LXI
PHÁP HỘI VÔ TẬN
Ý BỒ TÁT
THỨ SÁU MƯƠI MỐT
Hán
dịch: Lưu Tống, Sa Môn Trí Nghiêm và Bửu Vân
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Lại nầy
Tôn giả! Trong vô tận thanh tịnh giới của Bồ Tát không
có dựa dính. Đó là phá tất cả tướng ngã, nhơn, chúng
sanh, thọ mạng, sĩ phu, dưỡng dục, sắc, thọ, tưởng, hành,
thức, địa, thuỷ, hoả, phong.
Trong tịnh
giới ấy không có tướng nhãn sắc, nhĩ thanh, tỷ hương,
thiệt vị, thân xúc, ý pháp, cũng không có thân tâm vì định
hướng của giới ấy hẳn chẳng cùng chung vậy. Vì phân biệt
tướng của giới ấy phương tiện duyên của tất cả các
pháp vậy. Vì không tướng của giới ấy được vô tướng
tế chẳng xen tạp tam giới vậy. Giới ấy bất tác vì Vô
sanh nhẫn vậy. Trong tịnh giới ấy không có đã làm sẽ làm
đang làm. Tịnh giới ấy quá khứ chẳng diệt vị lai chẳng
đến hiện tại chẳng dừng ở.
Lại nầy
Tôn giả! Trong tịnh giới ấy tâm tịnh vô cấu, thức chẳng
dừng ở và tư duy chẳng thân cận. Tịnh giới ấy chẳng
dựa Dục giới, chẳng gần Sắc giới, chẳng ở Vô Sắc giới.
Tịnh giới ấy bỏ lìa dục trần trừ sân ngại diệt vô
minh chướng. Tịnh giới ấy chẳng đoạn chẳng thường chẳng
nghịch nhơn duyên. Tịnh giới ấy không có ngã tướng bỏ
ngã sở tướng chẳng ở thân kiến. Tịnh giới ấy chẳng
lấy giả danh chẳng ở sắc tướng chẳng tạp danh sắc. Tịnh
giới ấy chẳng hệ thuộc nơi nhơn chẳng khởi kiến chấp
chẳng ở nghi hối. Tịnh giới ấy không có tham sân si không
tham trước thiện căn. Tịnh giới ấy chẳng não chẳng nhiệt
tịch diệt ly tướng. Tịnh giới ấy chẳng đoạn dứt Phật
chủng vì cầu chánh pháp vậy, chẳng đoạn dứt pháp chủng
vì chẳng phân biệt pháp tánh vậy, chẳng đoạn dứt Tăng
chủng vì tu vô vi vậy.
Thưa Tôn
giả! Người trì tịnh giới tương tục chẳng đoạn dứt
nên vô tận. Tại sao vậy?
Vì phàm
phu giới tại thân thọ sanh nên có tận. Trong loài người
thập thiện tận nên có tận. Chư Thiên cõi Dục phước báu
công đức tận nên có tận. Chư Thiên cõi Sắc các thiền
vô lượng tâm tận nên có tận. Chư Thiên cõi Vô Sắc định
được nhập tận nên có tận. Ngoại đạo tiên nhơn có những
giới cấm thối thất thần thông tận nên có tận. Tất cả
Thanh Văn học vô học giới nhập Niết bàn tế tận nên có
tận. Bích Chi Phật giới không có tâm đại bi tận nên có
tận.
Bồ Tát
tịnh giới không có tận. Tại sao? Trong tịnh giới ấy xuất
sanh tất cả giới, như giống vô tận nên quả cũng vô tận.
Vì Bồ Tát chủng ấy chẳng thể cùng tận nên Như Lai giới
cấm cũng chẳng thể cùng tận. Vì vậy nên tịnh giới được
chư Đại Sĩ thọ trì đều chẳng thể cùng tận được.
Đây gọi
là đại Bồ Tát tu trì tịnh giới mà chẳng cùng tận được”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói với Vô Tận Ý Bồ Tát: “Lành thay lành
thay, Đại Sĩ đã nói tốt về Thi la Ba la mật chẳng thể
cùng tận được của đại Bồ Tát. Duy nguyện Đại Sĩ nói
về Sằn đề Ba la mật chẳng thể cùng tận được của chư
đại Bồ Tát”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Thưa Tôn giả! Bồ Tát có đủ ba mươi hai
sự tu hành nhẫn nhục cũng chẳng thể cùng tận được.
Những gì
là ba mươi hai sự?
Vì đoạn
dứt các kiết sử nên biết là nhẫn. Vì chẳng sanh hại nên
biết là nhẫn. Vì không có triền phược nên biết là nhẫn.
Vì không có não nên biết là nhẫn. Vì không có trùm che nên
biết là nhẫn. Vì không có sân nên biết là nhẫn. Vì không
có tức giận tranh cãi nên biết là nhẫn. Vì không có đấu
tụng nên biết là nhẫn. Vì nơi các trần giới tâm không
có sai khác nên biết là nhẫn. Vì thủ hộ mình và người
nên biết là nhẫn. Vì thuận tâm Bồ đề nên biết là nhẫn.
Vì khéo tư duy nên biết là nhẫn. Vì không có hai tưởng nên
biết là nhẫn. Vì biết nghiệp báo nên biết là nhẫn. Vì
trang nghiêm thân nên biết là nhẫn. Vì miệng nói lời thanh
tịnh nên biết là nhẫn. Vì tâm thanh tịnh nên biết là nhẫn.
Vì tâm vững chắc nên biết là nhẫn. Vì ngôn ngữ tự tại
nên biết là nhẫn. Vì nhớ biết nên biết là nhẫn. Vì khéo
phân biệt tâm nên biết là nhẫn. Vì thủ hộ tâm người
nên biết là nhẫn. Vì tu Phạm Thế hạnh nên biết là nhẫn.
Vì thọ báo nhơn thiên nên biết là nhẫn. Vì thân tướng
thù thắng nên biết là nhẫn. Vì đủ phạm âm vi diệu nên
biết là nhẫn. Vì trừ các lỗi tội nên biết là nhẫn. Vì
dứt các cấu uế nên biết là nhẫn. Vì dứt tất cả bất
thiện căn nên biết là nhẫn. Vì giết các giặc kiết sử
nên biết là nhẫn. Vì nơi sự não hại chúng sanh đều được
siêu việt nên biết là nhẫn. Vì đầy đủ tất cả Phật
pháp nên biết là nhẫn.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành ba mươi hai sự nhẫn nhục mà chẳng thể
cùng tận được.
Thưa Tôn
giả! Thế nào là nhẫn? Nếu bị người mắng nín lặng thọ
chẳng báo, vì khéo biết âm thanh như tiếng vang vậy. Bị
người quở trách nín lặng thọ đó vì khéo biết thân tướng
như ảnh tượng vậy. Bị người giận lòng chẳng hờn vì
khéo biết tâm tướng như ảo huyễn vậy. Bị giận tức chẳng
báo vì tâm không tức vậy. Nghe được xưng danh tâm không
ái trước vì chẳng tự cao vậy. Nghe chẳng xưng danh tâm cũng
không ngại vì công đức đầy đủ vậy. Nếu gặp vinh lợi
tâm chẳng vui mừng vì khéo tự điều phục vậy. Nếu gặp
suy hao tâm không quái ngại vì tâm tịch diệt vậy. Được
người khen tâm chăng kinh động vì khéo biết phân biệt vậy.
Bị người chê tâm không rút mất vì tâm quảng đại vậy.
Bị người khi dễ tâm không hạ vì khéo an trụ vậy. Được
tôn trọng tâm không cao vì chẳng khuynh động vậy. Gặp sự
vui tâm chẳng hoan dật vì biết pháp hữu vi là tướng vô
thường vậy. Nếu gặp sự khổ tâm không chán mỏi vì chúng
sanh vậy. Thế pháp chẳng nhiễm vì chẳng y chỉ vậy. Nhẫn
thọ các khổ thấy kẻ bị nguy bức đem thân thay họ. Nhẫn
chịu tay chưn bị chặt gãy vì đầy đủ giác chi vậy. Các
khổ hại thân đều có thể nhẫn thọ vì đầy đủ tướng
thân Phật vậy. Nhẫn tội lỗi của người vì khéo làm nghiệp
lực vậy. Thị hiện đốt nóng tu các khổ hạnh vì hàng phục
ngoại đạo vậy. Thị hiện vào ngũ đạo vì vượt quá Thích,
Phạm, Tứ Vương và chư Thiên vậy.
Đây gọi
là Bồ Tát nhẫn nhục vậy.
Lại cứu
cánh nhẫn ấy không có tranh tụng. Tại sao? Nếu thấy người
mắng mà ta hay nhẫn, là thấy có hai tướng, chẳng phải cứu
cánh nhẫn. Nếu nói ai mắng ta, nhẫn nhục như vậy là pháp
công đức, chẳng phải cứu cánh nhẫn. Hoặc là mắng nhãn
ư, mắng nhĩ ư, mắng tỷ ư, mắng thiệt ư, mắng thân ư,
mắng ý ư? Nhẫn như vậy là quán tướng lục nhập chẳng
phải cứu cánh nhẫn. Nếu không người mắng, nhẫn nhục
như vậy là quán vô ngã, chẳng phải cứu cánh.Nếu biết
giả danh, nhẫn như vậy là quán tướng mắng chẳng phải
cứu cánh nhẫn. Người và ta đều là vô thường, nhẫn như
vậy là quán vô thường, chẳng phải cứu cánh nhẫn. Họ
điên đảo ta chẳng điên đảo, nhẫn như vậy là quán cao
hạ, chẳng phải cứu cánh nhẫn. Họ chẳng siêng tu ta siêng
tu, nhẫn như vậy là quán siêng lười, chẳng phải cứu cánh
nhẫn. Họ ở ác đạo ta ở thiện đạo, nhẫn như vậy là
quán thiện ác, chẳng phải cứu cánh nhẫn. Ta nhẫn vô thường
chẳng nhẫn có thường, ta hay nhẫn khổ chẳng thọ các lạc,
ta nhẫn vô ngã chẳng nhẫn hữu ngã, ta nhẫn bất tịnh chẳng
nhẫn có tịnh, nhẫn như vậy là quán có đối đãi, chẳng
phải cứu cánh nhẫn. Ta nhẫn nơi rỗng không chẳng nhẫn
các kiến, ta nhẫn vô tướng chẳng nhẫn các giác quán, ta
nhẫn vô nguyện chẳng nhẫn nơi nguyện, ta nhẫn vô tác chẳng
nhẫn có tác, ta nhẫn kiết sử hết chẳng nhẫn kiết sử
còn, ta nhẫn pháp thiện chẳng nhẫn pháp bất thiện, ta nhẫn
xuất thế chẳng nhẫn tại thế, ta nhẫn vô tranh chẳng nhẫn
có tranh, ta nhẫn vô lậu chẳng nhẫn có lậu, ta nhẫn bạch
pháp chẳng nhẫn hắc pháp, ta nhẫn tịch diệt chẳng nhẫn
sanh tử, nhẫn như vậy là quán tương đối, chẳng phải cứu
cánh nhẫn.
Thế nào
gọi là cứu cánh nhẫn?
Nếu nhập
không tịch chẳng cùng các kiến chấp hoà hiệp, chẳng dựa
lấy không, các kiến ấy cũng là rỗng không. Nhẫn như vậy
là không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu nhập
vô tướng chẳng cùng các giác hoà hiệp, chẳng dựa lấy
vô tướng, các giác ấy đều rỗng không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu nhập
vô nguyện, chẳng cùng nguyện hoà hiệp, chẳng dựa lấy vô
nguyện, các nguyện ấy đều rỗng không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập vô tác chẳng cùng các tác hoà hiệp, chẳng dựa nơi
vô tác, các tác ấy đều không. Nhẫn như vậy là không có
hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu nhập
tận kiết chẳng cùng các kiết hoà hiệp, chẳng dựa nơi
tận kiết, các kiết ấy cũng đều không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu nhập
nên thiện chẳng cùng bất thiện hoà hiệp, chẳng dựa nơi
thiện, các bất thiện cũng đều rỗng không. Nhẫn như vậy
là không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập xuất thế chẳng cùng thế hoà hiệp, chẳng dựa xuất
thế, các thế ấy cũng đều rỗng không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập vô tranh chẳng cùng tranh hoà hiệp, chẳng dựa vô tranh
các tranh ấy cũng đều rỗng không. Nhẫn như vậy là không
có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập vô lậu chẳng cùng lậu hoà hiệp, chẳng dựa vô lậu
các lậu ấy cũng đều rỗng không. Nhẫn như vậy là không
có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập bạch pháp chẳng cùng hắc pháp hoà hiệp, chẳng dựa
bạch pháp các hắc pháp đều rỗng không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
nhập tịch diệt chẳng cùng sanh tử hoà hiệp, chẳng dựa
tịch diệt sanh tử cũng đều rỗng không. Nhẫn như vậy là
không có hai tướng, là cứu cánh nhẫn.
Nếu
tánh chẳng tự sanh chẳng cùng tha sanh chẳng hoà hiệp sanh,
cũng không có xuất, chẳng thể phá hoại, chẳng thể phá
hoại ấy là chẳng thể tận, Nhẫn như vậy là cứu cánh
nhẫn.
Không có
tác không có chẳng tác, không chỗ dựa lấy, không có phân
biệt, không có trang nghiêm, không có tu trị, không có phát
tiến, trọn chẳng tạo sanh, nếu vô sanh ấy là chẳng thể
tận, nhẫn như vậy là Vô sanh nhẫn, Vô sanh nhẫn ấy là
vô xuất nhẫn, vô xuất nhẫn ấy là cứu cánh nhẫn.
Bồ Tát
tu hành cứu cánh nhẫn như vậy được thọ ký nhẫn.
Đây gọi
là Bồ Tát hành nhẫn vô tận vậy”.
Lúc nói
pháp ấy, tất cả đại chúng khen Vô Tận Ý Bồ Tát rằng:
“Lành thay lành thay! Vô Tận Ý nói các nhẫn rất hay!”.
Đại chúng
nói lời khen ngợi xong liền mưa các thứ hoa ít có và hương
bột, hương xoa, vô số y phục đẹp, tràng phan, lọng báu
để dâng cúng dường Vô Tận Ý đại Bồ Tát.
Trăm ngàn
kỹ nhạc ở trên không tự nhiên phát thanh, nói rằng: “Nếu
có các chúng sanh muốn được Như Lai thậm thâm nhẫn ấy,
nghe lời nói ấy chẳng nên kinh sợ”.
Lúc bấy
giờ các hương hoa, tạp y, phan lọng đầy khắp cả tam Thiên
Đại Thiên thế giới.
Đức Phật
bảo Vô Tận Ý Bồ Tát rằng: “Nầy Vô Tận Ý! Các vật
hoa hương ngươi được cúng dường ấy, người tự tìm khí
cụ đựng lấy trừ sạch hết đi”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Vâng, bạch đức Thế Tôn! Nay tôi sẽ dùng
thần thông chính thân mình làm đồ đựng”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát liền nhập Bồ Tát sắc thân tam muội, nhập tam
muội rồi bao nhiêu vật cúng dường đều nhập hết vào trong
rún, thân thể như cũ chẳng tăng chẳng giảm.
Trong đại
chúng có một Bồ Tát tên là Đại Trang Nghiêm hỏi Vô Tận
Ý Bồ Tát rằng: “Bạch Đại Sĩ! Tam muội Ngài nhập ấy
tên là gì mà Ngài nhập rồi tất cả món vật cúng dường
đều nhập vào thân, thân Ngài như cũ không có tăng giảm?”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Bạch Đại Sĩ! Tam muội ấy tên là Nhứt
thiết sắc thân tam muội”.
Đại Trang
Nghiêm Bồ Tát hỏi: “Bạch Đại Sĩ! Tam muội ấy chừng
còn có thế lực khác chăng?”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Bạch Đại Sĩ! Thế lực tam muội ấy có
thể làm cho thân thể thọ nhận hết cả tam thiên Đại Thiên
thế giới có bao nhiêu những sắc tướng, thân thể như cũ
cũng không có tăng giảm”.
Trong đại
chúng có hàng nhơn thiên suy nghĩ rằng: Chừng có thể thấy
được thế lực của tam muội ấy chăng?
Đức Phật
biết tâm niệm của đại chúng bèn bảo Vô Tận Ý Bồ Tát
rằng: “Nầy Vô Tận Ý! Ông nên thị hiện thần lực của
tam muội ấy”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát từ lâu đã thông đạt tam muội ấy, vì vậy nên
có thể đem tất cả đại chúng, chư Bồ Tát từ mười phương
đến hội cùng Phật và Thánh Tăng đều nạp vào trong thân
mình. Thân ấy lúc bấy giờ dường như thế giới Đại Bửu
Trang Nghiêm thọ tất cả các sự trang nghiêm của đại Bồ
Tát. Đại chúng đều tự thấy thân mình ở trong thân của
Vô Tận Ý Bồ Tát.
Vô Tận
Ý Bồ Tát thị hiện đại thần thông như vậy rồi đại
chúng đều huờn lại như cũ.
Đại Trang
Nghiêm Bồ Tát hỏi Vô Tận Ý Bồ Tát rằng: “Bạch Đại
Sĩ! Từ trước tới nay tôi chưa từng được thấy nghe thần
thông biến hoá của tam muội ấy”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Bạch Đại Sĩ! Giả sử trọn cả tam thiên
Đại Thiên thế giới nhập cả vào thân tôi còn không có
tăng giảm huống là chỉ có nơi đại hội nầy”.
Lúc nói
vô tận nhẫn nhục và thị hiện thần thông biến hoá ấy,
có bảy mươi sáu na do tha chư thiên và thế nhơn phát tâm
Vô thượng Bồ đề, một vạn hai ngàn đại Bồ Tát được
Vô sanh pháp nhẫn.
Bấy giờ
Tôn giả Xá Lợi Phất nói với Vô Tận Ý Bồ Tát rằng: “Bạch
Đại Sĩ! Lành thay lành thay, Ngài đã nói rất tốt về Nhẫn
nhục Ba la mật chẳng thể tận rồi, duy nguyện Ngài nói về
Tinh tiến Ba la mật vô tận của Bồ Tát được”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Thưa Tôn giả! Bồ Tát có đủ tám sự hành
tinh tiến chẳng thể tận.
Những gì
là tám sự?
Phát đại
trang nghiêm không có tận. Tích tập dũng tiến không có tận.
Tu hành các thiện pháp không có tận. Giáo hoá chúng sanh
không có tận. Trợ đạo công đức không có tận. Trợ vô
thượng trí không có tận. Trợ vô thượng huệ không có tận.
Họp trợ Phật pháp mà chẳng thể tận.
Thế nào
là Bồ Tát trang nghiêm vô tận?
Bồ Tát
nơi các sanh tử tâm không mỏi mệt, chẳng tính kiếp số
sẽ thành Phật đạo, còn bao nhiêu kiếp mà làm trang nghiêm,
còn bao nhiêu kiếp chẳng làm trang nghiêm. Bồ Tát trang nghiêm
trải qua kiếp số chẳng thể kể tính.
Như từ
ngày hôm nay đến sanh tử vốn là một ngày một đêm. Ba mười
ngày như vậy là một tháng, mười hai tháng là một năm. Ở
trăm ngàn muôn năm ấy một lần phát đạo tâm, một lần
thấy Phật. Phát tâm và thấy Phật như vậy số đến bằng
số cát sông Hằng. Ở bên ngần ấy số chư Phật như vậy
mới biết được tâm hành của một chúng sanh. Như vậy cho
đến biết khắp tâm sở hành của tất cả chúng sanh mà vẫn
chẳng thối thất trang nghiêm.
Đây gọi
là trang nghiêm chẳng giải đãi, gọi là vô tận trang nghiêm.
Trải qua
số lần thấy Phật phát tâm như vậy, lúc biết tâm sở hành
của chúng sanh kia thường tu đầy đủ Đàn Ba la mật, Thi
Ba la mật, Sằn đề Ba la mật, Tý lê gia Ba la mật, Thiền
Ba la mật và Bát Nhã Ba la mật, cũng tu đầy đủ pháp trợ
Bồ đề, đầy đủ tu tướng hảo Thập lực, Vô uý, pháp
Bất cộng, tu đầy đủ tất cả Phật pháp.
Đây gọi
là trang nghiêm chẳng giải đãi, gọi là vô tận trang nghiêm.
Nếu có
Bồ Tát nghe lời nầy mà chẳng kinh chẳng bố chẳng uý, nên
biết Bồ Tát ấy tinh tiến chẳng giải đãi.
Đây gọi
là Bồ Tát trang nghiêm vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát dũng tiến vô tận?
Giả sử
cả tam thiên Đại Thiên thế giới có lửa mạnh đầy trong
ấy, phải đi ngang qua lửa mạnh ấy để thấy Phật, hoặc
vì nghe pháp giáo hoá chúng sanh đặt để chúng sanh nơi thiện
pháp cũng phải đi ngang qua lửa mạnh ấy, Bồ Tát vẫn làm
không thối thất.
Đây gọi
là Bồ Tát dũng tiến vô tận.
Duyên cớ
gì mà gọi là dũng tiến?
Vì thường
vì kẻ khác vậy, vì tịnh kẻ khác vậy, vì điều phục kẻ
khác vậy, vì diệt tận cho kẻ khác vậy, mà thường chẳng
giải đãi chậm trễ vẫn vững chắc chẳng thối thất, tâm
luôn ở trong đại bi thường siêng cần tinh tiến mà vì chúng
sanh nên gọi là dũng tiến.
Mỗi bước
đi Bồ Tát luôn chế ngự tâm mình đều hướng đến Bồ
đề, thường quán sát chúng sanh để hoá độ, dầu quán sát
như vậy mà chẳng hề khởi phiền não.
Đây gọi
là Bồ Tát dũng tiến vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát tu tập vô tận?
Như tất
cả thiện tâm đã được phát khởi thường nguyện Bồ đề,
đây gọi là Bồ Tát tu tập vô tận. Tại sao vậy? Vì đem
các thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề không có cùng
tận vậy.
Thưa Tôn
giả! Ví như trời mưa một giọt nước rơi vào trong đại
hải, giọt nước mưa ấy dầu nhỏ mà trọn không hề diệt
tận. Bồ Tát thiện căn nguyện hướng Bồ đề không có diệt
tận cũng như vậy.
Tu tập thiện
căn ấy, đó là chánh hồi hướng tu tập thiện căn, vì thủ
hộ chúng sanh tu tập thiện căn, vì tuỳ theo chỗ cần dùng
của chúng sanh mà tu tập thiện căn, vì muốn thành tựu Nhứt
thiết trí mà tu tập thiện căn.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành tập họp vô tận vậy.
Thế nào
là Bồ Tát giáo hoá vô tận?
Tánh của
chúng sanh chẳng thể kể đếm, Bồ Tát ở trong đó chẳng
nên kể đếm.
Nếu có
Bồ Tát trong một ngày giáo hoá tất cả chúng sanh đầy trong
tam thiên Đại Thiên thế giới, tính số như vậy nhẫn đến
vô lượng bất khả tư nghị bất khả xưng số kiếp giáo
hoá chúng sanh, dầu có giáo hoá chúng sanh bất khả xưng kế
bất khả tư nghị như vậy, mà ở nơi phần chúng sanh còn
chưa giáo hoá được một phần trăm, một phần ngàn, một
phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến toán số thí dụ chúng sanh
được biết. Tại sao? Vì tánh chúng sanh ấy vô lượng vô
biên bất khả xưng kế bất khả tư nghì vậy.
Nếu Bồ
Tát nghe lời ấy mà chẳng kinh, chẳng bố, chẳng uý, nên
biết Bồ Tát nầy siêng tu tinh tiến.
Đây gọi
là Bồ Tát giáo hoá vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát trợ đạo vô tận?
Bồ Tát
tu hành trợ đạo công đức vô lượng vô biên, ở trong ấy
Bồ Tát chẳng nên hạn lượng. Tại sao? Vì tất cả chúng
sanh có bao nhiêu công đức hoặc từ quá khứ, vị lai hoặc
hiện tại, cùng tất cả Thanh Văn. Duyên Giác có bao nhiêu
công đức, tập họp tất cả công đức phàm thánh ấy lại
mới là thành tựu công đức của một lỗ lông nơi thân Phật
Thế Tôn. Công đức của mỗi mỗi lỗ lông như vậy nhẫn
đến tất cả lỗ lông tập họp lại mới thành công đức
của một tuỳ hình hảo của thân Như Lai. Công đức của
mỗi mỗi tuỳ hình hảo như vậy nhẫn đến tất cả tuỳ
hình hảo tập họp lại mới thành công đức của một tướng
đại nhơn của Như Lai. Công đức của mỗi mỗi tướng như
vậy nhẫn đến ba mươi tướng, tập họp công đức trăm
lần ba mươi tướng như vậy mới thành công đức bạch hào
giữa chặn hai chưn mày của Như Lai. Tập họp công đức của
trăm ngàn bạch hào như vậy mới thành công đức vô kiến
đảnh tướng của Như Lai.
Đây gọi
là Bồ Tát trợ đạo công đức vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát trợ trí vô tận?
Trợ trí
được Bồ Tát tu tập vô lượng vô biên, ở trong ấy Bồ
Tát chẳng nên hạn số. Tại sao? Như trí của tất cả chúng
sanh trong Đại Thiên thế giới bằng trí được thành của
một vị Tín thành. Trí tín thành như vậy so với trí được
thành tựu của một vị Pháp hành thì chẳng bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến
chẳng bằng một phần toán số thí dụ. Nếu tất cả chúng
sanh trong Đại Thiên thế giới đều được bực Pháp hành,
so với trí được thành tựu của một vị Bát nhơn thì chẳng
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn
vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần toán số thí dụ.
Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế giới đều là
bực bát nhơn, so với trí được thành tựu của một vì Tu
Đà Hoàn, thì chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn,
một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần
toán số thí dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên
thế giới đều được trí Tu Đà Hoàn, so với trí được
thành tựu của một vị Tư Đà Hàm, thì chẳng bằng một
phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn, nhẫn
đến chẳng bằng một phần toán số thí dụ. Nếu tất cả
chúng sanh trong Đại Thiên thế giới đều được trí Tư Đà
Hàm, so với trí được thành tựu của một vị A Na Hàm thì
chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm
ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần toán số thí
dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế giới đều
được trí A Na Hàm, so với trí được thành tựu của một
vị A La Hán thì chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn,
một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần
toán số thí dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên
thế giới đều được trí A La Hán , so với trí được thành
tựu của một vị Duyên Giác thì chẳng bằng một phần trăm,
một phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng
bằng một phần toán số thí dụ. Nếu tất cả chúng sanh
trong Đại Thiên thế giới đều được trí Duyên Giác, so
với trí được thành tựu của một vị Bồ Tát trăm
kiếp, thì chẳng bằng Một phần trăm, một phần ngàn, một
phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần toán
số thí dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế
giới đều được trí của Bồ Tát trăm kiếp, so với trí
được thành tựu của một Bồ Tát đắc nhẫn, thì chẳng
bằng Một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn
vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần toán số thí dụ.
Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế giới đều được
trí Bồ Tát đắc nhẫn, so với trí được thành tựu của
một Bồ Tát bất thối, thì chẳng bằng một phần trăm, một
phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng
một phần toán số thí dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại
Thiên thế giới đều được trí của Bồ Tát bất thối,
so với trí được thành tựu của một Bồ Tát bổ xứ, thì
chẳng bằng Một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm
ngàn vạn, nhẫn đến chẳng bằng một phần toán số thí
dụ. Nếu tất cả chúng sanh trong Đại Thiên thế giới đều
được trí của một bổ xứ Bồ Tát, so với trí thị xứ
phi xứ của một Như Lai, thì chẳng bằng một phần trăm,
một phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn, nhẫn đến chẳng
bằng một phần toán số thí dụ.
Tóm lại,
Như Lai Thập lực, Tứ vô uý, Thập bát bất cộng pháp cũng
như vậy.
Nếu Bồ
Tát được nghe lời ấy mà chẳng kinh chẳng bố, chẳng uý,
thì nên biết Bồ Tát nầy siêng tu tinh tiến.
Đây gọi
là Bồ Tát trợ trí vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát trợ huệ vô tận?
Tất cả
chúng sanh có những tâm hành chẳng thể cùng tận, ở trong
ấy Bồ Tát chẳng nên đếm tính.
Như quá
khứ, vị lai, hiện tại tất cả chúng sanh có những tâm hành,
nếu có một người trong một niệm đủ những tâm hành của
tam thế chúng sanh như vậy, mỗi mỗi niệm cũng đều có đủ
những tâm hành như vậy. Như một người có đủ tâm hành
như vậy, tất cả vô lượng vô biên chúng sanh đều cũng
như vậy. Như tất cả tam thế chúng sanh có những tham dục
sân khuể ngu si và các phiền não, nếu có một người trong
một niệm có đủ những phiền não như vậy của tất cả
tam thế chúng sanh, mỗi mỗi niệm đều cũng có đủ phiền
não như vậy. Như một người có đủ phiền não như vậy,
tất cả vô lượng vô biên chúng sanh đều cũng như vậy.
Như tất cả tam thế chúng sanh có những kiết sử, nếu có
một người trong một niệm có đủ những kiết sử như vậy
của tất cả tam thế chúng sanh, mỗi mỗi niệm đều cũng
có đủ kiết sử như vậy. Như một người có đủ những
kiết sử như vậy, tất cả vô lượng vô biên chúng sanh đều
cũng như vậy.
Bồ Tát
ở trong ấy sanh huệ quang minh. Một niệm huệ quang không có
các trần lao che mờ đều chiếu rõ quá khứ, vị lai, hiện
tại tất cả chúng sanh những phiền não cảnh sở duyên của
các tâm hành những sanh trụ dị diệt đều không sót thừa.
Bồ Tát nầy ở nơi tất cả tam thế chúng sanh phiền não
tương ưng không gì chẳng biết rõ hết.
Ví như hư
không kia không gì chẳng trùm chứa, cũng vậy, Bồ Tát huệ
quang không chỗ nào chẳng chiếu rõ.
Nếu Bồ
Tát nghe lời nầy mà chẳng kinh chẳng bố chẳng uý, thì nên
biết Bồ Tát nầy siêng tu tinh tiến.
Đây gọi
là Bồ Tát trợ huệ vô tận.
Thế nào
là Bồ Tát tu tập trợ Phật pháp vô tận?
Bồ Tát
sở hành tu tập trợ Phật pháp vô lượng vô biên, ở trong
đó Bồ Tát chẳng nên hạn lượng. Từ lúc sơ phát tâm đến
khi ngồi đạo tràng Bồ đề, thời gian chặng giữa tu hành
đầy đủ sáu Ba la mật, tu hành đầy đủ các pháp trợ đạo.
Tất cả phát tâm tu hành tất cả thiện căn như vậy bất
khả xưng kế thảy đều trợ Phật pháp. Đây gọi là Bồ
Tát tu hành trợ Phật pháp mà không có tận.
Đây gọi
là Bồ Tát tám sự tu hành tinh tiến vô tận vậy.
Còn nữa,
thưa Tôn giả! Bồ Tát tinh tiến cũng chẳng thể tận. Hoặc
thân thiện nghiệp, hoặc khẩu thiện, nghiệp hoặc ý thiện
nghiệp thường siêng chẳng giải đãi. Tại sao vậy? Vì Bồ
Tát tu hành tinh tiến thường tương ưng với thân khẩu ý.
Dầu thân khẩu tinh tiến mà đều do nơi tâm, tâm là tăng
thượng.
Thế nào
là Bồ Tát tâm tinh tiến?
Đó là tâm
thuỷ và tâm chung.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì là sơ phát tâm vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì là Bồ đề tâm tịch diệt vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ?
Vì ở nơi
chúng sanh khởi đại bi vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì là không có ngã nhơn vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì nhiếp chúng sanh vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì chẳng lấy các pháp vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì chẳng nhàm sanh tử vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì không có tam giới vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì xả thí sở hữu vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì không có khinh khi vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì thọ trì giới vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì chẳng trì giới vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì tu hành nhẫn nhục vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì không có giận tranh vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì phát hành các thiện pháp vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì riêng một chẳng xen tạp vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì tu tập chánh định vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì tâm thanh tịnh vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì đa văn không nhàm vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì thiện tư duy vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì tập thưa hỏi thâm nghĩa vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì pháp không có ngôn thuyết vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì cầu trí huệ vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì đoạn dứt hí luận vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là tu bốn phạm hạnh vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì xả bỏ chơn trí vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì đủ ngũ thông vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì đủ lậu tận vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát hành niệm xứ vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì niệm không có tư duy vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Vì phát hành chánh cần vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì lìa thiện và bất thiện vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát hành như ý phần vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì đủ báo đắc vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát phương tiện các căn vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là quán các căn pháp vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là tập họp các lực vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì trí chẳng hư hoại vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát trợ Bồ đề phần vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là khéo biết phân biệt phương tiện các giác
phần vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là cầu trợ đạo pháp vậy.
Thế nào
là tâm chung? Vì là không có tiến thu vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là cầu tịch diệt vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là tâm vĩnh viễn tịch diệt vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát khởi huệ vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là khéo biết pháp vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là hiểu biết nhơn vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là khéo biết nhơn vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là từ người mà nghe vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là ở trong các pháp không có phóng dật vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là phát nghiêm sức vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là biết thân tánh vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là trang nghiêm khẩu vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là thánh nín lặng vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là hành ba môn giải thoát vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là không có sở tác vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là hàng phục tứ ma vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là xả bỏ kiết tập vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là biết phương tiện vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là trọn vẹn huệ vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là khéo biết phát vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là khéo biết độ vậy.
Thế nào
là tâm thuỷ? Là khéo biết thế tục vậy.
Thế nào
là tâm chung? Là khéo biết chơn đế vậy.
Đây gọi
là Bồ Tát tâm tinh tiến vậy. Tâm ấy đầy đủ tinh tiến
vô tận nên nói thuỷ chung.
Bồ Tát
đầy đủ những tướng tạo tác như vậy, mà tâm chưa từng
có trụ trước nơi tác nghiệp. Bồ Tát nầy ở nơi các nghiệp
tướng biết mà cố ý làm.
Thế nào
là Bồ Tát biết mà cố ý làm?
Vì các thiện
căn vậy, vì các chúng sanh tu nơi đại bi nên chẳng lìa bỏ
hữu vi vậy, vì chư Phật chơn diệu trí nên chẳng theo sanh
tử vậy.
Đây gọi
là đại Bồ Tát Tỳ lê gia Ba la mật mà chẳng thể tận vậy”.
Lúc nói
pháp ấy, có bảy mươi na do tha chư thiên và thế nhơn phát
tâm Vô thượng Bồ đề, ba vạn hai ngàn đại Bồ Tát được
Vô sanh pháp nhẫn.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói với Vô Tận Ý Bồ Tát rằng: “Bạch Đại
Sĩ! Lành thay lành thay, Ngài nói về Tinh tiến Ba la mật chẳng
thể tận rất tốt. Duy nguyện Ngài nói về Thiền Ba la mật
mà chẳng thể tận, như chư đại Bồ Tát đã được Thiền
Ba la mật vô tận”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Thưa Tôn giả! Nếu chư đại Bồ Tát dùng
mười sáu sự tu hành Thiền Ba la mật mà không có tận, chẳng
đồng với Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Những gì
là mười sáu sự?
Bồ Tát
tu chánh định không có ngô ngã, vì đầy đủ Như Lai các
thiền định vậy.
Bồ Tát
tu chánh định chẳng tham chẳng trước, vì chẳng cầu mình
vui vậy.
Bồ Tát
tu chánh định hành nơi đại bi, vì đoạn dứt phiền não
kiết tập cho chúng sanh vậy.
Bồ Tát
tu chánh định tăng ích các thiền quán, vì thấy lỗi hoạ
của Dục giới vậy.
Bồ Tát
tu chánh định đủ các nghiệp dụng thần thông, vì biết
tâm hành các chúng sanh vậy.
Bồ Tát
tu chánh định tâm thường nhu nhuyến vì được tự tại ở
trong chúng sanh vậy.
Bồ Tát
tu hành chánh định khéo biết nhập xuất nơi các thiền tam
muội vì hơn Sắc giới và Vô Sắc giới vậy.
Bồ Tát
tu chánh định tâm thương tịch diệt vì hơn các thiền tam
muội của hàng Nhị thừa vậy.
Bồ Tát
tu hành chánh định trọn không còn có phát khởi, vì cứu
cánh đã làm rồi vậy.
Bồ Tát
tu hành chánh định không có suy hao, vì khéo đoạn trừ diệt
các tập khí vậy.
Bồ Tát
tu hành chánh định thường nhập trí huệ, vì siêu quá thế
gian mà đến bỉ ngạn vậy.
Bồ Tát
tu chánh định để biết tâm hành chúng sanh, vì độ chúng
sanh vậy.
Bồ Tát
tu chánh định chẳng đoạn dứt giống Tam bửu, vì được
vô tận các thiền định vậy.
Bồ Tát
tu chánh định không có thối thất, vì tâm thường định
không có các sai lầm vậy.
Bồ Tát
tu chánh định mà được tự tại, vì đầy đủ tất cả
thiện pháp vậy.
Bồ
Tát tu chánh định nội thiện tư duy, vì dứt hơi thở vào
ra mà được thắng trí vậy.
Đây là
Bồ Tát dùng mười sáu sự tu hành Thiền Ba la mật mà không
có tận, chẳng đồng với hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Thế nào
là Bồ Tát tu chánh định ?
Vì đủ
các thần thông trí huệ vậy.
Thế nào
là thông và thế nào là trí?
Nếu thấy
các sắc tướng đây gọi là thông. Nếu biết tất cả sắc
tận pháp tánh mà chẳng chứng tận đây gọi là trí.
Nếu nghe
âm thanh đây gọi là thông. Hiểu rõ tam thế tất cả âm thanh
không có tướng ngôn từ đây gọi là trí.
Nếu biết
tất cả chúng sanh tâm hành đây gọi là thông. Nếu biết
tất cả tâm hành thảy đều diệt tận mà chẳng chứng nơi
diệt đây gọi là trí.
Nếu nhớ
quá khứ đây gọi là thông. Nếu biết tam thế không có chướng
ngại đây gọi là trí.
Nếu hay
đến khắp thế giới chư Phật đây gọi là thông. Nếu biết
thế giới chư Phật đồng với tướng hư không đây gọi
là trí.
Nếu cầu
các pháp không phá hư tướng đây gọi là thông.
Nếu chẳng
thấy có pháp đây gọi là trí.
Nếu chẳng
hoại thế gian đây gọi là thông. Nếu chẳng tạp hành đây
gọi là trí.
Nếu quá
Phạm, Thích, Hộ Thế Tứ Vương đây gọi là thông. Quá trí
của hàng học và vô học Nhị thừa đây gọi là trí.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành thiền định thông trí sai biệt.
Bồ Tát
vì biết tất cả chúng sanh phiền não loạn tâm nên tu tập
các pháp thiền định trợ thành tâm an trụ.