LV
PHÁP HỘI HƯ
KHÔNG TẠNG BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI
LĂM
(Hán
bộ từ quyển 137 Ðến quyển 141)
Hán
dịch: Tam tạng Ðàm Vô Sấm-Việt dịch: Tỳ kheo Thích
Trí Tịnh.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát khéo phân biệt hành tướng
?
Bồ
Tát chuyên cần tinh tiến cầu pháp thắng thiện, nơi pháp
môn thậm thâm tâm nhập suy lường thanh tịnh thông thạo rộng
lớn huệ sáng Ðược môn Ðại trí minh . Dùng sức Ðại trí
minh môn ấy biết rõ tâm hành cảnh giới của tất cả chúng
sanh, tổng nói mỗi chúng sanh có tám vạn bốn ngàn tâm hành,
tất cả Ðều có thể rõ biết . Ðó là tâm hành tham dục
có hai vạn một ngàn, tâm hành sân hận có hai vạn một ngàn,
tâm hành ngu si có hai vạn một ngàn, tâm hành Ðẳng phần
có hai vạn một ngàn, cộng là tám vạn bốn ngàn tâm hành,
mỗi chúng sanh Ðều có những tâm hành ấy, nếu phân biệt
nói rộng thì có Ðến vô lượng tâm hành . Trong mỗi hành
tướng môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn căn môn . Trong
mỗi căn môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn những tri giải
sai biệt . Bồ Tát biết hết các hành tướng các căn môn
các tri giải tướng sai biệt, biết các tướng nên Ðược
tu tập .
Thế
nào là biết tướng sai biệt ?
Bồ
Tát biết các hành các căn các giải ấy hoặc là tướng tham
dục, là tướng sân hận, là tướng ngu si, là tướng Ðẳng
phần, là tướng tăng, là tướng giảm, là tướng trụ, là
tướng Ðạt . Ðây gọi là biết tướng sai biệt.
Thế
nào là biết tướng nên Ðược tu tập ?
Bồ
Tát biết các hành các căn các giải ấy là tướng vô thường,
là tướng khổ, là tướng vô ngã là tướng không, là tướng
tịch diệt, là tướng ly, là tướng như thiệt, là tướng
Niết bàn, là tướng tướng tự không, là tướng tướng tự
ly . Nếu có thể biết các hành các căn các giải như
vậy . Như -Đức Như Lai thành tựu chư hành vô chướng ngại
trí biết rõ tất cả chúng sanh các hành các căn các giải
tướng sai biệt, Bồ Tát cũng kế thứ trí Như Lai biết rõ
mà chẳng bỏ nên Bồ Tát sở hành giáo hóa chúng sanh không
có mỏi mệt . Ðây gọi là Bồ Tát khéo phân biệt hành tướng
vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát thọ trì tạng pháp bửu
của chư Phật Như Lai ?
Như
Lai pháp bửu tạng là vô tận cũng là vô lượng Ðến
tất cả chỗ làm vui Ðẹp tất cả chúng sanh .
Như
chúng sanh các hành các căn các giải số Ðến vô lượng a
tăng kỳ bất khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng,
chư Phật Như Lai pháp bửu tạng vô lượng a tăng kỳ bất
khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng cũng như vậy.
Văn
tự pháp bửu tạng của Phật, giả sử tất cả chúng sanh
Ðồng như A Nan trong một kiếp Ðến trăm kiếp cũng chẳng
thể thọ trì Ðọc tụng thông thuộc các nghĩa Ðược
. Tai sao, vì Phật pháp bửu tạng chỉ có một nghĩa, Ðó là
nghĩa ly dục, nghĩa tịch diệt, nghĩa Niết bàn.
Nếu
Bồ Tát nghe Như Lai Pháp bửu tạng rồi tùy khả năng Ðược
thọ rồi thọ trì Ðọc tụng thông thạo, khéo thuận tốt
chánh quán rồi như sở thọ mà hành . Bồ Tát nhập vào pháp
tạng môn kiên trì suy gẫm chẳng y dựa tất cả tướng hành
thì Ðược Ðà la ni môn tam muội môn . Khi Ðược Ðà la ni
môn tam muội môn rồi thì có thể thọ trì văn tự và
nghĩa pháp bửu tạng của một Như Lai, hoặc của hai
Như Lai, hoặc của ba bốn Ðến mười Như Lai, hoặc của trăm,
của ngàn vạn cho Ðến vô lượng vô biên a tăng kỳ bất
khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng chư Như Lai .
Nơi pháp bửu tạng của tất cả chư Phật, Bồ Tát ấy tâm
chẳng tán loạn thọ trì Ðọc tụng thông thạo văn tự và
nghĩa rộng vì mọi người mà giải nói . Bồ Tát ấy y nghĩa
chẳng y văn, tịnh ý thành tựu pháp Ðược nghe mà diễn nói
nhẫn Ðến chẳng sai sót một câu văn nghĩa, có thể tịnh
môn biện tài khéo hay thuyết pháp vui Ðẹp lòng Ðại chúng,
Ðược chư Phật khen ngợi cũng hay hàng phục các ma ngoại
Ðạo và cung kính cúng dường Tam Bửu, nhẫn Ðến chẳng thấy
có một pháp khác với pháp tánh, chẳng hư hoại bổn tế,
chẳng Ðộng như như pháp tánh Ðược giác ngộ của Như Lai,
vì biết tất cả pháp tánh như là sở giác của Như Lai, nhẫn
Ðến chẳng thấy có một pháp nào là chẳng nhập vào Phật
pháp . Taị sao, vì Như Lai biết tất cả pháp tánh như ảo
huyễn vì không có thành tựu vậy, biết tất cả pháp tánh
như dã mã vì vô sở thủ vậy, biết tất cả pháp tánh như
tượng trong gương vì chẳng Ðến kia vậy, biết tất cả
pháp tánh như mộng vì chẳng chơn thiệt vậy, biết tất cả
pháp tánh như vang vì theo duyên mà khởi vậy, biết tất cả
pháp tánh là rỗng không vì hư giả không thiệt vậy, biết
tất cả pháp tánh vô tướng vì vô phân biệt vậy, biết
tất cả pháp tánh vô nguyện vì không có phát Ðộng vậy.
-Đức
Như Lai như thiệt biết tất cả pháp tánh là tướng như vậy
. Bồ Tát biết tất cả pháp tánh không có tánh có thể thọ
trì pháp bửu tạng của Phật nhẫn Ðến tất cả chẳng phải
niệm nhớ chẳng phải chẳng niệm nhớ . Ðây là Bồ Tát
thọ trì chư Phật pháp bửu tạng .
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát biết các chúng sanh
từ vô thỉ Ðến nay thường thanh tịnh mà giáo hóa chúng
sanh ?
Bồ
Tát vì giáo hóa tất cả chúng sanh nên lúc tu Ðại từ Ðại
bi suy nghĩ rằng : những gì là chúng sanh ? Các chúng sanh ấy
chỉ là danh tự giả là Ðiên Ðảo hư giả mà gọi là chúng
sanh thôi . Tất cả chúng sanh bổn tế thanh tịnh cứu cánh
vô sanh vô khởi, chỉ nhơn hư vọng ngu si mà tạo gây các
thứ nghiệp, gây tạo nghiệp rồi thọ vô lượng ưu bi khổ
não . Như có người trong giấc mộng cướp trộm tài vật
của người bị nhà vua bắt trị phạt khốn khổ . Chiêm bao
thấy mình làm kẻ giặc cướp hư vọng nhớ tưởng chịu
các khổ não tự nghĩ rằng lúc nào tôi sẽ thoát Ðược khổ
não nầy . Người ấy ở trong giấc mộng thiệt ra không có
sự việc gì không có hay giác tri . Tất cả phàm phu và tất
cả pháp Ðều cũng như mộng không có giác tri, vì bị Ðiên
Ðảo che chướng mà phải thọ lấy vô lượng vọng tưởng
ưu bi khổ não cũng như vậy . Bồ Tát suy nghĩ rằng : Các
chúng sanh ấy tôi phải khiến họ như thiệt giác tri các pháp
cho họ thoát khỏi vọng tưởng khổ não, ở trong tất cả
chúng sanh cũng chẳng thấy chúng sanh tánh nhưng vẫn chẳng
bỏ Ðại bi thường giáo hóa chúng sanh . Ðây là Bồ Tát phân
biệt chúng sanh từ trước Ðến nay thường thanh tịnh mà
giáo hóa họ.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát khéo tùy thuận phát khởi
công hạnh thành tựu Phật pháp ?
Bồ
Tát nghe Phật pháp tối thắng thậm thâm vi diệu ở trong thế
gian rồi phát khởi Ðại nguyện tinh tiến rằng : Tôi phải
thành tựu Phật pháp tối thắng thậm thâm vi diệu ở trong
thế gian . Khéo tư duy phân biệt như vầy : Là những pháp
gì tương ưng với những pháp gì ? Là những pháp gì
biết những pháp gì ? Bồ Tát lại suy nghĩ rằng :
Không có pháp gì tương ưng với pháp cũng không có pháp gì
chẳng tương ưng với pháp, không có pháp biết pháp cũng không
có pháp chẳng biết pháp, vì các pháp tánh ấy là Ðộn tánh
là vô tánh . Các pháp ấy Ðều từ nhơn duyên sanh không có
Ðịnh chủ mà có thể tùy ý trang nghiêm có các
thứ tướng quả báo . Vì các pháp vô tánh nên bố thí là
trang nghiêm tướng Ðại phú . Bố thí Ðược Ðại phú vì
quả chẳng lìa nhơn vậy . Bố thí chẳng biết Ðại phú và
Ðại phú cũng chẳng biết Ðược bố thí . Trì giới
là trang nghiêm tướng sanh Thiên, trì giới Ðược sanh Tiên
vì quả chẳng lìa nhơn vậy. Ða văn là trang nghiêm tướng
trí huệ, Ða văn Ðược trí huệ vì quả chẳng lìa nhơn
vậy . Tư duy là trang nghiêm tướng Ðoạn dứt kiết sử, tư
duy thì Ðược Ðoạn dứt kiết sử vì quả chẳng lìa nhơn
vậy . Tư duy chẳng biết Ðược Ðoạn kiết và Ðoạn kiết
cũng chẳng biết Ðược tư duy.
Bồ
Tát nhớ niệm các pháp vô sanh có thể trang nghiêm tướng
như vậy nên bố thí rồi hồi hướng Nhứt thiết trí thành
tựu hạnh Ðàn Ba la mật, Bồ Tát Ðàn Ba la mật ấy có thể
Ðầy Ðủ Ðược Phật pháp.
Bồ
Tát trì giới hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu hạnh
Thi la Ba la mật . Bồ Tát Thi la Ba la mật có thể Ðầy Ðủ
Ðược Phật pháp . Bồ Tát tu nhẩn nhục hồi hướng nhứt
thiết trí thành tựu hạnh Sằn Ðề Ba La mật . Bồ Tát Sằn
Ðề Ba La mật ấy có thể Ðầy Ðủ Ðược Phật pháp .
Bồ
Tát tu tinh tiến hồi hướng Nhứt thiết trí`thành tựu hạnhTỳ
lê gia Ba la mật.Bồ Tát Tỳ lê gia Ba la mật ấy có thể Ðầy
Ðủ Ðược Phật pháp.
Bồ
Tát nhập thiền Ðịnh hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu
hạnh Thiền Ba la mật.Bồ Tát Thiền Bala mật ấy có thể
Ðầy Ðủ Ðược Phật pháp .
Bồ
Tát thanh tịnh Bat Nhã hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu
hạnh Bát Nhã Ba la mật . Bồ Tát Bát Nhã Ba la mật ấ có
thể Ðầ Ðủ Ðược Phật pháp.Lúc Bồ Tát khéo tùy thuận
phát khởi công hạnh như vậy chẳng thấy có một pháp nào
không có nhơn không có duyen mà sanh, Bồ Tát củng chẳng trụ
trưóc nơi nhơn duyên, tự khéo tùy thuận nhập vào tất cả
pháp tánh.
Như
ngã vô sanh vô khởi,tất cả pháp vô sanh vô khởi củng như
vậy.
Như
ngã rỗng không,tất cả pháp rỗng không cũng như vậy.
Như
ngã ly,tất cả các pháply cũng như vậy.
Bồ
Tát biết tất cả các pháp nhập vào bình Ðẳng như tánh,chẳng
phải tạo tác chẳng phải chẳng tạo tác . Ðây là Bồ Tát
khéo thuận phát hạnh thành tựu Phật pháp vậy .
Nầy
Hư Không Tạng ! thế nào là Bồ Tát bất thối thần thông
nơi các Phật pháp Ðều Ðược tự tại ?
Bồ
Tát giới thân chơn tịnh tâm Ðịnh chẳng Ðộng Ðược Ðại
trí quang minh, Ðã thành tựu tư lương phước Ðức và trí
huệ, Ðã Ðược cứu cánh các Ba la mật, Ðã thành tựu tứ
nhiếp pháp, Ðã tu bốn phạm hạnh, Ðã tu dục tiến niệm
Ðịnh bốn như ý túc . Vì khéo tu tứ thần túc nên dược
ngũ thần thông . Vì Bồ Tát bổn nghiệp thanh tịnh, vì siêng
tinh tiến chẳng bỏ phế, vì thường chẳng tán loạn hành,
vì khéo phục các kiết sử, vì lìa tâm niệm Thanh Văn
Bích Chi Phật, vì thọ trì phương tiện, vì duyên Ðến các
pháp bực trên, vì vô ngã vô y hành, do Ðây mà Bồ Tát chẳng
thối thần thông, nên Bồ Tát rốt ráo biết các pháp
bất thối, biết các pháp cùng pháp tánh bình Ðẳng không
biến Ðổi sai khác, như hư không không có biến Ðổi . Ðây
là Bồ Tát bất thối các thần thông ở nơi các Phật
pháp Ðều Ðược tự tại vậy .
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập pháp môn thậm thâm
mà tất cả hàng Thanh văn và hàng Bích Chi Phật chẳng nhập
Ðược ?
Bồ
Tát nhập pháp thậm thâm nhơn duyên, biết pháp nghịch và
thuận nhơn duyên, khéo biết xuất, biế ly, biết sanh, biết
diệt, biết tập, biết tận . Khéo biết chúng sanh do nhơn
duyên gì mà thọ cấu, mà ly cấu, mà xả cấu Ðược
tịnh, nhẫn Ðến chẳng thấy có một pháp nào có cấu có
tịnh .Biết tất cả pháp tánh tướng thanh tịnh, cũng chẳng
Ðược tướng pháp thanh tịnh, vì ngã thậm thâm vậy .
Bồ
Tát biết tất cả pháp thậm thâm, vì ngã ly vậy .
Bồ
Tát biết tất cả pháp ly vì ngã không có hai vậy .
Bồ
Tát biết tất cả pháp không có hai vì nhãn và sắc cả hai
Ðều ly vậy . Nhẫn Ðến ý pháp cũng ly thì nhập Ðệ nhứt
nghĩa, do thế Ðế nên giả danh là các pháp, cũng chẳng chấp
trước chơn Ðế và thế Ðế . Ðây là Bồ Tát nhập pháp
môn thậm thâm mà hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật chẳng nhập
Ðược.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nơi thập nhị nhơn duyên
khéo Ðược thắng trí phương tiện rời lìa các kiến chấp
nhị biên ?
Bồ
Tát biết tất cả duyên sanh pháp nhiếp thuộc về cái khác
: Thuộc nhơn, thuộc duyên, thuộc hòa hiệp và thuộc sở do
. Các pháp ấy Ðều từ cảnh giới duyên sanh Ðều riêng có
sở nhơn Ðều riêng có sở y, các pháp mỗi mỗi Ðều tự
minh không có tâm không có tướng sai khác .
Như
bên ngoài các cỏ cây lùm rừng Ðều không có các căn không
có ghi nhớ không có hay biết, vì y dựa các Ðại chủng
bèn Ðược tăng trưởng, mỗi mỗi Ðều không có tướng sai
khác . Các pháp bên trong cũng như vậy, y dựa gây tạo các
nghiệp tăng trưởng tất cả các pháp, không có các tướng
ngã nhơn chúng sanhthọ mạng, cũng không có tác giả thọ giả
. Các pháp lúc sanh không có gì là năng sanh, lúc diệt không
có gì là năng diệt .
Bồ
Tát suy nghĩ rằng : các pháp duyên sanh ấy Ðều riêng không
có tự tánh . Vì nó không có tự tánh nên cái khác chẳng
sanh nó Ðược, sở nhơn cũng không có tự tánh và sở duyên
cũng không có tự tánh . Không có tự tánh thì không có tha
tánh . Nếu pháp không có tự tánh tha tánh thì không có sở
sanh không có năng sanh, chưa sanh thì chẳng sanh Ðược, Ðã
sanh cũng chẳng sanh . Nếu chưa sanh chẳng phải chưa sanh chẳng
sanh ấy thì cứu cánh không có sở sanh không có năng sanh
. Vì thế nên tất cả các pháp Ðều vô sanh vô khởi, chỉ
do văn tự mà có giả gọi là từ nhơn duyên sanh mà thiệt
thì vô sanh, cũng không Ðoạn không thường . Tai sao ?
Vì nếu các pháp mà có tánh sanh thì sẽ có diệt thành Ðoạn
kiến, còn nếu không diệt thì thành thường kiến . Vì rời
lìa Ðoạn kiến và thường kiến nên biết tất cả các
pháp Ðều không vô sanh . Ðây là Bồ Tát ở nơi thập nhị
nhơn duyên khéo Ðược thắng trí phương tiện rời lìa kiến
chấp nhị biên vậy .
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát Ðược ấn Như Lai ấn
cho trí phương tiện như như vô phân biệt ?
Nơi
pháp thậm thâm, Bồ Tát Ðược năng lực hiện tiền tri kiến
rời tất cả dựa dính quá các hí luận Ðược vô chung vô
thỉ Vô sanh Pháp nhẫn. Đức Như Lai biết rõ căn Bồ
Tát Ðược thành tựu rồi liền lấy ấn Như Lai ấn cho, Ðó
là thọ ký quyết Ðịnh Chánh Đẳng Giác. Ấn Như Lai
ấy không có sai, không có lầm, không có chướng ngại, không
có tranh, không có giành chẳng bị trở ngại, không ai bác
Ðược không ai phế Ðược. Bồ Tát Ðược Như Lai ấn
rồi thì nguyện hạnh thành tựu Ðược nước trí rưới vào
Ðầu.
Bồ
Tát Ðược các ấn như vậy ấn cho : Ðó là ấn cứu
cánh vô sanh vô khởi, ấn không, ấn vô tướng, ấn vô nguyện,
ấn ly nhiễm, ấn tịch diệt, ấn Niết bàn. Bồ Tát
trí hành Ðược thành tựu chẳng hư hoại tánh như, chẳng
biến Ðổi pháp giới, chẳng lìa bổn tế, ở trong các pháp
chẳng thấy thượng trung hạ Ðen trắng v.v… sai khác.
Bồ Tát cũng thấy tất cả chúng sanh Ðược ấn ấy ấn cho,
Bồ Tát không có nhớ nghĩ phân biệt chẳng bỏ bổn Ðại
thệ nguyện. Đây là Bồ Tát Ðược ấn Như Lai ấn cho
Ðược trí phương tiện như như vô phân biệt vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập môn pháp giới
tánh thấy tất cả pháp tánh bình Ðẳng ?
Bồ
Tát thấy các pháp giới không chỗ nào chẳng Ðến không lai
không khứ, vô sanh vô diệt, vô tướng vô khởi, vô hí vô
hành. Bồ Tát suy nghĩ rằng : các pháp ấy Ðều Ðồng
pháp giới như pháp giới, là rời lìa dục giới vì lìa trần
cấu vậy, là vô sanh giới vì vô tác vậy, là vô diệt giới
vì không diệt tận vậy, là vô lai giới vì chẳng nhập vào
căn môn vậy, là vô khứ giới vì không có chỗ Ðến vậy,
là bất khả an giới vì không có hình chất vậy, là không
có ổ hang giới vì không có y chỉ vậy, là chơn thiệt giới
vì ba cảnh phần dứt hết vậy. Trong pháp giới ấy không
có nhãn giới, không có sắc giới, không có nhãn thức giới,
cho Ðến không có ý giới, không có pháp giới, không có ý
thức giới. Như pháp giới tất cả pháp cũng như vậy.
Vì thế nên gọi là tất cả pháp nhập vào pháp giới.
Bồ
Tát ấy biết tất cả pháp nhập vào pháp giới, biết Ðịa
giới cùng pháp giới không có hai không có khác, biết thủy
giới hỏa giới phong giới cùng pháp giới không hai không khác.
Bồ
Tát biết dục giới cùng pháp giới bình Ðẳng không hai không
khác, biết sắc giới, vô sắc giới, hữu vi giới, vô vi giới
cùng pháp giới bình Ðẳng không hai không khác. Bồ Tát
biết không có tâm cảnh giới và giác như vậy. Đây
là Bồ Tát nhập vào môn pháp giới tánh thấy tất cả pháp
tánh bình Ðẳng vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát thuần chí dụ như
kim cương tâm trụ bất Ðộng nơi Đại thừa nầy ?
Bồ
Tát dùng trực tâm hành thành tựu tịnh thuần chí, dùng tinh
tiến bất thối cứu cánh bất giảm, dùng Ðại từ vô ngại,
dùng Ðại bi không mỏi, dùng phương tiện khắp Ðến Ðược
thành tựu quán huệ chơn thiệt vô ngại, các pháp như vậy
Ðều Ðược thành tựu. Bồ Tát thấy tất cả chúng
sanh có cấu trược phàm ngu thô cứng cự nghịch chẳng thuận,
do Ðây mà Bồ Tát giáo hóa tất cả chúng sanh chẳng bỏ rời
tinh tiến. Bồ Tát thấy sinh tử có vô lượng vô biên
lỗi họa ưu bi khổ não, vì vậy nên Bồ Tát chẳng thối
bỏ trang nghiêm vị lai tế. Bồ Tát cũng hiểu vô lượng
vô biên a tăng kỳ các Phật pháp. Bồ Tát vì thành tựu
các Phật pháp khó tu tập khó thọ trì khó Ðầy Ðủ
nên trồng các thiện căn Ðể có thể nhập vào vô lượng
pháp bửu tạng của Như Lai.
Vì
chúng sanh tánh vô lượng, vì pháp tánh vô lượng, vì hư không
tánh vô lượng, vì thọ trì pháp bửu tạng của tất cả
Như Lai, nên Bồ Tát chẳng bỏ tinh tiến nghe tất cả pháp
không vô tướng vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô khởi,
hiểu rõ phân biệt quán hạnh thân chứng thành tựu Phật
pháp chưa Ðược Ðủ, trọng chẳng có giữa Ðường, mà chứng
nhập thiệt tế. Bồ Tát khéo nhập các thiền Ðịnh
giải thoát tam muội, cũng chẳng nhàm lìa dục giới mà thị
hiện thọ sanh trong cõi dục. Bồ Tát Ðã lìa các ấm
giới nhập không hình không sắc không hành mà tùy thuận chúng
sanh tánh rồi tùy ý thị hiện các loại thân hình Ðể thuyết
pháp cho họ, chuyển pháp luân thị hiện Ðại Niết bàn, cũng
chẳng bỏ hạnh Bồ Tát nhập vào pháp môn bất tư nghị như
vậy. Bồ Tát biết tất cả pháp không có tánh tướng,
chẳng Ðộng chẳng hư hoại chẳng tan, ở nơi Đại thừa
này chẳng thối chuyển. Như kim cương bửu châu có thể
soi xét tất cả châu báu khác, mà tất cả báu khác chẳng
thể soi xét châu này Ðược. Cũng vậy, có thể dùng
Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa Ðộ vô lượng vô biên
chúng sanh khiến chứng nhập Niết bàn mà tự mình chẳng diệt
Ðộ cũng chẳng thối cứu cánh Đại thừa. Đây là Bồ
Tát thuần chí kiên cố như kim cương tâm vững trụ chẳng
dao Ðộng nơi Đại thừa nầy vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát tự tịnh giới của
mình như chư Phật giới ?
Bồ
Tát biết tất cả pháp không có giới không có tác giới,
Ðến tất cả nơi chỗ không có Ðến không có chẳng Ðến.
Nếu Bồ Tát thấy pháp phát khởi lục tình Ðều biết là
Phật pháp, cũng chẳng thấy phàm phu pháp và Phật pháp có
khác. Bồ Tát nghĩ rằng tất cả pháp nầy Ðều là Phật
pháp vì Phật pháp Ðến tất cả chỗ vậy. Tất cả
pháp và Phật pháp chỉ có danh tự giả, cũng chẳng phải
pháp chẳng phải phi pháp. Vì vậy nên chúng ta chẳng
nên thủ trước. Do vì tự giới tịnh nên biết tất
cả Phật giới tịnh, pháp ấy cùng Ðồng là bình Ðẳng.
Nhãn giới là Phật giới cho Ðến ý giới là Phật giới.
Ta chẳng nên phân biệt trong ấy có tôn có ti. Bồ Tát
Ðến Nhứt thiết pháp bình Ðẳng giới như vậy.
Đây là Bồ Tát tự tịnh giới của mình như chư Phật giới.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát Ðược Ðà la ni
trong không thất niệm ?
Bồ
Tát Ðã Ðược thành tựu Ðà la ni hạnh, thế nào là Ðà
la ni hạnh ? Đà la ni hạnh có ba mươi hai thứ :
Bồ
Tát tu nơi pháp Ðã Ðược, vì Ðà la ni nên tu pháp nguyện,
tu pháp tôn trọng, tu pháp hồi hướng, tu pháp kính ngưỡng,
tu pháp ưa thích, tu cầu pháp không nhàm, tu pháp thân cận
cúng dường bực Ða văn trí huệ, tu pháp Ðối với Hòa Thượng
A Xà Lê không lòng kiêu mạn thường tôn trọng cung cấp hầu
hạ, tu Ðúng theo pháp Ðược dạy bảo không hề chống trái,
tu Ðối với người thuyết pháp tưởng như Phật không tìm
chỗ dở, tu thọ trì chánh pháp khai thị giải thuyết, tu không
hề lẫn tiếc pháp Ðã Ðược, tu không hy vọng mà làm pháp
thí, tu cầu gốc rễ trí huệ, tu khéo thuận tư duy Ðúng pháp
Ðược nghe, tu kiên cố thọ trì pháp Ðược nghe, tu với phạm
hạnh không thôi nghỉ, tu thích xa lìa thật hành hạnh a lan
nhã, tu tâm thường tịch tĩnh, tu siêng chánh niệm, tu thuận
theo lục hòa kính, tu với các bực tôn trưởng không khinh
mạn, tu tâm vô ngại ở trong tất cả chúng sanh, tu pháp duyên
sanh Ðược tùy thuận nhẫn, tu tam giải thoát môn chánh quán
lòng không kinh sợ, tu tứ thánh chủng hạnh mà chẳng kinh
nghi, tu siêng thọ trì chánh pháp của chư Phật, tu vì chúng
sanh mà hành Ðại từ, tu thọ trì chánh pháp chẳng tiếc thân
mạng, tu Ðại trí hạnh chẳng sanh kiêu mạn, tu thường giáo
hóa chúng sanh mà không nhàm mỏi. Đây là ba mươi
hai pháp tu Ðà la ni hạnh của Bồ Tát vậy. Bồ Tát tu
rồi Ðược môn Ðà la ni như vậy. Vì Ðược môn Ðà
la ni ấy nên có thể tổng trì pháp Ðược nói của tất cả
chư Phật chẳng quên chẳng mất.
Đà
la ni ấy là với pháp Ðược nghe chẳng quên chẳng mất, dùng
niệm mà nhớ, dùng ý phân biệt, dùng tinh tiến hay giác ngộ,
nơi các văn tự Ðược không bờ mé, nơi các ngữ ngôn tùy
theo các loài Ðều khéo hiểu rõ, ngôn từ biện thuyết không
có trệ ngại. Với kinh bất liễu nghĩa khéo hay tiến
vào, nơi kinh liễu nghĩa tiến vào cứu cánh, nơi thế tục
Ðế có trí phân biệt, nơi Ðệ nhất nghĩa Ðế biết là
không có ngôn thuyết, nơi các Ðế có trí phân biệt, nơi
Tứ niệm xứ có trí chẳng quên, nơi Tứ chánh cần có trí
vô hoại, nơi Tứ thần túc có trí du hí, nơi các căn môn
có trí sai biệt, ở trong các lục Ðược trí vô thắng, nơi
Thất giác phần có trí giác tất cả pháp như tánh, nơi Bát
thánh Ðạo có trí không thối mất, ở trong pháp thiền Ðịnh
Ðược tâm thiện trụ, ở trong pháp chánh Ðịnh huệ Ðược
trí biến chí, nơi minh giải thoát Ðược trí tùy thuận, ở
trong các biện tài Ðược trí thâm nhập, nơi các thần thông
Ðược trí sanh khởi, nơi các Ba la mật Ðược trí phân biệt,
nơi tứ nhiếp pháp Ðược pháp phương tiện, với chỗ tán
thán pháp có trí dạy nghĩ rằng chẳng bằng, nơi nghĩa các
kinh Ðược trí vô phân biệt, nơi các văn tự Ðược trí
vô tận, nơi tất cả chúng sanh Ðược trí xứng Ðủ, tùy
pháp học hiểu Ðược trí thuyết pháp, nơi tất cả văn tự
Ðược trí biện sở nhơn, nơi tất cả cấu tịnh Ðược
trí như thiệt thấu biết, nơi tất cả pháp Ðược trí sáng
không chướng che. Đây là Ðà la ni ấy vậy.
Bồ
Tát Ðược Ðà la ni bình Ðẳng tâm thì bỏ lìa ghét thương,
kham nhận pháp vũ, dứt tất cả kiết sử nhiệt não, thuận
các pháp trợ Ðạo, Ðây là Ðà la ni ấy vậy.
Bồ
Tát do an trụ Ðà la ni ấy nên thường tu hành không lỗi.
Đây là Bồ Tát Ðược Ðà la ni trong chẳng thất niệm vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát Ðược biện tài
vô ngại Như Lai gia trì ?
Bồ
Tát khéo tịnh thuần chí khéo thủ hộ giới tụ trừ hết
gốc kiêu mạn, lìa quan niệm mình người, chư Phật Thế Tôn
biết Bồ Tát như vậy là Ðại pháp khí nên khiến thọ trì
chánh pháp, do nơi Phật thần lực cùng sức tự thiện căn
nên Ðược biện tài lanh lẹ, Ðược biện tài mau chóng, Ðược
biện tài vô ngại, Ðược biện tài không ngừng trệ, Ðược
biện tài khéo nói, Ðược biện tài thậm thâm, Ðược biện
tài các thanh âm Ðầy Ðủ, Ðược biện tài thiện trang nghiêm,
Ðược biện tài không giảm khuyết, Ðược biện tài vô úy,
Ðược biện tài kệ hay tán thán, Ðược biện tài nói khế
kinh tốt, Ðược biện tài khéo nói thí dụ bổn duyên, Ðược
biện tài không ai hơn không ai phá Ðược, Ðược biện tài
phân biệt câu vô tận, Ðược biện tài viên mãn Ðầy Ðủ,
Ðược biện tài oai Ðức không ai trái nghịch, Ðược biện
tài thuyết pháp không luống uổng, Ðược biện tài dứt nghi
cho Ðại chúng, Ðược biện tài Ðáp lời lẹ, Ðược biện
tài phân biệt văn tự không sai lầm, Ðược biện tài vui
Ðẹp Ðại chúng, Ðược biện tài phương tiện vấn Ðáp,
Ðược biện tài dùng chánh pháp hàng phục tất cả ngoại
Ðạo, Bồ Tát ấy Ðã thành tựu hai mươi bốn biện tài như
vậy.
Bồ
Tát tu hành hai mươi bốn nghiệp nhơn thì Ðược thành tựu
hai mươi bốn biện tài ấy.
Những
gì là hai mươi bốn nhơn ?
Vì
chẳng trái nghịch lời dạy của Sư trưởng nên có thể Ðược
biện tài lanh lẹ. Vì chẳng dua vạy nên có thể Ðược
biện tài mau chóng. Vì bỏ lìa phiền não nên Ðược
biện tài vô ngại. Vì không chấp ngã nên Ðược biện
tài không trệ. Vì lìa lưỡng thiệt nên Ðược biện
tài nói khéo. Vì nhập nhơn duyên pháp vô tế nên Ðược
biện tài thậm thâm. Vì làm các việc bố thí nên Ðược
biện tài Ðầy Ðủ âm thanh. Vì nghiêm sức tháp miếu
Như Lai nên Ðược biện tài thiện trang nghiêm. Vì chẳng
bỏ tâm Bồ Ðề nên Ðược biện tài không giảm khuyết.
Vì khéo hộ trì giới tụ nên Ðược biện tài vô úy.
Vì cúng thí những tràng phan lọng Ðẹp linh báu nên Ðược
biện tài kệ hay tán thán. Vì cung kính cúng dường cấp
thị chư tôn trưởng nên Ðược biện tài nói tốt tu Ða la.
Vì từ xưa vun trồng tu tập vô lượng thiện căn nên Ðược
biện tài khéo nói thí dụ bổn duyên. Vì chẳng khinh
tiện chúng sanh ác Ðạo nên Ðược biện tài không ai hơn
không ai phá Ðược. Vì cúng thí vô lượng bửu tạng
nên Ðược biện tài phân biệt câu vô tận. Vì nói năng
chơn thiệt không thô cộc nên Ðược biện tài tròn Ðủ.
Vì lúc thuyết pháp không tranh cạnh nên Ðược biện tài oai
Ðức không ai trái nghịch. Vì Ðức thuần tịnh thuận
pháp luật hành nên Ðược biện tài thuyết pháp không luống
uổng. Vì chẳng lẫn tiếc nơi pháp chẳng cậy ỷ nơi
Ðức của mình nên Ðược biện tài hay dứt nghi co Ðại chúng.
Vì lúc cầu pháp chẳng lấy oai bức người, thường có lòng
cung kính nên Ðược biện tài ứng Ðối lẹ. Vì thường
xét lỗi mình chẳng chê chỗ khuyết kém của người nên Ðược
biện tài phân biệt văn tự không sai lầm. Vì bình Ðẳng
nhuần ích cho chúng sanh chẳng mong báo Ðáp nên Ðược biện
tài vui Ðẹp Ðại chúng. Vì thọ trì Đại thừa chẳng
cầu tiểu thừa nên Ðược biện tài phương tiện vấn Ðáp.
Vì chẳng chấp ngã kiến nhập vào tánh bình Ðẳng nên Ðược
biện tài dùng chánh pháp hàng phục tất cả ngoại Ðạo.
Đây là hai mươi bốn nhơn thành tựu các biện tài, khéo có
thể tùy theo chỗ Ðáng Ðược nhận hiểu của các chúng sanh
kia mà thuyết pháp không có sai lầm, những pháp Ðược học
cũng chẳng thối thất. Đây là Bồ Tát Ðược biện
tài vô ngại Như Lai gia trì vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát Ðược tự tại
thị hiện thọ thân sanh tử ?
Bồ
Tát thành tựu mười hai pháp thì Ðược tự tại thị hiện
thọ thân sanh tử.
Vì
thân cận bực chơn thiện tri thức vậy. Vì tiêu trừ
ngã kiến vậy. Vì trọn nên giới thân vậy. Vì
khéo biết nhập Ðịnh xuất Ðịnh vậy. Vì gồm tu trí
huệ phương tiện vậy. Vì khéo biết thâm nhập các thần
thông du hí vậy. Vì như thiệt quán biết các pháp vô
sanh vô khởi vậy. Vì tịnh giống bổn nguyện vậy.
Vì thường chẳng bỏ Ðại từ Ðại bi vậy. Vì biết
tất cả pháp như huyễn hóa vậy. Vì biết các pháp như
mộng tưởng vậy. Vì Ðược tất cả gia oai thần vậy.
Đây
là Bồ Tát thành tựu mười hai pháp không có sanh mà thị
hiện thọ sanh, không có khởi mà thị hiện phát khởi, thị
hiện tất cả thân sanh tử. Nơi pháp hội của tất cả
chư Phật thị hiện thân mình. Ở các Phật quốc Ðộ
Ðều thị hiện thọ sanh mà thường chẳng Ðộng nơi chơn
pháp thân. Đây là Bồ Tát Ðược tự tại thị hiện
thọ sanh tử vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát phá các oán Ðịch
trừ lìa bốn ma ?
Bồ
Tát chuyên cần tu tập quán năm ấm như ảo huyễn thì Ðược
lìa ma ngũ ấm. Vì quán các pháp tánh thanh tịnh nên lìa
ma phiền não. Vì quán tất cả pháp theo duyên sanh tánh
nó chẳng thành tựu nên lìa ma chết. Vì quán tất cả
pháp Ðược duyên tạo thành là tướng vô thường bại hoại
nên lìa thiên ma.
Vì
Bồ Tát quán các pháp như vậy nên Ðược lìa bốn ma tiến
Ðến Bồ Ðề trọn chẳng giải Ðãi. Bao nhiêu ma nghiệp
chướng ngại Bồ Ðề, Bồ Tát Ðều xa lìa cả. Sao gọi
là ma nghiệp ?
Có
tâm niệm hướng Ðến Nhị thừa là ma nghiệp. Chẳng
thủ hộ Bồ Ðề tâm là ma nghiệp. Với các chúng sanh
có quan niệm sai khác là ma nghiệp. Nơi bố thí mong báo
là ma nghiệp. Vì thọ sanh mà trì giới là ma nghiệp.
Có sắc tưởng mà tu hành nhẫn nhục là ma nghiệp. Vì
thế sự mà siêng tinh tiến là ma nghiệp. Nơi thiền Ðịnh
có ý tưởng thích ưa là ma nghiệp. Nơi huệ sanh hí luận
là ma nghiệp. Nhàm mỏi sanh tử là ma nghiệp. Tu
các thiện căn mà chẳng hồi hướng Vô thượng Bồ Ðề là
ma nghiệp. Chán ghét phiền não là ma nghiệp. Phạm
tội phú tàng là ma nghiệp. Ganh ghét chư Bồ Tát là ma
nghiệp. Phỉ báng chánh pháp là ma nghiệp. Chẳng
thọ học chánh pháp là ma nghiệp. Chẳng biết báo ơn
là ma nghiệp. Chẳng tiến cầu Ba la mật là ma nghiệp.
Chẳng kính thuận chánh pháp là ma nghiệp. Lẫn tiếc
nơi pháp là ma nghiệp. Vì lợi dưỡng mà thuyết pháp
là ma nghiệp. Chẳng biết phương tiện mà hóa Ðộ chúng
sanh là ma nghiệp. Bỏ tứ nhiếp pháp là ma nghiệp.
Khinh hủy cấm giới là ma nghiệp. Ganh ghét người trì
giới là ma nghiệp. Học hạnh Nhị thừa là ma nghiệp.
Hi vọng chánh vị là ma nghiệp. Bỏ lìa Ðại từ mà
quán vô sanh là ma nghiệp. Muốn chứng pháp vô vi là ma
nghiệp. Nhàm lìa công Ðức hữu vi là ma nghiệp.
Chẳng thương chúng sanh là ma nghiệp. Chẳng khiêm hạ
bực tôn truởng là ma nghiệp. Tập làm lưỡng thiệt
là ma nghiệp. Dua nịnh nhiều gian là ma nghiệp. Hiển
bày tịnh hạnh của mình là ma nghiệp. Làm ác chẳng
thẹn là ma nghiệp. Chẳng lưu bố chánh pháp là ma nghiệp.
Lấy ít công Ðức làm Ðủ là ma nghiệp. Tóm lại, nếu
thân cận làm tất cả pháp bất thiện mà xa lìa tất cả
thiện pháp Ðều là ma nghiệp cả. Đây là ma nghiệp.
Người làm các nghiệp ấy thì chướng Ðạo Bồ Ðề.
Chư Bồ Tát ấy Ðã vượt quá Ðã bỏ lìa nên có thể chánh
thọ hành.
Thế
nào là chánh thọ hành ?
Bồ
Tát thành tựu bốn pháp thì có thể chánh thọ hành.
Một
là nơi các pháp Ba la mật không giải Ðãi thối thất hành.
Hai là chẳng bỏ dục tiến và bất phóng dật. Ba là
chánh trụ trong pháp phương tiện Ðại từ. Bốn là nhập
pháp môn thậm thâm không có ái không có ổ hang.
Vì
Bồ Tát thành tựu bốn pháp chánh thọ hành nên có thể phá
các oán Ðịch. Đây là Bồ Tát hay phá oán Ðịch trừ
lìa bốn ma vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát trang nghiêm tư lương
công Ðức lợi ích các chúng sanh ?
Bồ
Tát thiện căn hồi hướng hướng Ðến Vô thượng Bồ Ðề.
Nếu có thiện căn Ðược vun trồng như bố thí ái ngữ lợi
hành Ðồng sự Ðều Ðem thí cho tất cả chúng sanh. Do
thanh tịnh giới tụ nên Ðược sức tự tại. Dùng sức
tự tại ấy, Bồ Tát tùy theo chỗ Ðáng ưa thích của các
chúng sanh mà hóa Ðộ họ. Do vun trồng công Ðức không
chán nhàm nên Ðược tay báu vô tận. Dùng bửu thủ vô
tận ấy, Bồ Tát có thể bố thí chúng sanh vô lượng giàu
vui. Do cầu vô biên trí huệ tư lương nên Ðược biện
tài Ðà la ni vô ngại. Dùng vô ngại Ðà la ni biện tài
ấy, Bồ Tát có thể tổng trì chỗ nói của tất cả chư
Phật, Bồ Tát có thể nói diệu pháp làm vui Ðẹp Ðại chúng.
Do vì khéo nói Ðiều thân tâm nên chẳng thối thần thông.
Dùng sức các thần thông bất thối ấy, Bồ Tát có thể qua
Ðến vô lượng cõi Phật dùng vô số phương tiện Ðộ nhiều
chúng sanh. Do siêng cầu pháp không mỏi mệt nên Ðược
mỗi lỗ lông phát xuất vô lượng pháp môn. Dùng sức
phát xuất vô lượng pháp môn, Bồ Tát có thể thường dùng
pháp thí lợi ích chúng sanh. Do gồm tu huệ phương tiện
Ba la mật nên Ðược trí phân thân. Dùng sức trí phân
thân ấy Bồ Tát có thể ở trong các loài nơi nơi hiện thân
hóa Ðộ quần sanh. Do thường dùng vô tướng cung kính
cấp thị chư Phật nên Ðược kiến văn không nhàm chán.
Dùng sức kiến văn không chán ấy, có chúng sanh nào Ðược
thấy nghe Bồ Tát ấy, thì các chúng sanh ấy nhẫn Ðến do
nơi Bồ Tát trang nghiêm công Ðức tư lương lợi ích chúng
sanh.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát ở nơi thời gian
không có Phật xuất thế mà có thể làm Phật sự hóa Ðộ
chúng sanh ?
Bồ
Tát Ðã thành tựu Bồ Tát thập lực, Ðã ở trong bốn vô
sở úy của Bồ Tát Ðược tự tại, Ðã ở trong Bồ Tát
mười tám pháp bất cộng chẳng từ người khác Ðể thọ,
Ðã tu Như Lai lực vô sở úy pháp bất cộng, Ðã Ðược
du hí thủ lăng nghiêm tam muội, Ðã ở nơi bốn biện tài
Ðược trí lực tự tại, Ðã ở trong Phật pháp Ðược quán
Ðảnh chánh vị, ở nơi tất cả Bồ Tát hạnh Ðược thần
lực kế thứ Phật.
Nếu
Bồ Tát thành tựu các pháp như vậy, chúng sanh nơi các Phật
Ðộ nào Ðáng thấy thân Phật mà Ðược hóa Ðộ, những
Phật Ðộ ấy nhằm thời kỳ không có Phật xuất thế, thì
Bồ Tát ấy liền ở quốc Ðộ ấy thị hiện thời gian nhập
thai, sơ sanh, xuất gia, thị hiện thời gian ngồi Ðạo tràng
chuyển pháp luân, thị hiện xả thọ mạng Ðến thời gian
nhập Niết bàn, cũng có thể thị hiện Ðại bát Niết bàn,
cũng thị hiện pháp trụ thời tiết lâu mau, cũng còn chẳng
bỏ Bồ Tát hành pháp, cũng chẳng dùng chỗ Ðược hóa Ðộ
lấy Ðó làm Ðầy Ðủ. Đây là Bồ Tát lúc thế gian
không có Phật có thể làm Phật sự giáo hóa chúng sanh.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập hải ấn tam
muội có thể biết tâm hành của tất cả chúng sanh ?
Bồ
Tát Ða văn như biển thành tựu huệ tụ, thường siêng cầu
pháp. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể xả thí hết trân
bửu kho tàng. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể xả thí
hết tôi tớ kẻ sai sử vợ con quyến thuộc. Vì nghe
pháp mà Bồ Tát xả thí những món trang sức trên thân và
nhà cửa. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể hạ mình hầu
hạ chịu sự sai khiến. Vì nghe pháp mà Bồ Tát bỏ ngôi
cao sang cả nước cho Ðến xả thân mạng mình. Bồ Tát
dùng vô số phương tiện siêng cầu pháp môn như vậy mà chẳng
cậy sở hành. Vì nghe pháp mà Bồ Tát Ði Ðến một do
tuần hoặc trăm do tuần. Vì nghe một bài kệ bốn câu
Ðể thọ trì Ðọc tụng rộng vì người giải nói mà chẳng
bỏ tinh tiến ấy.
Bồ
Tát nầy tự thành tựu Ða văn, với tất cả chúng sanh phát
tâm Ðại bi tâm không ái nhiễm tâm chẳng mong báo Ðáp mà
vì họ thuyết pháp, nhẫn Ðến không khinh rẻ một chúng sanh,
thuyết pháp một ngày Ðến bảy ngày không quan niệm ăn uống
cho Ðến mạng chung cũng không bỏ thuyết pháp. Đem thiện
căn thuyết pháp hồi hướng hải ấn tam muội. Tùy pháp
Ðược nghe thọ trì Ðọc tụng thông thạo khéo biết nghĩa
thú chẳng y dựa văn tự chơn thiệt kiên trì trọn Ðời chẳng
bỏ. Bồ Tát phát Ðại nguyện tinh tấn, dùng sức Ðại
nguyện tinh tiến ấy chẳng bao lâu bèn Ðược hải ấn tam
muội. Được tam muội nầy rồi thì Ðược tự nhiên
vô lượng a tăng kỳ trăm ngàn vạn pháp môn, Ðược
vô lượng a tăng kỳ trăm ngàn vạn ức tu Ða la chẳng nghe
nơi người mà tự nhiên có thể diễn nói. Pháp của
tất cả chư Phật nói Ðều có thể thọ trì, có thể rõ
biết tâm hành của tất cả chúng sanh.
Dụ
như Diêm Phù Đề tất cả chúng sanh thân và những hình sắc
cảnh ngoài Ðều có ấn tượng trong Ðại hải, vì vậy mà
gọi Ðại hải là ấn. Cũng vậy, Bồ Tát Ðược hải
ấn tam muội rồi có thể phân biệt thấy tâm hành tất cả
chúng sanh, nơi tất cả pháp môn Ðều Ðược huệ sáng tỏ.
Đây là Bồ Tát Ðược hải ấn tam muội thấy tâm hành cảnh
giới của tất cả chúng sanh vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát biết các trần giới
vô ngại ?
Do
nhãn không nên Bồ Tát biết sắc cũng không, do sắc ly nên
biết nhãn cũng ly, do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý không nên
Bồ Tát biết thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng không, do
thanh, hương, vị, xúc và pháp ly nên biết nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân và ý cũng ly.
Bồ
Tát như thiệt biết không tánh ly tánh, nơi nội pháp và ngoại
pháp không có chướng ngại.
Bồ
Tát vì biết các kiết bổn tánh tịnh thì không phát khởi
các sử. Nơi tất cả các pháp không có tham trước.
Bồ Tát chẳng thấy các pháp có chỗ trước, cách trước
và ai trước. Đây là Bồ Tát biết rõ trần giới vô
ngại vậy.
Nầy
Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát oai nghi hạnh thành
tựu lìa các tối tăm Ðược ánh sáng thù thắng, ở trong
các pháp Ðược tự nhiên trí, mau Ðược thành tựu Nhứt
thiết trí hành ?
Bồ
Tát phát khởi chỗ làm tu tập chánh hạnh các nghiệp Ðều
Ðược Như Lai hứa khả, người trí khen ngợi, Ðó là các
nghiệp nơi thân, khẩu và ý. Do hành các chánh hạnh nghiệp
ấy nên vui Ðẹp chư Phật và chư Hiền Thánh các bực thiện
tri thức. Những nghiệp hạnh Ðược làm không ai có thể
chê trách, là tối thắng vô thượng vô Ðẳng. Không
ai có thể phá tổn nghiệp hạnh của Bồ Tát ấy. Nơi
các nghiệp hạnh Ðã làm Bồ Tát ấy trọn không thối hối.
Các nghiệp Ðược làm chẳng xen tạp ngu si, các nghiệp Ðược
làm Ðều có thể xem thấy biết rõ, các nghiệp Ðược làm
trọn chẳng Ðộng chuyển, các nghiệp Ðược làm Ðều cứu
cánh lành tốt. Bồ Tát ấy biết các nghiệp Ðược làm
chẳng phải do kiêu mạn, là trí huệ làm chẳng phải do ngu
si.
Bồ
Tát ấy làm các thiện nghiệp như vậy thì tất cả tam muội
môn tất cả Ðà la ni môn Ðều hiện ra chẳng từ người
khác nghe.
Bồ
Tát ấy hoặc thấy chư Phật hoặc chẳng thấy chư Phật trọn
chẳng thối chuyển các thiện căn trợ Bồ Ðề Ðạo,
hoặc gặp thiện tri thức thích ý hoặc gặp thiện tri thức
chẳng thích ý cũng chẳng thối chuyển pháp Bồ Ðề.
Bồ
Tát ấy qua khỏi tất cả bực chướng ngại, lìa tất cả
ma kiết sử tu ba môn giải thoát. Do sức Bát Nhã Ba la
mật nên mau Ðược Phật Ðạo, tự nhiên Ðạo, Nhứt thiết
trí Ðạo, Như Lai Ðạo. Đây là Bồ Tát oai nghi hạnh
thành tựu lìa các tối tăm Ðược quang minh thù thắng, ở
trong các pháp Ðược tự nhiên trí, mau Ðược thành tựu Nhứt
thiết trí hành".
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy, Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :
Đã
lìa lỗi vô ngại
Huệ
công Ðức trang nghiêm
Bồ
Tát lìa trước tướng
Hồi
hướng Ðạo vô thượng
Bỏ
ngã mạn kiêu mạn
Bồ
Tát trang nghiêm trí
Vô
chướng ngại giải thoát
Đầy
Ðủ Nhứt thiết trí
Chẳng
sắc chẳng chủng tánh
Niệm
Phật chẳng công Ðức
Thường
nhớ tưởng pháp thân
Niệm
nầy Phật hứa khả
Ly
dục tánh tịch tĩnh
Chẳng
tướng chẳng sáng tối
Không
tâm không ý hành
Đây
gọi là niệm Pháp
Thánh
vô vi không ái
Không
các phiền não nhiễm
Do
giải thoát Ðược tên
Gọi
niệm Tăng vô ngại
Đã
bỏ tất cả thọ
Không
ấm giới nhập hành
Giải
thoát các Ðộng niệm
Gọi
cứu cánh niệm xả
Chẳng
dựa vô lậu giới
Chẳng
hành thân khẩu ý
Chẳng
sanh quá ba cõi
Gọi
niệm vô lậu giới
Như
trời sạch không nhơ
Trời
Đâu Suất quán Ðảnh
Ghi
nhớ nghiệp báo mình
Sẽ
làm Trời trong Trời
Trì
chánh pháp của Phật
Bỏ
lìa các phiền não
Giải
thoát pháp phi pháp
Là
trì chánh pháp Phật
Như
Phật Ðắc Ðạo tướng
Thọ
trì pháp cũng vậy
Khéo
tư duy chơn tế
Không
pháp nhiếp trì Ðược
Như
tánh ngã thanh tịnh
Tánh
các pháp cũng tịnh
Biết
chúng sanh tướng như
Mà
giáo hóa chúng sanh
Chẳng
thấy chúng sanh tăng
Chẳng
thấy chúng sanh giảm
Dạy
dứt Ðường Ðiên Ðảo
Giáo
hóa vô lượng chúng
Nơi
các ấm giới nhập
Chẳng
khác với Phật giới
Biết
như hư không tánh
Thì
nhập vào Phật giới
Ngôn
ngữ các văn tự
Dường
như vang ứng tiếng
Biết
chẳng nội chẳng ngoại
Liền
Ðược Ðà la ni
Thọ
trì Ðọc tụng thạo
Tiến
cầu nói các pháp
Không
quan niệm ngã pháp
An
trụ Ðà la ni
Trì
pháp Ðược Phật nói
Khéo
nói vui Ðại chúng
Chẳng
mất các thiền Ðịnh
Là
sức Ðà la ni
Chẳng
trì chẳng tụng văn
Chẳng
tích tập các pháp
Thường
thuyết pháp vô ngại
Như
rồng tuôn mưa lớn
Không
trụ không chướng ngại
Nói
vô lượng khế kinh
Chẳng
quan niệm chúng sanh
Người
trí Ðược biện tài
Do
Phật lực thuyết pháp
Trang
nghiêm oai nghi mình
Tùy
sở thích Ðại chúng
Biện
tài này Phật hứa
Người
biết pháp thiệt tánh
Bình
Ðẳng như hư không
Không
ngã nhơn thọ mạng
Trì
Phật pháp như vậy
Chúng
sanh Ðồng Niết bàn
Cứu
cánh bất sanh diệt
Được
trí bất Ðộng nầy
Đây
là bất phóng dật
Thấy
các ấm như huyễn
Các
giới như pháp tánh
Lục
nhập duyên sanh rỗng
Được
lìa ma ngũ ấm
Kiết
sử như mây nổi
Cứu
cánh không hòa hiệp
Nơi
pháp không vọng tưởng
Lìa
Ðược phiền não ma
Biết
chúng sanh chẳng sanh
Vô
sanh thì vô diệt
Các
pháp không khứ lai
Như
vậy quá tử ma
Người
không ái không Ðộng
Hành
Ðạo không tưởng Ðạo
Hành
bi không ngã nhơn
Thì
hàng phục chúng ma
Biết
trí thức bình Ðẳng
Chẳng
trụ vi vô vi
Biết
chúng sanh tâm như huyễn
Tâm
khỏe không phá Ðược
Đây
kia không chướng ngại
Thành
tựu thắng pháp thuyền
Đưa
chúng không tưởng chúng
Gọi
là Đại Thuyền Sư
Biết
không không có ngã
Sạch
sanh tử khát ái
Dìu
dắt Ðưa chúng sanh
Gọi
là Đại Đạo Sư
Khéo
biết tướng tiến thối
Tùy
pháp mà y chỉ
Phương
tiện hiện Niết bàn
Phật
nói Thiện Đạo Sư
Biết
tâm tâm tương tục
Hai
tâm chẳng cộng chung
Gọi
là biết tâm tánh
Phật
khen hay hộ chúng
Biết
các pháp tánh tịnh
Như
không trăng trong nước
Người
biết lìa phiền não
Gọi
là tịnh chúng sanh
Biết
một biết tất cả
Biết
các pháp như mộng
Hư
không chẳng lấy Ðược
Đắc
Ðạo không nhiễm ô".
Lúc
Ðức Phật nói môn phân biệt các pháp ấy có bẩy mươi hai
na do tha chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, ba vạn hai
ngàn Bồ Tát Ðược Vô sanh Pháp nhẫn. Nhà Đại Bửu
Trang Nghiêm Đường chấn Ðộng sáu cách, áng sáng lớn chiếu
khắp. Chư Thiên ở trên không trỗi trăm ngàn kỹ nhạc
mưa các thứ hoa trời và Ðồng thanh nói rằng : «Các chúng
sanh ấy Ðược ấn Như Lai cho, Ðã vào trong pháp Như Lai nghe
pháp môn ấy Ðược tịnh tín giải thọ trì thông thạo có
thể diễn nói cho mọi người và như pháp tu hành".
Chư
Thiên bạch Ðức Phật rằng : «Bạch Ðức Thế Tôn !
Tất cả chúng tôi hướng về Phật Ðộ nầy thâm tâm cúng
dường cung kính lễ lậy vì Ðức Như Lai Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri xuất thế vậy. Chúng tôi nghe nói pháp môn phương
tiện ấy và thấy chư Bồ Tát ở quốc Ðộ nầy".
Hư
Không Tạng Bồ Tát nghe Ðức Phật giải nói rồi, tâm tịnh
hoan hỷ. Tâm tịnh hoan hỷ rồi Ðem màn báu vô giá cúng
dường Ðức Phật. Trong màn báu phóng ánh sáng lớn chiếu
mười phương chư Phật quốc Ðộ.
Cúng
dường rồi Hư Không Tạng Ðại Bồ Tát bạch rằng : «Bạch
Ðức Thế Tôn ! Thiệt là chưa từng có. Như
Lai vô ngại trí thậm thâm khó hiểu như vậy. Đức Như
Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri như pháp môn Ðược nghe, Ðức
Phật dùng vô ngại trí như thiệt giải nói, tất cả Ðại
chúng Ðều Ðược hoan hỷ".
Lúc
bấy giờ trong Ðại chúng có một Bồ Tát hiệu là Tốc Biện
liền từ tòa ngồi Ðứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu
chấm Ðất cung kính chắp tay bạch rằng : «Bạch Ðức Thế
Tôn ! Hư Không Tạng Bồ Tát nầy có nhơn duyên gì mà
tên là Hư Không Tạng ?".
Đức
Phật nói : «Nầy Tốc Biện ! Như Ðại phú trưởng giả
có dân chúng Ðông kho tàng vô lượng của báu Ðầy dẫy
hay làm việc bố thí tâm không lẫn tiếc. Lúc làm việc
bố thí nếu người nghèo cùng Ðến thì tùy ý họ cần dùng,
trưởng giả khai kho báu lớn Ðều có thể cấp cho cả, các
người xin kia Ðều Ðược vừa ý. Trưởng giả ấy bố
thí rồi trong lòng vui mừng không hối tiếc.
Cũng
vậy, Hư Không Tạng Bồ Tát vì thường làm công Ðức thành
tựu phương tiện lực hồi hướng, vì giới thân thiện thanh
tịnh, vì Ðược thành tựu thần túc lực, vì thuần chí cứu
cánh thiện thanh tịnh, vì sở nguyện tăng ích thành tựu,
vì biết tất cả pháp như ảo hóa, vì Ðược Như Lai thần
túc lực, nên ở trong hư không tùy chúng sanh cần dùng, hoặc
pháp hoặc tài Ðều có thể thí cho, Ðều làm cho hoan hỷ.
Vì Đại Sĩ ấy chứng phương tiện trí như vậy nên gọi
tên là Hư Không Tạng.
Còn
nữa, nầy Tốc Biện ! Quá khứ vô lượng a tăng kỳ
kiếp, lại quá vô lượng a tăng kỳ kiếp, bất khả tư nghị,
bất khả xưng bất khả lượng, bất khả toán số kiếp,
lúc bấy giờ có Phật xuất thế hiệu là Phổ Quang Minh Vương
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, thế giới tên Đại Vân Thanh Tịnh,
kiếp tên Hư Không Tịnh. Thế giới Đại Vân Thanh Tịnh
ấy thạnh vượng Ðầy Ðủ an ổn khoái lạc, hàng trời người
Ðông Ðúc, mặt Ðất bằng phẳng không có những cát sỏi
gai góc, dây báu giăng thành khu thành Ðường trang nghiêm với
nhiều thứ châu báu như nhuyến như thiên y, hoa vàng diêm phù
Ðàn trải khắp mặt Ðất xen lẫn các châu báu. Chúng
sanh trong thế giới Đại Vân Thanh Tịnh ấy không có phân
biệt thượng trung hạ, trời và người Ðồng Ðẳng như Trời
Đâu Suất. Trong thế giới ấy không có tụ lạc thôn
ấp, tất cả hàng trời người Ðều ở lâu Ðài báu Ðẹp,
lầu các của người ở mặt Ðất, cung Ðiện chư Thiên ở
hư không, chỉ có thế này là khác, Ðức Phổ Quang Minh Vương
Như Lai thọ mười sáu trung kiếp, dùng Bồ Tát làm Tăng có
mười sáu na do tha chúng Ðều Ðược thần thông du hí Ðều
Ðược tự tại nơi Bồ Tát hạnh.
Lúc
ấy ở giữa Đại Thiên thế giới Đại Vân Thanh Tịnh ấy
có một tứ thiên hạ tên là Nhựt Minh, Ðức Phật Phổ Quang
Minh Vương Như Lai thành Vô thượng Chánh giác tại nơi ấy,
rồi làm Phật sự khắp cõi Đại Thiên.
Trong
tứ thiên hạ Nhựt Minh có Chuyển Luân Thánh Vương tên Công
Đức Trang Nghiêm trị cả tứ thiên hạ thành tựu Ðủ bảy
báu.
Trong
Nhựt Minh tứ thiên hạ, Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm
trị cả tứ thiên hạ thành tựu Ðủ bảy báu.
Trong
Nhựt Minh tứ thiên hạ, Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm
xây Ðài bảy báu, từ Đông sang Tây rộng tám do tuần, từ
Nam Ðến Bắc rộng bốn do tuần, vòng quanh bửu Ðài có năm
trăm khu vườn nhà.
Thánh
Vương Công Đức Trang Nghiêm có ba mươi ba vạn sáu ngàn cung
nhơn thể nữ xinh Ðẹp lộng lẫy như ngọc nữ cõi trời,
có bốn vạn Ðồng tử Ðoan chánh dũng kiện Ðều riêng có
sức khoẻ bằng nửa na la diên.
Thánh
Vương ấy cùng các Ðồng tử thể nữ quyến thuộc Ðồng
Ðến vườn Đại Lạc trang nghiêm dạo chơi trỗi nhạc ca
vũ Ðể tự vui. Trong chúng ấy có hai Ðại phu nhơn tên
là Đức Oai và Đức Quang rời chỗ Ðến dưới một cội
cây ngồi tư duy các hành vô thường. Lúc Ðương tư duy
trên gối mỗi phu nhơn có một con trai hóa sanh. Hai trẻ
nhỏ ấy thân hình xinh tốt Ðoan nghiêm thành tựu sắc thân
vi diệu Ðệ nhứt, người thấy không chán, trên thân phóng
ánh sáng lớn chiếu khắp khu vườn. Trên không chư Thiên
xướng rằng : hai Ðồng tử này một người tên là Sư Tử,
một người tên là Sư Tử Tiến. Do Ðó mà mọi người
gọi tên hai Ðồng tử ấy là Sư Tử và Sư Tử Tiến.
Hóa
sanh chẳng bao lâu, hai Ðồng tử ấy nói kệ khen Thánh Vương
Công Đức Trang Nghiêm rằng :
Xưa
tạo thiện ác chẳng hư mất
Cúng
dường chư Phật cũng chẳng mất
Thuần
chí chẳng bỏ tâm Bồ Ðề
Kiên
trì chỗ nghe chẳng quên trí
Điều
phục tự gìn chẳng mất giới
Nhẫn
nhục nhu hòa khéo phòng hộ
Người
hay báo ơn tạo nghiệp lành
Hay
siêng tinh tiến chẳng mất Ðạo
Khéo
hay chuyên tâm Ðịnh các căn
Tâm
hay phân biệt tư duy huệ
Do
trí hay tạo nghiệp chẳng trược
Dùng
tịnh pháp ấy chứng Bồ Ðề
Chẳng
bị phiền não làm nhiễm trước
Khéo
hay phân biệt các nghĩa thú
Vì
vậy bỏ Ðược thân thọ thai
Hóa
sanh trong hoa sen thanh tịnh
Chúng
tối từ Phật Thượng Y Vương
Nghe
Phật Phổ Quang Minh Vương nầy
Trí
huệ vô Ðẳng chẳng nghĩ bàn
Vì
pháp nên Ðến thế giới Ðây
Mong
cùng Phụ Vương Ðến chỗ Phật
Lễ
bái cúng dường Đại Pháp Vương
Chư
Phật Thế Tôn rất khó gặp
Cũng
như hoa ưu Ðàm bát la.
Thánh
Vương Công Đức Trang Nghiêm nghe lời nói của hai Ðồng tử
rất vừa ý, cả Ðại chúng Ðồng hoan hỷ cùng vây quanh Thánh
Vương số Ðến trăm ngàn vạn Ðồng Ðến chỗ Ðức Phật
Phổ Quang Minh Vương Ðem các thứ hoa hương vi diệu, các chuỗi
ngọc trân châu và các thứ kỹ nhạc cúng dường lễ lậy
hữu nhiễu bảy vòng rồi chắp tay cung kính Ðứng nơi trước.
Lúc
ấy Sư Tử và Sư Tử Tiến Ðảnh lễ chơn Phật dùng miệng
úp lên chưn Phật mà nói lời khen ngợi khéo thuận pháp nghĩa
:
Phật
là nhà là chỗ dựa nương
Khai
sáng lớn cho Ðời tối tăm
Biết
rõ tâm hành của chúng sanh
Tùy
chúng tin ưa làm vui Ðẹp
Nay
Ðại vương nầy cậy ngôi vua
Tham
sắc thanh hương vị xúc pháp
Vì
vậy chẳng chịu Ðến chỗ Phật
Mất
sự cúng dường chẳng nghe pháp
Lành
thay Thế Tôn phát Ðại bi
Xin
nói pháp Bồ Ðề Vô thượng
Khiến
Ðại vương nầy phát Ðạo tâm
Kiên
cố bất thối nơi Phật trí.
Nghe
lời thỉnh cầu của hai Ðồng tử, Ðức Phổ Quang Minh Vương
Như Lai dũng thân lên hư không cao tám mươi cây Ða la.
Đức
Phật ở hư không nói kệ bảo Thánh Vương Công Đức Trang
Nghiêm rằng :
Nay
nhơn vương chí tâm nghe
Nghe
rồi y pháp mà phụng hành
Ngũ
dục vô thường dụ như mộng
Mạng
người như lửa cỏ sương mai
Vua
và nước thành như ảo hóa
Vì
vậy người trí chẳng nên tham
Quen
ham dục lạc không nhàm Ðủ
Quen
dục càng thêm lòng khát ái
Tham
dục chưa Ðủ mà mạng chung
Chỉ
người Ðược thánh trí mới Ðủ
Vua
nên khéo thuận quán thân mình
Ngũ
ấm như huyễn chẳng kiên cố
Tứ
Ðại kia như bốn rắn Ðộc
Sáu
căn không thiệt như khối rỗng
Vợ
con trân bửu và ngôi vua
Lúc
vua lâm chung không ai theo
Chỉ
có giới thí bất phóng dật
Đời
nay Ðời sau làm bạn lữ
Xem
Phật thần thông lực vô úy
Dùng
các tướng hảo trang nghiêm thân
Thuyết
pháp dạy chúng hàng Ðệ tử
Vì
vậy vua nên phát Ðạo tâm.
Nghe
Ðức Phật xong, Thánh Vương cùng vợ con quyến thuộc bảy
mươi sáu ngàn ức người Ðều rất vui mừng Ðồng phát tâm
Vô thượng Bồ Ðề rằng :
Nay
chúng tôi phát Ðạo tâm thệ cứu Ðộ tất cả chúng sanh,
vì chúng sanh chúng tôi tu diệu hạnh lúc thành Phật rồi sẽ
Ðộ thoát họ.
Thánh
Vương Công Đức Trang Nghiêm nghe Ðức Phật Phổ Quang Minh
Vương nói pháp và thấy thần biến rồi càng thêm kiên cố
tâm Bồ Ðề, vua Ðảnh lễ chưn Phật bạch rằng :
Ngưỡng
mong Ðức Thế Tôn và Bồ Tát Ðệ tử thọ tôi thỉnh cúng
dường suốt tám vạn bốn ngàn năm những y phục, món ăn,
giường nệm, thuốc men và tất cả vật cần dùng.
Đức
Phật cùng Ðại chúng vì thương mến vua nên thọ thỉnh.
Thánh
Vương Công Đức Trang Nghiêm biết Phật Ðã thọ thỉnh vui
mừng hớn hở Ðảnh lễ hữu nhiễu rồi lui về.
Hai
Vương tử Sư Tử và Sư Tử Tiến cùng hai vạn Vương tử
bỏ giàu sang thế tục Ðồng ở trong Phật pháp xuất gia tu
hành chuyên cần tinh tiến thích cầu pháp lành. Xuất
gia chẳng lâu, Sư Tử và Sư Tử Tiến Ðược ngũ thần thông
kiên cố bất thối. Biết hai người này Ðã Ðược ngũ
thần thông, Ðức Phật gia hộ oai thần cho hai người này
thường vì chúng sanh mà nói diệu pháp. Hai Tỳ Kheo ấy
ở trong cõi Đại Thiên Đại Vân Trang Nghiêm từ quốc Ðộ
này Ðến quốc Ðộ kia, từ tứ thiên hạ này Ðến tứ thiên
hạ kia thuyết pháp hóa Ðộ vô lượng a tăng kỳ chúng sanh
khiến họ kiên cố bất thối Vô thượng Đại thừa.
Trong
tám vạn bốn ngàn năm, Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm
cúng dường Ðầy Ðủ cho Ðức Phật và Ðại chúng xong, vì
nghe pháp nên nhà vua cùng quần thần quyến thuộc qua Ðến
chỗ Ðức Phật. Nhà vua tự nghĩ rằng, các vương tử
con trai của ta cạo bỏ râu tóc xuất gia tu hành thường thọ
cúng dường mà tự mình chẳng làm việc bố thí cũng chưa
thấy Ðược pháp hơn người, có lẽ chúng nó nên về nhà
xả của cải bố thí tu tạo các công Ðức như ta Ðã làm
Ðể vun trồng căn lành chăng ?
Biết
tâm niệm của Thánh Vương, Ðức Phổ Quang Minh Vương Như
Lai bảo Sư Tử Tiến Bồ Tát rằng :
Nầy
Sư Tử Tiến ! Ông hiện sức tự tại thần thông Bồ
Tát biến hiện Ðể khắp Ðại chúng Ðược thấy nghe trừ
bỏ tà tâm Ðược chánh tri kiến cũng Ðể hàng phục các
ma ngoại Ðạo.
Vâng
lời Ðức Phật, Sư Tử Tiến Bồ Tát liền nhập Ðịnh hiện
ra các cảnh tượng như vầy :
Cả
Đại Thiên thế giới Đại Vân Trang Nghiêm chấn Ðộng sáu
cách, trên không mưa xuống các thứ vật vi diệu, những là
các thứ hoa hương, hương bột, hương xoa, lọng lụa, tràng
phan, trổi các thứ kỹ nhạc. Những món ăn uống ngon
lành, những y phục Ðẹp quí, những chuỗi ngọc, những trân
bửu Ðều từ trên không mưa xuống. Mưa châu báu như
vậy Ðầy cả cõi Đại Thiên. Tất cả chúng sanh Ðược
sự chưa từng có Ðều rất vui mừng. Địa thần chư
Thiên Ðến Trời Sắc Cứu Cánh hớn hở mừng vui Ðồng thanh
xướng rằng :
Đại
Bồ Tát nầy nên gọi tên là Hư Không Tạng. Tại sao,
vì từ trên không có thể mưa xuống vô lượng trân bửu sung
túc khắp tất cả.
Đức
Phổ Quang Minh Vương Như Lai liền ấn khả lời xướng của
chư Thiên gọi Sư Tử Tiến là Hư Không Tạng.
Thánh
Vương Công Đức Trang Nghiêm thấy Sư Tử Tiến hiện vô lượng
thần biến như vậy trong lòng kính tin thanh tịnh vui mừng
hớn hở chưa từng có bỏ tâm kiêu mạn chắp tay hướng lên
Ðức Phật bạch rằng :
Bạch
Ðức Thế Tôn ! Bồ Tát công Ðức trí huệ bèn có thể như
vậy, tự nhiên mà mưa vô lượng trân bửu sung túc khắp tất
cả trọn không cùng tận.
Bạch
Ðức Thế Tôn ! Người tại gia bố thí lợi ích không
bao nhiêu, còn người xuất gia dùng sức thần thông bố thí
không bờ mé. Người tại gia bố thí chẳng xứng ý người,
dầu bố thí mà còn lẫn tiếc khổ não, còn người xuất
gia bố thí có thể xứng ý người, lợi không có lẫn tiếc
chẳng sanh khổ não.
Lúc
ấy Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm trao ngôi vua cho Vương
tử Cát Ý, rồi do tín tâm chơn thiệt cạo bỏ râu tóc ở
trong Phật pháp xuất gia tu hành, vì tăng trưởng pháp lành
nên vua chuyên cần tinh tiến, chẳng bao lâu vua tu Ðược tứ
thiền tứ vô lượng tâm và Ðược ngũ thần thông. Còn
Cát Ý Vương dùng chánh pháp trị nước toàn thể nhơn dân
Ðều mến Ðức, vua cũng tinh tiến chẳng bỏ việc cúng dường
Ðức Phật Phổ Quang Minh Vương và Ðại chúng.
Nầy
Tốc Biện ! Thuở xa xưa ấy, Thánh Vương Công Đức Trang
Nghiêm là Câu Lưu Tôn Như Lai Ðức Thế Tôn thứ nhất trong
Hiền kiếp này, còn Sư Tử Bồ Tát chính là thân ta Phật
Thích Ca Mâu Ni, Sư Tử Tiến Bồ Tát là Hư Không Tạng
Bồ Tát, vì nhơn duyên hiện thần lực từ trên không mưa
xuống các loại trân báu sung túc khắp nơi nên từ thuở ấy
luôn Ðược tên là Hư Không Tạng. Còn Cát Ý Vương thì
nay là Di Lặc Bồ Tát. Hai vạn Vương Tử theo Phật xuất
gia thuở ấy nay là chúng Bồ Tát cùng chung với Hư Không Tạng
hiện Ðang nghe pháp Ðây vậy. Còn vô lượng chúng sanh
Ðược Thánh Vương cùng các Vương Tử và quyến thuộc sau
khi xuất gia giáo hớa, thì hiện nay là chư Bồ Tát hành Bồ
Tát Ðạo tại mười phương thế giới vậy.
Nầy
Tốc Biện ! Chư Bồ Tát phải thường thanh tịnh giới
tụ tăng trưởng bổn nguyện, do Ðây mà tùy muốn làm việc
gì Ðều có thể hoàn thành cả".
Lúc
bấy giờ Ðại hội Bồ Tát chúng khát ngưỡng muốn Ðược
thấy thần lực của Hư Không Tạng Bồ Tát và tướng mạo
của Bồ Tát Hư Không Tạng thế nào.
Đức
Phật biết tâm niệm của Ðại chúng liền bảo Hư Không
Tạng Bồ Tát rằng : «Này Hư Không Tạng ! Ông nên
hiện tướng thần biến hư không tạng !".
Hư
Không Tạng Bồ Tát liền nhập xứng nhứt thiết chúng sanh
ý tam muội.
Do
sức tam muội ấy, khắp hư không trên Diệu Bửu Trang Nghiêm
Đường mưa xuống các thứ vật vi diệu, tùy chỗ chúng sanh
muốn Ðều cung cấp Ðủ cả. Đó là cần hoa thì mưa
hoa, cần tràng hoa thì mưa tràng hoa, cần hương bột hương
xoa thì mưa hương bột hương xoa, cần lọng lụa, cần tràng
phan, cần các thứ âm nhạc, cần món trang sức, cần những
chuỗi ngọc y phục, cần món uống ăn ngon, cần xe cộ kẻ
tùy tùng, cần vàng bạc bảy báu v.v… tất cả Ðều tùy
ý muốn cần dùng của mọi người mà mưa xuống thứ ấy.
Có
những người cần pháp muốn pháp thích pháp, tùy theo chỗ
muốn nghe, trên không phát ra các pháp âm vi diệu làm vui Ðẹp
nhĩ căn : những là diệu âm tu Ða la, kỳ dạ, thọ ký, già
Ðà, ưu Ðà na, ni Ðà na, a ba Ðà na, y Ðế mục Ða già, xà
Ðà già, tỳ phật lược, a phù Ðà, Ðạt ma, ưu ba Ðề xá.
Người cần nghe những kinh ấy thì hư không Ðều phát âm
ứng Ðó. Người cần na la Ðẳng biến âm, người cần
xảo ngôn ngữ âm, người cần các thứ tạp âm, người cần
thậm thâm âm, người cần phương tiện thiển âm, trên không
Ðều phát âm ứng Ðó.
Người
cần Thanh Văn thừa Ðược Ðộ thì phát tiếng pháp Tứ Ðế
ứng Ðó, người cần Duyên Giác thừa Ðược Ðộ thì phát
tiếng pháp thậm thâm Thập nhị nhơn duyên ứng Ðó.
Người cần Đại thừa Ðược Ðộ thì hư không phát ra tiếng
pháp Lục Ba la mật tiếng pháp bất thối chuyển ứng Ðó.
Trong
hư không còn phát ra tiếng diệu kệ rằng :
Các
pháp tánh với hư không Ðồng
Nay
nói môn ấy Ðại chúng nghe
Như
hư không không cao không hạ
Không
cao hạ nên không thể tánh
Như
hư không vô sanh vô diệt
Không
sanh diệt nên tánh chẳng hư
Như
hư không không tăng không giảm
Không
tăng giảm nên Ðồng pháp tướng
Như
hư không không sáng không tối
Không
sáng tối tâm tánh cũng vậy
Như
mặt nhựt chiếu sáng hư không
Hư
không cũng không có vui mừng
Chẳng
chiếu sáng hư không chẳng buồn
Người
trí học Ðạo cũng như vậy
Như
mâu, tên Ðâm bắn hư không
Không
làm thương tổn hư không Ðược
Người
hành Ðạo tu tập quán không
Cũng
không gì làm tổn thương Ðược
Như
hư không Ðược nước nhuần thấm
Hư
không không hề có vui mừng
Người
trí Ðược khen Ðược lợi lộc
Vẫn
không mừng vui cũng như vậy
Như
hư không bị chê Ðược khen
Hư
không không hề có phân biệt
Người
trí bị chê hoặc Ðược khen
Không
có phân biệt cũng như vậy
Như
cả Ðại Ðịa Ðều rúng Ðộng
Hư
không không hề có Ðộng lay
Người
trí vô y vô sở Ðắc
Chẳng
Ðộng pháp tánh cũng như vậy
Như
hư không lửa chẳng cháy Ðược
Phiền
não chẳng cháy Ðược người trí
Như
hư không thường trụ chẳng hoại
Pháp
giới cũng thọ tất cả pháp
Như
hư không không có sắc thấy
Tâm
tánh vô tướng Ðồng hư không
Hư
không giả danh không hình mạo
Tâm
ý thức cũng là giả danh
Hư
không vô biên chẳng lấy Ðược
Thánh
trí vô biên Ðồng hư không
Như
chim bay không chẳng dấu vết
Hành
Bồ Ðề chẳng thấy Ðược hành
Thân
mất quá khứ Ðồng hư không
Hiện
tại ngũ ấm Ðồng hư không
Tứ
Ðại cũng vậy Ðồng hư không
Như
sau tam tai không tướng khác
Tất
cả chúng sanh không biết Ðủ
Phàm
phu ngũ dục không hề Ðầy
Người
có thánh trí biết các pháp
Biết
Ðủ chẳng cầu lìa tham trước
Hư
không rộng lớn không bờ mé
Phật
pháp rộng lớn cũng như vậy
Người
biết pháp tánh là Phật pháp
Chẳng
dựa lấy vật chẳng bỏ vật
Biết
vật chẳng vật trụ thiệt tế
Nơi
vật chẳng vật không hai tướng
Tiếng
rõ không không chẳng phải tiếng
Không
âm thanh gọi là hư không