THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
KINH ÐẠI BẢO TÍCH
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Xuất bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
Mục Lục
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9
LVI
PHÁP HỘI VÔ NGÔN BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI SÁU
(Hán bộ từ quyển 142 Ðến quyển 143)
Hán dịch: Tam tạng Ðàm Vô Sấm-Việt dịch: Tỳ  kheo Thích Trí Tịnh.
Trang 01
Trang 02
Trang 03

Như vậy tôi nghe đức Thế Tôn lúc ấy vẫn ở trong Ðại Bửu Phường Ðình giữa hai cõi Dục giới và Sắc giới, cùng hàng đại chúng vây quanh thuyết pháp.

Bấy giờ trong thành Vương Xá nhà của Sư Tử Tướng Quân sanh một con trai. Lúc trai ấy vừa sanh ra, trên hư không có đông chư Thiên nói rằng: “Nầy đồng tử! Phải nên niệm pháp, tư duy nơi pháp. Lúc phát ngôn chớ nói thế sự. Thường nên tuyên nói pháp xuất thế. Thường phải giữ miệng, cẩn thận lời nói, nói ít. Chớ sanh giác quán nơi thế sự. Phải y nơi nghĩa, chớ y văn tự”.

Lúc đồng tử nghe lời chư Thiên nói liền chẳng còn kêu khóc không có tướng trẻ nít, cho đến bảy ngày sắc mạo vui vẻ thấy người mừng rỡ mắt chưa từng nháy.

Có người bảo cha mẹ đồng tử rằng trẻ nầy bất tường chẳng nên nuôi dưỡng, tại sao, vì nó câm không hề lên tiếng vậy.

Cha mẹ đồng tử nói: “Con trai chúng tôi dầu câm chẳng phát ra tiếng, nhưng thân nó có đủ các tướng, hình thể không thiếu chỗ nào. Do đây nên biết trẻ nầy ắt có phước đức chẳng phải là người bất tường bạc phước”.

Nhơn vì trẻ ấy không phát ra tiếng nên đặt tên cho nó là Vô Ngôn.

Ðồng tử Vô Ngôn lần lần trưởng đại như trẻ lên tám, đi đến đâu đều được mọi người thích nhìn. Hễ chỗ nào có thuyết pháp chuyển pháp luân thì đồng tử Vô Ngôn đều thích đến nghe, mà miệng không hề nói.

Do thần lực của Phật, Vô Ngôn đồng tử cùng cha mẹ và quyến thuộc tôn thân đến Ðại Bửu Phường Ðình. Ðến nơi rồi thấy Phật, đồng tử lòng rất vui mừng lễ kính cúng dường hữu nhiễu ba vòng chắp tay đứng yên. Ðồng tử gồm thấy chư Bồ Tát từ mười phương đến lòng thêm mừng rỡ.

Tôn giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Ðồng tử con trai của nhà Sư Tử Tướng Quân thân căn đầy đủ mà chẳng nói được. Là do ác nghiệp nhơn duyên gì mà gây nên như vậy?”.

Ðức Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! nay ông chớ nên nói như vậy, chớ nên khing đồng tử nầy. Tại sao, vì đồng tử nầy là một vị đại Bồ Tát đã ở chỗ vô lượng vô biên chư Phật vun trồng thiện căn bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng Bồ Ðề. Lúc đồng tử nầy sanh ra, có nhiều chư Thiên đến bảo rằng: Lành thay đồng tử! Nên niệm chánh pháp nên tư duy chẳng pháp, chớ có tuyên nói sự việc thế gian, nên thường tuyên nghĩa xuất thế, thường phải giữ miệng, cẩn thận lời nói, ít nói, chớ có giác quán nơi thế sự. Nên y nơi nghĩa chớ y văn tự.

Nầy Xá Lợi Phất! Ðồng tử nầy tuân lời chư Thiên nên không nói mà yên lặng tư duy được Tứ thiền.

Nầy Xá Lợi Phất! Vô Ngôn Bồ Tát thị hiện thân như vậy thì có thể điều phục vô lượng chúng sanh nên yên lặng không nói.

Nầy Xá Lợi Phất! Nay Phật nói kinh Ðại Tập thậm thâm này, Vô Ngôn Bồ Tát có thể ở trong kinh điển nầy lợi ích lớn cho vô lượng chúng sanh”.

Lúc ấy Vô Ngôn Bồ Tát dùng sức nguyện của mình thần thông đạo lực của mình làm cho hàng Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đều riêng thấy  trong bàn tay hữu của mình có hoa sen lớn như vòng xe đầy đủ sắc hương tươi đẹp đệ nhứt được người thích thấy, trên mỗi hoa đài đều có một Bồ Tát ngồi kiết già đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân hình.

Hiện đại thần thông như vậy rồi, Vô Ngôn Bồ Tát chắp tay cúi đầu xướng rằng: Nam Mô Phật Ðà, nam mô Phật Ðà. Các Bồ Tát ngồi trên đài hoa sen cũng đồng xướng nam mô Phật Ðà, nam mô Phật Ðà.

Tiếng xướng ấy vừa dứt thì cả đại địa trong mười hằng hà sắc thế gian chấn động sáu cách. Chư Thiên trong hư không dùng các thứ hoa hương kỹ nhạc ccúng dường đức Phật.

Vô Ngôn Bồ Tát do Phật thần lực và nguyện lực của mình cùng chư Bồ Tát đồng vọt lên hư không cao bằng bảy cây đa lại hướng ngay về phía đức Phật mà nói kệ rằng:

Như Lai không sắc thị hiện sắc 
Cũng lại nơi sắc không nhiễm trước
Nếu có chúng sanh nhập Phật pháp 
Thế nào sẽ biết sắc chơn thiệt
Trong khối phi sắc có Như Lai
Cũng chẳng rời sắc có Như Lai 
Như Lai đã rời các sắc tướng
Vì thương chúng sanh mà hiện sắc 
Như Lai vì thương các chúng sanh 
Dùng các tướng hảo trang nghiêm sắc 
Thiệt không sắc tướng vì chúng nói 
Vì vậy Như Lai khó nghĩ bàn
Chánh pháp Như Lai không văn tự 
Rời văn tự rồi không có tiếng
Không có văn tự không nói được 
thậm thâm tịch tĩnh không giác quán
Như Phật ngày trước ở đạo thọ 
Giác ngộ các pháp cũng như vậy 
Pháp ấy không chữ không âm thanh
Cũng không tạo tác không nói được 
Các pháp như vậy không tướng mạo
Cũng vì xa lìa tất cả tướng 
Tất cả các pháp nếu vô tướng 
Như Lai thế nào mà diễn nói 
Như Lai đầy đủ đại từ bi 
Thế nên thương xót làm lợi ích 
Pháp chẳng nói được mà diễn nói 
Cũng biết chơn thiệt chẳng nói được 
Như Lai biết rõ chẳng nói được 
Cũng biết âm thanh tánh không tịch
Chơn thiệt biết rõ tất cả nghĩa
Vì vậy gọi Phật đấng Chánh Giác
Những pháp được nói gọi thế đế
Như Lai chơn thiệt biết rõ đó
Thế đế chẳng ngoài tánh có không 
Chẳng tạo tác được không thời kỳ
Chơn thiệt không có sắc tướng mạo
Vì chúng nên hiện các thứ sắc 
Biết pháp không pháp đấng Vô thượng 
Vì chúng sanh nên diễn nói pháp 
Lúc tôi sơ sanh được trời bảo
Vì vậy nín lặng không nói tăng
Chí tâm niệm pháp tư duy pháp 
Vì vậy chẳng thấy sắc và tiếng
Nếu được nhập vào thâm pháp giới 
Bấy giờ không có các sắc thanh
Nếu xa lìa được các tâm nghiệp 
Thì được xa lìa các khẩu nghiệp 
Không có ngôn thuyết tức là lời 
Dầu có ngôn thuyết cũng không lời 
Lời chẳng phải làm chẳng phải nói 
Vì bổn tánh ngôn ngữ tịch tĩnh
Nay tôi chí tâm niệm Bồ đề
Cũng lại chí tâm tu Bồ đề 
Nay tôi nói lời vô thượng nầy 
Quyết định sẽ được chơn thiệt đạo
Tâm tôi chẳng được đạo Bồ đề 
Khẩu và khẩu hành cũng chẳng được 
Vô thượng Bồ Ðề tức rỗng không 
Tánh ấy bổn lai thường tịch tĩnh
Như tánh Bồ đề thanh cũng vậy 
Chẳng thấy chẳng lấy pháp tánh vậy 
Như vậy thanh âm chẳng thấy được 
Bồ đề được cầu cũng như vậy 
Vì Bồ đề nên có tu hành
Hành ấy cũng không có chỗ đến 
Như vậy hành ấy không chỗ đến 
Nên chỗ Bồ đề chẳng phải chỗ
Sáu Ba la mật như Bồ đề 
Tất cả thiện pháp cũng như vậy 
Tất cả ngữ ngôn không ngữ ngôn
Trong không ngữ ngôn hay thuyết ngữ
Nếu có bố thí diệu âm thanh
Chủ bố thí ấy và tài vật
Bình đẳng bố thí tức Bồ đề 
Tất cả thảy đều bất khả thuyết
Nếu bố thí ấy miệng nói được 
Thể Bồ đề lẽ ra nói được 
Tánh thể Bồ đề như hư không 
Tất cả âm thanh cũng như vậy 
Nếu nơi tâm hay chơn thiệt biết 
Biết rồi hay tuyên thuyết âm thanh
Tùy biết thanh ấy diệt chỗ nào
Tức là Bồ đề chơn thiết tướng 
Nếu hay xa nghiệp than khẩu ý
Tất cả phiền não cũng lìa xa
Tức là tất cả Ba la mật
Là thiệt pháp tánh được Phật nói 
Bố thí chẳng ở trong Bồ đề 
Bồ đề chẳng ở trong bố thí 
Hai pháp như vậy tức âm thanh
Cũng không chỗ trụ không chỗ đến 
Nếu hay biết được như vậy thảy
Tức là chơn thiệt đại Bồ đề 
Nếu lúc bố thí chẳng kiêu mạn
Tức là thí chủ đại vô thượng
Hộ trì cấm giới tức là thanh
Không có hình sắc không chỗ đến 
Các pháp chẳng sanh cũng chẳng diệt
Tức là tướng trì giới vô thượng
Cấm giới như vậy không năng tác
Cũng lại không nghiệp thân khẩu ý
Chẳng sanh chẳng diệt chẳng tạo tác
Thế nào gọi được là cấm giới 
Vì lưu bố phát ra âm thanh
Chúng sanh đặt tên gọi cấm giới 
Biết các cấm giới thanh cũng vậy 
Hai pháp như vậy đều vô lậu
Vì được miện nói là cấm giới 
Nên nói các loại thứ trang nghiêm
Âm thanh cũng không các trang nghiêm
Chơn thiệt biết là vô sở hữu
Thân nghiệp khẩu nghiệp và tâm nghiệp 
Hay hồi giới nầy hướng Bồ đề 
Cấm giới âm thanh và Bồ đề 
Hai pháp như vậy như hư không 
Nếu hay chơn thiệt biết như vậy 
Người nầy thì hành chỗ giới hành
Thì hay đến được giới bỉ ngạn
Chỗ ấy thậm thâm khó thấy được 
Nói nhẫn âm thanh tức là không 
Tánh không không xứ không tạo tác
Nhẫn nhục với không là hai pháp 
Không có sai biệt như hư không 
Tiếng nhẫn nhục chẳng phải sắc tướng 
Chẳng nhìn thấy được không xứ sở
Nếu hay tướng tu tập tâm bình đẳng 
Tức là tướng nhẫn chơn thiệt vậy 
Nhẫn nhục dầu là niệm niệm diệt
Mà cùng sắc than thường đi chung
Tất cả văn tự đều vô lậu
Chúng sanh đạt tên gọi nhẫn nhục
Nếu hay điều phục than khẩu ý
Ðâu là nhẫn nhục tối vô thượng
Nêu hay nhẫn người nhẫn nhục 
Ðây cũng là nhẫn nhục vô thượng
Nếu có chúng sanh nghiền than mình
Lóng đốt nát nhỏ như hột mè 
Xem thân dường như gổ cỏ khô
Ðây thì gọi là thân nhẫn nhục 
Lúc nghe ác khẩu tiếng mắng chửi 
Tâm niệm chẳng động trụ đúng pháp 
Quán sát âm thanh như hư không 
Ðây là vô thượng khẩu nhẫn nhục 
Nếu hay thông đạt nhơn phiền não 
Xa lìa tất cả các phiền não 
Ðây thì gọi là tâm nhẫn nhục 
Chẳng bị phiền não làm nhiễm ô
Như nhẫn nhục là tánh Bồ đề 
Thân khẩu ý nghiệp cũng như vậy 
Nếy hay hồu nhẫn hướng Bồ đề 
Ðây thì gọi là được Bồ đề 
Nếu có chúng sanh siêng tinh tiến
Hoặc thượng trung hạ hoặc thô tế
Trong vô lượng kiếp tu tập đó
Vô sở đắc cũng vô cứu cánh
Nếu người tinh tiến vô sở đắc
Nên gọi Bồ đề vô sở đắc
Nếu hay chẳng được tất cả pháp 
Tức là vô thượng cần tinh tiến 
Nếu hay tinh tiến được như vậy 
Chẳng tăng chẳng giảm như hư không 
Như vậy tức là đại Bồ Tát 
Siêng hành tinh tiến vô sở úy
Tất cả các thiền không có họp
Không có tạo tác không chỗ đến 
Nếu hay tư duy tất cả pháp 
Tức là chơn thiền Ba la mật 
Xa lìa tất cả các ác sắc 
Ác thân ác khẩu cũng xa lìa
Hay tiêu tất cả các phiền não 
Tức là chơn thiền Ba la mật
Nếu hay quán tâm chơn thiệt tánh
Trong tất cả pháp cũng chẳng thấy
Nếu hay vô tâm xa rời tâm
Tức là chơn thiền Ba la mật
Nếu hay quán tâm và Bồ đề 
Tức là vô thượng chơn thiệt thấy
Nếu hay như vậy chơn thiệt thấy
Chứng được Bồ đề chẳng khó khăn
Nếu hay thấy biết không văn tự 
Tất cả các pháp không sanh diệt 
Nếu người xem thấy được như vậy 
Ðây thì gọi là đại trí huệ 
Dầu là miệng nói đại trí huệ 
Trí huệ cũng chẳng ở miệng tiếng
Nếu biết miệng tiếng thiệt không tiếng
Tức là chơn tánh của trí huệ 
Nếu pháp không trụ đây trụ kia
Trung gian cũng lại không chỗ trụ
Tất cả pháp tánh không chỗ trụ
Ðây là vô thượng đại trí huệ 
Không có văn tự không có hành
Không có tướng mạo không có tánh
Không có hai tướng thủ xả thảy
Ðây gọi vô thượng đại trí huệ 
Nếu quán tất cả Ba la mật
Tánh nó bình đẳng như hư không 
Ðây thì gọi là không bình đẳng 
Hay quán tất cả pháp bình đẳng 
Nếu hay bình đẳng tất cả pháp 
Cũng hay quán chúng sanh bình đẳng 
Ðều hay bình đẳng quán chư Phật 
Trí huệ được đó không bình đẳng 
Nếu chư Bồ Tát người có trí
Hay quán pháp vô đẳng như vậy 
Thì được Vô thượng Bồ Ðề quả
Cũng như Tiên Phật đã chứng được.

Lúc Vô Ngôn Bồ Tát nói kệ ấy, có một vạn hai ngàn nhẫn nhục do tha chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, sáu vạn Bồ Tát được Vô sanh nhẫn.

Chư Bồ Tát trong hoa đài đều đứng dậy đầu mặt lễ Phật, rồi dùng diệu liên hoa cung kính cúng dường lên Vô Ngôn Bồ Tát miệng tuyên lời rằng: “Tôi là người biết ơn, nay đây tôi báo ơn”.

Tôn giả Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Có nhơn duyên gì mà Bồ Tát nầy nói: Tôi là người biết ơn nay tôi báo ơn?”.

Ðức Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Chư Bồ Tát nầy đều nhơn nơi Vô Ngôn Bồ Tát mà phát Bồ đề tâm, vì vậy nên đồng lên tiếng nói: Tôi là người biết ơn, nay tôi báo ơn.

Nay chư Bồ Tát ấy lại nhơn nơi Vô Ngôn Bồ Tát mà được nghe thọ kinh điển Ðại Tập thậm thâm nầy gồm đến đây thân cận nhìn thấy cúng dường nơi ta”.

Vô Ngôn Bồ Tát bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi có chỗ nghi nay muốn thưa hỏi. Ngưỡng mong đức Như Lai thương xót hứa cho”.

Ðức Phật nói: “Nầy Vô Ngôn! Tùy ý ông hỏi, Phật sẽ vì ông mà nói”.

Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Vô Ngôn Bồ Tát: “Thưa Ðại Sĩ! Nếu không có ngôn ngữ sao lại hỏi được?”.

Vô Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Tất cả các pháp thảy đều vô ngôn tự vô thuyết, tại sao, vì tất cả chúng sanh tánh vô ngôn vậy. Do nơi giác quán mà có âm thanh phát ra, nếu không có giác quán thì làm sao có âm thanh làm sao nói được làm sao có văn tự.

Thưa Ðại Ðức! Luận về trong giác quán không văn tự không ngôn thuyết, lìa rời giác quán cũng không có âm thanh văn tự, thể của giác quán tức chẳng phải giác quán. Tôi làm văn tự cũng chẳng giác quán. 

Tôi nhơn nơi giác quán mà có công đức lớn. Nếu hay quán thâm pháp như vậy thì gọi là thập nhị nhơn duyên. Nếu pháp từ duyên sanh tức là rỗng không tịch tĩnh thì không có tướng nhứt định. Nếu có chơn thiệt biết như vậy tức là chơn thiệt biết rõ pháp tánh.

Thưa Ðại Ðức! Các pháp đều từ nhơn duyên hòa hiệp. Mà trong hòa hiệp thiệt không có tác giả không có sanh không có xuất. Vì vậy mà các pháp không có chủ không có âm không có thanh không có tâm không có giác quán chẳng phải không giác quán. Tại sao, vì điên đảo nhơn duyên mà có sanh có diệt. Vì vậy nên nếu có hỏi có nghe có giải nói đều chẳng hiệp chẳng tan là nhứt tướng là vô tướng.

Thưa Ðại Ðức! Luận về vấn nạn gạn hỏi đó tức là đại biết. Tôi có đại biết nên tôi hỏi Phật. Hỏi như vậy tức là biết vấn chẳng phải là khẩu vấn. Luận về khẩu vấn là Thanh văn vấn. Thanh Văn thủ trước nơi thanh nên gọi là Thanh Văn. Bồ Tát thì biết rộng khắp nên không có khẩu vấn”.

Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Nếu tất cả pháp tánh vô định thì tất cả chúng sanh tánh vô định, nếu là vô định thì Bồ Tát vì ai mà tu tâm bi?”.

Vô Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Nếu các chúng sanh có tánh nhứt định thì tất cả Bồ Tát trọn chẳng tu tâm bi. Tất cả chúng sanh thiệt chẳng phải chúng sanh, vì điên đảo mà quan niệm chúng sanh, vì vậy mà Bồ Tát tu tập tâm bi, vì phá hoại điên đảo nên tuyên nói không có ngã.

Thưa Ðại Ðức! Chư đại Bồ Tát chẳng vì phá hoại các cõi mà nói chánh pháp, chẳng vì phá hoại ngã thọ mạng sĩ phu mà tu từ bi tuyên nói chánh pháp, vì biết chơn thiệt thâm pháp giới mả tuyên nói chánh pháp. Chơn pháp giới đó là không tam muội vô tướng vô nguyện.

Tôn giả Xá Lợi Phất nói: “Lành thay, lành thay, thưa Ðại Sĩ! Tôi cũng chơn thiệt biết rõ như vậy, sở dĩ tôi hỏi là muốn thử trí của Ðại Sĩ. Vì muốn Phật pháp tăng trưởng nên hỏi, vì muốn lợi ích chúng sanh nên hỏI”.

Vô Ngôn Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như trong khế kinh nói có hai nhơn duyên có thể sanh chánh kiến, đó là nghe tiếng và khéo tư duy. Ngưỡng mong thương xót vì chư Bồ Tát mà diễn nói đó. Thế nào là nghe tiếng và khéo suy nghĩ có thể sanh chánh kiến?

Ðức Phật nói: “Nầy Vô Ngôn! Chí tâm lắng nghe Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.

Nầy Vô Ngôn! Vì tâm Bồ đề ,ma nghe pháp tức là nghe tiếng, chí tâm nghĩ nhớ tâm Bồ đề đó là khéo tư duy, quán tâm Bồ đề đó là chánh kiến.

Còn nữa, nầy Vô Ngôn! Vì Bồ đề đạo mà nghe pháp đó là nghe tiếng, chẳng xa lìa đạo là khéo tư duy, như pháp mà trụ là chánh kiến. Vì điều phục tâm mà nghe pháp là nghe tiếng, xa lìa ác tâm là khéo tư duy, được thiện tâm là chánh kiến. Vì trang nghiêm thiện pháp mà nghe pháp đó là nghe tiếng, tu tập trang nghiêm là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề đó là chánh kiến. Ví nghe pháp bố thí đó là nghe tiếng, có thể xả bỏ tất cả là khéo tư duy, chẳng cầu quả báo thì gọi là chánh kiến. Vì nghe các cấm giới đó là nghe tiếng, chí tâm hộ giới đó là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Vì nghe pháp nhẫn gọi là nghe tiếng, bị đánh mắng chẳng báo trả gọi là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Vì nghe tinh tiến gọi là nghe tiếng, phá hoại giải đãi gọi là khéo tư duy, nguyện hướng Bồ đề gọi là chánh kiến. Vì nghe tam muội gọi là nghe tiếng, hay tịnh thân tâm là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Vì nghe các trí huệ là nghe tiếng, nghe rồi chánh quán gọi là khéo tư duy, nguyện đến 

Bồ đề gọi là chánh kiến. Ví nghe Tứ nhiếp pháp gọi là nghe tiếng, nhiếp thủ chúng sanh gọi là khéo tư duy, biết rõ pháp nhiếp thủ ấy không có thủ không có tác rỗng không không sở hữu đây gọi là chánh kiến. 

Vì nghe pháp Ngũ thông gọi là nghe tiếng, được thân tâm nhẹ gọi là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Nghe Tứ vô ngại gọi là nghe tiếng, tu tập Tứ vô ngại là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Vì nghe pháp Tứ y gọi là nghe tiếng, siêng tu Tứ y gọi là nghe tiếng, siêng tu Tứ y gọi là khéo tư duy, nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến. Nghe Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là nghe tiếng, diễn nói bốn niệm là Tứ niệm xứ, nói về bỏ lìa là Tứ chánh cần, nói về các môn định là Tứ như ý túc, nói vô sở úy là Ngũ căn, nói không hư hoại được là Ngũ lực, nói lìa phiền não là Thất giác phần, nói chơn thiệt biết pháp là Bát chánh đạo, đây gọi là khéo tư duy, chẳng thủ trước đoạn thường đem đạo như vậy nguyện đến Bồ đề đây gọi là chánh kiến. Nghe pháp Tứ đế gọi là nghe tiếng, biết Khổ lìa 

Tập chứng Diệt tu Ðạo gọi là khéo tư duy, thấy những pháp như vậy bất sanh bất diệt gọi là chánhững kiến. Vì nghe Ba môn giải thoát gọi là nghe tiếng, tin không tam muội chẳng sợ vô tướng chẳng nghi vô nguyện là khéo tư duy, đem pháp như vậy nguyện đến Bồ đề gọi là chánh kiến.

Tu không tam muội điều tâm thấy rõ, tu tập vô tướng để trừ giác quán, tu tập Vô nguyện vì cầu các cõi đây gọi là chánh kiến.

Nghe pháp phát tâm gọi là nghe tiếng, tu tập đạo Bồ đề là khéo tư duy, tâm Bồ đề bất thối là chánh kiến.

Ðược thiện tri thức gọi là nghe tiếng, cúng dường thân cận gọi là khéo tư duy, thọ lãnh lời dạy bảo gọi là chánh kiến.

Nghe pháp giới gọi là nghe tiếng, quán pháp giới là khéo tư duy, như pháp mà trụ là chánh kiến.

Thấy Phật Thế Tôn gọi là nghe tiếng, nhớ chư Bồ Tát là khéo tư duy, được đạo cứu cánh gọi là chánh kiến.

Mới đầu nghe tám vạn bốn ngàn pháp môn gọi là nghe tiếng, quán các chúng sanh hánh xứ như vậy gọi là khéo tư duy, điều phục tám vạn bốn ngàn các căn gọi là chánh kiến.

Nầy Vô Ngôn! Tùy theo nhơn duyên gì mà có thể sanh được thiện pháp thì gọi là nghe tiếng. Nghe rồi chẳng rời các thiện nhơn duyên gọi là khéo tư duy. Ðem pháp như vậy nguyện đến Bồ đề thì gọi là chánh kiến.

Nầy Vô Ngôn! Hai pháp như vậy không có sai biệt, đó là khéo tư duy và chánh kiến. Tại sao, vì tất cả pháp bình đẳng vô nhị là khéo tư duy, hay quán bình đẳng là chánh kiến vậy. Không tăng giảm tức là chánh kiến. Không thủ xả tức là chánh kiến. Không có tác và tác giả tức là chánh kiến. Không có giác quán tức là chánh kiến. Không có niệm và niệm xứ tức là chánh kiến, không có tạo tác không có tư duy tức là chánh kiến. Không có nhứt không có nhị tức là chánh kiến. Một môn một vị một thừa một hạnh, tánh ấy là một không có các phiền não kiêu mạn v.v…, các kiết sử, không nghe không nói, không cấu không tịnh, tánh pháp giới chẳng phân biệt được, như như bất động, tam thế bình đẳng, không có ngã ngã sở, không có nhơn thọ mạng chúng sanh, không có văn tự không có âm thanh, không thể tuyên nói, chẳng biết chẳng thấy, trong tất cả pháp được tâm tri túc, xa lìa các tướng dạng, dứt tất cả hỉ lạc giác quán y chỉ, nhẫn đến tán than Phật mà chẳng có quan niệm là Phật. lúc nhập định quán pháp giới thậm thâm như vậy thì gọi là khéo tư duy. Từ định dậy vì các chúng sanh mà diễn nói pháp giới thậm thâm như vậy thì gọi là chánh kiến”.
 
 

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx