẻ hại chúng sanh chẳng sanh
lòng giận phiền. Có thể thanh tịnh tinh tiến, tu hành pháp
lành không hề thôi nghỉ. Có thể thanh tịnh thiền định
vì dứt kiêu mạn. Có thể thanh tịnh trí huệ vì trừ vô
minh. Có thể thanh tịnh các nghiệp vì phá nhơn ác bất thiện.
Có thể thanh tịnh nhãn căn vì được tam minh. Có thể thanh
tịnh nhĩ căn vì được thiên nhĩ nghe tiếng nói của chư
Phật. Có thể thanh tịnh tỷ căn vì ngửi biết giới hương
thanh tịnh của chư Phật. Có thể thanh tịnh thiệt căn vì
chẳng tham chất vị cam lộ. Có thể thanh tịnh thân căn vì
được hóa thân. Có thể thanh tịnh ý căn vì tư duy lành tốt
vậy. Có thể thanh tịnh hình sắc vì được ba mươi hai đại
nhơn tướng. Có thể thanh tịnh âm thanh vì nói diệu pháp.
Có thể thanh tịnh hơi hương vì giới văn thí v.v... thanh tịnh.
Có thể thanh tịnh mùi vị vì được vị Vô thượng. Có thể
thanh tịnh cảm xúc vì tu tập các tam muội Vô thượng. Có
thể thanh tịnh pháp trần vì quán các pháp giới vô phân biệt.
Có thể thanh tịnh ác niệm vì chẳng quên sót. Có thể thanh
tịnh ý tưởng vì vĩnh viễn không hệ thuộc ca ma đảng.
Có thể thanh tịnh các hành vì quán sát các pháp giới thậm
thâm vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát an trụ nơi đà la ni Tịnh Quang
Minh nầy rồi theo âm thanh được nói vang đến, chỗ nào thì
ánh sáng từ trong thân của Bồ Tát ấy cũng chiếu đến nơi
ấy.
Nầy
thiện nam tử ! Ðà la ni ấy thành tựu vô lượng công đức
như vậy.
Ðại
Bồ Tát an trụ Vô Tận Khí đà la ni rồi thì diễn nói sắc
Vô thường chẳng thể cùng tận, nói sắc là khổ là vô ngã
cũng chẳng thể cùng tận, nói sắc như bọt nước, như ảo
như trăng trong nước, như mộng, như vang, như bóng, như dương
diệm, cũng đều chẳng thể cùng tận, nói sắc không có tánh,
không có tướng là rỗng không cũng đều chẳng thể cùng
tận, nói sắc không nói được chẳng thể nguyện cầu chẳng
thể tạo tác là bất sanh bất diệt chẳng phải quá khứ
vị lai hiện tại, chẳng phải nội ngoại chẳng phải tịnh
uế, chẳng phải ngã ngã sở, chẳng phải khứ lai, chẳng
phải đối ngại, chẳng phải nhứt nhị, chẳng phải chúng
sanh, thọ mạng, trượng phu, chẳng phải tham sân si, chẳng
phải hữu vô, chẳng phải hữu lậu vô lậu, chẳng phải
hữu vi vô vi tất cả cũng đều chẳng phải cùng tận, nói
sắc chẳng phải đui điếc, chẳng phải quẻ thọt, chẳng
phải cuồng loạn, chẳng phải cỏ cây gỗ đá, chẳng phải
địa thủy hỏa phong, chẳng phải nhà cửa, chẳng phải thành
quách, chẳng phải thôn lạc lớn, chẳng phải núi gò, chẳng
phải vườn rừng, chẳng phải phương hướng, chẳng phải
sắc hương vị xúc, chẳng phải tạo tác chẳng phải lãnh
thọ, chẳng phải tiếng, chẳng phải nghe, chẳng phải mười
hai nhơn duyên tất cả cũng đều chẳng thể cùng tận, nói
sắc chẳng phải thường chẳng phải đoạn, chẳng phải nhơn
chẳng phải ngũ ấm, lục nhập, thập bát giới,chẳng phải
Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, chẳng phải đống dị,
chẳng phải phiền não, chẳng phải tịnh uế, chẳng phải
bằng, chẳng phải lõm, tất cả cũng đều chẳng thể cùng
tận.
Nầy
thiện nam tử ! Ðại Bồ Tát an trụ Vô Tận khí đà la ni
nói sắc chẳng thể cùng tận như vậy. Lại còn vô lượng
vô biên bất khả thuyết phần. Chia một phần nầy làm ngàn
phần, ta ở nơi một phần ngàn ấy còn nói chẳng thể cùng
tận.
Về
Vô Lượng Tế đà la ni, chữ tế là nói thường kiến và
đoạn kiến, vô lượng là nói mười hai nhơn duyên. Lại nữa,
chữ tế là nói vô minh hành thức danh sắc lục nhập xúc
thọ ái thủ hữu sanh và lão tử các sự khổ não nhóm họp,
vô lượng là nói sanh và tử. Lại nữa, chữ tế là vô thỉ
vô chung, là không có thủ xả, là không sanh không diệt, là
không uế không tịnh vì tánh vốn thanh tịnh, là khả kiến,
là danh sắc, là hữu vi vô vi, là hữu lậu vô lậu, là nghiệp
quả nội ngoại trong ba đời, là không nghiệp nhơn quả báo
thiện và bất thiện ngã và vô ngã sanh tử và Niết bàn.
Vô
lượng là vi trần tế đó là địa thủy hỏa phong.
Ðây
gọi là Vô Lượng Tế đà la ni, đại Bồ Tát an trụ đà
la ni ấy rồi ở trong vô lượng kiếp vì chúng sanh thuyết
pháp, những tự cú nghĩa vị được nói đều chẳng thể
cùng tận. Ðà la ni ấy thành tựu vô lượng công đức như
vậy.
Còn
về Ðại Hải đà la ni, nầy thiện nam tử ! Ví như biển
lớn, trong tứ thiên hạ có những hình sắc chúng sanh những
cỏ cây dược thọ ngũ cốc mặt nhựt mặt nguyệt tinh tú
mây rán sương mù sấm chớp quốc độ thành quách tụ lạc
thôn ấp điện đường vườn rừng ao hồ núi sông v.v... tất
cả hình sắc đều hiện bóng trong biển lớn.
Ðại
Bồ Tát an trụ đà la ni Ðại Hải ấy cũng như vậy, tất
cả chúng sanh thân khẩu ý nghiệp đều ấn hiện trong thân
đại Bồ Tát, do đây mà những lời nói của đại Bồ Tát
đều chơn thiệt cả. Chữ ấn ấy có nghĩa là vô sở hữu,
đó là các pháp không có giác quán không có ngôn thuyết là
vô biên vô tác vô tham, đây gọi là nghĩa đệ nhứt chơn
thiệt. Còn có giá ấn, giá là nói nhãn , nhãn là vô thường
có thể tịnh có thể thấy. Còn có na ấn, na là nói danh,
vì tất cả các pháp nên danh thiệt vô danh. Còn có la ấn,
la là nói thế, tất cả thế gian thuộc ái và vô minh. Còn
có đà ấn, đà là nói thập, đức Phật Thế Tôn có thập
lực hay hóa độ chúng sanh. Còn có ba ấn, ba là nói ngũ, đức
Như Lai xa lìa trừ dứt ngũ dục chứng được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Còn có sát ấn, sát là nói lục, vì
đức Như Lai chơn thiệt biết rõ lục nhập nên có thể điều
phục tất cả chúng sanh, vì đức Như Lai đủ lục niệm xứ
nên được đại tự tại, vì đức Như Lai có lục thần thông
nên dùng thần thông giáo hóa chúng sanh. Còn có bà ấn, bà
là nói tả, vì đức Như Lai lìa tả đạo nên được Vô thượng
Bồ đề. Còn có đa ấn, đa là nói thiệt, vì đức Như Lai
biết rõ tánh chơn thiệt, nên gọi là Chánh Giác. Còn có na
ấn, na là nói bỉ, vì đức Như Lai biết khắp các pháp thủ
bỉ đều bình đẳng. Còn có bà ấn, bà là nói kiết, vì
đức Như Lai xa lìa tất cả phiền não kiết sử nên gọi
là a lê ha. Còn có xà ấn, xà là nói sanh lão, vì đức Như
Lai đã khỏi phần sanh lão nên gọi là Thế Tôn. Còn có đàm
ấn, đàm là nói pháp, đức Như Lai thuyết pháp thanh tịnh
vô cấu. Còn có xa ấn, xa là nói xa ma tha. Còn có khư ấn,
khư là nói hư không, đức Như Lai thấy biết tất cả các
pháp đồng như hư không. Còn có ca ấn, ca là nói khổ hạnh,
đức Như Lai xa lìa tất cả khổ hạnh. Còn có bà ấn, bà
là nói chơn thiệt, tứ đế được đức Như Lai nói tức
là chơn thiệt. Còn có ma ấn, ma là nói đạo, đức Như Lai
hay nói pháp bát chánh đạo. Còn có già ấn, già là nói thâm,
pháp được đức Như Lai nói nghĩa rất thậm thâm. Còn có
sằn ấn, sằn là nói nhẫn, đức Như Lai có đủ nhẫn Ba
la mật. Còn có hô ấn, hô là nói tán, đức Như Lai thường
tán thán thập phương chư Phật. Còn có nhược ấn, nhược
là nói biến tri, đức Như Lai biết rõ khắp tất cả pháp
nên gọi là bực Nhứt thiết trí. Còn có bà ấn, bà là nói
hữu, đức Như Lai đã thoát khỏi tất cả hữu. Còn có xa
ấn, xa là nói dục, đức Như Lai muốn tất cả pháp lành.
Còn có ba ấn, ba là nói tiền, đức Như Lai thường vì chúng
sanh hiện tiền thuyết pháp . Còn có phả ấn, phả là nói
quả, đức Như Lai thường nói bốn quả Sa Môn.
Nầy
thiện nam tử ! Nhơn chữ như vậy mà diễn nói các pháp, đó
là các chữ đều ấn hiện nơi miệng đại Bồ Tát. Ðây
gọi là Ðại Hải đà la ni.
Luận
về Liên Hoa đà la ni ấy, đại Bồ Tát an trụ đà la ni nầy
rồi chỗ thuyết pháp thường xuất hiện thất bửu liên hoa
thanh tịnh vi diệu để làm pháp tòa, đại Bồ Tát ngồi bửu
tòa ấy mà thuyết pháp giáo hóa, lại còn nhiều khi mưa tuôn
vô lượng liên hoa, các liên hoa nầy cũng phát ra các thứ
pháp âm thanh tịnh, âm thanh ấy sâu rộng diễn xuất nhiều
phương tiện ví dụ. Những là pháp âm mười hai bộ kinh,
pháp âm thanh tịnh, pháp âm dứt phiền não, lúc ấy đại
Bồ Tát ngồi yên lặng mà các liên hoa đều có thể diễn
xuất pháp âm. Cũng còn phát xuất vô lượng các loại quang
minh mà tất cả chúng sanh đều thấy. Ðại Bồ Tát ngồi
trên đài các liên hoa mà làm Phật sự. Ðây gọi là Liên
Hoa đà la ni.
Luận
về Nhập Vô Ngại Môn đà la ni ấy, đại Bồ Tát an trụ
đà la ni nầy lúc nói một pháp không có chướng ngại, hoặc
lúc nói hai pháp ba pháp bốn pháp trăm pháp ngàn pháp trăm
ngàn vạn pháp vô lượng vô biên hằng hà sa số pháp cũng
không có chướng ngại, cho đến lúc nói pháp số bằng số
vi trần trong tứ thiên hạ, bằng số vi trần Ðại Thiên thế
giới, bằng số vi trần trong hằng hà sa chư Phật thế giới,
nơi các chữ câu nghĩa không có chướng ngại, đây gọi là
Nhập Vô Ngại Môn đà la ni vậy.
Luận
về Tứ Vô Ngại Trí đà la ni ấy, đó là pháp vô ngại trí,
nghĩa vô ngại trí, từ vô ngại trí và lạc thuyết vô ngại
trí. Ðại Bồ Tát an trụ đà la ni nầy, Ðông phương vô lượng
thế giới chúng sanh có ai thưa hỏi pháp yếu, đại Bồ Tát
theo đó dùng pháp vô ngại để giải đáp, Nam phương vô lượng
thế giới chúng sanh có ai hỏi nghĩa, đại Bồ Tát tùy thuận
dùng nghĩa vô ngại để đáp, Tây phương vô lương thế giới
chúng sanh có ai hỏi về từ, đại Bồ Tát tùy thuận dùng
từ vô ngại để đáp, Bắc phương vô lượng thế giới chúng
sanh có ai hỏi lạc thuyết, đại Bồ Tát tùy thuận dùng
lạc thuyết vô ngại để đáp. Ðây gọi là Tứ Vô Ngại
Trí đà la ni.
Luận
về Phật Anh Lạc Trang Nghiêm đà la ni ấy, nếu có đại Bồ
Tát được đà la ni thứ tám nầy thì trên đỉnh kế có tượng
Phật màu chơn kim xuất hiện, tượng Phật ấy có ánh sáng
lớn đủ ba mươi hai tướng đại nhơn tám mươi vẻ đẹp,
bấy giờ đại Bồ Tát thân khẩu ý đều làm Phật sự, chỗ
tư niệm như Phật tư niệm. Ðại Bồ Tát có đủ Phật nghiệp
như vậy có thể biết các loại tâm
niệm của đại chúng, biết rồi tùy ý mà vì đại chúng
thuyết pháp trong một ngày hai ngày cho đến vô lượng trăm
ngàn vạn năm cũng chẳng thể cùng tận chỗ hiểu biết pháp
môn văn tự cú nghĩa của đại Bồ Tát. Lại còn có đủ
bốn thứ trí huệ, đó là biết tâm niệm của các chúng sanh,
biết các tự cú , biết chỗ nói vô tận và biết chơn thiệt.
Do có đủ bốn thứ trí ấy mà đại Bồ Tát có thể giáo
hóa chúng sanh hướng đến Vô thượng Bồ đề. Ðây gọi
là Phật Anh Lạc Trang Nghiêm đà la ni.
Nầy
thiện nam tử ! Tám môn đà la ni ấy phần của nó vô lượng,
trong vô lượng phần nầy đem một phần chia làm ngàn phần,
trong ngàn phần ấy chỉ nói một phần còn chẳng thể cùng
tận. Các đà la ni ấy thành tựu vô lượng công đức như
vậy”.
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy, Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát
nói tụng rằng :
Như
Lai nói tám đà la ni
Nếu
đại Bồ Tát có được rồi
Hiểu
được các nghĩa của khế kinh
Cú
nghĩa từ chẳng thể cùng tận
Ðầy
đủ nghiệp lành được diệu thanh
Hay
khiến vô lượng thế giới nghe
Chúng
sanh nghe rồi tu pháp lành
Tu
rồi chứng được chơn giải thoát
Vô
lượng kiếp nói một pháp Vô
Nhơn
một pháp Vô nói vô tận
Cũng
do một chữ hiểu nhiều nghĩa
Ðây
gọi Phật nói tế tổng trì
Thế
Tôn Pháp Vương dứt hai tế
Thuyết
pháp đạo nghĩa vô biên tế
Có
trí huệ bình đẳng quan sát
Dầu
thành tổng trì không người được
Hình
sắc bốn phương hiện trong biển
Tất
cả tự ấn ấn Bồ Tát
Lúc
thuyết pháp không có chướng ngại
Thành
tựu Ðại Hải đà la ni
Ngồi
tòa liên hoa diễn thuyết pháp
Cũng
mưa liên hoa rải đại chúng
Liên
hoa cũng nói vô lượng pháp
Ðây
là liên hoa đà la ni
Nói
một chữ không có chướng ngại
Nói
vô lượng chữ cũng vô ngại
Nói
vô lượng nghĩa không có trệ
Ðây
gọi Vô Ngại đà la ni
Nói
pháp nghĩa sâu không cùng tận
Từ
và lạc thuyết cũng vô biên
Hay
phá chúng sanh lưới tâm nghi
Chứng
được vô thượng trí tổng trì
Ðảnh
kế thường hiện tượng Như Lai
Thân
khẩu ý cùng Phật không khác
Nếu
có tổng trì thứ tám ấy
Cùng
kiếp khen nói chẳng hết được
Ðầy
đủ tám tổng trì như vậy
Thế
gian chẳng nhiễm như hoa sen
Thế
gian cao nhứt như Tu Di
Chẳng
thể đếm kể cũng như vậy
Tà
luận chẳng động hay phá tà
Bồ
Tát có đủ tổng trì nầy
Hay
phá đạo các tà kiến
Như
tiếng rống sư tử giữa rừng
Nếu
được Vô thượng đà la ni
Hay
đạt thế gian hạnh thanh tịnh
Hay
tăng vô lượng các pháp lành
Cũng
hay giáo hóa các chúng sanh
Có
đủ đà la ni như vậy
Hay
phá chúng sanh tối vô minh
Làm
ánh sáng lớn như mặt trời
Cũng
hay phá trừ những đen tối
Thuyết
pháp vô ngại như hư không
Vì
chúng mà đi như gió mạnh
Ban
bố thuốc pháp trừ phiền não
Như
thầy thuốc hay chữa lành bịnh
Nếu
có đủ Vô thượng tổng trì
Ai
khen công đức chẳng thể hết
Hay
làm mát sáng như trăng thu
Tăng
trưởng pháp lành cũng như vậy
Bồ
Tát chứng được tổng trì nầy
Hay
độ vô lượng các chúng sanh
Nếu
đủ tám đà la ni nầy
Ðược
đại tự tại như Thiên Vương
Hay
độ chúng sanh hướng Ðại thừa
Hay
ban pháp tài phá bần cùng
Hay
mưa pháp vũ như Long Vương
Phá
nát phiền não như mưa đá
Nếu
được tám đà la ni nầy
Hay
độ chúng sanh đến Bồ đề
Không
nói lỗi được như Ðế Thích
Chữ
nghĩa vô tận như hư không
Nếu
được thành tựu đà la ni
Tất
cả đại chúng thích thấy nghe
Tâm
ý chẳng tán thường tại định
Tu
tập vô lượng tâm từ bi
Phạm
hạnh thanh tịnh hiện thần thông
Bốn
vô lượng như Ðại Phạm Vương
Nếu
được thành tựu đà la ni
Liền
hay cúng dường mười phương Phật
Nhìn
xem thấy rõ mười phương cõi
Nơi
thế giới ấy độ chúng sanh
Nếu
được đủ đà la ni nầy
Liền
được đầy đủ Phật công đức
Thường
được mười phương Phật hộ niệm
Cũng
như cha mẹ nhớ con một
Nếu
Bồ Tát được tổng trì nầy
Hay
khen Phật công đức vô lượng
Thành
tựu đầy đủ giới định huệ
Hay
hiểu chúng sanh tâm sở hành
Nếu
được thành tựu đà la ni
Không
còn kiêu mạn và xan tham
Giỏi
biết phương tiện dạy chúng sanh
Tu
tập từ bi phá phiền não
Thành
tựu được đà la ni nầy
Phiền
não chẳng nhiễm như hư không
Hiểu
rõ chúng sanh lời tùy ý
Cũng
hay tùy ý diễn thuyết pháp
Nếu
có đủ đà la ni nầy
Hay
biết rõ căn của chúng sanh
Hay
hiểu chỗ hiểu của chúng sanh
Theo
chúng sanh hiểu mà thuyết pháp
Theo
môn đối trị vì họ nói
Ba
mươi bảy phẩm dạy chúng sanh
Ðược
có tám đà la ni nầy
Tu
tập vô biên xa ma tha
Ðược
có tám đà la ni nầy
Ðủ
sáu Ba la mật như Phật
Biết
rõ tất cả giới phiền não
Thông
đạt tịch tĩnh phiền não dứt
Thân
khẩu ý nghiệp đều tịch tĩnh
Hành
trụ tọa ngọa đều tịch tĩnh
Ðược
thành tựu tám đà la ni
Không
còn phiền não các tập khí
Ðược
pháp thân thanh tịnh vô biên
Chẳng
phải bị sanh thường hóa sanh
Thân
khẩu ý theo trí huệ hành
Bao
nhiêu định niệm cũng theo trí
Thành
tựu được đà la ni nầy
Không
ai tán thán cùng tận được.
SUA
XONG 658
Lúc
bấy giờ, đức Như Lai Thế Tôn khen Ðà La Ni Tự Tại Vương
đại Bồ Tát : « Lành thay, lành thay ! Nầy thiện nam tử
! Từ lâu ông đã được đà la ni nầy hay phân biệt giải
nói bao nhiêu nghĩa vô lượng công đức.
Chẳng
phải chỉ có hôm nay, mà đã ở chỗ vô lượng chư Phật
quá khứ cũng phân biệt giải nói như vậy.
Nầy
thiện nam tử ! Quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, có đức
Phật hiệu là Tịnh Quang Minh Như Lai, thế giới ấy tên Tịnh
Kiếp cũng tên là Tịnh Thuần, thế giới ấy bằng tịnh lưu
ly làm thành như gương sáng, mặt đất bằng phẳng, bao nhiêu
rừng cây toàn bằng thất bửu, có hoa sen diệu bửu lớn như
bánh xe, hoa sen ấy thanh tịnh tươi sáng ai thấy đều thích.
Nhơn dân cõi ấy đều ở lâu các điện đường bằng thất
bửu không khác cõi trời, đã lần nhẹ mỏng lòng tham sân
si. Cõi ấy không có mặt nhựt mặt nguyệt chỉ có ánh sáng
của đức Phật. Hoa sen sanh nở thì biết là đêm, hoa sen đỏ
nở thì biết là ngày. Ðại Bồ Tát Tăng có sáu trăm vạn
ức, người xuất gia đông nhiều không thể kể đếm, tất
cả đều có chí nguyện Vô thượng Ðại thừa. Thế giới
ấy không có tên Nhị thừa, tất cả đều là bực Bồ Tát
bất thối chuyển. Ðức Phật Tịnh Quang Minh thọ đủ nửa
kiếp, người và chư Thiên đồng nhau không khác, ở đất
thì là người, còn ở hư không là trời, không có vua chúa,
chỉ có Phật là vị Pháp Vương Vô Thượng. Nhơn dân cõi
ấy không có ai tôn thờ hay quy y với chư Thiên tà thần, cũng
không có danh từ nữ nhơn và phá giới. Tất cả đều đủ
ba tụ giới, đó là theo Chánh giới, theo định giới và theo
huệ giới. Phát tâm Vô thượng Bồ đề nhàm chán sanh tử,
đây gọi là theo chánh giới, tu tam muội huệ đây gọi là
theo định giới, tu tập trí huệ được đại trí huệ đây
gọi là theo huệ giới”.
Trong
đại chúng ấy có một Bồ Tát hiệu là Quang Ðảnh lễ Phật
hữu nhiễu cung kính quỳ dài chắp tay bạch rằng : “ Bạch
đức Thế Tôn ! Nói đà la ni ấy, thế nào gọi là đà la
ni. Bồ Tát an trụ trong đà la ni nào thì có thể thọ trì
tất cả danh hiệu của chư Phật rồi vì các chúng sanh mà
phân biệt giải nói ».
Ðức
Tịnh Quang Minh Như Lai nói : « Nầy Quang Ðảnh ! Có đà la
ni tên là Bửu Cự, Bồ Tát an trụ trong ấy thì có thể thọ
trì tất cả danh hiệu của chư Phật rồi vì chúng sanh mà
phân biệt giải nói tùy theo các thứ ngữ ngôn của các loại
chúng sanh ».
Quang
Minh Bồ Tát bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Xin phân
biệt nói rộng đà la ni Bửu Cự ấy. Chúng tôi nghe rồi sẽ
thọ trì tu tập ».
Ðức
Tịnh Quang Minh Như Lai nói : « Lành thay lành thay ! Ông chí
tâm lắng nghe. Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói ».
Ðức
Tịnh Quang Minh Như Lai nói kệ rằng :
Xa
lìa tất cả các phiền não
Thanh
tịnh vô cấu như bửu châu
Tâm
ấy hay làm đại quang minh
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Thân
khẩu ý nghiệp đều tịch tĩnh
Dường
như trăng thu rất sáng sach
Tu
tập đại từ tâm bình đẳng
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Tâm
ấy không có các giác quán
Ðều
được xa lìa hai kiến chấp
Chẳng
phải có tưởng không có tưởng
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Thành
tựu đầy đủ niệm ý huệ
Hay
nhập vô thượng đại pháp môn
Thanh
tịnh vô cấu như hư không
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Xa
lìa ba loại trần lao nhơ
Thành
tựu ba thứ thanh tịnh huệ
Ðã
được giải thoát cả ba cõi
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Ðã
hay phá hoại tham sân si
Cũng
xa lìa được phiền não trược
Trừ
được vô minh các tà ám
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Chúng
sanh âm thanh thượng trung hạ
Tất
cả đều hay biết rành rẽ
Hay
theo ý chúng mà thuyết pháp
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Ðầy
đủ thậm thâm vô lượng nghĩa
Tất
cả chữ câu cũng đầy đủ
Xa
lìa chấp ngã và ngã sở
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Ðầy
đủ thành tựu pháp Tứ y
Cũng
thành đủ bốn trí vô ngại
Tâm
ấy thường ở trong Tứ thiền
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Hay
rộng phân biệt đệ nhứt nghĩa
Ðầy
đủ được toàn bốn Phạm hạnh
Tu
tập đầy đủ ngũ thần thông
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Thọ
trì chuyên nhớ Tứ niệm xứ
Tinh
tiến tu tập Tứ chánh cần
Trang
nghiêm thành tựu Tứ như ý
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Thành
tựu ngũ căn và ngũ lực
Tà
phong chẳng động hay phá tà
Tu
tập vô thượng Thất giác phần
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Thành
tựu Ðịnh Huệ đủ hai cánh
Liệng
bay tự tại Bát chánh đạo
Hướng
đến vô thượng trí giải thoát
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Hay
đi trên đường Bồ Tát đi
An
trụ vô thượng chơn giải thoát
Dứt
hẳn tất cả phiền não tập
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Hay
làm vô lượng đại quang minh
Dường
như thế gian mặt nhựt nguyệt
Hay
tịnh ba thứ thanh tịnh nhãn
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Hay
sạch tất cả các phiền não
Cũng
hay xa lìa các ma nghiệp
Quán
xét tội lỗi ham ngũ ấm
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
Giỏi
biết điều phục các chúng sanh
Lìa
hẳn nhơn duyên của sáu căn
Vì
chúng thuyết pháp cho được niệm
Ðây
tên Bửu Cự đà la ni
An
trụ như vậy đà la ni
Hay
đến mười phương Phật thế giới
Thấy
Phật chí tâm nghe thọ pháp
Cũng
hay nói rộng pháp như vậy
Ðã
nghe pháp rồi chí tâm trì
Hay
vì chúng sanh nói tự nghĩa
Do
nơi nhơn duyên sức niệm lớn
Hay
hiểu chư Phật lời vi diệu
Hay
nói vô thường khổ vô ngã
Các
pháp đều từ duyên được quả
Quán
sát tỏ rõ các pháp giới
Ðây
gọi Bửu Cự đà la ni
Thành
tựu lạc thuyết vô ngại trí
Tam
minh tam huệ cũng thành tựu
Nếu
ai an trụ tổng trì nầy
Thì
hay nhập được nghĩa giải thoát
Phật
nói vô lượng đà la ni
Ðều
đến nhiếp vào tổng trì nầy
Nếu
được như vậy đà la ni
Gọi
là thành tựu vô lượng trì
Nếu
nhập vô lượng các thiền định
Và
được vô lượng các thần thông
Ðều
do sức tổng trì như đây
Nên
hiệu vua trong các tổng trì
Như
bốn đại hải không chướng ngại
Tất
cả sông suối đều chảy vào
Các
dòng chánh pháp cũng như vậy
Thảy
đều về tự tổng trì nầy
Ðược
thân vô biên ý vô tận
Hay
rộng phân biệt nói pháp giới
Thành
tựu vô lượng các công đức
Mới
hay được đây đà la ni
Nếu
được vi diệu tổng trì nầy
Thì
được tướng tốt ba mươi hai
Sắc
thân thù thắng thượng chủng tánh
Của
cải nhiều dư được vô sanh
Hay
rộng phân biệt các pháp nghĩa
An
trụ bất động bất thối địa
Ðều
do được đà la ni nầy
Bồ
Tát nếu muốn tu Bồ đề
Nên
tu như vậy đà la ni
Ðược
tổng trì rồi tu đạo tràng
Hay
diễn thuyết pháp độ chúng sanh
Trong
vô lượng kiếp lúc thuyết pháp
Hai
thứ tự nghĩa chẳng thể hết
Hay
sạch chúng sanh các phiền não
Do
được như vậy đà la ni
Hay
chuyển vô thượng chánh pháp luân
Hay
làm chúng sanh thoát các khổ
Hay
đưa chúng sanh vô thượng đạo
Do
được như vậy đà la ni
Nếu
có chúng sanh ngàn muôn miệng
Một
miệng có đủ ngàn muôn lưỡi
Nói
chẳng hết vô lượng công đức
Của
Bồ Tát trụ tổng trì nầy
Lúc
Tịnh Quang Minh Như Lai nói pháp ấy, Quang Ðảnh Bồ Tát cùng
ba vạn hai ngàn Bồ Tát đều chứng được Bửu Cự đà la
ni.
Nầy
Ðà La Ni Tự Tại Vương ! Ông có biết thuở xa xưa Quang Ðảnh
Bồ Tát là ai chăng, chính là thân ông hiện nay. Vì vậy mà
hôm nay ông có thể rộng phân biệt đà la ni nầy. Trong pháp
hội đây, người được đà la ni nầy, ông là người hạng
nhứt vậy.
Bấy
giờ trong pháp hội có một Bồ Tát hiệu Huệ Tự bạch Phật
rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là Bồ Tát được
Bửu Cự đà la ni, được rồi chẳng mất có thể dùng pháp
ấy điều phục chúng sanh ? ».
Ðức
Phật bảo Huệ Cự Bồ Tát : « Nầy thiện nam tử ! Nếu có
Bồ Tát an trụ huệ căn tạo tác huệ nghiệp. Bồ Tát như
vậy có thể được Bửu Cự đà la ni, được rồi chẳng
mất và hay dùng pháp ấy điều phục các chúng sanh ».
Huệ
Tự Bồ Tát lại bạch đức Phật : « Lành thay đức Thế
Tôn ! Xin nói rộng thế nào là huệ căn và thế nào là huệ
nghiệp ».
Ðức
Phật phán bảo : « Lành thay lành thay ! Nầy thiện nam tử
! Ông nên lắng nghe kỹ, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải
nói.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có thiện nam thiện nữ chưa được
trí huệ mà được nghe đó, đây gọi là căn, nghe rồi
rộng diễn nói thì gọi là nghiệp. Dùng huệ quán các pháp
thì gọi là căn, quán rồi rộng diễn nói thì gọi là nghiệp.
Lúc
đầu quán thiện căn thì gọi là căn, quán rồi cộng diễn
nói thì gọi là nghiệp. Quán bất phóng dật thì gọi là căn,
quán rồi đem dạy lại thì gọi là nghiệp. Ðiều phục tự
tâm thì gọi là nghiệp. An trụ tịch tĩnh thì gọi là căn,
thanh tịnh thân khẩu ý thì gọi nghiệp. Biết rõ nhứt thừa
thì gọi là căn, vì chúng sanh diễn nói thì gọi là nghiệp.
Tu xa ma tha thì gọi là căn, có đủ ba thứ huệ thì gọi là
nghiệp. Tu tập ba môn giải thoát thì gọi là căn, chứng được
ba thứ huệ thì gọi là nghiệp. Tu Tứ niệm xứ thì
gọi là căn, chẳng niệm nơi niệm thì gọi là nghiệp. Tu
tập Tứ chánh cần thi gọi là căn, lìa tánh phiền não thì
gọi là nghiệp. Tu tập Tứ như ý túc thi gọi là căn, biết
không có như ý thi gọi là nghiệp. Tu tập tín tâm thi là căn,
phóng xả tất cả thì gọi là nghiệp. Tu vô sở úy thì gọi
là căn, hay nói rộng đó thì gọi là nghiệp. Tu tập
Tam
muội thì gọi là căn, biết chánh định thứ đệ thi gọi
là nghiệp. Tu tập trí huệ thì gọi là căn, biết rõ tất
cả pháp thì gọi là nghiệp. Trang nghiêm Bồ đề thì gọi
là căn, lúc chứng được Bồ đề thì gọi là nghiệp. Chứng
Khổ Tập Ðạo đế thì gọi là căn, lúc chứng diệt đế
thì gọi là nghiệp. Chẳng y bất liễu nghĩa thì gọi là căn,
y kinh liễu nghĩa thì gọi là nghiệp. Ban đầu nghe thọ chánh
pháp thì gọi là căn, y chỉ nơi người thì gọi là nghiệp.
Chẳng y nơi người thì gọi là căn, y chỉ chánh pháp thì
gọi là nghiệp. Thấy pháp vô thường thì gọi là căn, thấy
pháp vô sanh vô diệt thì gọi là nghiệp. Biết các pháp khổ
thì gọi là căn, biết pháp vô tác thì gọi là nghiệp. Biết
pháp vô ngã thì gọi là căn, biết pháp tánh thanh tịnh thì
gọi là nghiệp. Biết Niết bàn thanh tịnh thì gọi là căn,
biết pháp vốn thanh tịnh thì gọi là nghiệp. Nghe chơn pháp
chẳng sợ thì gọi là căn, y chỉ chơn pháp thì gọi là nghiệp.
Biết chữ chẳng sợ thì gọi là căn, biết rồi thích nói
thì gọi là nghiệp. nghe nói trí lực của vô ngại của Như
Lai mà chẳng sợ thì gọi là căn,, y chỉ trí lực vô ngại
của Như Lai thì gọi là nghiệp. Chúng sanh duyên từ bi và
pháp tánh duyên từ bi hai duyên ấy gọi là căn, vô duyên từ
bi thì gọi là nghiệp. Thương xót chúng sanh thì gọi là căn,
hay làm cho chúng sanh thoát khổ thì gọi là nghiệp. Tư duy
thiện pháp được mừng gọi là căn, chẳng trụ trước nơi
pháp thì gọi là nghiệp. Không có ái tham, sân hận và ngu
si thì gọi là căn, không có nhứt không có hai thì gọi là
nghiệp. Niệm Phật gọi là căn, niệm Pháp thân thì gọi là
nghiệp. Niệm Pháp gọi là căn, biết Pháp tánh thanh tịnh
thì gọi là nghiệp. Niệm Tăng gọi là căn, biết Tăng vô
vi thì là nghiệp. Niệm giới gọi là căn, biết không có người
trì giới gọi là nghiệp. Niệm bố thí thì gọi là căn, hay
bỏ phiền não thì gọi là nghiệp. Niệm thiên gọi là căn,
được thanh tịnh thiên thì gọi là nghiệp. Nghe chánh pháp
rồi tư duy thì gọi là căn, chẳng nhiễm trước thế gian
thì gọi là nghiệp. Biết trước không có hiện nay làm ra
thì gọi là căn, biết không có tạo tác không có lãnh thọ
thì gọi là nghiệp. Biết tên Niết bàn thì gọi là căn, được
đại giải thoát thì gọi là nghiệp. Tự tại gọi là căn,
tự lợi lợi tha thì gọi là nghiệp. Thọ trì tám vạn bốn
ngàn pháp môn thì gọi là căn, thông đạt nghĩa của các pháp
môn ấy thì gọi thì gọi là nghiệp. Hay diễn thuyết pháp
thì gọi là căn, hiểu vô minh v.v... thì gọi là nghiệp. Khuyến
hóa các chúng sanh hướng đạo Bồ đề thì gọi là căn, khuyến
tu trí huệ phương tiện bất thối thì gọi là nghiệp. Chẳng
sơ các cõi thì gọi là căn, nguyện sanh vào các cõi thì gọi
là nghiệp. Từ nơi nghe chánh pháp mà đắc nhẫn thì gọi
là căn, do tư duy mà đắc nhẫn thì gọi là nghiệp. Tùy ý
đắc nhẫn thì gọi là căn, nhơn bất sanh mà đắc nhẫn thì
gọi là nghiệp. Còn dư một đời thì gọi là căn, thân tối
hậu thì gọi là nghiệp. Ngồi dưới Bồ đề thọ thì gọi
là căn, giác ngộ tất cả pháp thì gọi là nghiệp ».
Lúc
đức Thế Tôn nòi rộng về huệ căn và huệ nghiệp, tất
cả mười phương chư Phật thế giới đến đại bửu phường
đinh nầy đều chấn động sáu cách.
Huệ
Tụ đại Bồ Tát bạch đức Phật : « Bạch đức Thế Tôn
! Có nhơn duyên gì mà mười phương thế giới và cả hư không
cùng thất bửu đại phường đình nầy đều chấn động
sáu cách như vậy ? ».
Ðức
Phật phán dạy : « Nầy Huệ Tụ ! Vì huệ căn và huệ nghiệp
nầy cũng được diễn nói nơi chư Phật quá khứ nên có sáu
cách chấn động như vậy ».
Bấy
giờ Cụ Túc Tứ Vô Ngại Trí Bồ Tát bạch đức Phật : «
Bạch đức Thế Tôn ! Có nhơn duyên gì mà Huệ Tụ đại Bồ
Tát có tên là Tụ ? ».
Ðừc
Phật phán dạy : « Nầy Cụ Túc Tứ Vô Ngại Trí ! Thuở quá
khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp có Phật xuất thế hiệu là
Công Ðức Tạng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, thế giới ấy tên
Thiện Sanh, kiếp ấy tên Vô Cấu, tất cả chúng sanh cõi ấy
đều thuần thiện. Phật Công Ðức Tạng có ba vạn hai ngàn
đại Bồ Tát chúng, tám vạn bốn ngàn Thanh Văn chúng. Phật
Công Ðức Tạng muốn thử chư vị Bồ Tát với trăm ức sự
hỏi rằng các thiện nam tử ! Trong chúng có ai hiểu và nói
được các nghĩa như vậy ? Trong chúng có Bồ Tát bạch rằng
tôi sẽ tư duy trong một thánh mới có thể hiểu được, hoặc
có Bồ Tát bạch nửa tháng, hoặc bảy ngày, hoặc một ngày
một đêm tư duy mới có thể hiểu được. Lúc ấy có một
Bồ Tát tên Niệm Ý bạch Phật rằng : « Nay tôi chẳng rời
chỗ ngồi nầy liền có thể hiểu nghĩa ấy. Bạch Phật xong,
Bồ Tát Niệm Ý khởi sư tử hống làm cho đại địa chấn
động sáu cách phóng đại quang minh khuyến cáo các địa thần
cho đến Trời Sắc Cứu Cánh tất cả đều đến tập họp
nơi đức Phật Công Ðức Tạng. Chỗ ngồi của đại chúng
lúc bấy giở rộng đủ trăm vạn do tuần. Niệm Ý Bồ Tát
thấy đại chúng đã tập họp đông đủ liền dùng thần
thông lực, trí huệ niệm lực, đà la ni lực, tứ vô
ngại lực, vô sở úy lực, Phật thần lực trong trăm ức
sự, mỗi mỗi sự giải nói trăm ức nghĩa, không tư duy trước
không có đình trệ. Niệm Ý Bồ Tát nói nghĩa ấy rồi, trong
đại chúng có sáu vạn chúng sanh phát tâm vô thượng Bồ
đề, bốn vạn chúng sanh đắc vô sanh nhẫn. Tứ chư địa
thần, chư Thiên đến Trời Sắc Cứu Cánh , tất cả đều
nghe tiếng Niệm Ý Bồ Tát thuyết pháp.
Nầy
Cụ Túc tứ Vô Ngại Trí ! Ông có biết thuở quá khứ xa xưa
ấy Niệm Ý Bồ Tát là aì chăng ?Chính là Huệ Tụ Bồ Tát
đây vậy. Do nhơn duyên như vậy mà Bồ Tát có tên là Huệ
Tụ ».
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Vì
nghe thuyết pháp gọi là căn
Hay
diễn thuyết pháp gọi là nghiệp
Tư
duy pháp lành gọi là căn
Hiểu
nói thâm nghĩa gọi là nghiệp
Như
pháp mà ở gọi là căn
Theo
nghĩa thuyết pháp gọi là nghiệp
Tu
xa ma tha gọi là căn
Ðủ
ba thứ huệ gọi là nghiệp
Bốn
thứ niệm xứ gọi là căn
Pháp
tứ chánh cần gọi là nghiệp
Tín
tiến niệm đinh huệ là căn
Năm
thứ đắc lực gọi là nghiệp
Thất
Bồ đề phần gọi là căn
Bát
chánh đạo phần gọi là nghiệp
Chẳng
y chỉ tự cú là căn
Y
chỉ nơi nghĩa gọi là nghiệp
Chẳng
y chỉ người gọi là căn
Y
chỉ chánh pháp gọi là nghiệp
Chẳng
y bất liễu gọi là căn
Y
kinh liễu nghĩa gọi là nghiệp
Chẳng
y nơi thức gọi là căn
Y
chỉ trí huệ gọi là nghiệp
Biết
rõ vô tác gọi là căn
Thông
đạt vô sanh gọi là nghiệp
Sanh
pháp hai duyên từ là căn
Từ
bi vô duyên gọi là nghiệp
Vô
sở úy pháp gọi là căn
Hay
tuyên chánh pháp gọi là nghiệp
Sáu
chánh niệm xứ gọi là căn
Nghĩa
của lục niệm gọi là nghiệp
Hay
tự lợi ích gọi là căn
Tự
lợi lợi tha gọi là nghiệp
Thọ
trì chánh pháp gọi là căn
Hay
vì người nói gọi là nghiệp
Còn
dư lại một đời là căn
Tối
hậu thân thì gọi là nghiệp
Nếu
tâm Bồ Tát được bất thối
Thì
hay biết rõ huệ căn nghiệp
Có
thể chứng được vô sanh nhẫn
Có
thể mở cửa đại Bồ đề.
Ðà
La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát bạch Phật : « Bạch đức
Thế Tôn ! Pháp được đức Phật nói chẳng thể nghĩ bàn,
Vô thượng Bồ đề cũng chẳng thể nghĩ bàn. Tại sao, vì
chẳng phải là danh tự để nói, vì chẳng nhiếp thuộc danh
tự, vì pháp được Như Lai nói vô lượng vô biên, vì nhập
vào vô lượng vô biên pháp môn, vì thập nhị nhơn duyên rất
sâu khó hiểu, vì kẻ chấp thấy hai pháp thì chẳng biết
được, vì người lợi trí lần lần biết, vì chẳng phải
lục tình chỗ biết được, vì chẳng phải cảnh giới của
trí huệ Nhị thừa.
Bạch
đức Thế Tôn ! Vô thượng Bồ đề như vậy đều là ấn
của tất cả pháp, chẳng thể tạo tác được như hư không,
rời lìa nhà cửa nên chẳng phải nhà cửa, biết tất cả
hành cũng biết tất cả nhơn quả của tất cả chúng sanh.
Nhứt thiết trí rộng lớn vô biên, trang nghiêm tất cả vô
lượng pháp lành, hay vì pháp lành mà làm bát đựng thần
thông để hiển bày cho người, với người ở nhị đạo
dạy cho vô nhị, dạy cho hiểu chư Phật bình đẳng vô sai
biệt, không có tự không có nghĩa chẳng thể tuyên nói được,
chẳng thể lắng nghe được, hay dạy chúng sanh khối chánh
Tam bửu và ba môn giải thoát, giải thoát ba cõi dạy cho ba
thứ huệ, do kim cương định an trụ tất cả chánh pháp chư
Phật, nghe trọn tất cả chư Phật trí huệ, lợi ích tất
cả chúng sanh, cũng hay tuyên thuyết tất cả Phật pháp.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu có thiện nam thiện nữ có thể tán thán
Bồ đề Vô thượng có bao nhiêu công đức như vậy được
nghe kinh điển Ðại thừa phương đẳng nầy, hay thọ trì
đọc tụng biên chép diễn nói, thì gọi người ấy là có
thể báo được ơn chư Phật ».
Ðức
Phật phán dạy : « Ðúng như vậy, nầy Ðà La Ni Tự Tại
Vương. Như lời ông đã nói được vô lượng công đức.
Nầy
thiện nam tử ! Ðem thất bửu đầy cả mười phương thế
giới chư Phật dâng hiến lên Như Lai được công đức cùng
người hay thọ trì kinh nầy và đọc tụng biên chép giải
nói nghĩa kinh được công đức đồng nhau không khác”.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo chư Bồ Tát : “ Chư thiện nam tử
! Trong đại chúng đây, sau khi Phật diệt độ, ai có thể
hộ trì Vô thượng Bồ đề như vậy, và rộng nói nghĩa cho
chánh pháp còn ở thế gian được lâu”.
Bấy
giờ trong pháp hội đại chúng có chư Bồ Tát và chư Thiên
chư Nhơn đều riêng sáu vạn ức đồng thanh bạch Phật :
“Sau khi đức Như Lai Thế Tôn diệt độ, chúng tôi có thể
hộ trì Vô thượng Bồ đề như vậy và rộng nói nghĩa cho
chánh pháp được còn lâu. Nguyện cầu đức Như Lai Thế Tôn
gia hộ nguyện lực cho”.
Ðức
Thế Tôn nói kệ rằng :
Nếu
ta thiệt đồng thập phương Phật
Qua
bản sanh tử biển khổ lớn
Công
đức vô thượng pháp như vậy
Ðáng
phải còn lâu không diệt mất
Nếu
ta vô lượng đời tu từ
Chơn
thiệt vì lợi các chúng sanh
Xem
chúng bình đẳng không có hai
Vì
vậy chánh pháp được còn lâu
Nếu
ta có đủ hai trang nghiêm
Trong
vô lượng đời lợi chúng sanh
Ðem
hai trang nghiêm độ chúng sanh
Vì
vậy chánh pháp được còn lâu
Nếu
hay phá hoại phiền não kiết
Và
cũng trừ diệt các tà kiến
Ðầy
đủ tất cả các pháp lành
Nên
hay giỏi phát nguyện lực nầy.
Nầy
chư thiện nam tử ! Chẳng riêng gì các đại chúng tất cả
Trời Người tất cả Ma Phạm đây, sau khi ta diệt độ đều
có thể hộ trì chánh pháp như vậy. Nầy chư thiện nam tử
! Hư không có thể làm hình sắc, hình sắc có thể làm hư
không, thần thông nguyện lực của Phật không thể làm khác
được.
Bấy
giờ Tứ Thiên Vương xướng lên rằng : “ Nếu có người,
sau khi đức Phật diệt độ, có thể thọ trì đọc tụng
biên chép kinh nầy và giải nói nghĩa kinh, chúng tôi sẽ thường
theo dõi để thủ hộ”.
Chư
Phạm Thiên nói : “ Chúng tôi sẽ xả thiền định diệu lạc
để thủ hộ người ấy”.
Trời
Ðâu Suất Ðà cũng nói : “ Chúng tôi sẽ thủ hộ các đệ
tử thọ trì kinh nầy”.
Ma
Vương Ba Tuần bạch đức Phật : “Bạch đức Thế Tôn !
Nếu có người hay thọ trì kinh nầy thì tôi ở nơi người
ấy trọn không gây ma nghiệp ma sự”.
Công
Ðức Tạng Thiên Tử nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Tất cả
chư Phật Vô thượng Bồ đề đều ở trong kinh nầy. Nếu
có người hay thọ trì đọc tụng biên chép giải nói, nên
biết người nầy sẽ được Bồ đề”.
Di
Lặc Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Tôi sẽ ở tại
Trời Ðâu Suất Ðà rộng tuyên nói kinh điển vô thượng
nầy”.
Tôn
giả Ðại Ca Diếp nói : “ Bạch đức Thế Tôn ! Hàng Thanh
Văn tôi trí huệ dầu kém cũng cần phải theo sức của mình
mà thọ trì đọc tụng tuyên nói nghĩa kinh nầy”.
Tôn
giả A Nan bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Tôi ở nơi
kinh nầy chơn thiệt thọ trì chẳng để mất một chữ một
câu như từ miệng đức Phật phát ra không sai khác. Nếu có
người phát tâm Bồ đề, tôi sẽ vì người ấy mà diễn
nói rộng”.
Ðức
Phật phán rằng : “ Lành thay, lành thay, nầy chư thiện nam
tử ! Các ông đều có thể sau khi ta diệt độ hộ trì chánh
pháp chẳng cho dứt mất.
Nầy
chư thiện nam tử ! Nếu có chúng sanh cầu pháp Ðại thừa
chưa được pháp nhẫn mà thọ trì kinh nầy, nên biết người
nầy chẳng quá bảy đức Phật sẽ được thọ ký. Nếu là
người Thanh Văn mà hay thọ trì kinh nầy, lúc Di Lặc xuất
thế thành Phật, thì người ấy sẽ ở trong pháp hội đầu
tiên.
Nếu
là hàng Duyên Giác mà có người thọ trì kinh nầy, sau khi
ta diệt độ, thì người ấy sẽ được thành đạo chúng”.
Lúc
đức Thế Tôn nói pháp nầy , vô lượng chúng sanh phát tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vô lượng chúng sanh thành
tựu pháp nhẫn, vô lượng thế giới chấn động sáu cách.
Chư
Bồ Tát từ mười phương thế giới đến dự pháp hội mang
hương hoa tốt và các loại kỹ nhạc phan lọng dâng cúng đức
Phật đều xướng lên rằng : “Chúng tôi đến trong thất
bửu đại phường đình nầy được lợi ích lành rất lớn,
nếu chúng tôi mà có chút ít phước đức, nguyện đem phước
lực ấy làm cho đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở lại lâu thế
gian, kinh điển nầy lưu bố khắp mười phương thế giới
không hề hư mất. Nếu có hàng Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thọ
trì kinh nầy, thì làm cho họ xa lìa ưu sầu sợ sệt không
có các bịnh khổ”.
Ðà
La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát nói : « Bạch đức Thế
Tôn ! Chỗ thuyết pháp hôm nay vô lượng vô biên chẳng thể
nghĩ bàn, tất cả tà pháp chẳng thể lay động được, đây
là căn bổn của tất cả pháp lành, là căn bổn của tam thừa,
lại là cửa vào của tất cả pháp.
Nếu
có chúng sanh hỏi pháp nầy tên gọi là gì và thọ trì thế
nào, thì sẽ đáp họ thế nào, xin đức Thế Tôn chỉ dạy
cho”.
Ðức
Phật phán bảo : “ Nầy thiện nam tử ! Ðây gọi là đại
bi nói pháp đại bi tên là Như Lai nghiệp thọ ký cho Bồ Tát.
Các ông phải thọ trì như vậy”.
Ðức
Phật nói kinh nầy rồi, tất cả đại chúng Trời Người
vui mừng đảnh đời tin thọ phụng hành.
PHÁP
HỘI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT
THỨ
NĂM MƯƠI MỐT
HẾT
TẬP VII

|