LXI
PHÁP HỘI VÔ TẬN
Ý BỒ TÁT
THỨ SÁU MƯƠI MỐT
Hán
dịch: Lưu Tống, Sa Môn Trí Nghiêm và Bửu Vân
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Bồ Tát lại
quán tâm hành nhiếp niệm đại bi giáo hoá chúng sanh không
có nhàm mỏi.
Bồ Tát lại
quán tâm hành chẳng khởi tướng tận diệt biến khác, chẳng
bỏ sanh tử tương tục phiền não. Chánh niệm tâm ấy biết
không có sanh khởi thành chánh quyết định.
Hành giả
như vậy chẳng sa vào Thanh Văn địa, Bích Chi Phật địa,
tột thế lực tâm ấy dùng nhứt niệm trí thành Vô thượng
Bồ đề.
Đây gọi
là Bồ Tát chánh tâm niệm xứ mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả! Thế nào là Bồ Tát quán pháp niệm xứ?
Bồ Tát
thường dùng huệ nhãn thấy tất cả pháp đến lúc ngồi
đạo tràng không có giữa chừng mất.
Đương lúc
quán pháp như vậy, Bồ Tát ấy chẳng thấy một pháp nhẫn
đến tướng vi tế lìa không, vô tướng, vô nguyện, vô tác,
vô sanh, vô diệt, vô vật, cũng chẳng thấy một pháp nhẫn
đến tướng vi tế chẳng nhập vào thập nhị duyên.
Bồ Tát
quán pháp thấy các phi pháp không gì chẳng phải là pháp.
Thế nào
là pháp? Đó là nghĩa vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ
mạng, đây gọi là pháp.
Thế nào
là phi pháp? Đó là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến,
thọ mạng kiến, đoạn kiến, thường kiến, hữu kiến, vô
kiến, đây gọi là phi pháp.
Còn nữa,
tất cả là pháp, tất cả là phi pháp. Tại sao vậy?
Quán không,
vô tướng, vô nguyện, đây gọi là tất cả pháp là pháp.
Ngã mạn,
kiêu mạn ngã và ngã sở nhiếp lấy các kiến, đây gọi là
tất cả pháp là phi pháp.
Lúc quán
pháp, Bồ Tát ấy chẳng thấy có pháp chẳng phải là nhơn
Bồ đề nhơn xuất thế đạo. Bồ Tát ấy biết tất cả
pháp đều là xuất thế được vô ngại đại bi.
Bồ Tát
ấy quán tất cả pháp phiền não kiết phược như tướng
ảo hoá. Biết các pháp ấy chẳng phải có phiền não chẳng
phải không phiền não. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát ấy tỏ biết
các pháp nghĩa không có hai tánh, các phiền não ấy không có
chỗ ẩn tàng không có tụ tập. Nếu hiểu phiền não thì
hiểu Bồ đề. Như phiền não tánh tức Bồ đề tánh. Bồ
Tát ấy an trụ chánh niệm không có một pháp có thể đem
phân biệt được, không có các chướng ngại khéo hay hiểu
rõ chánh trụ pháp tánh. Như trụ pháp tánh tức trụ chúng
sanh tánh. Như trụ chúng sanh tánh tức trụ hư không tánh.
Như trụ hư không tánh tức trụ Nhứt thiết pháp tánh.
Lúc quán
pháp, Bồ Tát y cứ Phật pháp hiểu tất cả pháp tức là
Phật pháp, tâm Bồ Tát lúc ấy chẳng sanh tận trí vô vi.
Dầu tận mà cũng chẳng tận, nhập vào vô sanh trí, cũng quán
chúng sanh chẳng bỏ giả danh.
Pháp niệm
xứ ấy, an trụ chánh niệm tất cả các pháp, đó là Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát chánh giác chỗ biết tất cả giả
danh các pháp tận vị lai tế trọn không quên mất.
Pháp niệm
xứ ấy, nói vô lượng hành thân cận Phật pháp hoại các
ma chúng được tự nhiên trí.
Đây gọi
là Bồ Tát chánh pháp niệm xứ mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Tứ chánh cần cũng chẳng
thể tận. Những gì là bốn?
Nếu là
pháp ác bất thiện chưa sanh, vì chẳng sanh nên sanh dục siêng
tinh tiến nhiếp tâm chánh trừ. Pháp ác bất thiện đã sanh
vì đoạn trừ nên sanh dục siêng tinh tiến nhiếp tâm chánh
trừ.
Pháp thiện
chưa sanh vì sanh nên sanh dục siêng tinh tiến nhiếp tâm chánh
trừ. Pháp thiện đã sanh vì an trụ tu tập để tăng thêm
rộng lớn chẳng mất nên sanh dục siêng tinh tiến nhiếp tâm
chánh trừ.
Pháp ác
bất thiện chưa sanh vì chẳng sanh nên sanh dục siêng tinh tiến.
Nói dục
ấy, là thiện tư duy vậy.
Nói siêng
tinh tiến ấy, là chẳng bỏ thiện tư duy vậy.
Nói nhiếp
tâm chánh trừ ấy, là quán thiện tư duy vậy.
Tại sao
vậy?
Vì lúc thiện
tư duy chẳng cho pháp ác bất thiện nhập vào tâm.
Thế nào
là pháp ác bất thiện?
Pháp ác
bất thiện chẳng phải bè bạn của giới tụ, chẳng phải
bè bạn của thiền định, chẳng phải bè bạn của trí huệ.
Thế nào
là chẳng phải bạn của giới tụ?
Hoặc phá
trọng giới và các giới khác. Đây gọi là chẳng phải bạn
của giới tụ.
Thế nào
là chẳng phải bạn của thiền định?
Hoặc phá
oai nghi và các pháp loạn tâm. Đây là chẳng phải bạn của
định tụ.
Thế nào
là chẳng phải bạn của huệ tụ?
Hoặc nhiếp
lấy các kiến và các kiến chướng ngại khác. Đây là chẳng
phải bạn của huệ tụ.
Đây gọi
là những pháp ác bất thiện.
Lúc thiện
tư duy, các pháp ác bất thiện ấy chẳng cho nhập vào tâm.
Đây gọi là Chánh cần thứ nhứt.
Pháp ác
bất thiện đã sanh vì đoạn dứt nên sanh dục siêng tinh tiến
nhiếp tâm chánh trừ.
Như trên
đã nói, pháp ác bất thiện tâm chẳng tụ họp không có nơi
chỗ không có trụ xứ, pháp ác bất thiện ấy vì tâm hành
đoạn dứt vậy, vì tịnh mà sanh dục, vì ngại chướng mà
sanh sân, vì vô minh duyên mà sanh ngu si. Thiện tư duy ấy
lúc quán bất tịnh diệt tham dục, lúc tu tập từ tâm diệt
sân hận, quán thập nhị duyên diệt ngu si. Các phiền não
như vậy tịch diệt tức là đoạn trừ tất cả giả danh,
lại cũng chẳng thấy có gì để đoạn. Đây gọi là đệ
nhị Chánh cần.
Pháp thiện
chưa sanh vì sanh nên sanh dục siêng tinh tiến nhiếp tâm chánh
trừ.
Các thiện
pháp ấy có đến vô lượng. Tại sao?
Vô lượng
thiện pháp được Bồ Tát tu tập, trong các thiện pháp ấy
thì dục là căn bổn.
Siêng tinh
tiến tu tập nhiếp tâm ấy là vượt quá thiện pháp.
Chánh trừ
ấy là tại tại xứ xứ thường ở tại thiện pháp. Đây
gọi là đệ tam Chánh cần.
Pháp thiện
đã sanh an trụ tu tập để tăng quảng chẳng mất nên nhiếp
tâm chánh trừ.
Các thiện
căn ấy đều đã hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Tại sao
vậy? Vì các thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề thì
chẳng thể cùng tận. Tại sao? Vì các thiện căn như vậy
chẳng y chỉ tam giới. Nếu y chỉ tam giới thì có tổn hao.
Vì thế nên nói hồi hướng Nhứt thiết chủng trí thì các
thiện căn như vậy chẳng thể tận. Đây gọi là đệ tứ
Chánh cần.
Đây gọi
là Bồ Tát tu Tứ chánh cần mà chẳng thể tận vậy.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Tứ như ý phần cũng chẳng
thể tận.
Những gì
là bốn? Đó là dục, tiến, tâm và tư duy.
Bốn pháp
như vậy lấy từ bi hỉ xả làm căn bổn.
Bốn tâm
vô lượng ấy thường thân cận. Vì thường thân cận nên
tâm điều nhu. Vì tâm điều nhu nên được nhập sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Vì nhập
các thiền ấy nên thân được nhẹ nhàng. Thành tựu thân
nhẹ tâm nhu như vậy nên nhập như ý phần. Khéo nhập như
ý phần rồi liền sanh thần thông.
Hoặc dục,
hoặc tiến, hoặc tâm, hoặc tư duy.
Dục ấy
là chuyên hướng pháp kia, tiến ấy là thành tựu pháp kia,
tâm ấy là quán sát pháp kia, tư duy ấy là phương tiện của
pháp kia.
Như ý phần
ấy đã được đầy đủ rồi thì có thể được thần thông.
Dục ấy là trang nghiêm, tiến ấy là thành tựu, tâm ấy là
chánh trụ, tư duy ấy là hay khéo phân biệt.
Bồ Tát
ấy được như ý phần theo chỗ hiểu, như chỗ làm, tâm được
tự tại, tuỳ ý qua xứ nào khéo làm sự việc rốt ráo thành
tựu tất cả bổn hành, như gió thổi hư không chẳng có chướng
ngại.
Đây gọi
là Bồ Tát Tứ như ý phần chẳng thể cùng tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Ngũ căn cũng chẳng thể
tận. Những gì là năm?
Tín căn,
tiến căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Thế nào
là Tín căn?
Tin nơi bốn
pháp:
Một là
ở trong sanh tử hành thế tục chánh kiến tin nơi nghiệp báo,
nhẫn đến mất mạng trọn chẳng làm điều ác.
Hai là tin
Bồ Tát hành chẳng theo các kiến, chuyên cầu Vô thượng Bồ
đề chẳng cầu thừa khác.
Ba là tin
hiểu các pháp đồng với pháp không, vô tướng, vô nguyện,
đồng đệ nhứt nghĩa đế, đồng với liễu nghĩa thậm thâm
nhơn duyên không có ngã, không có chúng sanh không có phân biệt.
Bốn là
tin tất cả chư Phật, Thập lực, Tứ vô uý, Thập bát bất
cộng pháp, tin như vậy rồi tiêu trừ lưới nghi tu tập Phật
pháp.
Đây gọi
là Bồ Tát Tín căn.
Thế nào
là Tiến căn?
Nếu pháp
đã nhiếp về tín căn thì pháp ấy được tu của tiến căn.
Đây gọi là Bồ Tát Tiến căn.
Thế nào
là Niệm căn?
Nếu pháp
được tu của tiến căn thì pháp ấy trọn chẳng quên mất.
Đây gọi là Bồ Tát Niệm căn.
Thế nào
là Định căn?
Nếu pháp
đã nhiếp về niệm căn, pháp ấy chẳng quên chẳng mất nhứt
tâm bất loạn. Đây gọi là Bồ Tát Định căn.
Thế nào
là Huệ căn?
Nếu pháp
được nhiếp về định căn, pháp ấy là sở quán của huệ,
là thể tánh của huệ, nội tự chiếu tỏ chẳng từ người
mà biết, tự trụ chánh hạnh. Đây gọi là Bồ Tát Huệ căn.
Năm căn
ấy đồng nối nhau sanh đủ tất cả pháp được thọ ký
biệt.
Ví như ngoại
đạo ngũ thông thần tiên chẳng thể quyết định biết tướng
sai biệt trong bào thai. Khi tướng nam nữ hiển hiện rồi họ
mới biết được.
Có nhiều
Bồ Tát không có các căn tín tiến v.v…chư Phật Thế Tôn
chẳng thọ ký cho họ.
Nếu Bồ
Tát thành tựu đầy đủ ngũ căn Phật mới thọ ký.
Đây gọi
là Bồ Tát Ngũ căn vô tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Ngũ lực cũng chẳng thể
tận.
Những gì
là năm?
Tín lực,
tiến lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Thế nào
là Tín lực?
Tín ấy
trọn không hề bị trở hoại, nhẫn đến thiên ma biến làm
thân Phật thị hiện xuất nhập thiền định giải thoát chẳng
thể khuynh động được tín lực của Bồ Tát . Đây gọi
là Bồ Tát Tín lực.
Thế nào
là Tiến lực?
Bồ Tát
tinh tiến ở nơi các thiện pháp được sức kiên cố, như
lực đã được tu các thiền định, tất cả chư Thiên thế
nhơn chẳng trở hoại được, như bổn sở nguyện đều được
thành tựu. Đây gọi là Bồ Tát Tiến lực.
Thế nào
là Niệm lực?
Bồ Tát
an trụ các thiện pháp chẳng bị phiền não phá hoại. Tại
sao? Vì sức chánh niệm của Bồ Tát hay xô dẹp phiền não.
Niệm lực như vậy không gì phá hoại được. Đây gọi là
Bồ Tát Niệm lực.
Thế nào
là Định lực?
Bồ Tát
xa lìa ồn náo thường thích độc hành. Bồ Tát ấy dầu có
chỗ nói mà ngôn ngữ âm thanh chẳng ngại Sơ thiền, khéo
trụ giác quán chẳng ngại Nhị thiền, lòng sanh hoan hỷ chẳng
ngại Tam thiền. Bồ Tát ấy dầu thích giáo hoá chúng sanh,
chẳng bỏ Phật pháp mà cũng chẳng ngại đệ Tứ thiền.
Lúc Bồ Tát ấy hành Tứ thiền, các pháp ngại chướng định
không làm gì được. Lúc ấy Bồ Tát chẳng xả định cũng
chẳng theo định, mà có thể tự tại thọ sanh các nơi. Đây
gọi là Bồ Tát Định lực.
Thế nào
là Huệ lực?
Bồ Tát
ấy biết pháp thế gian biết pháp xuất thế gian không có
một pháp nào có thể phá hoại được trí ấy. Bồ Tát thọ
sanh xứ nào, tất cả kỹ nghệ không theo thầy học mà đều
tự nhiên biết. Thế gian ngoại đạo các khổ hạnh khó làm,
vì giáo hoá họ, Bồ Tát ấy cũng thị hiện đồng hành với
họ. Pháp xuất thế ấy hay vượt quá pháp thế gian do vì
huệ lực thành tựu vậy, hàng chư Thiên và thế nhơn chẳng
bằng được. Đây gọi là Bồ Tát Huệ lực.
Đây gọi
là Bồ Tát Huệ lực vô tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Thất giác phần cũng chẳng
thể tận.
Những gì
là bảy?
Niệm giác
phần, trạch pháp giác phần, tiến giác phần, hỉ giác phần,
trừ giác phần, định giác phần và xả giác phần.
Thế nào
là Niệm giác phần?
Nếu niệm
giác phần có thể quán nơi pháp có thể phân biệt pháp soạn
họp tư duy trí huệ, cũng hay quán sát tự tướng các pháp.
Những gì
là tự tướng?
Quán tất
cả pháp tự tánh đều không, niệm như vậy khiến đều hiểu
tỏ. Đây gọi là Bồ Tát Niệm giác phần.
Thế nào
là trạch pháp giác phần?
Nếu có
thể phân biệt hiểu rõ tám vạn bốn ngàn pháp tụ, như các
pháp được hiểu rõ, liễu nghĩa là liễu nghĩa, bất liễu
nghĩa là bất liễu nghĩa, thế đế là thế đế, đệ nhứt
nghĩa đế là đệ nhứt nghĩa đế, giả danh là giả danh,
rõ đúng không nghi là rõ đúng không nghi. Các pháp như vậy
phân biệt tuyển trạch. Đây gọi là Bồ Tát Trạch pháp giác
phần.
Thế nào
là Tiến giác phần?
Như niệm
pháp, trạch pháp, hỉ pháp, trừ pháp, định pháp, xả pháp,
dùng trí nhiếp lấy tinh tiến dũng mãnh dục chẳng thối chuyển
siêng tu gắng sức chẳng bỏ bổn ý hành chánh đạo. Đâygọi
là Bồ Tát Tiến giác phần.
Thế nào
la Hỉ giác phần?
Pháp hỉ
được tu, Bồ Tát ở nơi vô lượng pháp lòng sanh hỉ duyệt
không có giải đãi thanh tịnh thích pháp, hỉ dũng dước ấy
có thể trừ thân tâm bỏ các phiền não. Đây là Bồ Tát
Hỉ giác phần.
Thế nào
là Trừ giác phần?
Nếu trừ
thân tâm và các phiền não, lìa các phú cái nhập vào cảnh
giới định khiến tâm chánh trụ. Đây gọi là Bồ Tát Trừ
giác phần.
Thế nào
là Định giác phần?
Như định
được nhập đều có thể biết rõ, chẳng phải chẳng nhập
định là biết rõ pháp, lại rõ các kiến phiền não kiết
phược vô thuỷ vô chung tâm thường bình đẳng tất cả các
pháp không có tướng biệt dị, có thể biết các pháp bình
đẳng như vậy. Đây gọi là Bồ Tát Định giác phần.
Thế nào
là Xả giác phần?
Nếu pháp
ưu hay hỉ, Bồ Tát tâm chẳng chìm, cũng chẳng bị pháp thế
gian kéo níu, không có cao không có hạ chánh trụ bất động,
không có các lậu không mừng không tham trước, không có các
chướng ngại chánh trực tuỳ thuận chơn đế chánh đạo.
Đây là Bồ Tát Xả giác phần.
Đây gọi
là Bồ Tát Thất giác phần mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát Bát thánh đạo phần cũng
chẳng thể tận.
Những gì
là tám?
Chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tiến, chánh niệm, chánh định.
Thế nào
là chánh kiến?
Nếu thấy
xuất thế chẳng khởi ngã kiến, chúng sanh, thọ mạng, dưỡng
dục, sĩ phu, đoạn kiến, thường kiến, hữu kiến, vô kiến,
cũng lại chẳng khởi thiện cùng bất thiện vô ký các kiến
chấp, nhẫn đến chẳng khởi sanh tử Niết bàn hai tướng
kiến ấy. Đây gọi là Bồ Tát Chánh kiến.
Thế nào
là Chánh tư duy?
Nếu tư
duy mà hay phát khởi tham dục, sân hận, ngu si các phiền não
thì chẳng gọi là chánh. Chánh tư duy ấy chẳng tư chẳng
khởi các sự như vậy, chỉ tư giới, định, huệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến. Chánh tư duy ấy có thể suy nghĩ an trụ
giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến như vậy.
Tư duy như vậy gọi là Chánh tư duy.
Thế nào
là Chánh ngữ?
Phàm có
diễn nói chẳng làm cho mình có khổ não, cũng chẳng tổn
người, thành tựu lời nói tốt lành vi diệu như vậy thẳng
đến chánh đạo. Đây gọi là Chánh ngữ.
Thế nào
là Chánh nghiệp?
Nếu là
hắc nghiệp thì có hắc báo, là bạch nghiệp thì có bạch
báo, là hắc bạch nghiệp thì có hắc bạch báo, là phi hắc
bạch nghiệp thì có phi hắc bachj báo, Bồ Tát trọn chẳng
dám làm.
Nếu là
nghiệp có thể tận nghiệp thì Bồ Tát ắt làm.
Nghiệp được
Bồ Tát ấy y chỉ, siêng tu các chánh nghiệp như vậy. Đây
gọi là Bồ Tát Chánh nghiệp.
Thế nào
là Chánh mạng?
Nếu chẳng
bỏ Thánh chủng đầu đà oai nghi, chẳng động chẳng chuyển
không có các gian siểm, chẳng bị lợi dưỡng thế gian kéo
dắt, dễ nuôi dễ đủ thường tự kiên trì oai nghi lễ tiết.
Thấy người được lợi tâm chẳng sanh não. Nơi lợi dưỡng
của mình thường biết thôi đủ. Chánh hạnh như vậy được
Thánh nhơn khen. Đây gọi là Bồ Tát Chánh mạng.
Thế nào
là Chánh tiến?
Nếu tiến
đến tà thì chẳng phải chỗ được Thánh khen, đó là tham
dâm sân hận ngu si các phiền não. Chẳng chánh tinh tiến ấy
Bồ Tát trọn chẳng làm.
Nếu là
pháp có thể nhập vào chánh đế thánh đạo tịch diệt Niết
bàn phan duyên chánh lộ. Chánh tinh tiến ấy Bồ Tát tu tập
siêng làm. Đây gọi là Bồ Tát Chánh tinh tiến.
Thế nào
là Chánh niệm?
Nếu là
niệm chẳng mất chẳng động nơi pháp, chánh trực chẳng
cong vạy, thấy lỗi sanh tử tiến tới Niết bàn, cột tâm
chẳng quên chẳng mất chánh đạo. Đây gọi là Bồ Tát Chánh
niệm.
Thế nào
là Chánh định?
Nếu là
định chẳng loạn nơi tất cả pháp, lúc Bồ Tát ấy trụ
như vậy thành chánh quyết định. Đây gọi là Chánh định.
Bồ Tát
trụ tam muội ấy vì tất cả chúng sanh mà được giải thoát
thành chánh quyết định. Đây gọi là Chánh định.
Bát Thánh
đạo nầy đều là đạo của tất cả chư Phật quá khứ,
vị lai, hiện tại, Bồ Tát ấy hiểu rõ rồi diễn nói khai
thị phân biệt hiển hiện thành tựu Phật đạo.
Đây gọi
là Bồ Tát Thánh đạo phần chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tu hành định huệ cũng chẳng
thể tận.
Thế nào
là Định?
Nếu tâm
tịch tĩnh chánh tịch tĩnh tịch diệt chẳng não, tâm thường
chẳng loạn thủ hộ các căn, chẳng động chẳng chuyển không
có sốt bạo an tường tịch mặc kiên trì chẳng mất, khéo
điều nhu nhuyến ở riêng nhàn tĩnh, thân thì xa lìa, tâm chẳng
hồi chuyển. Suy nghĩ ưa thích chỗ a lan nhã vắng vẻ, không
có ác cầu, cũng không có chỗ mong cầu, chẳng có cầu nhiều,
chánh hạnh chánh mạng oai nghi kiên cố, biết phải lúc, tuỳ
theo phải lúc, thường biết thôi đủ. Dễ nuôi dễ đủ vì
có sức kham nhẫn vậy. Tâm không có cao không có hạ có thể
nhẫn được lời mắng nhiếc. Phát tâm chuyên hướng thiện
pháp tư duy, thích tư duy niệm xứ và các thiền chi, phát khởi
từ tâm nhập vào bi tâm, an trụ hỉ tâm khéo tu xả tâm, chánh
nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thìên, không xứ,
thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, khéo
có thể tư duy cửu thứ đệ định. Đây gọi là Định. Tóm
lại, Bồ Tát trợ định vô lượng vô biên siêng năng tu tập.
Đây gọi là Bồ Tát định chẳng thể tận.
Thế nào
là Huệ?
Huệ ấy
tu tập trợ đạo nhập vào các pháp vô ngã, vô nhơn, chúng
sanh, thọ mạng. Huệ như vậy phân biệt các ấm hư ảo như
hoá, phân biệt các giới bình đẳng và các nhập hư không
tụ, phân biệt các đế thảy đều sáng tỏ, tuỳ thuận quán
biết mười hai nhơn duyên, phân biệt các kiến nhơn quả quả
chứng.
Nói là phân
biệt ấy, nơi tất cả pháp có thể được chánh kiến. Như
thiệt mà thấy chơn kiến, không kiến, vô tướng kiến, vô
nguyện kiến. Lại phân biệt ấy là vì vô phân biệt nên
phân biệt.
Nói là kiến
ấy cũng không chỗ thấy không chỗ biết khác. Kiến như vậy
là chơn thiệt kiến. Thấy chơn thiệt ấy tức được phương
tiện.
Bồ Tát
ấy huệ như vậy thấy chẳng theo vô vi, tu hành các thiện
pháp tâm không chỗ trụ trước, đây gọi là huệ.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành định huệ mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tổng trì biện tài cũng
chẳng thể tận.
Thế nào
là Tổng trì?
Những thiện
căn được tu tập, Bồ Tát chánh niệm tích tập. Bao nhiêu
tám vạn bốn ngàn pháp tụ đã có Bồ Tát có thể chánh thọ
trì chẳng quên chẳng mất. Đây gọi là Bồ Tát tổng trì.
Lại Bồ
Tát tổng trì ấy, hoặc là tất cả chư Phật chỗ nói diệu
pháp, hoặc là tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, chư Thiên, thế
nhơn, chúng sanh phàm phu có bao nhiêu âm thanh lời lành, đều
có thể thọ trì cả. Đây gọi là Bồ Tát tổng trì.
Dầu lúc
kiếp tai khởi phải bỏ mạng thọ sanh xứ khác, Bồ Tát ấy
vẫn chánh niệm tổng trì chẳng quên chẳng mất. Như nhìn
thấy quả a ma lặc trong lòng bàn tay, Bồ Tát ấy xem thấy
tất cả pháp cũng như vậy. Đây gọi là Bồ Tát tổng trì.
Thế nào
là Biện tài?
Bồ Tát
nói pháp không có trệ ngại, nói pháp vô trụ, nói pháp không
dứt, nói pháp thông lẹ, nói pháp vui hoà, nói pháp nhanh chóng.
Bồ Tát nói pháp như vậy là quả báo thanh tịnh do nghiệp
lành đời trước, được chư Phật hộ niệm, chư Thiên nhiếp
thọ, nói pháp không sai lầm, chẳng luống công, tiến đến
Niết bàn.
Bồ Tát
thành tựu biện tài như vậy, có bao nhiêu sắc tượng và
các loài chúng sanh, Bồ Tát biện tài ứng cơ chẳng dự tư
duy chẳng dự phân biệt trước, Bồ Tát giỏi có thể nói
tán kệ tụng trong khế kinh.
Bồ Tát
nếu đến trong đại chúng Sát Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả,
đại chúng Sa Môn, đại chúng Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên,
Phạm Thiên, ma chúng, nơi nơi chỗ chỗ tự nhiên có thể biết
rõ tất cả chúng sanh căn lượng, Bồ Tát dùng vô ngại biện
mà vì họ thuyết pháp.
Bồ Tát
ấy như bổn hỷ lạc giảng tuyên pháp yếu trọn đời chẳng
dứt. Đây gọi là Bồ Tát biện tài.
Đây gọi
là Bồ Tát tổng trì biện tài cũng chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát soạn tập bốn pháp cũng
chẳng thể tận.
Những gì
là bốn?
Một là
Bồ Tát ấy biết tất cả hành vô thường. Hai là biết tất
cả hành khổ. Ba là biết tất cả pháp vô ngã và bốn là
biết tất cả pháp tịch diệt Niết bàn.
Thế nào
là Vô thường nghĩa?
Vô sở hữu
là vô thường nghĩa. Vô sở phá hoại là vô thường nghĩa.
Nghĩa vô thường ấy tức là nghĩa vô ngã, nếu pháp vô ngã
thì không gì phá hoại được vì là tịch diệt vậy. Đây
gọi là vô thường nghĩa.
Thế nào
là Khổ nghĩa?
Vì vô sở
cầu nên là khổ nghĩa. Vì ái nhiễm hết nên là khổ nghĩa.
Vì vô sở nguyện nên là khổ nghĩa. Vì không rỗng không có
sở hữu nên là khổ nghĩa. Đây gọi là khổ nghĩa.
Thế nào
là Vô ngã nghĩa?
Cứu cánh
vô ngã là vô ngã nghĩa. Như vô ngã nghĩa tức là không rỗng
nghĩa, là vô sở hữu nghĩa, là hư cuống chẳng thiệt nghĩa.
Đây gọi là vô ngã nghĩa.
Thế nào
là Tịch diệt Niết bàn nghĩa?
Tịch diệt
nghĩa ấy chẳng phải là niệm niệm diệt. Như chẳng phải
niệm niệm diệt tức là tịch diệt. Bồ Tát được trí huệ
vô tận ấy biết tất cả pháp tướng đồng với tịch diệt.
Tịch diệt ấy tức là Niết bàn nghĩa.
Đây gọi
là Bồ Tát soạn tập bốn pháp mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nhứt đạo cũng chẳng thể
tận.
Thế nào
là Nhứt đạo?
Bồ Tát
chỗ được chơn thiệt trí huệ chẳng từ người khác nghe.
Lại nhứt
đạo ấy, Bồ Tát độc nhứt không có bạn lữ, đã ở nơi
Vô thượng Bồ đề có thể đại trang nghiêm dùng thế lực
tinh tiến của mình nhiếp lấy, cứu cánh tự tu tập chẳng
nhờ người làm. Bồ Tát tự dùng sức nhơn duyên dũng mãnh
kiến lập trang nghiêm kiên cố như vậy. Như các chúng sanh
tạo tác bao nhiêu thiện nghiệp, ta cũng sẽ có thể làm nên
tất cả như vậy. Và các Thánh Nhơn từ lúc sơ phát tâm đến
sau làm bao nhiêu công hạnh ta cũng sẽ làm.
Bố thí
chẳng phải là bạn của ta mà ta là bạn của bố thí. Trì
giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí huệ chẳng
phải là bạn của ta mà ta là bạn của chúng.
Các Ba la
mật chẳng thể sai sử ta mà ta có thể sai sử chúng, nhẫn
đến các thiện căn cũng đều như vậy. Các pháp như vậy
dầu chẳng phải bạn của ta mà ta cần phải làm. Chẳng cậy
dựa nơi kia, Bồ Tát tự lực dũng mãnh riêng làm không có
bạn, ngồi toà kim cương nơi đạo tràng phá các ma chúng,
dùng một niệm huệ thành Vô thượng Bồ đề. Bồ Tát phải
tỏ rõ phân biệt như vậy.
Đây gọi
là Bồ Tát Nhứt đạo vô tận.
Thưa Tôn
giả Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát sở tu phương tiện cũng
chẳng thể tận.
Thế nào
là Phương tiện?
Thấy tất
cả pháp là phương tiện. Phát khởi các pháp là phương tiện.
Làm Bồ Tát sứ là phương tiện. Cứu cánh phân biệt là phương
tiện. Không có hạn lượng là phương tiện. Chí ý thường
cầu pháp xuất thế là phương tiện. Lúc bố thí liền có
đầy đủ các Ba la mật là phương tiện. Lúc trì giới nơi
nơi xứ xứ tự tại vãng sanh là phương tiện. Lúc nhẫn nhục
trang nghiêm tự thân và Bồ đề đạo là phương tiện. Lúc
hai tinh tiến tâm không có sở trụ là phương tiện. Lúc tu
thiền định không có thối thất là phương tiện. Lúc tu trí
huệ chẳng chứng vô vi là phương tiện. Lúc tu tâm từ thương
kẻ không có thế lực là phương tiện. Lúc tu tâm bi chẳng
nhàm sanh tử là phương tiện. Lúc tu tâm hỉ chẳng thích ở
chỗ vui là phương tiện. Lúc tu tâm xả phát tâm tu tập tất
cả thiện căn là phương tiện. Lúc tu thiên nhãn là muốn
thành tựu chư Phật nhãn là phương tiện. Lúc tu thiên nhĩ
là vì muốn thành tựu chư Phật nhĩ là phương tiện. Lúc
tu tha tâm trí là vì muốn được chư Phật trí biết tất
cả chúng sanh căn lượng cạn sâu là phương tiện. Lúc tu
túc mạng trí là vì được Phật trí biết tam thế vô ngại
là phương tiện. Lúc tu tập thần thông là vì muốn được
chư Phật thần thông lực là phương tiện. Tuỳ chúng sanh
tâm là phương tiện. Đã tự hiểu rõ lại hiểu rõ chúng
sanh là phương tiện. Đã tự độ rồi thị hiện chưa độ
mà gắng sức siêng tu cầu được độ thế là phương tiện.
Đã lìa phiền não mà thị hiện phiền não là phương tiện.
Đã xả bỏ gánh nặng mà thị hiện có gánh nặng là phương
tiện. Hay biết căn lượng chúng sanh tuỳ căn lượng thuyết
pháp là phương tiện. Khéo có thể dạy bảo tiến tu hàng
độn căn chúng sanh là phương tiện. Biết thời biết phi thời
là phương tiện. Biết chúng sanh có thể hành đạo mà sa vào
tà kiến có thể đặt ở chánh đạo là phương tiện. Có
thể khiến lượng làm vô lượng khiến vô lượng làm lượng
là phương tiện. Khiến tổn hoại hoàn phục như cũ là phương
tiện. Thị hiện thắng kẻ kia là phương tiện. Thị hiện
nói Niết bàn có ngũ dục lạc là phương tiện. Đã được
giải thoát thị hiện có hệ phược là phương tiện. Ở nơi
sanh tử mà chẳng đoạ sanh tử là phương tiện. Nơi các oai
nghi không chỗ chuyên đúng cũng chẳng thối thất là phương
tiện. Chỉ quán chúng sanh chẳng thấy trì giới hay phá giới
là phương tiện. Nhiếp các kiến duyên chẳng sanh tranh cạnh
là phương tiện. Rõ âm thanh ấy giả danh không thiệt là phương
tiện. Thường đi trong tam giới là phương tiện. Được giải
thoát tướng hành là phương tiện. Thân cận phàm phu như thân
cận Thánh nhơn là phương tiện. Chẳng chứng Niết bàn thường
ở sanh tử là phương tiện. Nơi mà hành xứ hiển hiện đại
quang minh không có phiền não là phương tiện. Tất cả thị
tất cả phi là phương tiện.
Đây gọi
là Bồ Tát tu hành phương tiện cũng chẳng thể tận.
Thưa Tôn
giả! Đây gọi là Bồ Tát tám mươi vô tận. Tám mươi vô
tận ấy đều có thể chứa đựng tất cả Phật pháp”.
Lúc Vô Tận
Ý đại Bồ Tát nói pháp môn phẩm ấy, có sáu mươi bảy
trăm ngàn chúng sanh, người chưa phát tâm, đều liền phát
tâm Vô thượng Bồ đề. Năm trăm hai ngàn đại Bồ Tát được
Vô sanh pháp nhẫn.
Bấy giờ
đại chúng dâng các thứ hoa, các thứ tràng hoa, các thứ lọng
hoa cúng dường Như Lai và Vô Tận Ý đại Bồ Tát cùng kinh
điển ấy.
Trên hư
không có vô lượng thiên nhạc tự nhiên phát thanh nói rằng:
“Chư Phật Thế Tôn trong vô lượng kiếp tập họp Vô thượng
Bồ đề, nay trong hội Đại Tập nầy Vô Tận Ý Bồ Tát đã
nói nghĩa ấy. Nếu có ai nghe pháp môn vô tận ấy mà tin hiểu
thọ trì đọc tụng giải thuyết, nên biết người ấy là
đầy đủ pháp vô tận ấy vậy”.
Đức Thế
Tôn lấy y trùm vai ban cho Vô Tận Ý Bồ Tát mà nói rằng:
“Lành thay lành thay! Đại Sĩ nói nghĩa ấy rất hay, chẳng
phải chỉ có ta hứa khả, thập phương chư Phật cũng như
vậy”.
Vô Tận
Ý đại Bồ Tát hai tay bưng y để trên đỉnh đầu mình mà
bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chư Thiên và thế
nhơn sẽ coi y nầy hơn cái tháp, vì là vật được Như Lai
dùng”.
Lúc bấy
giờ có nhiều các thứ y báu, các thứ lọng báu, các thứ
phan báu, các thứ cây báu, các thứ tràng hoa báu tự nhiên
từ thập phương thế giới bay đến che Vô Tận Ý đại Bồ
Tát để cúng dường.
Các thứ
y, lọng, phan, thọ, tràng hoa báu ấy tự nhiên diễn nói lời
rằng: “Lành thay lành thay! Thiện nam tử có thể khéo nói
pháp môn vô tận ấy. Như lời ông đã nói, được chúng ta
hứa khả”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Những
y báu cúng dường như vậy từ xứ nào đến phát ra tiếng
nói như vậy?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Lúc Vô Tận Ý Bồ Tát sơ phát
tâm Vô thượng Bồ đề giáo hoá các chúng sanh ây, nay họ
đã thành Vô thượng Bồ đề ở thế giới mười phương.
Đây là chư Phật Chánh Biến Tri kia vì biết ơn báo ơn nên
sai các thứ báu ấy đến khen ngợi công đức chơn thiệt
của Vô Tận Ý Bồ Tát và cũng cúng dường kinh điển được
tuyên nói”.
Lúc nầy
đại chúng đối với Vô Tận Ý Bồ Tát càng thêm cung kính
tôn trọng tán thán đồng nói rằng: “Hôm nay chúng tôi mừng
được đại lợi ích, được thấy Vô Tận Ý Bồ Tát cung
kính cúng dường tôn trọng tán thán và được nghe pháp môn
vô tận. Nếu có ai tai được nghe danh tự Vô Tận Ý Bồ Tát
cũng được lợi ích lành hà huống mắt thấy gồm được
nghe kinh nầy”.
Đức Thế
Tôn ở trong đại chúng nghe lời ấy liền bảo Xá Lợi Phất
Tôn giả rằng: “Nầy Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử
thiện nữ nhơn học Bồ Tát đạo trong một kiếp cúng dường
chư Phật học giới oai nghi do sức kham nhẫn tận sanh tử
khổ tế của các chúng sanh, siêng năng tinh tiến tu tập như
cứu đầu cháy, nơi các thiền định nhứt tâm thành tựu
trí huệ phương tiện, nếu rời lìa kinh điển nầy, ta nói
người ấy chưa có thể đầy đủ sáu Ba la mật”.
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nghe kinh điển
nầy tin hiểu thọ trì đọc tụng giải nghĩa như thuyết tu
hành, ta nói người ấy đã là đầy đủ sáu Ba la mật được
thành tựu Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy?
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu có Bồ Tát thọ trì kinh nầy vì người diễn
nói tức là đầy đủ Đàn Ba la mật. Tại sao? Vì trong các
sự bố thí thì pháp thí là hơn cả, chẳng hề quên mất
tâm Bồ Tát .
Nếu trì
kinh nầy tức là trì giới, nên có thể đầy đủ Thi Ba la
mật. Tại sao? Vì cấm giới của tất cả Bồ Tát học được
nhiếp nơi kinh nầy.
Nếu ở
kinh nầy có thể kham nhẫn thích ưa, tất cả chúng sanh chẳng
trở hoại được, có thể ở nơi đây tiến tu nhẫn nhục,
tức là đầy đủ Sằn Đề Ba la mật.
Nếu ở
kinh nầy siêng làm chuyển nói, thân khẩu ý ba nghiệp tinh
tiến tu tập, tức là đầy đủ Tỳ lê gia Ba la mật.
Nếu ở
kinh nầy tâm được tịch diệt không có tán loạn, nhứt tâm
định ý phân biệt các tướng, tức là đầy đủ Thiền na
Ba la mật.
Nếu ở
kinh nầy tự được hiện trí, chẳng từ người nghe được
chánh hành trí, tức là đầy đủ Bát Nhã Ba la mật.
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu có Bồ Tát siêng học kinh nầy nếu muốn
đầy đủ các Ba la mật thì không khó.
Nầy Xá
Lợi Phất! Nếu có Bồ Tát học tập kinh nầy thọ trì đọc
tụng như thuyết tu hành biên chép kinh quyển, nên biết người
ấy tất cả Phật pháp đã ở trong tay.
Tánh tứ
đại có thể biến đôỉ khác, tâm Bồ Tát ấy ở nơi Vô
thượng Bồ đề chẳng thể còn chuyển đổi.
Nầy Xá
Lợi Phất! Kinh điển nầy là ấn bất thối chuyển của Bồ
Tát , vì vậy nên Bồ Tát phải cầu ấn ấy.
Nếu có
thiện nam tử thiện nữ nhơn thân cận ấn ấy thì tức là
thân cận tất cả Phật pháp”.
Lúc bấy
giờ Tứ Thiên Vương cùng các quyến thuộc từ chỗ ngồi
đứng dậy chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Tứ Thiên Vương chúng tôi là đệ tử Phật đã được dấu
đạo. Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn thọ trì kinh nầy,
chúng tôi kham nhiệm vì họ mà làm kẻ hộ vệ cung cấp hầu
hạ, sẽ coi người ấy như đức Như Lai. Tại sao? Vì trong
kinh điển nầy xuất sanh các thừa vậy”.
Thiên Đế
Thích Đề Hoàn Nhơn từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng
Phật mà bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi thường theo
Phật nghe vô lượng vô biên kinh điển, chưa từng được
nghe kinh điển phân biệt nghĩa thậm thâm như vậy.
Bạch đức
Thế Tôn! Nơi xứ xứ, chỗ nào có diễn nói kinh nầy, đích
thân tôi và chư Thiên Đao Lợi sẽ đến đó nghe học, thủ
hộ Pháp sư tăng thêm khí lực mạnh mẽ tinh tiến chánh niệm
biện tài, khiến Pháp sư ấy ở trong đại chúng được vô
sơ uý rộng có thể tuyên nói kinh điển như vậy”.
Đức Phật
nói: “Lành thay lành thay! Nầy Kiều Thi Ca! Ông có thể ủng
hộ người thuyết pháp ấy khiến được dũng mãnh tinh tiến
chánh niệm biện tài.
Nầy Kiều
Thi Ca! Nếu có thể ủng hộ người thuyết pháp ấy tức là
ủng hộ chư Phật chánh pháp. Người ủng hộ chánh pháp tức
là người ủng hộ tất cả chúng sanh”.
Phạm Tự
Tại Thiên Vương quỳ dài chắp tay hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Nếu xứ nào có kinh điển nầy lưu
bố, đích thân tôi cùng chư Phạm Thiên và quyến thuộc sẽ
bỏ thiền hỉ lạc để đến đó nghe học thưa hỏi thỉnh
cầu.
Lúc tôi
đến đó sẽ hiện bốn điềm tướng khiến được hay biết:
Một là
làm cho thấy quang minh vi diệu.
Hai là được
nghe mùi hương thơm lạ.
Ba là khiến
người thuyết pháp được vô ngại biện và chánh ức niệm,
pháp được nói lành tốt chẳng mất chương cú.
Bốn là
khiến đại chúng ấy phát tâm lành muốn vui mừng nghe pháp
không có nhàm đủ.
Có bốn
điềm tốt ấy, nên biết đó là Phạm Thiên Vương cùng quyến
thuộc chư Phạm Thiên đích thân đến nghe pháp”.
Đệ Lục
Dục Thiên Ma Ba Tuần chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Kinh điển như vậy khiến thế lực tôi yếu kém.
Tại sao? Vì nếu có Bồ Tát nghe kinh nầy thọ trì đọc tụng
vì người mà rộng nói, phải biết người ấy tức là được
thọ ký.
Bạch đức
Thế Tôn! Bồ Tát như vậy đến xứ nào, đến thế giới
chư Phật, nên biết như là đức Phật Thế Tôn.
Nay tôi có
những tâm kiêu mạn tật đố cống cao, do sức oai đức của
Vô Tận Ý mà đều bị xô dẹp hết cả.
Nay tôi sẽ
thủ hộ kinh điển nầy và người thuyết pháp. Nơi nào có
lưu bố kinh nầy, tôi chẳng khởi một niệm tâm trở ngại,
huống là tự mình đến đó làm hại”.
Đức Phật
bảo Tôn giả A Nan rằng: “Nầy A Nan! Từ ngày hôm nay ông
nên vì chánh pháp ở lâu thế gian mà thọ trì kinh điển nầy
đọc tụng giải thuyết”.
Tôn giả
A Nan liền đứng dậy chỉnh y phục trịch bày vai hữu gối
hữu chấm đất chắp tay hướng Phật bạch rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Nay tôi kính vâng lời Phật thọ trì kinh ấy,
chỉ tự hận chẳng có thể rộng tuyên nói lưu bố như chư
Bồ Tát”.
Đức Phật
nói: “Nầy A Nan! Ông nên an lòng. Nay ở trong pháp hội nầy
có chư đại Bồ Tát có thể hộ trì khiến kinh điển nầy
rộng tuyên lưu bố”.
Liền đó
trong đại hội có sáu mươi ức chư đại Bồ Tát, những
người đáng phải hộ pháp, từ chỗ ngồi đứng dậy chắp
tay hướng Phật bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng
tôi cần phải tuyên truyền kinh nầy đến khắp mười phương.
Tại Ta Bà
thế giới nầy có Di Lặc Đại Sĩ, Ngài ở đây tự sẽ hộ
trì kinh nầy và người thuyết pháp.
Bạch đức
Thế Tôn! Nếu lúc Phật diệt độ rồi, năm trăm năm sau,
nếu có Bồ Tát nghe kinh điển nầy thọ trì đọc tụng, nên
biết đều là sức oai thần của Di Lặc Bồ Tát kiến lập”.
Đức Phật
khen chúng đại Bồ Tát hộ pháp rằng: “Lành thay lành thay!
Chư Thiện nam tử! Các ông chẳng những ngày nay ở trước
ta hộ trì chánh pháp, mà các ông cũng đã từng hộ trì chánh
pháp của hằng hà sa số chư Phật quá khứ”.
Vô Tận
Ý đại Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Nay tôi tự dùng phần ít trí huệ nói kinh điển nầy, văn
tự cú nghĩa ắt chẳng đầy đủ. Nay tôi ở trước chư phật
và chư đại Bồ Tát đã thành tựu vô tận pháp mà sám hối
tội lỗi”.
Đức Phật
nói: “Nầy Vô Tận Ý! Nếu Bồ Tát có đủ bốn vô ngại
trí thì chỗ giảng thuyết không có sai lầm. Bồ Tát như vậy
được chơn không nghĩa phân biệt pháp môn mới có thể tuyên
nói kinh điển như vậy.
Nầy Vô
Tận Ý! Nay ông đã đến chỗ đệ nhứt thành tựu tứ biện
tự tại vô ngại. Kinh Đại thừa nầy chẳng từ người nghe
mà có thể phân biệt.
Nầy Vô
Tận Ý! Nay ông thành tựu bực trụ như vậy thân khẩu ý
nghiệp không có sai lầm. Tai sao? Vì Bồ Tát tu tập ba nghiệp
thành tựu thường dùng trí huệ làm căn bổn vậy.
Nầy Vô Tận
Ý! Đã có vô lượng trăm ngàn vạn ức chư Phật Thế Tôn
đều đồng khen ngợi nghe ông thuyết pháp.
Nầy Vô Tận
Ý! Ông trước đã ở chỗ ta và chư Phật cứu cánh sám hối
không có sót mất”.
Tôn giả
A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kinh nầy tên là gì
và phụng trì thế nào?”.
Đức Phật
nói: “Kinh nầy tên là Vô Tận Ý sở thuyết bất khả tận
nghĩa chương cú pháp môn. Còn có tên là Đại Tập. Ông nên
phụng trì như vậy.
Nầy A Nan!
Ông phải tín thọ kinh điển như vậy. Tại sao? Vì ông thọ
trì kinh nầy rồi thì những pháp đã được trì niệm sẽ
tăng hơn trước cả ngàn lần. Nếu vì người nói thì là
kiến lập Phật sự vậy”.
Đức Phật
nói kinh nầy rồi, Vô Tận Ý đại Bồ Tát, các Tôn giả Xá
Lợi Phất, A Nan, chư Thiên, Long, Thần, Càn Thát Bà, A Tu La
v.v…, tất cả đại chúng nghe lời Phật nói đều rất vui
mừng làm lễ mà đi.
PHÁP HỘI
VÔ TẬN Ý BỒ TÁT
THỨ SÁU
MƯƠI MỐT
HẾT.
Vi tính: THÍCH
ĐỨC TUẤN