LII
Pháp Hội Bửu
Nử
Thứ Năm Mươi
Hai
(Hán
bộ từ quyển 130 đến quyển 131)
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn vẫn ở giữa hai cõi Dục giới và
Sắc giới trong Ðại Bửu Phường Ðình ngồi trên tòa thất
bửu sư tử cùng đại chúng vây quanh thuyết pháp.
Trong
pháp hội có một đồng nữ tên là Bửu Nữ từ chỗ ngồi
đứng dậy, tay mặt cầm xâu bạch chơn châu mà xướng lời
rằng: “Nếu tôi chơn thiệt có thể ở trong vô lượng thế
giới thọ trì kinh điển Ðại tập nầy và đọc tụng biên
chép rộng diễn nói lưu bố nghĩa ấy, thì nguyện cho xâu
chơn châu nầy dính trên đảnh Phật và chư Bồ tát”.
Xướng
lời xong, Bửu Nữ liền ném xâu chơn châu. Do Phật thần lực
và lời thành thiệt của đồng nữ ấy, xâu chơn châu liền
ở tại đảnh đức Phật và cũng ở khắp trên đầu chư
Bồ tát.
Chư
Bồ tát đều riêng tự ở trong xâu chơn châu trên đầu mình
thấy lúc vị lai Bửu Nữ thành Phật thế giới ấy và Bồ
đề thọ cùng các chúng sanh được điều phục, cả đến
nguyện lực thuở trước của mình đều thấy rõ ràng.
Chư
Bồ tát thấy rồi đều có lòng cho là rất lạ kỳ đặc
biệt mà Bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Bửu Nữ
nầy sao lại có vô lượng đại công đức như vậy, bao nhiêu
thệ nguyện của tôi trong vô lượng a tăng kỳ kiếp thuở
trước, nay trong một niệm đều thấy rõ ràng cả”.
Ðức
Phật phán dạy: “Lành thay lành thay, nầy thiện nam tử! Thiệt
như lời các ông đã nói. Bửu Nữ nầy đã ở nơi chín vạn
sáu ức na do tha chư Phật quá khứ gieo trồng căn lành phát
nguyện lành lớn, sanh ra ở chỗ nào đều thường được
chơn thiệt. Vì vậy mà đồng nữ nầy phàm khi tu niệm phát
lời không hề hư luống. Nếu đồng nữ ấy muốn đầy bửu
hoa trong cõi Ðại Thiên thế giới nầy mà phát lời ra thì
liền có y như vậy. Nếu đồng nữ ấy nói muốn có diệu
hương đầy khắp cõi Ðại Thiên thế giới nầy thì liền
có diệu hương đầy khắp. Nếu đồng nữ Bửu Nữ ấy muốn
thị hiện các loại hình sắc, những là hình sắc Chuyển
Luân Vương, hình sắc Tứ Thiên Vương, hình sắc Thiên Ðế
Thích, hình sắc Phạm Thiên Vương, hoặc hình sắc Sa Môn,
hình sắc Bà La Môn, hình sắc Tỳ kheo, hình sắc Tỳ Kheo Ni,
hình sắc Ưu Bà Tắc, hình sắc Ưu Bà Di thì liền được
y như lời phát ra. Hoặc lúc phong tai khởi lên chuyển làm
hỏa tai, lúc hỏa tai khởi chuyển lên làm thủy tai, lúc thủy
tai khởi lên chuyển làm phong tai, lời đồng nữ Bửu Nữ
ấy phát ra thì liền chuyển y như vậy. Nếu có Ma Vương đem
các binh chúng cầm dao gậy cung tên mâu sóc qua thuẫn, đồng
nữ ấy muốn tất cả binh khí đều chuyển thành bửu hoa
thì liền chuyển y như lời. Nếu có xứ nào không có nước
uống dùng, đồng nữ Bửu Nữ ấy vì các chúng sanh mà phát
nguyện lớn, thì tất cả thành ấp tụ lạc xứ ấy liền
có đủ nước uống dùng cho tất cả nhơn dân y như lời được
phát ra. Nếu đồng nữ Bửu Nữ ấy muốn tất cả hình sắc
trong cõi Ðại Thiên thế giới nầy đều chuyển thành hình
sắc Như Lai, thì y như lời phát ra đều thành diệu sắc Phật.
Nếu Bửu Nữ ấy nói muốn toàn thể đại chúng đây đều
an trụ giữa hư không thì đại chúng liền ở hư không. Nếu
Bửu Nữ ấy muốn nơi đây từ hư không nghe lời nói của
mười phương chư Phật thì liền được nghe y như lời phát
ra.
Nầy
chư thiện nam tử! Ðồng nữ Bửu Nữ ấy thành tựu vô lượng
vô biên đại công đức như vậy”.
Ðồng
nữ Bửu Nữ liền ở trước Phật nói kệ khen:
Nay
tôi thành tựu khối đại bửu
Nên
hay ca ngợi đấng Vô Thượng
Xa
lìa tất cả các phiền não
Ðầy
đủ đại bửu trợ Bồ đề
Như
Lai đầy đủ vô thượng bửu
Sáng
lớn hay chiếu vô biên cõi
Vô
thượng bửu tràng Phật Thế Tôn
Nay
tôi dâng bửu để cúng dường
Xa
cừ mã não thanh lưu ly
Kim
cương chơn châu nhựt nguyệt bửu
Dâng
các bửu ấy cúng dường Phật
Vì
khiến chúng sanh thành Bồ đề
Ánh
sáng thân Phật hơn các bửu
Chúng
sanh thích thấy không mỏi nhàm
Ở
tại một phương thấy mười phương
Khiến
chúng thấy Phật ở trước mình
Hoặc
thấy Như Lai đi hay đứng
Hoặc
thấy nằm ngồi hoặc thuyết pháp
Hoặc
thấy nín lặng không nói năng
Hoặc
thấy nhập định tu trí huệ
Phật
mỗi lỗ lông phóng ánh sáng
Hay
chiếu mười phương các thế giới
Phật
quang thanh tịnh tối vô thượng
Như
sen thanh tịnh và thu nguyệt.
Nói
kệ tán thán xong, Bửu Nữ bạch rằng: “Bạch đức Thế
Tôn! Nay tôi ở nơi kinh nầy muốn hỏi ít nghĩa xin đức Thế
Tôn hứa cho”.
Ðức
Phật phán bảo: “Lành thay, lành thay, nầy Bửu Nữ! Tùy ý
ngươi hỏi, nếu có lưới nghi Phật sẽ trừ diệt cho”.
Bửu
Nữ bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là thiệt
ngữ, thế nào là thiệt, thế nào là pháp ngữ, thế nào là
pháp, thế nào là nghĩa ngữ, thế nào là nghĩa, thế nào là
tỳ ni ngữ, thế nào là tỳ ni nghĩa?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Lành thay lành thay! Chí tâm lắng nghe, Phật
sẽ vì ngươi mà phân biệt giải nói.
Nầy
Bửu Nữ! Ðại Bồ Tát có ba thứ thiệt, đó là chẳng phỉnh
dối Phật, chẳng phỉnh dối chính mình và chẳng phỉnh dối
chúng sanh.
Thế
nào là chẳng phỉnh dối chư Phật, chính mình và chúng sanh?
Nầy
Bửu Nữ! Nếu có Bồ tát phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề rồi
mà ham Thanh văn và Bích Chi Phật thừa thì gọi là phỉnh dối
chư Phật, chính mình và chúng sanh.
Nầy
Bửu Nữ! Nếu Bồ tát phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề rồi,
hoặc tại địa ngục chịu khổ não lớn, hoặc gặp kẻ ma
nghiệp tà kiến ở chung, hoặc sanh xứ ác nhiều ác phiền
não, thân bị đao gươm đâm chém chặt đốt, trong những thời
gian thọ khổ đau như vậy vẫn chẳng rời lìa tâm Bồ đề
chẳng thôi chẳng dứt chẳng sợ chẳng ăn năn khiến tâm
Bồ đề còn thêm lớn rộng hơn, vì các chúng sanh mà chịu
khổ não lớn, thấy người bị khổ, tâm Bồ đề càng thêm
rộng lớn siêng năng tu tập tinh tiến, muốn được Bồ đề
chẳng bị tà ngữ làm mê lầm, tất cả tà phong không làm
lay động được tâm Bồ đề. Ðây gọi là Bồ tát chẳng
phỉnh dối chư Phật, chính mình và chúng sanh vậy.
Nầy
Bửu Nữ! Nếu Bồ tát chẳng phỉnh dối chư Phật, chính mình
và chúng sanh thì gọi là thiệt trong chơn thiệt.
Nầy
Bửu Nữ! Chẳng phỉnh dối chư Phật còn có bốn sự, đó
là tâm ấy vững chắc, an trụ chỗ chí xứ, đầy đủ thế
lực và siêng tu tinh tiến.
Chẳng
phỉnh dối chính mình cũng có bốn sự, đó là tâm thanh tịnh,
chí tâm, chẳng phỉnh dối và chẳng vạy vò.
Chẳng
phỉnh dối chúng sanh cũng có bốn sự đó là trang nghiêm,
tu tâm từ, tu tâm bi và nhiếp thủ.
Nầy
Bửu Nữ! Ðây gọi là thiệt thứ nhứt của Bồ tát.
Thiệt
của Bồ tát là lúc ban sơ phát nguyện chẳng bỏ rời chúng
sanh.
Thiệt
của Bồ tát lại còn là chẳng nhiều lời, lời nói giữ
gìn, lời nói chẳng thô ác, lời nói thường chơn thiệt.
Hoặc lúc ở một mình hay ở trong đại chúng hay ở bên vua
chúa, lời phát ra đều thành thiệt, chẳng vì tài vật mà
cố ý nói dối, chẳng vì tự tại mà cố ý vọng ngữ. Dầu
có thất bửu đầy cả cõi Ðại Thiên thế giới còn không
vì cớ ấy mà cố ý vọng ngữ huống là vì các việc nhỏ
mà cố ý vọng ngữ.
Nầy
Bửu Nữ! Thiệt ấy có ba mươi hai điều thanh tịnh, đó là
lời hổ, lời thẹn, lời công đức, lời dịu dàng, lời
chẳng hư luống, lời không có chê trách, lời chẳng tham trước,
lời chẳng e sợ, lời đóng kín các ác đạo, lời mở rộng
các thiện đạo, lời thánh hành, lời huệ hành, lời nội
thanh tịnh, lời ngoại thanh tịnh, lời thích lãnh thọ, lời
thích lắng nghe, lời chẳng nhám rít, lời vi diệu, lời phân
biệt, lời giọng hay, lời thuần thiện, lời chẳng phỉnh
gạt, lời chẳng chấp, lời hoan hỉ, lời tự khuyến dụ,
lời khuyến dụ người khác, lời chẳng lỗi, lời an ổn,
lời phước điền, lời như Phật, lời thiệt vây quanh và
lời miệng thanh tịnh.
Nầy
Bửu Nữ! Thiệt của Bồ tát là phàm có nói năng thì khẩu
với ý tương xứng. Sao gọi là khẩu với ý tương xứng?
Tu
tập bố thí nên được Bồ đề chẳng phải do xan tham mà
có thể được, đây gọi là khẩu ý tương xứng, mà lời
có thể ban cho tất cả, đây gọi là thiệt.
Tu
tập tịnh giới nên được Bồ đề chẳng phải do hủy giới
mà có thể được, đây gọi là khẩu với ý tương xứng,
mà lời nói đúng như tịnh giới nên gọi là thiệt.
Tu
tập nhẫn nhục nên được Bồ đề, chẳng phải do sân hận
mà có thể được, đây gọi là ý với khẩu tương xứng,
mà lời nói đầy đủ hạnh tu nhẫn nên gọi là thiệt.
Siêng
tu tinh tiến thì được Bồ đề, chẳng phải do lười biếng
mà có thể được, đây gọi là khẩu ý tương xứng, mà lời
nói tu tinh tiến nên gọi là thiệt.
Tu
tập thiền định thì được Bồ đề, chẳng phải tâm tán
loạn mà có thể được, đây gọi là khẩu ý tương xứng,
mà nói tu tập định tâm nên gọi là thiệt.
Tu
tập trí huệ chứng được Bồ đề, chẳng phải do ngu si
mà được, đây gọi là ý khẩu tương xứng, mà lời nói
tu trí huệ nên gọi là thiệt.
Như
sáu độ, về ba mươi bảy pháp trợ Bồ đề và bốn tâm
vô lượng cũng như vậy.
Nầy
Bửu Nữ! Luận về chơn thiệt ấy, đó là thánh hành. Thánh
hành ấy đó là khổ hành, vô thường hành, là biết khổ,
lìa tập, chứng diệt và tu tập đạo đế.
Biết
thân ngũ ấm không có xuất sanh, đây gọi là biết khổ đế.
Nhơn của ngũ ấm đó là tham ái thì rốt ráo xa lìa, chẳng
tham chẳng trước, chẳng khen chẳng cầu, chẳng khứ chẳng
lai, đây gọi là lìa tập đế.
Dứt
diệt tất cả tướng, nhưng lúc diệt không có một pháp bị
diệt, pháp bất bình đẳng thì làm pháp bình đẳng, đây
gọi là chứng diệt đế.
Quán
xa ma tha tỳ bà xá na tướng ấy bình đẳng, không có giác
không có quán không có bình đẳng không hệ phược không lấy
được, không có làm không có biến đổi, đây gọi là tu
đạo đế.
Chơn
thiệt biết rõ bốn đế như vậy lại còn có thể phân biệt
nói rộng nghĩa tứ đế ấy, đây gọi là thiệt của đại
Bồ tát”.
Lức
đức Phật nói pháp chơn thiệt ấy trong pháp hội có mười
ngàn Bồ tát được chơn thiệt nhẫn.
Ðức
Thế Tôn phán tiếp: “Lại nữa, nầy Bửu Nữ! Về pháp ngữ
ấy, đó là lúc diễn thuyết thì y theo chánh pháp để nói,
quán nơi pháp, niệm nơi pháp, phụng hành nơi pháp, hành pháp
chí xứ, cầu pháp, muốn pháp, thích pháp, tu pháp, tràng pháp,
gậy pháp, trang nghiêm pháp khí, pháp đăng, pháp minh, pháp
niệm, pháp ý, pháp hữu, pháp sở, pháp trang nghiêm anh lạc,
pháp sàng, pháp nghi, pháp hộ, pháp tài, pháp vô cùng tận,
pháp quảng đại vô biên, pháp sự, pháp thân, pháp khẩu,
pháp ý. Ðại Bồ Tát thành tựu đầy đủ những pháp như
vậy, đây gọi là pháp ngữ.
Pháp
ngữ ấy đó là chơn thiệt ngữ, giữ gìn pháp ngữ, dạy
người cúng dường các bực cha mẹ sư trưởng kỳ cựu có
đức, tán thán Bồ đề và trợ đạo Bồ đề khiến người
chẳng bỏ tâm Bồ đề. Chí tâm nhiếp niệm chẳng quên Bồ
đề, chẳng rời trang nghiêm tu tập pháp Bồ đề, thường
gần Hiền Thánh các bực thiện tri thức. Tu tập tín tâm chuyên
niệm nghe chánh pháp, mộ cầu chánh pháp siêng tu tinh tiến,
chẳng tham trước pháp, biết ơn báo ơn, thích tịch tĩnh,
chẳng để dứt Thánh chủng. Giáo hóa hạnh đầu đà, siêng
thật hành thập thiện, tán thán công đức bố thí và tất
cả pháp lành. Nguyện hướng đến Bồ đề, chí tâm thọ
trì giới luật thanh tịnh, tu tập nhẫn nhục, trừ bỏ giải
đãi, tu tập thiền định và trí huệ, tu tập phương tiện
cùng từ bi hỷ xả, tu tập tứ chơn đế xu hướng chơn đế,
tu tứ vô ngại trí được đại thần thông, tùy thuận pháp
thí, tu tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn,
ngũ lực, thất Bồ đề phần và bát chánh đạo phần. Tu
hai pháp định và huệ được trí giải thoát, giải nói đúng
như pháp về Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
Tán thán tất cả những phước đức. Thường quán thập nhị
nhơn duyên thậm thâm, rành rẽ không giải thoát môn, vô tướng
giải thoát môn, vô nguyện giải thoát môn, vô sở úy, nói
ngũ ấm như ảo như hóa, nói thập bát giới như tướng hư
không, nói tánh các nhập đồng với tánh không. Thường nói
thất thánh tài, lục niệm, lục kính giải nói đầy đủ
lục Ba la mật, nói lục thường hành, tu lục thần thông,
đầy đủ ngũ nhãn, nói đệ nhứt nghĩa đế lưu bố thế
gian thành tựu nghiệp ngữ ngôn, tất cả chúng sanh tâm họ
bình đẳng, tán thán Phật ngữ.
Nầy
Bửu Nữ! Nếu có Bồ tát thành tựu đầy đủ pháp ngữ như
vậy thì miệng trọn chẳng nói ngã ngữ, chúng sanh ngữ, thọ
mạng ngữ, sĩ phu ngữ, đoạn ngữ, thường ngữ, hữu kiến
ngữ, vô kiến ngữ, lưỡng biên ngữ, trung ngữ, tụ ngữ,
diệt ngữ, tịnh ngữ, thiên ngữ, bất giác tri ngữ. Thường
nói lời chẳng điên đảo, lời chẳng tăng lòng nghi, lời
chẳng nghịch chánh pháp, lời quán pháp giới, lời phá kiêu
mạn. Bồ tát thuyết pháp an trụ đúng pháp nói đúng chánh
pháp, là thiệt ngữ, pháp ngữ, bất đoạn ngữ, bất chiết
ngữ. Bồ tát thuyết pháp tất cả thế gian không ai có thể
cùng tranh luận, người thấy đều e sợ. Bực pháp ngữ Bồ
tát có thể diễn thuyết không vô tướng vô nguyện, chẳng
trụ trước tam giới và với các hữu chẳng còn thọ sanh
theo nghiệp, bổn tánh thanh tịnh an trụ tịch tĩnh chẳng cầu
xin nơi người. Ðây gọi là pháp ngữ.
Nầy
Bửu Nữ! Luận về pháp ấy, pháp thì chẳng thể được,
không có văn tự ngôn thuyết cũng không có từ ngữ, không
sắc không thấy cũng không có chỗ hướng đến, không lời
dạy cũng không người được dạy, không có tâm ý thức,
không có trần cấu, không sáng không tối, chẳng hệ thuộc
mình cũng chẳng hệ thuộc người, không có cao hạ, chẳng
xen tạp tất cả cảnh giới nhơn duyên, thanh tịnh tịch tĩnh,
không có dẫn đầu, khó biết khó hay, chẳng thể nghĩ bàn,
chẳng thể tư duy, người có trí huệ thanh tịnh mới có thể
biết được pháp. Pháp ấy không có thọ không có người
thọ dứt hẳn các thọ, siêu quá tam thế, bất diệt không
có tướng diệt, bất sanh không có tướng sanh, không có dư
đầy thiếu kém, không có tăng giảm, vô sanh vô diệt, không
có sẽ có đã có, chẳng phải tu, chẳng phải thấy, chẳng
phải ma thấy, chẳng phải chơn thiệt thấy, chẳng phải tướng,
chẳng phải chẳng tướng, chẳng phải nhứt tướng mà cũng
nhứt tướng, chẳng phải ốc trạch xa lìa ốc trạch, chẳng
phải gần xa rời lìa, chẳng phải phược giải, chẳng phải
hữu lậu vô lậu cũng chẳng phải tương tợ, chẳng phải
khổ lạc, chẳng phải đầy đủ chẳng đầy đủ, chẳng
phải danh sắc, chẳng phải dính mắc chẳng phải thoát rời,
chẳng phải phá chẳng phải hoàn, dầu chẳng phải kim cương
tướng chẳng hư hoại, mà chơn thiệt như kim cương, chẳng
phải cận viễn, không có sắc không có nhơn cũng chẳng phải
ngoan hư, chẳng phải thử bỉ nội ngoại tự tha, chẳng phải
kiến văn, chẳng phải nhớ quên, chẳng phải thức chẳng
phải tri, chẳng phải cảnh giới của thức, chẳng phải cảnh
giới của tri. Ðây gọi là pháp. Nếu hay nói rộng các pháp
như vậy thì gọi là thuyết pháp.
Lại
nữa, nầy Bửu Nữ! Pháp ngữ Bồ tát chẳng cùng với thế
gian tranh cạnh, chẳng khinh chẳng mạn. Ðối với người chưa
học, không có lòng khinh cười chẳng sanh tâm cao ngạo, chẳng
tự khen chê người, chẳng vì tài lợi ăn uống mà vì người
thuyết pháp, chẳng trở ngại việc lành của người làm cho
họ sanh lòng nghi hoặc, thấy người phạm tội trọn không
rao nói, với pháp của kẻ khác chẳng sanh lòng khinh tiện,
không trở ngại pháp được tu hành của người, phàm pháp
được diễn thuyết trọn không rời lìa không vô tướng vô
nguyện, chẳng phân biệt tất cả pháp giới, bất động pháp
giới, bất động thiệt tánh. Chẳng y chỉ nơi ngữ nơi thức
nơi nhơn nơi bất liễu nghĩa. Dầu chẳng y chỉ mà cũng chẳng
chê bai. Với chúng mình chúng người chẳng sanh phân biệt
cũng chẳng chê bai thập nhị nhơn duyên. Chẳng phải ở thế
gian trụ mà thanh tịnh nơi thế gian, chẳng phải pháp mà thanh
tịnh nơi pháp, không tham, không xan, không hủy giới, chẳng
bỏ kẻ phá giới, không sân hận, không giải đãi, chẳng
mất đạo tâm, không quên Bồ đề, vì muốn trang nghiêm trí
huệ vô thượng mà chẳng nghĩ, chẳng thôi, chẳng thối chuyển.
Nơi pháp của người không sanh lòng đố kỵ. Chẳng vì chấp
trước nơi chẳng phải mười hai bộ kinh mà phỉ báng khế
kinh v.v… mười hai bộ. Ở nơi chánh pháp trọn chẳng thấy
phi pháp. Chẳng nhơn nơi khinh mạn mà tăng trưởng khinh mạn.
Chẳng bác nhơn quả và nghiệp quả báo. Ở trong chánh pháp
tâm không có thối chuyển. Biết ơn nhớ ơn chẳng quên báo
đáp. Trọn chẳng ôm ấp lòng sân hận, chẳng chấp ngã kiến,
chẳng ganh người được lợi. Ở trong oán thân không có hai
ý tưởng. Bị người chê hại trọn chẳng báo trả. Chẳng
làm lưỡng thiệt cho kia đây đấu loạn. Chẳng có lòng siểm
khúc hiển dị để mê hoặc người. Chẳng vì người khác
mừng mà thọ giới Bồ tát, giới Tỳ Kheo, giới Tỳ Kheo Ni,
giới Thức Xoa Ma Na, giới Sa Di, giới Sa Di Ni, giới Ưu Bà
Tắc, giới Ưu Bà Di. Thường ở chỗ rảnh rang tịch tĩnh
mà tư duy chánh niệm. Tâm siêng học đọc mười hai bộ kinh.
Chẳng vì hơn người mà thủ hộ các loại giới luật như
vậy. Chẳng vì được cúng dường mà hiện tướng tri túc.
Chẳng vì để hiển bày người khác chẳng tri túc mà tự
tu tri túc. Chẳng nói Bồ đề Vô thượng của chư Phật là
việc làm của người khác. Chẳng tạo ác nghiệp tà ác sanh
sống. Chẳng bỏ thất thánh tài. Chẳng tham ăn uống. Chẳng
để dứt mất thánh chủng. Chẳng chê bai người, chẳng tự
khen người. Ở trong Phật pháp chẳng có ý nghĩa là có số
có lượng. Thường tán thán Ðại thừa không có lòng nhàm
đủ. Ðây gọi là pháp ngữ".
Ðức
Thế Tôn lại bảo đồng nữ Bửu Nữ: “Luận về Bồ tát
nghĩa ấy, thế nào gọi là nghĩa? Ðó là tín tâm lúc tu tập
trang nghiêm không có hư cuống, vì muốn trang nghiêm tất cả
thiện căn mà chí tâm chuyên niệm tu hành các pháp lành, phá
lưới nghi của tất cả chúng sanh, chẳng cầu quả báo, ban
cho chúng sanh sự an ổn khoái lạc, hộ trì cấm giới, chẳng
mất tâm nhẫn nhục, siêng tu tinh tiến tăng trưởng pháp lành,
tu định tịch tĩnh nhiếp các tán loạn, đủ trí vô thượng
phá tối vô minh. Tu tập từ tâm bình đẳng các chúng sanh,
tu tập bi tâm tùy theo chỗ làm của chúng sanh đích thân đến
xây dựng, tu tập hỉ tâm ban cho chúng sanh pháp hỉ, tu tập
xả tâm chẳng thấy khổ vui. Xả bỏ tài pháp rồi không hề
hối tiếc, lời nói dịu dàng phá tâm ác người, làm lợi
ích cho người đủ pháp thậm thâm, tu hành đồng sự để
khuyên người phát tâm Ðại thừa, đây là dùng bốn nhiếp
pháp để điều phục chúng sanh. Thấy tất cả hành pháp đều
vô thường khổ không vô ngã dứt sạch các phiền não. Y chỉ
nơi nghĩa chẳng y chỉ nơi ngữ, y chỉ nơi trí chẳng y chỉ
nơi thức, y chỉ kinh liễu nghĩa xa bỏ bất liễu nghĩa, y
chỉ nơi pháp chẳng y chỉ nơi người. Nói nghĩa vô ngại
không có cùng tận mà ở pháp giới không có phân biệt, nói
từ vô ngại chứng được giải thoát, nói lạc thuyết vô
ngại đúng như pháp mà nói. Trang nghiêm bố thí chẳng biết
nhàm đủ, trang nghiêm tịnh giới thành tựu nguyện lành, trang
nghiêm đa văn đúng như pháp mà làm, trang nghiêm công đức
đầy đủ tướng hảo, trang nghiêm trí huệ biết rõ căn tánh
thượng trung hạ và các tướng sai biệt của các chúng sanh,
trang nghiêm chánh định vì tâm thanh tịnh, trang nghiêm nơi
trí được ba thứ huệ. Tu Tứ niệm xứ vì tâm chẳng tán
loạn, tu Tứ chánh cần vì được thiên căn, tu Tứ như ý
vì qua lại mười phương, tu tập Ngũ căn biện nói phân biệt
các tự cú, tu tập Ngũ lực đã phá các phiền não, tu Thất
giác chi vì biết các pháp, tu tập Bát chánh đạo chẳng bị
ác tà lay động, tu tập thần thông vì chẳng thối thất.
Ðại
Bồ Tát hiểu nghĩa như vậy thì gọi là nghĩa. Nếu đại
Bồ Tát hay diễn nói các nghĩa ấy, thì gọi là thuyết nghĩa.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Luận về nghĩa ấy, đó là tu tập không
tam muội phá các pháp có, tu tập vô tướng tam muội phá các
pháp tướng, tu tập vô nguyện tam muội chẳng cầu tam giới.
Nếu có thể diễn nói ba pháp môn rỗng không không có như
vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Tất
cả hành chẳng thể tu hành được, Bồ tát diễn nói pháp
chẳng thể tu hành được nầy thì gọi là thuyết nghĩa.
Dứt
tất cả sanh khởi, đây gọi là nghĩa, Bồ tát diễn nói các
pháp vô sanh nầy thì gọi là thuyết nghĩa.
Các
hữu không có xuất, đây gọi là nghĩa, diễn thuyết như vậy
thì gọi là thuyết nghĩa.
Tứ
chơn đế, đây gọi là nghĩa, diễn nói như vậy thì gọi
là thuyết nghĩa.
Không
có ngã không có ngã sở, đây gọi là nghĩa, diễn thuyết
như vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Tự
cú chẳng nói được, đây gọi là nghĩa, diễn thuyết như
vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Nghĩa
chơn thiệt, đây gọi là nghĩa, diễn thuyết như vậy thì
gọi là thuyết nghĩa.
Tất
cả pháp Bồ đề chẳng thể đếm kể, đây gọi là nghĩa,
diễn thuyết như vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Người
đa văn an trụ đúng như pháp, đây gọi là nghĩa, diễn thuyết
như vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Tất
cả các thừa, Ðại thừa là hơn hết, đây gọi là nghĩa,
diễn nói như vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Vô phân biệt, đây gọi là nghĩa, không
có chúng sanh không có thọ mạng, nhứt vị bất động, bất
tận nhứt sự, bất sanh bất xuất, bất lai bất khứ, bất
diệt bất nhị, chẳng thể xem thấy, không có tạo tác, vô
vi vô tác, tâm chẳng siểm khúc, tam thế bình đẳng, ba phần
không sai biệt, chẳng được chẳng mất, chẳng nóng chẳng
lạnh, chẳng tịnh chẳng uế, chẳng đi chẳng đứng, chẳng
lấy chẳng bỏ, chẳng phải đạo dạy đạo, chẳng phải
thường chẳng phải đoạn, cũng chẳng phải trung đạo, chẳng
tham chẳng sân, chẳng nhìn nơi pháp và phi pháp, chẳng phải
tất cả văn tự âm thanh từ ngữ, không có tâm ý thức, nơi
tham sân si chẳng sanh phân biệt, tất cả các pháp tác tướng
có tướng đều là không, vô tướng và vô nguyện ba môn nầy
tức rỗng không, chơn thiệt nhập pháp giới, đẳng cùng bất
đẳng đều bình đẳng, nhơn nơi trí huệ mà được giải
thoát.
Nếu
Bồ tát có đủ các nghĩa như vậy thì gọi là nghĩa, diễn
nói như vậy thì gọi là thuyết nghĩa.
Lại
nầy Bửu Nữ! Thế nào là Bồ tát diễn nói tỳ ni?
Nầy
Bửu Nữ! Ðức Phật nói tỳ ni phàm có hai thứ, đó là phạm
tỳ ni và phiền não tỳ ni.
Thế
nào là phạm và thế nào là tỳ ni?
Phạm
rồi liền biết mà chẳng tư duy tốt, nhơn vì vô minh điên
đảo hư vọng khi cuống phiền não chấp ngã chấp chúng sanh,
tâm có lưới nghi chẳng được giải thoát, điệu cử nghi
hối kiêu mạn phóng dật quả văn, nhơn các phiền não kiết
sử như vậy đây gọi là phạm.
Nếu
phá được tâm nghi được giải thoát do được giải thoát
rồi thấy chỗ có phạm tức là chẳng phải chỗ cũng chẳng
phải chẳng chỗ, chẳng phải thân khẩu ý, chẳng lấy chẳng
bỏ, chẳng thể xem thấy, chẳng phải thân làm cũng phải
khẩu ý làm, nếu là ba nghiệp làm tức là pháp diệt, nếu
đã là pháp diệt thì ai làm ai phạm, như phạm tất cả các
pháp cũng như vậy, các pháp vô căn vô trụ vô xứ. Nếu có
thể phá hoại lưới nghi như vậy thì gọi là thanh tịnh là
chẳng nhiệt não, theo lời dạy của Thầy mà làm thì gọi
là có lòng tin gọi là định gọi là tỳ ni.
Thế
nào là phiền não và thế nào là tỳ ni?
Mười
hai hữu chi là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc,
thọ, ái, thủ, hữu, sanh và lão tử gọi là phiền não, tánh
của nó có thể điều phục được các phiền não thì gọi
là tỳ ni. Tại sao, vì không vô tướng vô nguyện có thể
điều phục các pháp, nếu pháp đã là rỗng không không có
tánh tướng chẳng thể nguyện cầu thì làm thế nào mà có
được tham sân si v.v… Vì vô tác hay điều phục tất cả
pháp, nếu tất cả pháp đã là vô tác thì làm sao có được
các phiền não. Vì tất cả pháp thì nhơn duyên sanh, nếu đã
từ nhơn duyên sanh thì làm sao thấy được, thấy mười hai
hữu chi như vậy thì cũng biết phiền não và tướng phiền
não. Nếu là không trí hay quán Bồ đề thì dùng không nầy
mà không nơi phiền não. Nếu hay quán sát bình đẳng như vậy
thì gọi là tỳ ni.
Nếu
hay diễn thuyết các nghĩa như vậy thì gọi là Bồ tát hay
thuyết tỳ ni.
Nếu
tỳ ni nầy hay biết được ngã thì tức là biết rõ phiền
não tỳ ni.
Thế
nào là biết ngã tỳ ni? Ðó là quán vô ngã, quán ngã tánh,
biết rõ ngã, sạch hết ngã, thiệt biết ngã, phân biệt ngã
không, ngã tu, biết ngã bất động bất thuyết bất trước
bất sanh bất diệt.
Nếu
có thể biết được ngã như vậy thì tức là biết rõ phiền
não tỳ ni.
Nếu
thiệt không có ngã mà có ý tưởng là ngã, thì nơi không
có phiền não cũng có ý tưởng phiền não. Nếu ngã bổn lai
không có thì phiền não cũng vậy.
Nếu
có quán trí thì có thể quán sát biết rõ như vậy, đây gọi
là biết rõ ngã phiền não tỳ ni.
Về
phiền não ấy, chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, nếu
có thể chẳng làm chẳng nhớ chẳng cầu thì gọi là biết
rõ phiền não tỳ ni.
Tỳ
ni ấy cũng chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, như tâm
chẳng phải sắc chẳng phải nội ngoại trung gian, phiền não
cũng vậy chẳng phải sắc chẳng phải nội ngoại trung gian,
tại sao, vì không có giác tri vậy, vì không có tranh cạnh
vậy, vì không có thanh tịnh vậy, vì không có tạo tác vậy.
Nếu
có thể biết rõ các phiền não chẳng sanh chẳng diệt như
vậy thì gọi là biết rõ phiền não tỳ ni.
Nếu
Bồ tát được những biết rõ phiền não tỳ ni như vậy và
cũng vì các chúng sanh mà diễn nói thì gọi là diễn thuyết
tỳ ni”.
Lúc
đức Phật nói pháp trên, trong pháp hội có mười ngàn Bồ
tát được vô sanh nhẫn.
Bấy
giờ Bửu Nữ lòng rất vui mừng bạch rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Ðức Như Lai nói pháp nghĩa chơn thiệt và tỳ ni
chẳng thể nghĩ bàn. Nếu Bồ tát có thể diễn thuyết như
vậy thì tức là có thể thiệt biết thiệt thấy”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi đồng nữ Bửu Nữ: “Nay đồng nữ
đã có đủ các pháp như vậy mà có thể diễn thuyết chăng
?”.
Bửu
Nữ nói: “Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Thiệt ấy gọi là vô
tham, vô tham tức là nghĩa, nghĩa như vậy tức là bất khả
thuyết, bất khả thuyết ấy tức là tỳ ni.
Thưa
Ðại Ðức! Nếu đã như vậy thì thế nào có thể nói được!
Lại
nữa, thưa Ðại Ðức Xá Lợi Phất! Thiệt ấy tức là diệt,
diệt ấy tức là pháp, pháp ấy tức là tịnh, tịnh ấy tức
là nghĩa, nghĩa ấy tức là tỳ ni. Các pháp như vậy không
có văn tự, nếu đã không có văn tự thì thế nào nói được.
Thưa
Ðại Ðức! Thiệt ấy tức là như, như ấy tức là pháp,
pháp tức là vô nhị, vô nhị tức là nghĩa, luận về vô
nhị cũng chẳng thể điều, nếu chẳng thể điều sao gọi
là điều, các pháp như vậy đều vô sở hữu, nếu là vô
sở hữu thì thế nào nói được”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Nay đồng nữ thành tựu Bửu nào
mà do đó đặt tên là Bửu Nữ ?”.
Ðồng
nữ Bửu Nữ đáp: “Thưa Ðại Ðức! Có ba mươi hai Bồ tát
bửu tâm, trong tâm như vậy đều không có tâm Thanh văn không
có tâm Duyên Giác.
Những
gì là ba mươi hai Bồ tát bửu tâm?
Một
là phát tâm vì độ tất cả chúng sanh
Hai
là phát tâm vì khiến Phật chủng chẳng dứt
Ba
là phát tâm vì thọ trì Phật pháp chẳng diệt tận
Bốn
là phát tâm vì thủ hộ Tăng.
Năm
là phát tâm vì ban cho các chúng sanh vui thánh pháp.
Sáu
là phát tâm vì các chúng sanh mà tu tập đại từ làm cho chúng
sanh rời lìa các khổ phiền não.
Bảy
là phát tâm tu tập đại bi xả bỏ vật trong vật ngoài.
Tám
là phát tâm hộ trì cấm giới vì điều kẻ phá giới.
Chín
là phát tâm tu tập nhẫn nhục vì phá hoại chẳng nhẫn kiêu
mạn ác tâm điên tâm túy tâm cuồng tâm phóng dật tự tứ
tâm.
Mười
là phát tâm tinh tiến vì phá những giải đãi tâm e sợ ngần
ngại và để điều phục các chúng sanh giải đãi.
Mười
một là phát tâm tu tập chánh định vì phá loạn tâm cuồng
tâm vọng niệm khiến cho chúng sanh được tứ thiền bát giải
thoát điều phục các chúng sanh cõi Dục.
Mười
hai là phát tâm tu trí vì phá tất cả si tối thành tựu chơn
thiệt tri kiến nhập vào pháp giới.
Mười
ba là phát tâm vì biết tất cả chúng sanh bình đẳng vô nhị
đều đồng nhứt vị.
Mười
bốn là phát tâm vì được vô tham vô sân các cảnh lợi suy
hủy dự tâm không dao động an trụ pháp lành khổ vui chẳng
động, vì được những sự như vậy để hộ trì chúng sanh.
Mười
lăm là phát tâm vì được không bố úy muốn liễu thậm thâm
thập nhị nhơn duyên xa lìa tất cả kiến chấp.
Mười
sáu là phát tâm vì muốn trang nghiêm trí huệ và các công
đức không có nhàm đủ.
Mười
bảy là phát tâm vì muốn chẳng rời thấy Phật để thường
được nghe pháp.
Mười
tám là phát tâm vì muốn đúng như chỗ được nghe mà thuyết
pháp.
Mười
chín là phát tâm vì được khối pháp rộng lớn tâm không
tham lẫn.
Hai
mươi là phát tâm vì muốn tán thán tịnh giới như chỗ nghe
mà an trụ để giáo hóa khuyên nhắc người phá hủy tịnh
giới.
Hai
mươi mốt là phát tâm vì phá bảy thứ kiêu mạn của chúng
sanh.
Hai
mươi hai là phát tâm vì biết căn thượng trung hạ của các
chúng sanh.
Hai
mươi ba là phát tâm vì phá các ma ác nghiệp.
Hai
mươi bốn là phát tâm vì ban cho chúng sanh sự an lạc.
Hai
mươi lăm là phát tâm vì phá bao nhiêu sự khổ của các chúng
sanh lòng chẳng sanh hối tiếc.
Hai
mươi sáu là phát tâm vì muốn thành tựu tất cả Phật pháp.
Hai
mươi bảy là phát tâm vì biết các pháp hữu vi tất cả vô
thường khổ vô ngã biết rồi không rời lòng chẳng nhàm
hối.
Hai
mươi tám là phát tâm vì thích tu tập tất cả pháp trợ Bồ
đề.
Hai
mươi chín là phát tâm vì thấy không vô tướng vô nguyện
vì chúng sanh mà không thủ chứng.
Ba
mươi là phát tâm dầu sợ các hữu mà cũng thủ hộ các hữu.
Ba
mươi mốt là phát tâm vì dầu thấy tội lỗi sanh tử mà
chẳng nhàm hối.
Ba
mươi hai là phát tâm vì mặc dầu gần Bồ đề, thọ vô thượng
lạc mà vì chúng sanh bỏ diệu lạc ấy để thọ khổ bần
cùng.
Thưa
Ðại Ðức! Ba mươi hai bửu phát tâm ấy đều không có tâm
Thanh văn, Bích Chi Phật, vì vậy mà Bồ tát có tên là Bửu
Tụ”.
Ðức
Thế Tôn tán thán Bửu Nữ: “Thiện tai, thiện tai! Nay ngươi
chơn thiệt nói đại Bồ tát phát Bồ đề tâm, mà Bồ đề
tâm có vô lượng vô biên công đức chẳng thể nói bằng
ba mươi hai sự. Tại sao, vì chẳng phải Thanh văn bửu có
thể được Phật bửu, chẳng phải Duyên Giác bửu có thể
được Pháp bửu, do Bồ tát bửu có thể được Phật bửu,
được Phật bửu rồi thì được Thanh văn bửu, được Bích
Chi Phật bửu. Vì vậy mà Bồ tát có tên là Bửu Tụ”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chỗ
nói của Bửu Nữ chẳng thể nghĩ bàn. Tôi xem xét lời nói
ấy thì đồng nữ nầy tợ như được tứ vô ngại trí”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Xá Lợi Phất! Nay ông mới cho là đồng
nữ ấy chưa được tứ vô ngại trí sao. Từ lâu đồng nữ
ấy đã được đầy đủ bốn trí vô ngại.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chỗ thuyết pháp của Bửu Nữ, tự chẳng thể
tận, văn cú nghĩa vị đều chẳng thể tận”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói với Bửu Nữ: “Nầy nhơn giả! Nay
xin nói rộng về tứ vô ngại trí”.
Bửu
Nữ nói: “Thưa Ðại Ðức! Tứ vô ngại trí ở nơi tất
cả pháp đều thành trí cả.
Thưa
Ðại Ðức! Bồ đề tâm gọi là vô ngại cú, tại sao, vì
Bồ đề tâm nhiếp tất cả nghĩa, đây gọi là nghĩa vô ngại
trí. Tất cả các pháp giới nhập vào Bồ đề tâm đây gọi
là pháp vô ngại trí. Thiệt không có văn tự mà diễn thuyết
văn tự đây gọi là từ vô ngại trí. Pháp chẳng thể nói
mà diễn nói không đoạn tuyệt đây gọi là lạc thuyết vô
ngại trí. Nghĩa chẳng thể nói đây gọi là nghĩa vô ngại.
Tất cả các pháp đều là tướng như huyễn ảo gọi là pháp
vô ngại. Nghiệp hành vô ngôn thuyết gọi là từ vô ngại.
Với lục nhập không có chướng ngại là lạc thuyết vô ngại.
Liễu đạt nơi nghĩa gọi là nghĩa vô ngại. Thích nơi tịch
tĩnh gọi là pháp vô ngại. Tự chẳng hiệp với pháp và pháp
chẳng hiệp với nghĩa là từ vô ngại. Thuyết tức là thanh
gọi là lạc thuyết vô ngại. Như Lai chánh giác tức là nghĩa
Bồ đề gọi là nghĩa vô ngại. Nghĩa Bồ đề ấy hay sanh
các pháp là pháp vô ngại. Pháp có thể làm câu là từ vô
ngại. Thuyết rồi được nghĩa gọi là lạc thuyết vô ngại.
Pháp nghĩa ấy gọi là nghĩa vô ngại. Giải thoát ấy gọi
là pháp vô ngại. Diễn thuyết pháp tướng chẳng phải có
pháp tánh gọi là từ vô ngại. Phân biệt pháp giới và chẳng
phải pháp giới gọi là lạc thuyết vô ngại. Tăng tức là
vô vi gọi là nghĩa vô ngại. Chư Tăng nhứt vị gọi là pháp
vô ngại. Vì hòa hiệp Tăng gọi là từ vô ngại. Thuyết công
đức của chư Tăng gọi là thuyết vô ngại.
Thưa
Ðại Ðức! Bốn vô ngại ấy khắp cả tất cả pháp”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Ðồng nữ nầy từ khi phát tâm đến nay được bao lâu rồi?
Ở bên đức Phật nào mà gieo trồng thiện căn?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Xá Lợi Phất! Về thuở quá khứ vô
lượng a tăng kỳ kiếp có Phật xuất thế hiệu là Phân Biệt
Kiến Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thế giới ấy
tên là Ðại Tịnh như cung Trời Ðâu Suất Ðà, cùng với
chúng Bồ tát Tăng bảy vạn sáu ngàn tất cả đều thanh tịnh
phạm hạnh được môn đà la ni bất thối chuyển. Lúc ấy
có Chuyển Luân Thánh Vương tên là Tịnh Ðức Báo cai trị
tự tại một ngàn thế giới, hậu cung có tám vạn bốn ngàn
thể nữ, có đủ một ngàn vương tử, sức lực đồng với
lực sĩ Liên Hoa. Lúc ấy trong ba vạn sáu ngàn năm, Thánh vương
cúng dường Phật và Bồ tát Tăng các thứ phòng xá, ngọa
cụ, y phục, uống ăn, thuốc men”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chẳng
rõ đức Phật Phân Biệt Kiến ấy thọ mạng bao nhiêu tuổi
?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Xá Lợi Phất! Ðức Phật Phân Biệt
Kiến ấy thọ đủ mười trung kiếp.
Lúc
ấy Chuyển Luân Thánh Vương cùng với hậu cung quyến thuộc
thể nữ và nhơn dân chín vạn hai ngàn ức na do tha người
mang theo vô lượng vô biên các thứ cúng dường đến chỗ
đức Phật Phân Biệt Kiến đem tám ngàn ức trân bửu thượng
diệu rải lên đức Phật, đầu mặt lạy chưn đức Phật
rồi quỳ dài chắp tay cung kính bạch rằng:
Bạch
đức Thế Tôn! Nay chỗ chúng tôi sắp đặt các thứ cúng
dường như vậy, chẳng biết còn có sự cúng dường nào hơn
đây chăng?
Ðức
Phật Phân Biệt Kiến nói: Nầy Ðại Vương Tịnh Ðức Báo!
Còn có sự cúng dường khác công đức hơn sự cúng dường
nầy trăm ngàn vạn lần.
Thánh
Vương bạch đức Phật Phân Biệt Kiến: Bạch đức Thế Tôn!
Ðó là sự cúng dường gì, xin đức Thế Tôn nói cho, chúng
tôi rất muốn được nghe.
Ðức
Phân Biệt Kiến Như Lai nói kệ rằng:
Như
hằng hà sa số thế giới
Trong
ấy đầy báu đem cúng thí
Dầu
được vô lượng phước như vậy
Chẳng
bằng vì thương mà phát tâm
Chư
Phật số như hằng hà sa
Dâng
diệu hoa hương để cúng dường
Phước
đức nầy so còn chẳng bằng
Phát
tâm Bồ đề bảy bất thối
Phát
Bồ đề tâm tức cúng dường
Giới
nhẫn tinh tiến thiền trí huệ
Nếu
vì lòng thương mà phát tâm
Phước
ấy vô lượng chẳng cùng tận
Sắc
đẹp lực tài dòng họ lớn
Người
nầy mới phát được Bồ đề
Chúa
ngàn thế giới đến Phạm Thiên
Ðược
đại tự tại mới phát được
Nếu
thích mừng phát Bồ đề tâm
Như
vậy mới dứt được ác đạo
Hay
vì nhơn thiên mở chánh đạo
Hay
bít ác đạo và bát nạn
Các
căn đầy đủ chẳng mù điếc
Ðều
do chí tâm phát Bồ đề
Hay
thấy mười phương các Thế Tôn
Hay
phát trên trời vị cam lộ
Nếu
chí tâm phát đại Bồ đề
Người
nầy phá được nghi kiêu mạn
Vô
lượng trí huệ được tự tại
Hay
vì chúng sanh thuyết pháp giới
Chúng
sanh thấy đó như cha mẹ
Tưởng
như thầy bạn và lương y
Hay
trị lành bịnh các phiền não
Dạy
bảo khiến đến Bồ đề đạo.
Thánh
Vương Tịnh Ðức Báo nghe đức Phật Phân Biệt Kiến nói
phát Bồ đề tâm được công đức như vậy, lòng Vương rất
vui mừng hớn hở vô lượng, cùng các quyến thuộc thể nữ
và nhơn dân đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
liền ở trước đức Phật mà nói kệ rằng:
Nay
tôi thương xót các chúng sanh
Nên
phát Bồ đề tâm như vậy
Nếu
muốn có được đại tự tại
Chẳng
nên thối chuyển Bồ đề tâm
Sanh
tử vô lượng sanh khổ não
Mà
không lợi ích cho tự tha
Thà
phát tâm nầy mà chịu khổ
Chẳng
vì an vui mà chẳng phát
Nếu
có ai phát tâm Bồ đề
Liền
được phước trời người Thánh vương
Cũng
được vui tịch tĩnh vô lậu
Và
được vui Vô thượng Bồ Ðề
Huệ
nhẫn tam muội tối vô thượng
Ðủ
tứ vô lượng và lục độ
Ba
thứ tịnh huệ sáu thần thông
Bốn
vô ngại trí đại tự tại
Vô
thượng thập lực bốn vô úy
Và
tam niệm xứ đại từ bi
Thành
tựu thập bát bất cộng pháp
Tất
cả đều do phát Bồ đề
Hay
chấn động mười phương thế giới
Cũng
biết tâm chúng sanh mười phương
Hay
độ vô lượng các chúng sanh
Ðều
do phát tâm Bồ đề nầy.
Lúc
nói kệ trên đây, có bốn vạn trời người và vô lượng
chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ Ðề. Thánh Vương Tịnh
Ðức Báo còn trong vạn ức năm cúng dường đức Phật Phân
Biệt Kiến. Sau thời gian cúng dường đức Phật ấy rồi,
Thánh Vương nhàm thế tục mà xuất gia. Ðã xuất gia rồi
tư duy bốn câu đó là thiệt cú, pháp cú, nghĩa cú và điều
cú. Trong một ức năm thường tư duy nghĩa của bốn câu ấy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ông có biết Thánh Vương Tịnh Ðức Báo thuở
ấy là ai chăng, chính là thân đồng nữ Bửu Nữ nầy vậy”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Do nghiệp duyên gì mà thọ thân đồng nữ nầy ?”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Xá Lợi Phất! Tất cả chư Bồ tát
chẳng do nơi nữ nghiệp mà thọ thân nữ, chỉ là dùng sức
thần thông mà thị hiện thân người nữ thôi, đó là vì
điều phục các chúng sanh vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nay ông cho rằng Bồ tát Bửu Nữ thiệt là
thân nữ ư? Chớ có quan niệm như vậy. Tại sao, vì thọ thân
nữ ấy là do sức trí huệ và sức thần thông.
Nầy
Xá Lợi Phất! Bửu Nữ ấy từ lâu trong vô lượng kiếp đã
lìa thân nam thân nữ. Thân ấy chẳng phải quá khứ cũng chẳng
phải vị lai hiện tại. Thân ấy tức là phương tiện thân.
Thân phương tiện ấy giáo hóa chín vạn hai ngàn người nữ
ở thế giới nầy phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, vì vậy mà
thị hiện thân phương tiện ấy”.
Bửu
Nữ nói với Tôn giả Xá Lợi Phất: “Nay Ðại Ðức có thể
dùng thân nữ nhơn để thuyết chánh pháp chăng?”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói: “Tôi ở nơi nam thân còn sanh lòng
nhàm lìa hối hận huống là thân nữ”.
Bửu
Nữ nói: “Ðại Ðức Xá Lợi Phất! Nay Ðại Ðức ở nơi
nam thân sanh lòng nhàm hối ư?”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói: “Ðúng như vậy đúng như vậy!”.
Bửu
Nữ nói: “Thưa Ðại Ðức Xá Lợi Phất! Vì cớ ấy nên
chư Bồ tát hơn hàng Thanh văn và Bích Chi Phật. Tại sao, vì
chỗ mà hàng Thanh văn các Ngài nhàm hối ấy chính là chỗ
ưa thích của chư Bồ tát chẳng có nhàm hối. Hàng Thanh văn
chẳng cầu các cõi mà nơi ấy chư Bồ tát thọ lạc. Hàng
Thanh văn ở nơi các công đức sanh lòng tri túc còn người
Bồ tát thì không có nhàm đủ. Hàng Thanh văn nhàm lìa phiền
não còn người Bồ tát thì ở trong phiền não mà không e sợ”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi Bửu Nữ: “Do sức lực gì mà hàng
Bồ tát lòng không nhàm lìa e sợ?”.
Bửu
Nữ đáp: “Thưa Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát có tám sức lực,
do đây nên ở trong đó không có nhàm lìa e sợ.
Một
là từ lực, vì tâm vô ngại vậy.
Hai
là bi lực, vì điều phục vậy.
Ba
là thiệt lực, vì chẳng dối chư Phật chính mình và các
chúng sanh vậy.
Bốn
là huệ lực, vì lìa phiền não vậy.
Năm
là phương tiện lực, vì tâm chẳng hối vậy.
Sáu
là công đức lực, vì vô sở úy vậy.
Bảy
là trí lực, vì phá vô minh vậy.
Tám
là tinh tiến lực, vì phá phóng dật vậy.
Thưa
Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát có đủ tám lực nầy nên tâm Bồ
tát chẳng nhàm sợ”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Nầy đồng nữ! Nay nhơn giả có
đủ tám lực nầy chăng? ”.
Bửu
Nữ đáp: “Thưa Ðại Ðức! Nói là có đủ ấy tức là điên
đảo. Ðiên đảo ấy tức là hai tướng. Hai tướng ấy tức
là hữu vi. Hữu vi ấy tức là vô sở hữu. Vô sở hữu ấy
tức là bình đẳng.
Thưa
Ðại Ðức! Nếu là bình đẳng thì thế nào là hữu lực
vô lực, thế nào có thể nói số nhứt nhị.
Thưa
Ðại Ðức! Tất cả pháp đều như hư không. Hư không ấy
chẳng thể nói là nội là ngoại là trung gian, chẳng thể
nói là sáng là tối. Như hư không tất cả pháp cũng đều
như vậy. Nếu tất cả pháp đồng như hư không thì thế nào
có thể nói là có lực vô lực là số nhứt nhị.
Thưa
Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát cũng có lực cũng không lực. Thế
nào là có lực và thế nào là không có lực?
Thưa
Ðại Ðức! Ðại Bồ Tát không phiền não lực mà có trí
huệ lực, không xan lẫn lực mà có huệ thí lực, không phá
giới lực mà có trì giới lực, không sân hận lực mà có
nhẫn nhục lực, không giải đãi lực mà có tinh tiến lực,
không loạn ý lực mà có thiền định lực, không vô minh lực
mà có trí huệ lực. Vì vậy mà Bồ tát lìa ác pháp tu tập
thiện pháp, do đây Bồ tát không ác pháp lực mà có thiện
pháp lực”.
Ðức
Thế Tôn khen rằng: “Lành thay, lành thay! Nếu có thiện nam
thiện nử nói được như vậy tức là thiệt thuyết”.
Lúc
đồng nữ Bửu Nữ nói pháp ấy, trong pháp hội có năm trăm
Bồ tát thành tựu vô sanh nhẫn.
Bửu
Nữ lại bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Như trong
khế kinh nói, đức Như Lai có thập thần lực, là tức thập
lực là Thế Tôn hay ly thập lực mà có Thế Tôn?
Nếu
tức thập lực là Thế Tôn, thì có số lượng là nhị pháp,
nếu là nhị pháp tức là vô thường. Còn nếu ly thập lực
mà có Thế Tôn thì sao đức Phật nói tất cả các pháp bình
đẳng.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu trong một lực mà có đủ thập lực thì
sao đức Phật chẳng nói bá lực. Nếu chẳng nói bá thì nên
biết rằng một lực chẳng phải thập chẳng phải bá”.
Ðức
Thế Tôn khen rằng: “Lành thay, lành thay! Như Lai Thế Tôn
chẳng phải nhứt chẳng phải nhị. Nếu chẳng phải nhứt
nhị thì sao lại nói thập nói bá.
Ðại
Bồ Tát xa lìa nhứt nhị chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Như
Lai Thế Tôn chẳng phải tức thập lực chẳng phải ly thập
lực, có thể nói được mười sự ấy nên gọi đức Như
Lai có đủ thập lực. Như Lai nói thập lực ấy, mà trong
một lực có đủ vô lượng lực. Vì lưu bố thế gian mà
nói thập lực”.
Bửu
Nữ bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn! Xin nói rộng thập
lực ấy”.
Ðức
Phật phán dạy: “Nầy Bửu Nữ! Nên chí tâm lắng nghe kỹ,
Phật sẽ phân biệt giải thuyết.
Nầy
Bửu Nữ! Lúc Bồ tát tu hành đạo Bồ đề mà còn cầu Thanh
văn thừa còn tạo ác nghiệp thì không bao giờ có. Do tâm
vững chắc ấy lúc được Bồ đề thành tựu lực ban đầu.
Thành tựu lực ấy rồi đức Như Lai ở trong đại chúng làm
sư tử hống chuyển chánh pháp luân mà tất cả Trời, Người,
Ma, Phạm, Sa Môn, Bà La Môn đều chẳng thể chuyển được.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc ấy Bồ tát tu hành đạo Bồ đề
biết rõ các nghiệp tức là một nghiệp, do sức nầy nên
biết rõ tất cả các nghiệp quá khứ vị lai và hiện tại
nghiệp nhơn duyên xứ cùng nghiệp nhơn duyên phi xứ. Ðây
là lúc Bồ tát được Bồ đề thành tựu nghiệp thứ hai.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát biết
rõ căn của các chúng sanh rồi vì họ mà thuyết pháp, do đó
là được Bồ đề thành tựu lực thứ ba.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát quán
rõ chúng sanh giới rồi vì chúng sanh mà thuyết pháp, do đó
lúc được Bồ đề thành tựu lực thứ tư.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát quán
chúng sanh căn thượng trung hạ, quán rồi liền hiểu mà vì
họ thuyết pháp. Do hiểu biết ấy mà lúc được Bồ đề
thành tựu lực thứ năm.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát quán
chí xứ đạo, những là hữu vi đạo, vô vi đạo, Thanh Văn
đạo, Duyên Giác đạo, Bồ Tát đạo.Do quán đạo chí xứ
nên lúc Bồ Tát được Bồ đề thành tựu lực thứ sáu.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát cung
kính tôn trọng tu tập các thiền định vì điều phục chúng
sanh mà thuyết pháp yếu. Do tu tập thiền định như vậy nên
lúc Bồ tát được Bồ đề thành tựu lực thứ bảy.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát đối
với các thiện căn quá khứ vị lai và hiện tại chẳng hề
phỉ báng nên thành tựu niệm tâm chẳng phóng dật, vì chẳng
phóng dật, nên lúc Bồ tát được Bồ đề thành tựu lực
thứ tám.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc Bồ tát tu hành đạo Bồ đề thấy
người chưa học chẳng sanh lòng khinh khi, còn với chỗ mình
đã học chẳng có lòng kiêu mạn, có thể ban cho chúng sanh
trí huệ quang minh. Do ban cho quang minh, nên lúc Bồ tát được
Bồ đề thành tựu lực thứ chín.
Còn
nữa, nầy Bửu Nữ! Lúc tu hành đạo Bồ đề, Bồ tát dạy
chúng sanh xa lìa các pháp hữu lậu chẳng cho nó tăng trưởng,
dạy chúng sanh tán thán giải thoát tu tập đạo vô lậu, và
Bồ tát cũng vì chúng sanh mà nói đạo vô lậu. Do tu tập
đạo vô lậu như vậy nên lúc Bồ tát được Bồ đề thành
tựu lực thứ mười.
Nầy
Bửu Nữ! Bồ tát tu tập mười lực như vậy do đó có thể,
lúc thành Bồ đề đủ có Như Lai thập lực vậy”.
Xem
Tiếp: Trang 02