LXI
PHÁP HỘI VÔ TẬN
Ý BỒ TÁT
THỨ SÁU MƯƠI MỐT
Hán
dịch: Lưu Tống, Sa Môn Trí Nghiêm và Bửu Vân
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Thưa Tôn
giả! Các chúng sanh phiền não loạn tâm như vậy, ở trong
ấy Bồ Tát khéo tu tập trợ thành thiền định là cho thiền
định ấy trụ nơi tâm bình đẳng. Đây gọi là Bồ Tát tu
hành thiền định.
Nếu trụ
trong trí chúng sanh bình đẳng, đây gọi là định.
Tâm hành
bình đẳng, tánh tướng bình đẳng, tất cánh bình đẳng,
tu hành bình đẳng, đây gọi là định.
Trụ nơi
thí giới, nhẫn, tiến, thiền định, trí huệ và các pháp
v.v…, đây gọi là định.
Như định
bình đẳng thì chúng sanh bình đẳng. Như chúng sanh bình đẳng
thì các pháp bình đẳng. Nhập vào các bình đẳng như vậy
đây gọi là định.
Định bình
đẳng như vậy thì bình đẳng với không. Bình đẳng với
không thì chúng sanh bình đẳng, chúng sanh bình đẳng thì các
pháp bình đẳng. Nhập bình đẳng như vậy đây gọi là định.
Như không
bình đẳng thì vô tướng bình đẳng. Vô tướng bình
đẳng thì vô nguyện bình đẳng. Vô nguyện bình đẳng thì
vô tác bình đẳng. Vô tác bình đẳng thì chúng sanh bình đẳng.
Chúng sanh bình đẳng thì các pháp bình đẳng. Nhập bình đẳng
như vậy đây gọi là định.
Vì tự tâm
bình đẳng nên tha tâm cũng bình đẳng. Đây gọi là định.
Tất cả
bình đẳng ấy, đó là lợi suy địa thuỷ hoả phong. Được
tâm bình đẳng ấy thì tâm như hư không không có cao hạ,
thường trụ bất động, oai nghi được làm thường định
chẳng chuyển. Bổn tánh vốn tự như vậy chẳng cất chẳng
cao, tự tại vô uý nín lặng không nói năng, biết nghĩa, biết
pháp, biết thời, biết phi thời, tuỳ sở hành thế gian mà
chẳng xen tạp thế gian, bỏ tám pháp thế gian diết tất cả
kiết sử, xa lìa ồn náo thích ở một mình. Bồ Tát tu hành
các pháp như vậy, nơi các thiền định tâm an trụ lìa rời
sở tác thế gian. Bồ Tát nầy dùng phương tiện huệ nhập
Thiền Ba la mật.
Lúc nhập
thiền định sanh tâm đại bi vì các chúng sanh, đây gọi là
phương tiện. Tâm ấy tịch diệt hẳn đây gọi là huệ.
Lúc nhập
niệm Phật đây gọi là phương tiện. Chẳng y chỉ thiền
định đây gọi là huệ.
Lúc nhập
nhiếp thủ tất cả thiện pháp đây gọi là phương tiện.
Chẳng phân biệt pháp tánh đây gọi là huệ.
Lúc nhập
xu hướng trang nghiêm thân Phật đây gọi là phương tiện.
Nơi Phật pháp thân chẳng sanh phân biệt đây gọi là huệ.
Lúc nhập
nhớ âm thanh của Phật như phạm âm đây gọi là phương tiện.
Ở trong pháp tánh không có tướng ngôn thuyết đây gọi là
huệ.
Lúc nhập
thọ trì tâm như kim cương đây gọi là phương tiện. Tư duy
các pháp bổn tánh vốn tự chẳng loạn động đây gọi là
huệ.
Lúc nhập
chẳng xả bỏ bổn sở thệ nguyện độ các chúng sanh đây
gọi là phương tiện. Nơi tất cả pháp tư duy vô ngã đây
gọi là huệ.
Lúc nhập
tư duy tất cả thiện căn đây gọi là phương tiện. Tư duy
thiện căn tánh vô sở trụ đây gọi là huệ.
Lúc nhập
quán khắp thế giới chư Phật đây gọi là phương tiện.
Thấy thế giới chư Phật đồng với hư không đây gọi là
huệ.
Lúc nhập
trang nghiêm Bồ đề đạo tràng đây gọi là phương tiện.
Quán chỗ trang nghiêm đồng với tịch diệt đây gọi là huệ.
Lúc nhập
muốn chuyển vô thượng pháp luân đây gọi là phương tiện.
Tư duy pháp luân không có chuyển không có chẳng chuyển đây
gọi là huệ.
Lúc nhập
một bề tu trợ giác phần đây gọi là phương tiện. Vì biết
các tâm nhiệt não của chúng sanh, nên tu tập Như Lai thiền
định, biết tất cả pháp tương ưng chẳng tương ưng, có
tướng không tướng tất cả tương tục, tuỳ thuận Bồ Tát
quyết định tư duy, đây gọi là huệ.
Đây gọi
là Bồ Tát nhập thiền định phương tiện huệ vậy.
Bồ Tát
Thiền định Ba la mật phương tiện và trí huệ hai sự chung
hành được Phật pháp khí, tất cả các ma chẳng phá hoại
được”.
Lúc nói
pháp ấy, ba vạn hai ngàn Bồ Tát được Nhựt đăng tam muội.
Duyên cớ
gì mà gọi là Nhựt đăng tam muội?
Ví như mặt
nhựt mọc các ánh sáng của đèn lửa, mặt nguyệt, tinh tú
đều không còn hiện.
Bồ Tát
Đại Sĩ được định nầy rồi, thì trước kia tất cả những
trí hữu học vô học Nhị thừa và các chúng sanh khác có
bao nhiêu trí đều chẳng còn hiện, đây gọi là Nhựt đăng
tam muội.
Bồ Tát
an trụ nơi Thiền Ba la mật thì ở nơi vô lượng các thiền
tam muội mà được tự tại. Nay ở trong đây nên một phần
ít trong số vô lượng tam muội ấy. Những là Điện đăng
tam muội, Tịnh tam muội, Nguỵêt quang tam muội, Tịnh trang
nghiêm tam muội, Nhựt quang tam muội, Bất khả tư nghị tam
muội, Dũng xuất tam muội, Chiếu minh tam muội, Vố cấu quang
minh tam muội, Công đức quang minh tam muội, Nhứt thiết pháp
trung đắc tự tại tam muội, Các đạo tam muội, Vô ưu tam
muội, Kiên xưng tam muội, Dũng xuất như tu di sơn đẳng tam
muội, Pháp chiếu tam muội, Pháp kiện tam muội, Pháp tôn tam
muội, Tự tại tri nhứt thiết pháp tam muội, Trụ pháp tụ
tam muội, Tổng trì pháp tịnh tam muội, Tuỳ tri tha tâm hành
tam muội, Pháp trang anh lạc tam muội, Thiêu nhứt thiết phiền
não tam muội, Phá tứ ma lực tam muội, Thập lực thanh dũng
kiện tam muội, Vô ngại đoạn ngại tam muội, Thủ đăng tam
muội, Thí đắc danh văn tam muội, Trì địa tam muội, Trụ
vô ngã như tu di sơn tam muội, Trí diệm tam muội, Sanh huệ
tam muội, Tu thiền tam muội, Vô lượng tự tại tam muội,
Tâm điều phục vô ngã vô ngã sở thành tựu tam muội, Thuỷ
nguyệt tam muội, Nhựt thanh tam muội, Vô hữu cao hạ như Phật
tam muội, Ly tướng tam muội, Như thiện điều tượng sư tử
du hý tam muội, Niệm Phật tam muội, Niệm pháp đắc trí vô
ngại tự tại tam muội, Vô thối bất thối tam muội, Bất
thuấn tam muội, Thắng tịnh quang vô ngã tam muội, Không tam
muội, Vô tướng tam muội, Vô nguyện tam muội, Trụ tâm bình
đẳng tam muội, Kim cương tam muội, Tăng thượng tam muội,
Vô năng thắng tam muội, Triền tam muội, Tịnh thanh tam muội,
Thiện phân biệt tam muội, Ly phiền não tam muội, Quảng đại
như hư không tam muội, Nhập chư công đức tam muội, Niệm
ý tiến giác tam muội, Dũng huệ tam muội, Biện vô tận tam
muội, Ngữ vô tận tam muội, Tổng trì tam muội, Bất vong
tam muội, Thiện tác tam muội, Quán nhứt thiết thế tam muội,
Thiện tri sở lạc tam muội, Sanh dũng dước tam muội, Dũng
từ tâm tịnh tam muội, Đại bi căn bổn tam muội, Nhập hỷ
tam muội, Xả ly tam triền tam muội, Trí cự tam muội, Trí
hải tam muội, Bất ba đảng tam muội, Nhứt thiết tâm hỉ
tam muội, Điều phục tam muội, Giải thoát trí tam muội, Dĩ
tự tại tam muội, Pháp tràng kim cương tràng tam muội, Liên
hoa tam muội, Liên hoa tăng thượng tam muội, Ly thế pháp tam
muội, Bất động tam muội, Huệ tăng thượng tam muội, Chư
Phật sở niệm thủ lăng nghiêm tam muội, Vô tranh tam muội,
Hoả tam muội, Hoả minh tam muội, Giải thoát thắng trí tam
muội, Trang nghiêm Phật thân tam muội, Biến chiếu tam muội,
Nhập nhứt thiết chúng sanh tâm hoan hỷ tam muội, Thuận trợ
đạo tam muội, Trang nghiêm chư Ba la mật tam muội, Bửu man
tam muội, Giữ chư giác hoa tam muội, Giữ giải thoát quả
tam muội, Cam lộ tam muội, Tốc tật như phong tam muội, Bửu
tế tam muội, Giá hải đào tam muội, Sơn tướng bác tam muội,
Quảng đại thần túc tam muội, Kiến vô lượng chư Phật
tam muội, Văn trì tam muội, Bất loạn tam muội, Nhứt niệm
tri vô lượng công đức hải tịnh tam muội. Bất khả kế
na do tha tam muội như vậy lúc nhập Thiền Ba la mật đều
được thanh tịnh.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành thiền định mà chẳng thể tận”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói với Bồ Tát Vô Tận Ý rằng: “Bạch Đại
Sĩ! Lành thay lành thay, Ngài đã nói về Bồ Tát Thiền Ba la
mật. Duy nguyện Đại Sĩ nói về Bồ Tát Bát Nhã Ba la mật,
như chư Bồ Tát đã được Bát Nhã Ba la mật vô tận.
Bạch Đại
Sĩ! Bát Nhã Ba la mật, hành thế nào và nhập thế nào?”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Thưa Tôn giả! Bát Nhã Ba la mật như nghe
rồi tu hành khéo nhập tư duy”.
Tôn giả
nói: “Bạch Đại Sĩ! Thế nào là như nghe tu hành?”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói: “Thưa Tôn giả! Nghe ấy đủ tám mươi hành.
Những gì
là tám mươi hành?
Muốn tu
hành, thuận tâm hành, cứu cánh tâm hành, thường phát khởi
hành, thân cận thiện hữu hành, không có kiêu mạn hành, chẳng
phóng dật hành, cung kính hành, tuỳ thuận giáo hành, theo thiện
ngữ hành, hằng đến chỗ pháp sư hành, chí tâm nghe pháp
hành, thiện tư duy hành, chẳng loạn tâm hành, tinh tiến tâm
hành, sanh bửu tưởng hành, khởi được tưởng hành, trừ
các bịnh hành, niệm khí hành, tiến giác hành, ý hỷ hành,
nhập giác hành, nghe không nhàm hành, tăng trưởng xả hành,
điều trí hành, thân cận đa văn hành, phát hoan hỷ hành,
thân nhẹ vui hành, tâm nhu hoà hành, nghe không mỏi mệt hành,
nghe nghĩa hành, nghe pháp hành, nghe oai nghi hành, nghe người
nói hành, nghe chỗ chưa nghe hành, nghe các thần thông hành,
chẳng cầu các thừa khác hành, nghe các Ba la mật hành, nghe
Bồ Tát tạng hành, nghe các nhiếp pháp hành, nghe phương tiện
hành, nghe bốn phạm hành, nghe niệm chánh trí hành, nghe sanh
phương tiện hành, nghe vô sanh phương tiện hành, nghe bất
tịnh hành, tư duy từ hành, quán nhơn duyên hành, quán vô thường
hành, quán khổ hành, quán vô ngã hành, quán tịch diệt hành,
quán không hành, quán vô tướng hành, quán vô nguyện hành,
quán vô tác hành, tác thiện hành, trì chơn thiệt hành, chẳng
mất hành, chỗ ở tốt xấu phòng hộ tâm hành, siêng tinh
tiến không giải đãi hành, thiện phân biệt các pháp hành,
biết các phiền não chẳng phải bạn bè hành, thủ hộ các
thiện pháp bạn bè mình hành, hàng phục phiền não chẳng
phải bạn bè hành, thân cận chánh pháp tài hành, dứt các
nghèo cùng hành, được người trí khen hành, mừng vui lợi
căn hành, được các thánh vui hành, khiến kẻ chẳng phải
thánh sanh hoan hỷ hành, quán các chơn đế hành, quán các ấm
lỗi hoạ hành, tư lương hữu vi nhiều lỗi hoạ hành, tư
duy nghĩa hành, chẳng làm tất cả ác hành, tự lợi lợi tha
hành, tuỳ thuận tăng tiến các thiện nghiệp hành, tiến tăng
thượng hành, được tất cả Phật pháp hành.
Đây gọi
là Bồ Tát như chỗ được nghe đủ tám mươi hành.
Thưa Tôn
giả! Đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba la mật đủ ba mươi hai
sự khéo thiện nhập tư duy.
Những gì
là ba mươi hai sự?
Thiện nhập
thọ trì định, thiện nhập phân biệt huệ, thiện nhập tâm
nhu hoà, thiện nhập thân độc hành, thiện nhập mười hai
duyên, thiện nhập chẳng đoạn dứt, thiện nhập bất thường,
thiện nhập nhơn duyên sanh pháp, thiện nhập không chúng sanh
không thọ mạng không nhơn, thiện nhập không có chỗ lai khứ
an trụ, thiện nhập không có tác mà chẳng dứt nhơn quả,
thiện nhập rỗng không mà chẳng giải đãi, thiện nhập vô
tướng mà chẳng phế, thiện nhập vô nguyện mà chẳng xả,
thiện nhập chẳng chứng không vô tướng vô nguyện, thiện
nhập sanh các thiền định tam muội, thiện nhập chẳng theo
thiền định thọ sanh, thiện nhập sanh các thông trí, thiện
nhập chẳng chứng vô lậu pháp, thiện nhập nội quán pháp,
thiện nhập chứng quyết định, thiện nhập tư lương hữu
vi pháp lỗi hoạ, thiện nhập chẳng thảm trước hữu vi pháp,
thiện nhập quán tất cả chúng sanh vô ngã mà chẳng xả bỏ
đại bi, thiện nhập tất cả thú những nơi bố uý, thiện
nhập đầu thọ sanh các thú chẳng phải do nghiệp mà cố
ý thọ sanh, thiện nhập ly dục, thiện nhập chẳng chứng
pháp ly dục, thiện nhập xả bỏ lạc dục đã được, thiện
nhập chẳng xả bỏ pháp lạc, thiện nhập xả bỏ tất cả
hí luận giác quán, thiện nhập chẳng xả bỏ các giác quán
phương tiện.
Đây gọi
là đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba la mật đủ ba mươi hai sự
thiện nhập tư duy.
Lại thiện
tư duy ấy là thiện thuận cú.
Thiện thuận
cú ấy là bất thủy cú, là bất chung cú, là bất trụ cú,
là bất y chỉ cú, là bất động cú, là bất ỷ cú, là bình
đẳng cú, là phi đẳng cú, là chơn thiệt cú, là chánh chơn
cú, là bất biến cú, là thanh tịnh cú, là vĩnh tịch cú,
là bất nhiên cú, là bất cử cú, là bất hạ cú, là bất
giảm cú, là bất tăng cú, là bất cộng cú, là bất hí luận
cú, là như cú, là bất như cú, là như phi cú, là phi như phi
bất như cú, là như thiệt cú, là tam thế bình đẳng cú,
là tam tế cú, là bất trụ sắc cú, là bất trụ thọ tưởng
hành thức cú, là bất trụ địa đại cú, là bất trụ thuỷ
hoả phong cú, là chẳng trụ nhãn giới, sắc giới, nhãn thức
giới cú, là bất trụ nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới
cú, là bất trụ tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới cú,
là bất trụ thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới cú,
là bất trụ thân giới, xúc giới, thân thức giới cú, là
bất trụ ý giới, pháp giới, ý thức giới cú, là niệm nghĩa
cú, là niệm trì cú, là liễu nghĩa kinh cú, là niệm pháp
cú.
Đây gọi
là đại Bồ Tát thiện nhập tư duy.
Lại nữa,
thiện tư duy là tất cả pháp hoặc ngã hay vô ngã, các pháp
như vậy tuỳ thuận quán sát. Nếu biết chúng sanh không có
ngã tức là tuỳ thuận quán sát các pháp. Quán sát như vậy
tức là thiện nhập tư duy. Như thiện tư duy tức là tư duy
sanh tử và Niết bàn đồng nhứt pháp giới, quán hai cú ấy
không có sai biệt. Thấy như vậy thì gọi là siêng tinh tiến
thiện nhập tư duy. Nếu quán hắc pháp và bạch pháp hai tánh
bình đẳng không có sai biệt, đây gọi là siêng tinh tiến
thiện nhập tư duy. Nếu quán các ách khổ cùng không có ách
khổ chẳng động chẳng ỷ thị, đây gọi là siêng tinh tiến
thiện nhập tư duy.
Nếu các
Bồ Tát khởi thiện tư duy với các chúng sanh mà chẳng bỏ
lìa, nơi các pháp tướng mà chẳng phân biệt, đây gọi là
Bồ Tát phát thiện tư duy.
Người như
văn hành được nhập báo thiện tư duy như vậy, đây gọi
là huệ.
Thưa Tôn
giả! Bồ Tát huệ ấy, có mười sáu pháp chẳng trụ trong
đó.
Những gì
là mười sáu pháp?
Chẳng trụ
vô minh, hành, thức, danh, sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ,
hữu, sanh, lão tử, nhẫn đến chẳng trụ vô minh diệt, hành
diệt, thức diệt, danh sắc diệt, lục nhập diệt, xúc diệt,
thọ diệt, ái diệt, thủ diệt, hữu diệt, sanh diệt, lão
tử diệt.
Chẳng trụ
căn bổn thân kiến nhẫn đến chẳng trụ sáu mươi hai kiến.
Chẳng trụ
cao hạ nhẫn đến chẳng trụ các thế gian pháp lợi, suy,
huỷ, dự, xưng, cơ, khổ, lạc.
Chẳng trụ
mạn mạn, tăng thượng mạn, thắng mạn, ngã mạn, hạ mạn,
kiêu mạn, tà mạn, nhẫn đến chẳng trụ hai mươi phiền
não.
Chẳng trụ
nhơn tham khởi lên các kiết sử, hoặc thô hoặc tế hoặc
thượng trung hạ, nhẫn đến chẳng trụ các kiết do tham dục
khởi lên.
Chẳng trụ
si tối phú cái các si, nhẫn đến chẳng trụ các kiết nhơn
si khởi lên.
Chẳng trụ
dâm dục ái trược.
Chẳng trụ
ngũ, ấm, tử, phiền não, thiên ma, nhẫn đến chẳng trụ
các ma sự nhơn ma khởi lên.
Chẳng trụ
ngã, nhơn chúng sanh, thọ mạng, dưỡng dục, sĩ phu, nhẫn
đến chẳng trụ lấy tướng chúng sanh.
Chẳng trụ
nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng, pháp chướng
các kiến chướng, nhẫn đến chẳng trụ tất cả tập khí.
Chẳng trụ
tư tưởng, ức tưởng, phân biệt tưởng, duyên tưởng, cảnh
giới kiến văn giác tri, nhẫn đến chẳng trụ tất cả các
kiết.
Chẳng trụ
tuỳ chúng sanh tâm hành trí nhẫn đến chẳng trụ bát vạn
tứ thiên pháp tụ.
Chẳng trụ
xan tham, bố thí, trì giới, phá giới, sân khuể, nhẫn nhục,
giải đãi, tinh tiến, loạn ý, thiền định, ngu si, trí huệ,
nhẫn đến chẳng trụ các Ba la mật bạn phi bạn v.v…
Chẳng trụ
định loạn, tà kiến, thiện bất thiện, thế gian xuất thế
gian, khả tác bất khả tác, hữu lậu vô lậu, hữu vi vô
vi, hắc pháp bạch pháp, sanh tử Niết bàn, nhẫn đến chẳng
trụ tất cả pháp bạn chẳng phải bạn v.v…
Chẳng trụ
chúng sanh dị tướng, các thừa dị tướng, Phật giới dị
tướng, chư Phật dị tướng, chư Pháp dị tướng, chúng Thánh
dị tướng, nhẫn đến chẳng trụ tất cả dị tướng.
Chẳng trụ
tri bất tri, thức bất thức, thế đế chơn đế, nhẫn đến
chẳng trụ tất cả các tướng.
Nghĩa là
Bồ Tát tư duy huệ ấy, không nghe, không làm, không thân, không
tướng, không hình vô vi. Chơn huệ như vậy chẳng trụ tất
cả ức tưởng tư duy tâm tác chỉ trụ danh tự dị tướng.
Đây gọi
là Bồ Tát chơn trí huệ chẳng trụ trong mười sáu pháp như
vậy.
Thưa Tôn
giả! Thế nào là Bồ Tát huệ?
Xứ sở
có tám phương tiện:
Các ấm
phương tiện, các giới phương tiện, các nhập phương tiện,
các đế phương tiện, các duyên phương tiện, tam thế phương
tiện, các thừa phương tiện, các pháp phương tiện.
Thế nào
là các ấm phương tiện?
Nếu nói
về các ấm thì như bọt nước, như bóng nước, như dương
diệm, như thân cây chuối, như ảo, như mộng, như vang ứng
tiếng, như tượng trong gương, như bóng, như hoá.
Sắc ấm,
như bọt nước, như tánh bọt nước, chẳng phải ngã, chẳng
phải chúng sanh, chẳng phải thọ mạng, chẳng phải nhơn.
Sắc cũng như vậy, có thể biết như vậy thì gọi là Bồ
Tát quán sắc phương tiện.
Thọ ấm
như bóng nước, tưởng ấm như dương diệm, cây chuối, ảo
huyễn ảo huyễn tánh chẳng phải ngã, chẳng phải chúng sanh,
chẳng phải thọ mạng, chẳng phải nhơn. Thọ, tưởng, hành,
thức cũng như vậy. Có thể biết như vậy thì gọi là Bồ
Tát quán thọ, tưởng, hành, thức phương tiện.
Các ấm
như mộng, như vang, như tượng, như ảnh, như hoá, như hoá
tánh, không ngã, không chúng sanh, không thọ mạng, không nhơn,
các ấm ấy đều cũng như vậy. Có thể biết như vậy thì
gọi là Bồ Tát quán các ấm phương tiện.
Gọi là
ấm ấy tức là tướng thế gian, tướng thế gian tức là
tướng có thể hư hoại. Như tướng có thể hư hoại tức
là tánh vô thường, tánh khổ, tánh vô ngã, tánh tịch diệt.
Có thể biết như vậy thì gọi là Bồ Tát quán ấm phương
tiện.
Thế nào
là Bồ Tát biết giới phương tiện?
Pháp giới,
địa giới, thuỷ, hoả, phong giới, trong pháp giới ấy không
có tướng cứng, tướng ướt, tướng nóng, tướng động.
Pháp giới,
nhãn giới, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý giới, trong pháp giới
ấy không có tướng thấy, tướng nghe, tướng ngửi, tướng
nếm, tướng cảm giác, tướng rõ biết.
Pháp giới,
Sắc giới, thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, trong pháp giới
ấy không có tướng được thấy, tướng được nghe, tướng
được ngửi, tướng được nếm, tướng được cảm giác,
tướng được biết.
Pháp giới,
nhãn thức giới, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, trong
pháp giới ấy không có nhãn thức biết sắc, nhẫn đến không
có ý thức biết pháp.
Pháp giới
sắc giới, pháp giới chẳng phải tướng sắc làm ra, nhẫn
đến pháp giới pháp giới, pháp giới chẳng phải tướng
pháp làm ra.
Pháp giới
và ngã giới không hai không khác.
Pháp giới,
Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới, ngã giới, sanh tử giới,
Niết bàn giới không hai không khác.
Pháp giới
hư không giới, tất cả pháp giới, ngã giới hư không giới,
vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô tác, vô xuất, vô sở hữu
đồng như Niết bàn.
Hư không
và Niết bàn cùng tất cả các pháp không hai không khác.
Vô lượng
hữu vi pháp giới như vậy nhập vào vô vi giới.
Có thể
biết như vậy nói như vậy thì gọi là Bồ Tát biết giới
phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán nhập phương tiện?
Như lời
Phật nói nhãn không, ngã không, ngã sở không. Tại sao, vì
trong nhãn tánh ấy không có ngã không có ngã sở. Như nhãn
không, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý không cũng như vậy.
Người quán
nhập ấy thấy tất cả pháp, hoặc thiện bất thiện không
có hai tướng.
Đây gọi
là Bồ Tát quán nhập phương tiện.
Nếu nhãn
nhập sắc nhập, nếu thấy nhãn sắc ly dục, chẳng chứng
ly dục pháp. Đây gọi là Bồ Tát quán nhập phương tiện.
Nhĩ nhập
thanh nhập, tỷ nhập hương nhập, thiệt nhập vị nhập, thân
nhập xúc nhập, ý nhập pháp nhập, nếu thấy ly dục chẳng
chứng ly dục pháp, đây gọi là Bồ Tát quán nhập phương
tiện.
Gọi là
nhập ấy, hoặc thánh nhập hoặc phi thánh nhập.
Thế nào
là thánh nhập? Là tu tập đạo.
Thế nào
là phi thánh nhập? Là chẳng tu tập đạo.
Nếu Bồ
Tát an trụ nơi đạo với kẻ chẳng tu tập đạo sanh lòng
đại bi chẳng bỏ nhập đạo, đây gọi là Bồ Tát quán nhập
phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán đế phương tiện?
Đế ấy
thậm thâm khó vào.
Thế nào
là khó vào?
Như là khổ
trí, tập trí, diệt trí và đạo trí.
Khổ trí
ấy, quán các ấm vô sanh. Tập trí ấy, quán đoạn dứt tham
ái nhơn. Diệt trí ấy, quán vô minh v.v…các phiền não không
có hoà hiệp. Đạo trí ấy, được bình đẳng quán nơi tất
cả pháp không chỗ dựa lấy.
Bồ Tát
nếu ở trong bốn Thánh đế quán như vậy mà chẳng thủ chứng
vì giáo hoá chúng sanh, đây gọi là Bồ Tát quán đế phương
tiện.
Còn có ba
đế là tục đế, đệ nhứt nghĩa đế và tướng đế.
Thế nào
là tục đế? Như là ngữ ngôn văn tự các pháp giả danh được
thế gian sử dụng.
Thế nào
là đệ nhứt nghĩa đế? Đó là nhẫn đến không có tâm hành,
huống là lại có ngôn ngữ văn tự.
Thế nào
là tướng đế?
Quán tất
cả tướng đồng với nhứt tướng. Nhứt tướng ấy tức
là vô tướng.
Bồ Tát
tuỳ thuận tục đế mà chẳng nhàm mỏi, quán đệ nhứt nghĩa
đế mà chẳng thủ chứng, quán tướng đế nhứt tướng vô
tướng. Đây gọi là Bồ Tát quán đế phương tiện.
Còn có hai
đế là tục đế và đệ nhứt nghĩa đế.
Thế nào
là tục đế?
Như nói
khổ tập đạo đế, như thế gian ngữ ngôn văn tự pháp giả
danh v.v…
Thế nào
là đệ nhứt nghĩa đế?
Như ở nơi
pháp Niết bàn trọn chẳng quên mất.
Tại sao
vậy?
Như tánh
pháp giới thường trụ. Bồ Tát tuỳ tục chẳng sanh nhàm
mỏi, quán đệ nhứt nghĩa đế mà chẳng thủ chứng.
Còn có một
đế, đó là nơi tất cả pháp không có dựa lấy, mà vì hoá
độ chúng sanh nên hiện có dựa lấy.
Đây gọi
là Bồ Tát quán đê phương tiện.
Còn nữa,
ngũ ấm khổ, nếu thấy tướng khổ của ngũ ấm, đây gọi
là quán khổ.
Khổ tức
không, đây gọi là khổ trí quán Khổ Thánh đế.
Nếu quán
ngũ ấm các phiền não nghiệp nhơn kiến nhơn đây gọi là
tập.
Nếu quán
ái nhơn kiến nhơn chẳng thủ chẳng trước chẳng mong chẳng
cầu, đây gọi là tập trí quán Tập Thánh đế.
Ngũ ấm
cứu cánh tận tướng, quá khứ đã dứt, vị lai chưa sanh,
hiện tại chẳng trụ, đây gọi là diệt. Có thể biết như
vậy, đây gọi là diệt trí quán Diệt Thánh đế.
Nếu người
đắc đạo chứng tập trí diệt trí, tỷ trí biết rồi, đây
gọi là đạo.
Nếu ở
trong ấy đều thấy tánh không, đây gọi là đạo trí quán
Đạo Thánh đế.
Nếu Bồ
Tát có thể quán tứ Thánh đế như vậy, đây gọi là Bồ
Tát quán đế phương tiện.
Nếu tất
cả thọ gọi là khổ, ở nơi các thọ tư duy phân biệt, đây
gọi là khổ trí quán khổ Thánh đế.
Thọ nhơn
hoà hiệp, đây gọi là tập. Nếu ở nơi thọ nhơn biết đúng
chơn thiệt, đây gọi là tập trí quán Tập Thánh đế.
Nếu trừ
các thọ không có kẻ thọ nhận thọ, quán thọ diệt tận
mà chẳng chứng nơi diệt vì hoá độ chúng sanh. Đây gọi
là diệt trí quán Diệt Thánh đế.
Nếu có
sở thọ, đây gọi là đạo, dầu cố hoà hiệp mà dụ như
chiếc bè, chẳng vì sở thọ chẳng cầu nơi đạo, đây gọi
là đạo trí quán Đạo Thánh đế.
Biết như
vậy thấy bốn thánh đế thanh tịnh bình đẳng, đây gọi
là Bồ Tát quán đế phương tiện.
Lại tóm
lược để nói.
Sanh khổ
đây gọi là khổ. Nếu quán nơi sanh đây gọi là khổ trí
quán Khổ Thánh đế.
Sanh từ
nơi nhơn duyên, đây gọi là tập. Nếu quán có chẳng phải
có, đây gọi là tập trí quán Tập Thánh đế.
Tất cả
sanh chẳng phải sanh tức là chẳng phải diệt. Nếu pháp chẳng
sanh thì không có diệt, đây gọi là diệt.
Nếu quán
diệt ấy, đây gọi là diệt trí quán Diệt Thánh đế.
Nếu ở
những như vậy mà suy cầu xứng lượng tư duy phân biệt,
đây gọi là đạo.
Nếu dứt
diệt suy cầu phân biệt ấy mà nhập pháp môn, đây gọi là
trí quán Đạo Thánh đế.
Nếu trụ
nơi trí chẳng chứng Thánh đế, đây gọi là Bồ Tát quán
đế phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán duyên phương tiện?
Vì tụ tập
bất thiện tư duy nên vô minh tập. Vì vô minh tập nên hành
tập. Vì hành tập nên thức tập. Vì thức tập nên danh sắc
tập. Vì danh sắc tập nên lục nhập tập. Vì lục nhập tập
nên xúc tập. Vì xúc tập nên thọ tập. Vì thọ tập nên
ái tập. Vì ái tập nên thủ tập. Vì thủ tập nên hữu tập.
Vì hữu tập nên sanh tập. Vì sanh tập nên lão tử tập. Vì
lão tử tập nên ưu bi khổ não tập.
Nếu biết
các khổ tụ tập như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán duyên
phương tiện.
Nếu trụ
các pháp tụ tập như vậy thì chẳng trưởng dưỡng, không
sở tác, không tranh tụng, không có chủ, không sở thuộc,
không hệ phược. Nghĩa là nếu nhơn thiện pháp, nếu nhơn
bất thiện pháp, nếu nhơn bất động pháp, nếu nhơn hướng
Niết bàn pháp. Các pháp như vậy phân biệt đúng thiệt.
Nếu các
chúng sanh căn lượng chừng hạn, nhơn các căn ấy gây tạo
các nghiệp, hoặc có thọ báo hoặc chẳng thọ báo, đều
khéo biết nguyên nhơn tụ tập phương tiện. Đây gọi là
Bồ Tát quán duyên phương tiện.
Nếu bất
thiện tư duy diệt thì vô minh diệt. Vì vô minh diệt nên hành
diệt. Vì hành diệt nên thức diệt. Vì thức diệt nên danh
sắc diệt. Vì danh sắc diệt nên lục nhập diệt. Vì lục
nhập diệt nên xúc diệt. Vì xúc diệt nên thọ diệt. Vì
thọ diệt nên ái diệt. Vì ái diệt nên thủ diệt. Vì thủ
diệt nên hữu diệt. Vì hữu diệt nên sanh diệt. Vì sanh diệt
nên lão tử diệt. Vì lão tử diệt nên ưu bi khổ não diệt.
Nếu biết
các khổ tụ diệt như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán duyên
phương tiện.
Tất cả
các pháp thuộc nhơn, thuộc duyên, thuộc hoà hiệp. Nếu pháp
thuộc nhơn duyên hoà hiệp, thì pháp ấy chẳng thuộc ngã,
nhơn, chúng sanh, thọ mạng. Nếu pháp chẳng thuộc ngã, nhơn,
chúng sanh, thọ mạng thì chẳng nhập vào pháp số. Có thể
biết như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán duyên phương tiện.
Nếu Bồ
Tát tu tập các pháp vì trợ Bồ đề an ở Bồ đề. Các duyên
như vậy đều thấy diệt tận mà chẳng thủ chứng vì hoá
độ chúng sanh. Đây gọi là Bồ Tát quán duyên phương tiện.
Thế nào
là quán tam thế phương tiện?
Nếu Bồ
Tát nhớ quá khứ thế thân mình thân người, tâm tâm số
pháp thiện và bất thiện. Tâm bất thiện thì quở trách chê
mắng, tâm thiện thì hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây
gọi là Bồ Tát quán quá khứ phương tiện.
Vị lai thế
tâm và tâm sô pháp một bề chuyên niệm đạo Bồ đề. Nếu
khởi thiện tâm đều nguyện hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Bao nhiêu tâm tâm số pháp bất thiện chẳng cho vào tâm. Phát
nguyện như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán vị lai phương
tiện.
Hiện tại
tâm và tâm số pháp thiện tư duy làm bao nhiêu nghiệp đều
hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây gọi là Bồ Tát quán
hiện tại phương tiện.
Quán phương
tiện như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán tam thế phương tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát khéo hiểu tam thế không không có sở hữu. Nếu quán
như vậy, do sức trí huệ quán tam thế rỗng không, nơi tam
thế chư Phật vun trồng vô lượng công đức đêu đem hồi
hướng Vô thượng Bồ đề, vì sức phương tiện vậy. Đây
gọi là Bồ Tát quán tam thế phương tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát dầu thấy quá khứ tận pháp chẳng đến vị lai mà
thường tu thiện pháp siêng tinh tiến chẳng giải đãi. Bồ
Tát quán vị lai pháp dầu không có sanh xuất mà chẳng bỏ
tinh tiến nguyện hướng Bồ đề. Bồ Tát quán hiện tại
pháp dầu niệm niệm diệt mà tâm mình chẳng quên phát xu
Bồ đề. Phương tiện như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán
tam thế phương tiện.
Quá khứ
đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tại chẳng trụ, dầu quán
tâm tâm số pháp sanh diệt tán hoại như vậy, mà thường
chẳng bỏ tu tập các thiện căn trợ Bồ đề pháp. Phương
tiện như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán tam thế phương tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát nếu các thần thông nhớ quá khứ thế những thiện
căn đã được làm, nhớ rồi hồi hướng Vô thượng Bồ
đề. Niệm vị lai thế thiện căn chưa sanh nguyện tâm dự
tính làm đều thành tựu như ý. Niệm hiện tại thế thường
sanh thiện căn chuyên niệm chẳng giải đãi hồi hướng đạo
Vô thượng Bồ đề. Phương tiện như vậy, đây gọi là Bồ
Tát quán tam thế phương tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát nếu hoá độ chúng sanh, niệm quá khứ thế đã làm
thiện căn trợ đạo công đức, những là tuỳ chúng sanh tâm
đáng được hoá độ ấy thì đúng như sở thích của họ
đều đã hoá độ xong. Nếu các chúng sanh vị lai thế, hoặc
họ cần thấy Phật thấy Thánh nhơn mà được độ ấy thì
tuỳ hình thích đáng đều làm cho họ được độ. Nếu các
chúng sanh hiện tại thế nên nghe pháp hay là nên thấy thần
lực thì cũng tuỳ chỗ thích đáng mà đều hiện hóa đó.
Tuỳ chỗ
giáo hoá các chúng sanh rồi liền ở nơi tam thế thành tựu
tự lợi lợi tha. Tất cả sự lợi ấy đều vì Bồ đề
đủ vô ngại trí.
Phương tiện
như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán tam thế phương tiện.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Thế nào là Bồ Tát quán các thừa phương
tiện?
Xuất thế
có ba thừa là Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Đại thừa.
Thế có
hai thừa là Thiên thừa và Nhơn thừa.
Thế nào
là Bồ Tát quán Thanh Văn thừa?
Phật chưa
xuất thế thì không có Thanh Văn thừa. Tại sao vậy? Vì từ
người khác nghe pháp sanh chánh kiến. Đó là nghe pháp rồi
trì giới oai nghi, oai nghi đủ rồi giới tụ thành tựu. Giới
tụ đầy đủ rồi định tụ đầy đủ. Định tụ đầy
đủ rồi huệ tụ đầy đủ. Huệ tụ đầy đủ rồi giải
thoát tụ đầy đủ. Giải thoát tụ đầy đủ rồi giải
thoát tri kiến tụ đầy đủ.
Phương tiện
như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán Thanh Văn thừa phương
tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát quán Thanh Văn thừa, hoặc thiện bất thiện và bất
động hành, tâm thường chê trách nhàm lìa thế giới, quán
tất cả hành vô thường khổ vô ngã tịch diệt Niết bàn,
nhẫn đến chẳng có một niệm hy vọng thọ sanh, thường
có lòng sợ sệt chẳng ưa thích, quán ấm như oán thù, giới
như rắn độc, nhập như xóm vắng trống, nơi tất cả thú
chẳng nguyện thọ sanh. Nếu có thể khai thị phân biệt như
vậy, đây gọi là Bồ Tát quán Thanh Văn thừa phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán Duyên Giác thừa phương tiện?
Nếu Duyên
Giác xuất thế, Bồ Tát quán sở hành của họ như thiệt
biết đó.
Sở hành
của Duyên Giác vượt hơn công đức của Thanh Văn, dục tinh
tiến bất phóng dật trì giới, ít nghe học, chẳng nhiều
cúng dường chư Phật Thế Tôn cung cấp hầu hạ phục dịch,
do trung căn nên thường sanh tâm nhàm, các việc được làm
thảy đều kém ít, nhàm sợ ồn náo thường thích xa lìa,
một mình ở nơi vắng vẻ rảnh rang, oai nghi tường tự, ra
vào ngưng trọng, an tâm yên lặng bớt việc người, có thể
vì chúng sanh mà hiện phước điền thế gian, tâm họ nghiền
ngẫm quán mười hai nhơn duyên, thương niệm một pháp xuất
thế Niết bàn. Luôn đi trong thiền định, chẳng từ người
nghe mà tự nhiên giác ngộ ít phần cảnh giới. Vì nhơn duyên
ngộ đạo nên gọi là Duyên Giác.
Nếu có
thể khai thị phân biệt như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán
Duyên Giác thừa phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán Đại thừa phương tiện?
Thừa ấy
vô lượng. Nay ở trong ấy sẽ nói phần ít.
Thừa ấy
vô lượng hay dung thọ tất cả chúng sanh vì không có quái
ngại vậy. Thừa ấy tăng trưởng tất cả thiện căn vì khiến
vô lượng chúng sanh được thọ dụng vậy. Thừa ấy đầy
đủ các Ba la mật vì hay tuỳ chúng sanh tâm hành mà hoá độ
vậy. Thừa ấy có thể quá các pháp trợ đạo vì tiến đến
vô ngại tới đạo tràng vậy.Thừa ấy bình đẳng vì vô
ngại quang minh chiếu vô lượng tất cả chúng sanh đều kham
thọ vậy. Thừa ấy vô uý vượt quá khiếp nhược đạo vì
đều có thể thị hiện các Phật pháp vậy. Thừa ấy có
thể phá hoại tất cả các ma ngoại đạo tà chúng vì đã
xong mười hai duyên kiến lập tá trợ tràng Bồ đề vậy.
Thừa ấy có thể trừ tất cả các biên kiến hữu vô đoạn
thường nhơn duyên khởi lên phiền não chướng ngại che trùm
nghi ngờ đùa cợt vì được Phật vô ngại chơn trí huệ
vậy. Thừa ấy giàu đủ các trân bửu chơn thiệt chẳng hư
hay lợi ích chúng sanh vì đại bi dũng mãnh bổn nguyện thành
tựu vậy. Thừa ấy đầy đủ thập lực, vô uý pháp, bất
cộng, tướng hảo trang nghiêm thân khẩu ý vậy.
Phương tiện
như vậy, đây gọi là Bồ Tát quán Đại thừa phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán nhứt thiết pháp phương tiện?
Đó là hoặc
hữu vi hoặc vô vi, Bồ Tát ở trong các pháp ấy khéo biết
phương tiện.
Thế nào
là Bồ Tát quán hữu vi phương tiện?
Những thân
thiện nghiệp, những khẩu thiện nghiệp, những ý thiện nghiệp
nguyện đem hồi hướng Vô thượng Bồ đề, đây gọi là
hữu vi phương tiện.
Nếu quán
các thiện nghiệp thân khẩu ý đồng tướng Bồ đề mà hồi
hướng Bồ đề, đây gọi là Bồ Tát quán vô vi phương tiện.
Còn nữa,
nếu có thể tụ tập ngũ Ba la mật, đây gọi là hữu vi phương
tiện.
Dầu biết
Bát Nhã Ba la mật tánh nó vô vi mà chỗ được tụ tập trọn
không hề nhàm chê, cần phải đầy đủ các Ba la mật, hiểu
sâu thiện căn đồng vô lậu Bồ đề mà còn nguyện thành
Nhứt thiết chủng trí, đây gọi là Bồ Tát vô vi phương
tiện.
Còn nữa,
Bồ Tát trụ trong tâm vô ngại bình đẳng dùng Tứ nhiếp
pháp nhiếp thủ chúng sanh, đây gọi là hữu vi phương tiện.
Nếu khéo
hiểu chúng sanh vô ngã vô nhơn không chỗ mong cầu biết Tứ
nhiếp pháp đồng vô vi giải thoát mà có thể hồi hướng
Nhứt thiết chủng trí, đây gọi là vô vi phương tiện.
Còn nữa,
nếu các phiền não sanh tử tương tục dứt đoạn khiến nó
chẳng khởi chỗ có thiện căn trợ Bồ đề ấy khiến chẳng
đoạn tuyệt nhẫn đến chẳng hành chút phần phiền não,
đây gọi là hữu vi phương tiện.
Dầu quán
không vô tướng vô nguyện biết ba môn không ấy tức là trợ
đạo phương tiện nên có thể chẳng chứng, đây gọi là
vô vi phương tiện.
Còn nữa,
dầu ở tam giới mà chẳng bị tam giới phiền não ô nhiễm,
đây gọi là hữu vi phương tiện.
Dầu xuất
tam giới mà chẳng chứng xuất, đây gọi là vô vi phương
tiện.
Như lời
Phật nói biết các pháp phương tiện thì có thể đầy đủ
Nhứt thiết chủng trí, tại sao, vì Nhứt thiết chủng trí
vô lượng vô biên đầy đủ chánh niệm huệ phương tiện,
vì vậy nên gọi là nhứt thiết pháp phương tiện.
Thưa Tôn
giả! Đây gọi là Bồ Tát trí huệ duyên tám phương tiện
vậy.
Thưa Tôn
giả! Tám phương tiện ấy nhiếp vô tận trí huệ của Bồ
Tát.
Huệ ấy
có thể hiểu, vì quán rõ thiện pháp bất thiện pháp vậy.
Huệ ấy
như mũi tên, vì hay bắn đúng pháp vậy.
Huệ ấy
hay làm vì chánh pháp hiện tại vậy.
Huệ ấy
chơn giải vì dứt trừ các kiến phiền não chướng ngại
các phú cái vậy.
Huệ ấy
định nguyện vì đều có thể đầy đủ bổn sở cầu vậy.
Huệ ấy
tiêu dung vì có thể trừ phiền não các cháy nóng vậy.
Huệ ấy
diệt dự vì chẳng dứt pháp lạc vậy.
Huệ ấy
chánh niệm vì rõ nghĩa sở duyên vậy.
Huệ ấy
an trụ vì đủ ba mươi bảy pháp trợ đạo vậy.
Huệ ấy
đắc tướng vì như thừa được hành đạo vậy.
Huệ ấy
giải tướng vì tánh trí chiếu vậy.
Huệ ấy
hay độ vì quá các lưu vậy.
Huệ ấy
hay tiến vì thành chánh định quyết định vậy.
Huệ ấy
chánh kiến vì đầy đủ tất cả thiện pháp vậy.
Huệ ấy
hoan hỷ vì có thể cứu vớt kẻ sa vào phiền não vậy.
Huệ ấy
thù thắng vì được đảnh pháp vậy.
Huệ ấy
vi diệu vì tự nhiên giác vậy.
Huệ ấy
chẳng hành vì chẳng gần tam thế vậy.
Huệ ấy
nhiếp thủ vì đủ tất cả phương tiện vậy.
Huệ ấy
hay đoạn dứt vì quá các tư tưởng vậy.
Huệ ấy
chẳng phóng dật vì bỏ lìa tối mờ vậy.
Huệ ấy
sơ thỉ vì phát hành tất cả thiện pháp vậy.
Huệ ấy
hay phát vì đủ các thừa vậy.
Huệ ấy
chiếu minh vì trừ lưới vô minh vậy.
Huệ ấy
cho con mắt vì tất cả chúng sanh như chỗ hiểu của họ đều
được tỏ rõ vậy.
Huệ ấy
không y chỉ vì quá nhãn sắc vậy.
Huệ ấy
đệ nhứt nghĩa vì xuất chơn thiệt vậy.
Huệ ấy
không tranh vì khéo phân biệt vậy.
Huệ ấy
tỏ rõ vì hướng về trí môn vậy.
Huệ ấy
vô tận vì hay đi khắp vậy.
Huệ ấy
chẳng nghịch vì thấy mười hai duyên vậy.
Huệ ấy
giải thoát vì các triền hệ phược đều đã khéo dứt vậy.
Huệ ấy
chẳng tạp vì lìa tất cả pháp chướng ngại vậy.