QUYỂN
MỘT
CHƯƠNG
I -- VUA LĂNG GIÀ THƯA HỎI
CHƯƠNG
II -- THỰC HÀNH TẤT CẢ PHÁP
CHƯƠNG
I: VUA LĂNG GIÀ THƯA HỎI
Như
vậy tôi nghe, vào thời gian Phật cùng chúng đại tỳ kheo
và đại Bồ tát ở trong thành Lăng già trên đỉnh núi Ma
la dà bên biển lớn. Các vị này đều đã thông đạt năm
pháp, ba tự tính, tám thức, hai vô ngã, hiểu rõ nghĩa cảnh
giới do tự tâm hiện, dạo chơi trong vô số tam muội, tự
tại, mười lực và sáu thần thông. Tuy hiện đủ loại hình
và phương tiện để điều phục chúng sinh, kỳ thực các
Ngài xuất thân từ các cõi Phật, được chư Phật lấy nước
cam lộ rưới đầu. Bồ tát Đại Huệ là bậc thượng thủ.
Bấy
giờ đức Thế Tôn thuyết pháp trong cung vua Rồng biển đã
quá bảy ngày. Ngài từ trong biển lớn đi ra, có vô lượng
trời rồng, Phạm vương, Đế thích - những vị hộ trì thế
gian- cung đón. Đức Như lai đưa mắt nhìn thành Lăng già trên
đỉnh Ma la dà sơn, mỉm cười nói: "Các bậc Ứng chính đẳng
giác ngày xưa cũng đều ở trong thành này diễn nói Pháp mà
thánh trí đã chứng. Đó không phải cảnh giới ngoại đạo
có thể suy lường, không phải cảnh giới của thanh văn duyên
giác. Nay Như lai cũng khai thị pháp này cho La bà vương (Ràvana)."
Khi ấy La bà na, vua loài Dạ xoa, nhờ thần lực Phật, nghe
được âm thanh lời ngài, từ xa biết Như lai đã ra khỏi
cung vua Rồng biển, có các vị hộ thế trời, rồng, Phạm
vương, Đế thích vây quanh. Nhìn sóng biển, Như lai quán sát
A lại gia thức của chúng sinh không khác gì biển lớn bị
gió hoàn cảnh thổi động, làm cho sóng thức nổi dậy. La
bà na lòng vui mừng nói: "Ta hãy đến thỉnh đức Như lai vào
thành Lăng già, để ta cùng các loài trời, người trong đêm
tối dài được lợi ích lớn." Nói xong cùng quyến thuộc
đi xe hoa đến chỗ Phật, đến nơi xuống xe nhiễu quanh Phật
ba vòng, trỗi các thứ âm nhạc để cúng dường Như lai. Các
nhạc khí đều nạm ngọc nhân đà la màu xanh, ngọc lưu ly...,
được bọc trong các thượng y vô giá. Âm thanh vi diệu mỹ
lệ, tiết điệu hòa nhịp theo lời kệ ca ngợi Phật:
Tâm
Phật là kho tàng chân lý
Vô
ngã, lìa kiến chấp nhiễm ô
Nguyện
Phật vì chúng con diễn nói
Chỗ
sở tri thánh trí đã tường
Báo
thân do thiện pháp tích thành
Trí
giác ngộ nên thường an lạc
Ngưỡng
mong đấng Biến hóa tự tại
Vào
thành Lăng già diễn pháp sâu
Chư
Phật cùng Bồ tát xưa lâu
Cũng
từng ở thành này nói pháp
Chúng
con loài dạ xoa hết thảy
Nguyện
một lòng nghe Pháp cao sâu.
La
bà na, chúa tể thành Lăng già, sau khi đã ca bài tán Phật
theo âm điệu Đô ta ka (Totaka), còn hát bài tụng như sau:
Thế
Tôn trong bảy ngày
Ở
trong biển Ma kiệt
Sau
ra khỏi Long cung
Ung
dung lên bờ này
Con
và các thể nữ
Cùng
quyến thuộc dạ xoa
Thân
dà, Xa Thích na
Cùng
các vị thông tuệ
Đều
sẽ dùng thần lực
Mà
đến chỗ Như lai
Lần
lượt xuống xe báu
Lễ
kính đức Thế tôn
Lại
nhờ uy thần Phật
Trước
Phật xưng tên mình:
Con
là vua La sát
La
bà na mười đầu
Nay
đi đến chỗ Phật
Xin
Phật thâu nhận con
Và
tất cả chúng sinh
Ở
trong thành Lăng già
Vô
lượng Phật quá khứ
Đều
lên đỉnh núi báu
Trong
thành Lăng già này
Mà
nói pháp sở chứng
Thế
tôn cũng nên vậy
Ở
núi báu trang nghiêm
Chúng
bồ tát vây quanh
Xin
nói pháp thanh tịnh
Chúng
con nhân ngày nay
Cùng
chúng ở Lăng già
Một
lòng cung kính nghe
Pháp
tự chứng ly ngôn
Con
nhớ đời quá khứ
Vô
lượng các đức Phật
Có
Bồ tát nhiễu quanh
Cũng
nói kinh Lăng già
Kinh
nhập Lăng già này
Phật
xưa đều khen ngợi
Nguyện
Phật nay cũng thế
Vì
chúng sinh khai diễn
Xin
Phật vì xót thương
Vô
lượng chúng Dạ xoa
Hãy
vào thành nghiêm báu
Nói
pháp môn vi diệu
Thành
Lăng già đẹp này
Trang
hoàng bằng châu báu
Vách
không bằng đất, đá
Lưới
giăng bằng trân bảo
Các
chúng Dạ xoa đây
Xưa
từng cúng dường Phật
Tu
hành lìa các lỗi
Thường
rõ chỗ chứng tri
Các
dạ xoa nam nữ
Khao
khát pháp đại thừa
Tự
tin theo Pháp ấy
Và
thích khiến người tin
Nguyện
xin đấng vô thượng
Vì
các chúng La sát
Và
quyến thuộc Lung nhĩ
Mà
đến nơi thành này
Con
từ xưa đến nay
Siêng
cúng dường chư Phật
Nguyện
nghe pháp tự chứng
Đạo
đại thừa cứu cánh
Xin
Phật thương xót con
Và
các chúng Dạ xoa
Cùng
các hàng con Phật
Mà
vào trong thành này
Đây
cung điện thể nữ
Và
các chuỗi anh lạc.
Vườn
vô ưu khả ái
Xin
Phật thương nạp thọ
Để
phụng Phật, Bồ tát
Không
gì con không xả
Ngay
cả đến thân này
Xin
Phật thương nạp thọ.
Đức
Thế Tôn nghe lời trên, liền dạy: "Này Dạ xoa vương, các
đấng đại đạo sư đời quá khứ đều thương xót ngươi,
nhận lời thỉnh cầu của ngươi mà đến núi báu này, nói
pháp tự chứng. Chư Phật đời vị lai cũng thế. Đây là
chỗ ở của những bậc tu thiền quán sâu xa đã biến hiện
ra pháp lạc. Ta và các bồ tát vì thương xót sẽ nhận lời
cầu thỉnh của ngươi." Nói xong, Phật ngồi im lặng. Vua La
bà na liền đem xe kết hoa đẹp của mình để cúng Phật.
Phật ngồi lên xe, vua và các bồ tát tuần tự theo sau. Có
vô lượng thể nữ ca hát tán thán để đón mừng Phật vào
thành. Sau khi vào thành, vua La bà na cùng quyến thuộc lại
dùng các thứ vi diệu để cúng dường. Đồng nam đồng nữ
trong chúng Dạ xoa lấy lưới báu cúng dường Phật, vua La
bà na cúng Phật và Bồ tát các chuỗi anh lạc đeo cổ. Sau
khi nhận các phẩm vật cúng dường, chư vị Bồ tát lần
lượt nói cảnh giới cao thâm mà các ngài đã thân chứng.
La bà na vương và quyến thuộc lại cúng dường bồ tát Đại
huệ và khuyến thỉnh như sau:
Tôi
và các đại sĩ
Muốn
hỏi đức Thế Tôn
Các
cảnh giới tự chứng
Của
tất cả Như lai
Tôi
cùng chúng dạ xoa
Và
các bồ tát này
Một
lòng nguyện xin nghe
Nên
đồng thanh khuyến thỉnh
Ngài
là bậc tối thắng
Trong
các bậc tu hành
Và
thuyết pháp lợi sinh
Tôi
một lòng cung kỉnh
Xin
ngài vì chúng tôi
Mà
thỉnh vấn như lai
Pháp
tự chứng thanh tịnh
Cứu
cánh vào Phật địa
Lìa
tất cả lầm lỗi
Của
ngoại đạo, nhị thừa.
Bấy
giờ trong núi ấy, đức Thế Tôn dùng thần lực hóa ra muôn
ngàn núi báu, lại dùng trăm ngàn vạn ức báu vật của chư
thiên mà trang hoàng. Trên đỉnh mỗi ngọn núi đều có thân
Phật hiện, trước mỗi thân Phật đều có vua La bà na và
hội chúng. Tất cả cõi nước trong mười phương đều xuất
hiện, trong mỗi cõi nước đều có đức Như lai, trước mỗi
đức Phật đều có vua La bà na cùng quyến thuộc, vườn A
du già, thành Lăng già trang nghiêm... Mỗi nơi đều có bồ
tát Đại huệ thưa hỏi Phật. Phật khai thị cảnh giới tự
chứng cho chúng hội. Sau khi dùng muôn ngàn âm thanh vi diệu
để diễn nói kinh này, Phật cùng chúng Bồ tát tan biến vào
hư không. Khi chỉ thấy còn lại một mình mình trong cung điện,
vua La bà na nghĩ: "Vậy, người đang nhìn mọi sự đây là
ai? Ai đã nghe thuyết pháp? Ai thấy? Thấy gì? Phật và rừng
núi báu trong thành biến đi đâu? Đấy là mộng chăng? Hay
là ảo giác? Hay cảnh biến hóa của loài càn thát bà? Hay
vì ta nhặm mắt? Hay là nắng quán đèn lòa? Đây là ảo mộng,
như con của thạch nữ? Như ảo giác vòng lửa quay?" Lại nghĩ:
"Bản tính của vạn pháp đều như vậy, chỉ là cảnh giới
do tự tâm phân biệt. Kẻ phàm phu mê hoặc không thể hiểu
thấu. Kỳ thực, không có thấy và bị thấy, không người
năng thuyết cũng không pháp sở thuyết. Thấy Phật nghe Pháp
đều là phân biệt. Những người thấy các pháp như trên
không thể thấy được Phật, không sinh phân biệt mới gọi
là thấy Phật." Khi ấy chúa tể thành Lăng già bỗng nhiên
khai ngộ, lìa ô nhiễm của tự tâm, chứng được vạn pháp
chỉ do tâm biến hiện; an trú cảnh giới vô phân biệt. Nhờ
những thiện căn đã trồng lâu xa về trước, ông được
cái thấy "như thật" đối với hết thảy pháp. Ông không
còn lệ thuộc người khác để giác ngộ, có thể dùng trí
quán sát các pháp một cách sáng suốt, xa lìa hết thảy ức
đoán, tà giải, trở thành một bậc thầy trong các bậc đại
tu hành. Có năng lực một thân hiện ra nhiều thân, thấy suốt
các phương tiện, biết rõ đặc điểm từng giai đoạn tu
hành (địa), thường ưa xa lìa tâm, ý, ý thức, cắt đứt
ba kiến "tương tục", lìa chấp trước của ngoại đạo. Tự
tâm ông biết mình đã vào kho tàng Như lai, hướng đến Phật
địa. La bà na bỗng nghe giữa hư không trong cung điện có
tiếng nói: "Hay thay, đại vương ! Như chỗ ông đã học, các
bậc tu hành cũng học như thế, thấy như thế. Tất cả các
đức Như lai cũng thấy như thế. Nếu thấy (các pháp) khác
thế, là đoạn kiến. Ông phải xa lìa tâm, ý, ý thức, nên
siêng quán sát hết thảy các pháp, nên tu nội hạnh, chớ
đắm trước ngoại cảnh, chớ sa vào những pháp tu, những
lối giải thích, những cảnh giới, những phép định của
nhị thừa ngoại đạo. Chớ ham thích bàn chơi, đàm tiếu,
chớ khởi các kiến chấp của phái Vi đà (chấp tự ngã),
chớ say đắm an nhàn của vương vị, chớ ở trong những định
thuộc về lục định v.v.. Làm như thế là thực hành hạnh
của bậc chân tu, có thể phá biện luận của người khác,
có thể diệt trừ ác kiến, có thể xả bỏ hết thảy ngã
kiến chấp trước, có thể dùng diệu tuệ để chuyển thức
sở y, có thể tu đạo đại thừa của Bồ tát, có thể thâm
nhập cảnh giới tự chứng của Như lai. Ông nên siêng tu học
thêm như vậy, để các pháp sở đắc càng thêm thanh tịnh.
Hãy khéo tu Tam muội và Tam ma bát để (samàpatti), chớ tham
đắm cảnh giới mà nhị thừa, ngoại đạo cho là vui thù
thắng, vì phân biệt theo phàm phu. Ngoại đạo chấp ngã kiến,
có ngã tướng, vướng mắc Thật (dravya), Đức, (Cầu na, guna).
Nhị thừa thấy thật có "vô minh duyên hành" nên từ "Tính
không" sinh loạn tưởng phân biệt. Lăng già vương, Pháp này
là đạo đại thừa rất thù thắng, có thể khiến ông thành
tựu "Thánh trí tự chứng", được thọ đời tốt đẹp trong
ba cõi. Lăng già vương, các ngoại đạo chấp trước ngã,
lập các dị luận, không thể diễn nói xa lìa chấp trước,
chỉ thấy nghĩa "hai" của thức tính. Hay thay, Lăng già vương,
hãy tư duy nghĩa này như ông tư duy, tư duy như thế chính là
thấy Phật."
Bấy
giờ Lăng già vương lại nghĩ: "Xin cho con lại được chiêm
ngưỡng Như lai. Như lai Thế tôn vốn tự tại trong các phép
quán, lìa pháp ngoại đạo, có thể diễn nói cảnh giới của
Thánh trí tự chứng, vượt ngoài ứng thân hóa thân, an trú
trong chính định của Như lai, chứng nhập được pháp lạc
tam muội. Ngài là đấng "Đại quán hạnh sư", là đấng Đại
ai mẫn, đã đốt hết lửa phiền não và phân biệt, được
các chúng Phật tử vây quanh, đấng hiểu thấu tâm chúng sinh,
đấng Biến khắp các cõi, đấng Nhất thiết trí, xa lìa hết
thảy sự tướng phân biệt. Con nay xin được thấy lại năng
lực đại thần thông của Như lai. Khi được thấy Như lai,
nguyện cho con đạt được pháp chưa đạt, không thối chuyển
pháp đã đạt, lìa các phân biệt, an trú trong pháp lạc tam
muội, tăng trưởng đầy đủ Như lai trí." Đức Phật biết
Lăng già vương sẽ chứng Vô sinh pháp nhẫn, vì thương xót
nên lại thị hiện sắc thân, biến mọi vật trở lại như
trước. Vua mười đầu thấy lại những gì đã từng thấy:
rất nhiều sơn thành trang hoàng bằng đủ thứ châu báu, trong
mỗi thành đều có đức Phật 32 tướng nghiêm thân, lại
tự thấy thân mình và Đại huệ ở trước mỗi đức Phật,
có chúng Dạ xoa vây quanh, đang nói các pháp sở hành của
bậc Tự chứng trí, lại thấy cõi nước của mười phương
Phật. Tất cả các sự vật đều hiện như trước không sai
khác.
Bấy
giờ đức Thế tôn từ xa dùng tuệ nhãn quan sát khắp hội
chúng rồi bỗng vui mừng cười lớn như sư tử vương. Từ
giữa đôi lông mày, đùi vế, hông, lưng, cổ cho đến từ
vai, cánh tay, dấu chữ vạn, từ mỗi lỗ chân lông trên thân
ngài, đều phóng muôn vàn hào quang đẹp, như ráng cầu vồng,
như tia mặt trời, lại như ngọn lửa mạnh nổi lên vào thời
kiếp tận. Lúc ấy trong hư không, Phạm vương, Đế thích,
Tứ thiên vương từ xa cũng thấy Như lai ngồi như núi Tu di
trên đỉnh Lăng già sơn vui mừng cười lớn. Chư Bồ tát
và các chúng loài trời đều nghĩ: "Như lai Thế Tôn vốn tự
tại trước mọi pháp, nay bởi nhân duyên gì bỗng lại vui
mừng cười lớn, thân tỏa hào quang, lặng im không động,
an trú trong cảnh tự chứng, nhập pháp lạc tam muội, như
sư tử vương nhìn quanh bốn hướng, nhìn La bà na, nghĩ đến
các pháp như thật?" Khi ấy Bồ tát Đại huệ trước vì lời
thỉnh của La bà na, sau vì biết rõ tâm các Bồ tát trong hội
chúng, lại biết chúng sinh đời sau những kẻ bám vào ngữ
ngôn văn tự, ôm giữ hạnh nhị thừa ngoại đạo sẽ mê
lầm nghĩ: "Thế Tôn đã xa lìa cảnh giới của thức phân
biệt, thế thì vì cớ gì mà vui mừng cười lớn?" Chính vì
muốn trừ nghi hoặc cho hạng này, nên Bồ tát hỏi Phật.
Phật đáp:
" Hay
thay, Đại huệ! Hay thay, Đại huệ ! Ông quán sát thế gian,
vì thương xót chúng sinh bị trói buộc trong các quan niệm
sai lầm về ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn cho
chúng sinh được khai ngộ mà hỏi ta. Những người trí thường
đặt câu hỏi vì lợi mình lợi người như vậy. Này Đại
huệ, Lăng già vương đây đã từng hỏi tất cả các đức
Như lai trong quá khứ hai nghĩa Ứng cúng và Chính đẳng giác
(A la hán và Phật), nay cũng muốn hỏi, và trong đời vị lai
cũng thế. Các chỗ khác nhau giữa hai nghĩa ấy, hết thảy
nhị thừa, ngoại đạo đều không thể suy lường." Đức
Như lai biết Lăng già vương muốn hỏi nghĩa này nên dạy:
Này
Lăng già vương, ông muốn hỏi gì cứ hỏi. Ta sẽ phân biệt
giải thích cho ông, thỏa mãn mong cầu của ông, khiến ông
hoan hỷ, có thể dùng trí tuệ tư duy quán sát để lìa phân
biệt, biết rõ các giai đoạn tu hành. Ông sẽ tu tập đối
trị các pháp, chứng nghĩa chân thật, nhập pháp lạc tam muội,
được chư Phật nhiếp thọ, an trú trong pháp lạc xa ma địa
(samapatthi), xa lìa lỗi lầm của định nhị thừa, an trú các
cấp bực Bồ tát: Bất động, Thiện huệ, Pháp vân. Ông sẽ
như thật rõ biết các pháp vô ngã, sẽ được ngồi trong
hoa sen báu, được chư Phật lấy nước tam muội rưới đầu,
được vô số Bồ tát ở trong sen báu vây quanh, cùng chúng
hội đều hướng nhìn ông. Các cảnh giới như thế không
thể nghĩ bàn. Ông sẽ sinh khởi các hạnh Nhất hạnh và Nhất
phương tiện. Ông quyết định sẽ đạt những điều bất
tư nghì như thế trong quả vị Như lai, sẽ tùy cơ cảm chúng
sinh mà ứng hiện thân tướng. Những gì ông sẽ đạt, hàng
nhị thừa, ngoại đạo, Phạm vương, Đế thích, Tứ thiên
vương đều chưa từng thấy.
Được
Phật cho phép, Lăng già vương rời chỗ ngồi trên đỉnh núi
báu thanh tịnh trang nghiêm như hoa sen lớn đứng dậy, với
chúng thể nữ vây quanh, hóa ra vô lượng hoa đủ màu, các
loại hương như hương bột, hương thoa, tràng phan, dù lọng,
quang bôi (?), anh lạc cùng các đồ trang sức thắng diệu khác
thế gian chưa từng nghe. Lại biến hóa ra rất nhiều nhạc
khí mà dục giới có, các nhạc khí vượt hơn nhạc khí cõi
trời, rồng, nhạc thần, cùng hết thảy thế gian, các nhạc
khí mà chư Phật mười phương đều thấy. Lại hóa các lưới
báu che khắp chư Phật, Bồ tát. Lại hiện các thứ y phục
mỹ lệ, dựng tràng phan để cúng dường Như lai. Xong La bà
na liền bay lên hư không cách bảy cây đa la, rưới xuống
các lễ vật cúng dường, trỗi nhạc, rồi từ trên không
xuống, ngồi ở đỉnh núi sen báu tỏa ánh sáng như mặt trời,
vui mừng cung kính bạch: "Con nay muốn hỏi Như lai hai nghĩa.
Hai nghĩa này con đã từng hỏi các đức Như lai Ứng chính
đẳng giác trong quá khứ. Chư Phật xưa cũng đã nhân lời
cầu thỉnh của con mà trình bày. Nay con muốn hỏi lại nghĩa
ấy, xin đức Như lai nói rõ cho con. Bạch Thế tôn, hai nghĩa
ấy được các đức Như lai biến hóa chứ không phải Phật
căn bản (Phật Pháp thân) tuyên thuyết. Phật căn bản thì
chỉ nói cảnh giới của pháp lạc tam muội chứ không nói
những cảnh giới do hư vọng phân biệt. Hay thay đức Thế
Tôn tự tại đối với các pháp, xin ngài rũ lòng thương xót
nói hai nghĩa này, hết thảy hàng con Phật đều có lòng muốn
nghe." Khi ấy đức Thế Tôn bảo vua:
Ông
cứ hỏi, ta sẽ nói cho.
Vua
Dạ xoa liền mang thêm các thứ mũ báu và anh lạc, các đồ
trang sức để trang nghiêm thân rồi nói:
Như
lai thường dạy: "Pháp còn phải xả, huống hồ phi pháp."
Bạch Thế Tôn, làm sao xả hai thứ pháp ấy? Pháp là gì, phi
pháp là gì? Làm sao có hai pháp để xả? Có hai pháp tức đã
sa vào tướng phân biệt giữa hữu thể và vô thể (svabhàvàbhàva)
giữa thị và phi (abhautibhautika). Tất cả đấy đều là phân
biệt, không thể biết được tướng vô sai biệt của A lại
da thức. Như khi thấy vòng lông (mao luân) trong hư không mà
cho có thật, (sự phân biệt) đó không phải là cảnh giới
của tịnh trí. Pháp tính vốn như vậy, làm sao có thể xả
(pháp hay phi pháp)?
Phật
dạy:
Lăng
già vương, ông không thấy sự tán hoại vô thường của các
vật như bình, v.v..hay sao ? Phàm phu thấy những pháp ấy liền
sinh phân biệt. Ông không biết sự khác nhau giữa pháp và
phi pháp sao ? Đấy là do phàm phu phân biệt, không phải là
cái thấy của bậc chứng trí. Phàm phu sa vào sự phân biệt
tướng, các bậc đã chứng thì không thế. Này Lăng già vương,
như khi thiêu đốt cung điện, vườn rừng, thấy các ngọn
lửa, tính lửa vẫn là một, nhưng do sức cháy của các nơi
phát ra ngọn lửa mà lửa có dài ngắn to nhỏ khác nhau. Sao
ông không biết tướng sai biệt giữa pháp và phi pháp? Này
Lăng già vương, như một hạt giống sinh mộng, thân nhỏ,
cành, lá cho đến hoa quả, sai biệt vô cùng; ngoại pháp như
thế, nội pháp cũng vậy. Do vô minh làm duyên sinh uẩn, giới,
xứ cùng hết thảy pháp trong ba cõi, thọ sinh vào các đường,
có khổ lạc, tốt, xấu, nói, im, đi, nghỉ đều khác nhau.
Lại như tướng của các thứ chỉ là một, song theo cảnh
giới mà có trên, giữa, dưới, uế, sạch, thiện, ác v.v..
không đồng. Này Lăng già vương, không những các pháp như
trên có sai biệt, mà các bậc tu hành khi tu quán hạnh cũng
thấy trong các hạnh nội chứng của mình có các tướng sai
biệt, huống chi pháp với phi pháp mà không phân biệt hay sao?
Này Lăng già vương, pháp cùng phi pháp khác nhau, nên biết
đấy là do phân biệt các tướng mà ra. Lăng già vương ! Pháp
là gì? Ấy là những pháp mà nhị thừa ngoại đạo do hư
vọng phân biệt cho là có, thật, làm nhân cho các pháp. Những
pháp như vậy cần phải xa lìa, chớ nắm giữ tướng để
sinh phân biệt, thấy các pháp do tự tâm biến mà cho là thật.
Thấy được pháp tính của tự tâm, ấy gọi là không chấp
trước. Các vật như cái bình v.v.. mà phàm phu chấp vốn không
tự tính, những người tu quán hạnh lấy tỳ bát xá na (vipassana-quán)
như thật quán sát, gọi là xả các pháp. Này Lăng già vương,
phi pháp là sao? Ấy là các pháp không có tự tính, không tướng,
lìa phân biệt; người thấy như thật thì cảnh giới dù có
dù không đều không khởi quan niệm, ấy gọi là xả phi pháp.
Lại nữa, phi pháp ấy là như sừng thỏ, con của thạch nữ
v.v.. đều không tính không tướng, không thể phân biệt, cần
phải xa lìa. Phi pháp này tuy không tính không tướng, mà thế
gian vẫn có danh từ, không phải như cái bình v.v.. có thể
cầm nắm. Các pháp có tướng phân biệt như bình, và không
tướng như lông rùa, đều phải xả bỏ, ấy gọi là xả
pháp cùng xả phi pháp. Lăng già vương, những chỗ ông hỏi
trước ta đã nói xong. Này Lăng già vương, cái quá khứ ông
nói đó chỉ là phân biệt, vị lai cũng là phân biệt, vì
ta (hiện tại) cũng như các đức Như lai kia. Lăng già vương,
pháp của chư Phật nói đều xa lìa phân biệt, đã ra khỏi
hết thảy hí luận, không như sắc tướng có thể phân biệt,
chỉ có trí mới chứng nhập được mà thôi. Chính vì muốn
cho chúng sinh an vui mà chư Như lai mới diễn nói pháp, dùng
trí vô tướng mà nói, gọi là Như lai. Bởi đức Như lai lấy
trí làm thể, lấy trí làm thân, nên Như lai không phân biệt
cũng không thể bị phân biệt. Không thể lấy tướng ngã,
nhân, chúng sinh... mà phân biệt Như lai . Vì sao? Bởi vì ý
thức do cảnh mà khởi rồi bám lấy sắc, hình, tướng. Cho
nên (Như lai ) xa lìa năng phân biệt cũng như sở phân biệt.
Này Lăng già vương, thí như chúng sinh trong bức tranh màu trên
vách không có giác tri, chúng sinh ở thế gian cũng vậy, không
có nghiệp, báo. Pháp Phật cũng thế, không có nghe, không có
nói. Này Lăng già vương, chúng sinh ở thế gian cũng như cảnh
biến hóa, phàm phu ngoại đạo không thấu đạt nghĩa này.
Lăng già vương, thấy được như thế gọi là chính kiến,
thấy khác gọi là phân biệt kiến, vì phân biệt nên bám
giữ nhị nghĩa. Lăng già vương này, ví như có người tự
thấy bóng mình trong gương nước, dưới ánh trăng, nghe tiếng
mình âm hưởng trong hang núi, bèn sinh phân biệt mà khởi sự
bám víu. Đây cũng vậy, pháp, phi pháp chỉ là phân biệt,
vì phân biệt nên không thể xa lìa; chỉ tăng trưởng hư vọng,
không được an tĩnh. An tĩnh ấy nghĩa là nhất duyên (ekàgra),
nhất duyên ấy là tam muội tối thắng, từ đó có thể phát
sinh Thánh trí tự chứng, lấy Như lai tạng làm cảnh giới.
CHƯƠNG
II: THỰC HÀNH TẤT CẢ PHÁP
Tiết
I
Đại
Huệ Bồ tát cùng Ma đế Bồ tát những vị đã viếng các
cõi Phật, bấy giờ nương uy thần Phật, từ chỗ ngồi đứng
dậy, trật vai áo bên phải, gối phải quỳ xuống đất, chắp
tay hướng Phật cung kính nói bài tụng:
Thế
gian lìa sinh diệt
Như
hoa đốm hư không
Trí
không chấp có, không
Hưng
khởi tâm đại bi
Vạn
pháp đều như huyễn
Xa
lìa tâm và thức
Trí
không chấp có không
Hưng
khởi tâm đại bi
Thế
gian thường như mộng
Xa
lìa cả đoạn, thường
Trí
không chấp hữu, vô
Hưng
khởi tâm đại bi
Không
có Phật niết bàn
Không
Niết bàn cho Phật
Lìa
biết và bị biết
Lìa
hữu cùng phi hữu
Pháp
thân như huyễn mộng
Có
gì để ngợi khen
Biết
vô tính vô sinh
Ấy
mới là khen Phật
Phật
không căn, cảnh, tướng
Không
thấy là thấy Phật
Làm
sao trước Mâu ni
Mà
khởi sự khen chê
Ai
ở trước Mâu ni
Sinh
thanh tịnh, xa lìa
Kẻ
ấy đời này, sau
Lìa
chấp, không chỗ thấy.
Nói
kệ tán Phật xong, Đại Huệ Bồ tát tự xưng tên:
Con
tên là Đại huệ
Thông
đạt pháp đại thừa
Xin
đem trăm tám nghĩa
Kính
hỏi đấng Vô thượng.
Nghe
lời ấy, đấng Thế gian giải nhìn khắp hội chúng rồi dạy
rằng:
Các
ngươi hàng con Phật
Nay
cứ tự do hỏi
Ta
sẽ nói cho ngươi
Cảnh
giới đã tự chứng.
Được
Phật chấp thuận, Đại huệ Bồ tát đảnh lễ dưới chân
ngài xong, thưa hỏi bằng kệ tụng như sau:
Do
đâu suy lường sinh?
Làm
sao sạch suy lường?
Do
đâu mê hoặc sinh?
Làm
sao hết mê hoặc?
Sao
gọi là Phật tử
Cùng
thứ lớp vô ảnh (niràbhàsa)?
Do
đâu hóa cõi nước
Các
tướng và ngoại đạo?
Giải
thoát đến nơi nào?
Ai
bị trói, ai mở?
Cảnh
giới thiền ra sao?
Tại
sao có ba thừa?
Nhân
duyên gì sinh pháp?
Cái
gì nhân gì quả?
Ai
nói lìa bốn nghĩa?
Do
đâu các cõi sinh?
Sao
gọi định vô sắc?
Sao
gọi Diệt tận định?
Thế
nào là tưởng diệt?
Làm
sao từ định giác?
Vì
sao sinh hoạt động?
Thân
đi, đứng nắm giữ?
Làm
sao thấy sự vật?
Làm
sao vào các "địa"?
Làm
sao có Phật tử?
Ai
phá được ba cõi?
Ở
đâu, thân ra sao?
Sinh
và trú nơi nào?
Làm
sao đặng thần thông
Tự
tại và chính định?
Tâm
tam muội ra sao?
Nguyện
Phật vì con nói
Sao
gọi là tàng thức?
Sao
gọi là ý thức?
Làm
sao các kiến khởi?
Làm
sao các kiến diệt?
Tính,
phi tính là gì?
Vì
sao nói duy tâm?
Vì
sao kiến lập tướng?
Sao
gọi là Vô ngã?
Sao
là không chúng sinh?
Sao
là tùy tục nói?
Làm
sao để khỏi khởi
Thường
kiến và đoạn kiến?
Sao
Phật cùng ngoại đạo
Tướng
vốn không khác nhau?
Làm
sao đời vị lai
Có
các bộ phái sinh?
Sao
gọi là Tính không?
Sao
gọi sát na diệt?
Thai
tạng từ đâu sinh?
Sao
thế gian bất động?
Vì
sao bảo cuộc đời
Như
huyễn, lại như mộng
Như
thành Càn thát bà
Như
ánh nước sa mạc
Như
vừng trăng đáy nước?
"Bồ
đề phần" là sao?
"Giác
phần" từ đâu khởi?
Vì
sao cõi nước loạn?
Vì
sao hữu kiến sinh?
Làm
sao biết thế pháp?
Làm
sao lìa văn tự?
Sao
là "như không hoa"?
Không
sinh cũng không diệt?
Chân
như có mấy loại?
"Độ
tâm" có mấy loại?
Sao
là như hư không?
Sao
là lìa phân biệt?
Và
thứ tự các "địa"?
Sao
là được vô ảnh?
Sao
là hai vô ngã?
Sao
là hết sở tri?
Thánh
trí có mấy loại?
Có
mấy loại giới pháp
Phật
chế cho chúng sinh?
Ngọc
báu dòng tôn quý
Từ
đâu mà xuất hiện?
Ai
sinh ra ngôn ngữ
Chúng
sinh và các vật?
Năm
minh và kỹ thuật
Ai
làm cho sáng tỏ?
Kệ
tụng (gàthà) có mấy loại?
Trường
hàng có mấy thứ?
Đạo
lý mấy bất đồng?
Giải
thích bao sai biệt?
Ăn
uống ấy ai làm?
Ái
dục vì sao khởi?
Sao
gọi Chuyển luân vương
Cho
đến các tiểu vương?
Làm
sao vua giữ nước?
Chúng
trời có mấy loại?
Đất,
mặt trời, trăng, sao
Các
thứ ấy thế nào?
Giải
thoát có mấy loại?
Mấy
loại thầy tu hành?
Sao
gọi A xà lê?
Đệ
tử bao nhiêu hạng?
Như
lai có mấy loại?
Chuyện
tiền thân ra sao?
Chúng
ma và dị giáo?
Mỗi
thứ có bao nhiêu?
Tự
tính bao sai biệt?
Tâm
có bao nhiêu loại?
Giả
lập nghĩa là gì?
Xin
Phật giải thích cho
Từ
đâu sinh mây gió?
Niệm,
trí vì sao có?
Bụi,
bờ, cây hàng lớp
Các
thứ ấy ai làm?
Những
thú vật voi ngựa
Nhân
gì bị bắt giữ?
Sao
có người hèn xấu?
Xin
Phật giải cho con
Sao
gọi là sáu thời?
Nhất
xiển đề do đâu?
Gái,
trai và bất nam?
Do
đâu mà sinh khởi?
Sao
là tu tiến bộ?
Sao
là tu thụt lùi?
Thầy
du già mấy hạng
Dạy
người tu pháp ấy?
Chúng
sinh sinh các đường
Hình
sắc, tướng ra sao?
Giàu
có, rất an ổn
Ấy
là do nhân gì?
Sao
có dòng Thích ca?
Sao
có dòng Cam giá?
Tiên
nhân khổ hạnh lâu
Ấy
do ai chỉ giáo?
Làm
sao Phật Thế Tôn
Hiện
thân khắp các cõi
Chúng
Phật tử vây quanh
Đủ
các loài sai biệt?
Vì
sao không ăn thịt?
Nhân
gì dạy bỏ thịt?
Các
chúng sinh ăn thịt
Do
nhân gì mà ăn?
Sao
có các cõi nước
Trông
như hình trời trăng
Tu
di và hoa sen
Chữ
vạn, tượng sư tử?
Sao
có các cõi nước
Như
lưới trời Đế thích
Lật
úp hoặc nằm nghiêng
Mà
thành các món báu?
Sao
có các cõi nước
Như
nhật nguyệt không dơ
Hoặc
như hình hoa quả,
Ống
sáo, trống eo nhỏ?
Phật
Biến hóa là gì (Nirmànikabuddha)?
Và
phật Dị thục sinh? (Vipàkajabuddha)
Cùng
phật Chân như trí (Tathàtàjnànabuddha)?
Xin
giải thích cho con.
Vì
sao ở Dục giới
Không
thành Đẳng chính giác?
Sao
ở Sắc cứu cánh (Akanistha)?
Lìa
nhiễm được trí tuệ?
Ai
sẽ giữ chính pháp?
Phật
trụ thế bao lâu?
Chính
pháp trụ dài, ngắn?
Tất
đàn có mấy loại?
Kiến
chấp có bao nhiêu?
Vì
sao lập luận tạng?
Cho
đến các Tỳ kheo
Hết
thảy các Phật tử
Độc
giác và Thanh văn
Làm
sao chuyển các thức?
Làm
sao được vô tướng?
Làm
sao được Thế thông?
Làm
sao được xuất thế?
Lại
vì nhân duyên gì
Tâm
ở trong bảy địa?
Tăng
già có mấy loại?
Sao
gọi là phá tăng?
Làm
sao vì chúng sinh
Rộng
nói phương cứu liệu?
Cớ
gì Đại mâu ni
Nói
lên lời như vầy:
"Ca
diếp, Câu lưu tôn
Câu
na hàm là ta?"
Cớ
gì nói đoạn thường?
Và
nói ngã, vô ngã?
Sao
không thường nói thật:
"Hết
thảy do tâm tạo"?
Sao
có rừng nam nữ
Ha
lê (Harìtaki), am ma la (àmalìvana)?
Kê
la bà (Kailàsa), Luân viên (Cakravàda)?
Cho
đến núi kim cương (vajrà)
Trong
các chỗ ấy có
Vô
lượng báu trang nghiêm
Tiên
nhân, càn thát bà
Tất
cả đều sung mãn
Đấy
do nhân duyên gì?
Xin
Phật vì con nói.
Nghe
những lời hỏi về pháp môn tối thượng, pháp môn đại
thừa "tâm Phật" vi diệu ấy, đức Thế Tôn liền bảo: "Hay
thay, Đại huệ! Hãy lắng nghe, lắng nghe. Như chỗ ông hỏi,
ta sẽ lần lượt nói." Và ngài nói kệ tụng:
Sinh
cùng với không sinh
Niết
bàn và vô tướng
Lưu
chuyển, vô tự tính
Ba
la mật, phật tử
Thanh
văn, Bích chi Phật
Ngoại
đạo, hạnh vô sắc
Tu
di cùng biển núi
Cù
lao, các cõi đất
Tinh
tú và nhật nguyệt
Chúng
trời, a tu la
Giải
thoát và thần thông
Thiền
định và tam muội
Diệt
và các thần túc
Bồ
đề phần, Bát chính
Thiền
cùng vô lượng tâm
Các
uẩn cùng đến, đi
Cho
đến diệt tận định
Tâm
sinh khởi nói năng
Tâm,
ý, thức, vô ngã
Năm
pháp, ba tự tính
Phân
biệt, bị phân biệt
Hai
loại kiến năng sở
Cội
nguồn của các thừa
Vàng,
ma ni, trân châu
Dòng
họ lớn, xiển đề
Nước
hỗn loạn, một Phật
Trí,
trí chướng, đắc hướng
Chúng
sinh, có cùng không
Voi,
ngựa, thú, nhân gì
Vì
sao bị bắt giữ
Vì
sao nhân, thí dụ
Tương
ưng thành tất đàn?
Sở
tác và năng tác
Núi
rừng và mê hoặc?
Lý
chân thật "như thị"
Duy
tâm, không cảnh giới?
Các
địa không thứ lớp
Không
tướng, chuyển sở y?
Y phương,
các nghệ thuật
Kỹ
thuật, cùng năm minh?
Tu
di và núi, đất
Biển,
trời trăng bao lớn?
Chúng
sinh thượng, trung, hạ
Mỗi
thân bao vi trần?
Mỗi
cung có mấy trữu?
Câu
lô xá mấy cung?
Nửa
do tuần? Do tuần?
Lông,
thỏ và bụi cửa?
Mỗi
thân bao vi trần?
Rận,
lông dê, bột mạch?
Nửa
đấu và một đấu
Gồm
bao nhiêu hạt lúa?
Một
hộc và mười hộc
Mười
vạn và thiên ức
Cho
đến tầm bà la (Vimvara: 10 triệu)
Mỗi
món số bao nhiêu?
Mấy
trần (anu) thành giới tử (sarsapa)?
Mấy
giới tử thành thảo tử?
Lại
có mấy thảo tử
Mới
thành một hạt đậu (màsa)?
Mấy
hạt đậu thành thù (Dharana)?
Mấy
thù là một lượng (Karsa)?
Mấy
lượng thành một cân (pala)?
Mấy
cân thành tu di (meru)?
Đấy
những điều nên hỏi
Vì
sao hỏi chuyện khác?
Thanh
văn, Bích chi Phật
Các
Phật và Bồ tát
Số
lượng thân bao nhiêu?
Mỗi
thân mấy vi trần?
Lửa,
gió có mấy trần?
Mỗi
căn có mấy trần?
Lông
mày, lỗ chân lông
Mấy
trần thành mỗi thứ?
Các
sự việc như thế
Sao
không đem hỏi ta.
Vì
sao được giàu có?
Sao
là chuyển luân vương?
Làm
sao vua giữ nước?
Làm
sao được giải thoát?
Thế
nào là Trường hàng?
Dâm
dục và ăn uống?
Thế
nào rừng nam nữ?
Các
núi, kim cương sơn?
Như
huyễn, mộng, ảo ảnh?
Mây
do từ đâu sinh?
Thời
tiết làm sao có?
Nhân
gì có mùi vị?
Nam,
nữ và bất nam
Phật,
bồ tát trang nghiêm?
Sao
có các núi đẹp
Tiên
càn thát trang hoàng?
Giải
thoát đến chỗ nào?
Ai
bị trói? Ai mở?
Sao
là cảnh giới thiền?
Biến
hóa và ngoại đạo?
Sao
là vô nhân tác?
Sao
là hữu nhân tác?
Sao
là chuyển các kiến?
Sao
là khởi suy lường?
Làm
sao sạch suy lường?
Hoạt
động từ đâu sinh?
Sao
gọi là chuyển khứ?
Sao
là dứt các tưởng?
Sao
là sinh tam muội?
Phá
ba cõi là ai?
Chỗ
nào, thân ra sao?
Sao
gọi là không ngã?
Sao
là theo tục nói?
Ông
hỏi tướng ra sao?
Sao
gọi là phi ngã?
Sao
gọi là thai tạng
Cùng
các chi phần khác?
Sao
là thấy đoạn thường?
Sao
là tâm một cảnh?
Sao
là trí ngôn thuyết?
Giới,
dòng họ, Phật tử?
Lý
luận và giải thích?
Sao
là thầy, đệ tử?
Tính
chúng sinh sai khác?
Ăn
uống và hư không?
Thông
minh, ma, giả lập?
Vì
sao hàng cây bày?
Các
câu hỏi như thế
Nhân
gì hết thảy nước
Các
loại tướng không đồng?
Có
cõi hình ống tiêu
Trống
eo cùng hoa quả
Có
chỗ không ánh sáng
Tiên
nhân khổ hạnh lâu
Hoặc
có giòng họ quý
Khiến
chúng sinh tôn trọng
Hoặc
có kẻ hạ tiện
Bị
người khác khinh khi?
Vì
sao trong cõi dục
Tu
hành khó thành Phật?
Ở
cõi sắc cứu cánh
Mới
thành đẳng chính giác?
Vì
sao người thế gian
Lại
có được thần thông?
Sao
gọi là tỳ kheo?
Sao
gọi là Tăng già?
Sao
là Hóa, Báo Phật?
Phật
trí tuệ chân như?
Làm
sao khiến tâm mình
An
trú trong bảy "địa"?
Nghĩa
này và các nghĩa
Ông
nay đều hỏi ta
Như
Phật trước đã nói
Đủ
một trăm tám câu
Mỗi
mỗi tướng tương ưng
Xa
lìa các lỗi chấp
Lại
lìa pháp thế tục
Do
ngôn ngữ mà thành
Ta
nay vì ông nói
Phật
tử khá lắng nghe.
Khi
ấy Bồ tát Đại huệ bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Sao là 108 câu?
Phật
dạy:
Này
Đại huệ! Cái gọi là sinh cú (mệnh đề về sinh) phi sinh,
thường phi thường, tướng phi tướng, trú dị phi trú dị,
sát na phi sát na, tự tính phi tự tính, không phi không, đoạn
phi đoạn, tâm phi tâm, trung phi trung, duyên phi duyên, nhân phi
nhân, phiền não phi phiền não, ái phi ái, phương tiện phi
phương tiện, thiện xảo phi thiện xảo, thanh tịnh phi thanh
tịnh, tương ưng phi tương ưng, thí dụ phi thí dụ, đệ tử
phi đệ tử, sư phi sư, chủng tính phi chủng tính, tam thừa
phi tam thừa, vô ảnh tượng phi vô ảnh tượng, nguyện phi
nguyện, tam luận phi tam luận, tiêu tướng phi tiêu tướng,
hữu phi hữu, vô phi vô, câu phi câu, tự chứng thánh trí phi
tự chứng thánh trí, hiện pháp lạc phi hiện pháp lạc, sát
phi sát, trần phi trần, nước phi nước, cung phi cung, dòng
giống lớn phi dòng giống lớn, xú lậu phi xú lậu, thần
thông phi thần thông, hư không phi hư không, mây phi mây, mỹ
thuật phi mỹ thuật, kỹ thuật phi kỹ thuật, gió phi gió,
đất phi đất, tâm phi tâm, giả lập phi giả lập, thể tính
phi thể tính, uẩn phi uẩn, chúng sinh phi chúng sinh, giác phi
giác, Niết bàn phi Niết bàn, hiểu biết phi hiểu biết, ngoại
đạo phi ngoại đạo, hỗn loạn phi hỗn loạn, huyễn phi huyễn,
mộng phi mộng, lửa phi lửa, ảnh tượng phi ảnh tượng,
vòng lửa phi vòng lửa, Càn thành phi Càn thành, trời phi trời,
ăn uống phi ăn uống, dâm dục phi dâm dục, thấy phi thấy,
đáo bỉ ngạn phi đáo bỉ ngạn, thành phi thành, nhật nguyệt
tinh tú phi nhật nguyệt tinh tú, đế phi đế, quả phi quả,
diệt phi diệt, diệt khởi phi diệt khởi, y phương phi y phương,
tướng phi tướng, chi phần phi chi phần, thiền phi thiền,
mê phi mê, hiện phi hiện, hộ phi hộ, dòng họ phi dòng họ,
tiên phi tiên, vua phi vua, nhiếp thọ phi nhiếp thọ, quý phi
quý, ký ức phi ký ức, nhất xiển đề phi nhất xiển đề,
nữ nam bất nam phi nữ nam bất nam, mùi vị phi mùi vị, tác
phi tác, thân phi thân, suy lường phi suy lường, động phi động,
căn phi căn, hữu vi phi hữu vi, nhân quả phi nhân quả, sắc
cứu cánh phi sắc cứu cánh, thời tiết phi thời tiết, cây
dây phi cây dây, sự vật phi sự vật, diễn thuyết phi diễn
thuyết, quyết định phi quyết định, luật tạng phi luật
tạng, tỳ kheo phi tỳ kheo, trụ trì phi trụ trì, văn tự phi
văn tự. Này Đại huệ! 108 nghĩa này đều là những gì Phật
quá khứ đã nói.
Đại
huệ Bồ tát bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Các thức có mấy thứ sinh trú diệt?
Phật
dạy:
Đại
huệ, các thức có hai thứ sinh trú diệt, không phải dùng
suy lường đo tính mà biết được. Ấy là tương tục sinh
và tướng sinh, tương tục trú và tướng trú, tương tục
diệt và tướng diệt. Các thức có ba tướng: chuyển tướng,
nghiệp tướng, chân tướng. Đại huệ! Thức nói rộng có
8 thức, lược nói thì có hai: hiện thức và phân biệt sự
thức. Đại huệ! Như trong gương sáng các hình sắc đều
hiện rõ, hiện thức cũng thế. Đại huệ! Hiện thức và
phân biệt sự thức, hai thức này không khác nhau, chúng làm
nhân cho nhau. Hiện thức lấy sự biến hóa "bất tư nghì huân"
làm nhân, phân biệt sự thức lấy sự phân biệt cảnh giới
và tập khí hý luận từ vô thỉ làm nhân. Đại huệ! Những
tập khí hư vọng phân biệt của thức a lại da diệt thì
hết thảy căn thức diệt, ấy gọi là tướng diệt. Đại
huệ! Tương tục diệt ấy là nhân sở y diệt cùng sở duyên
diệt thì tương tục cũng diệt. Nhân sở y là tập khí hý
luận hư vọng, sở duyên là cảnh giới do tự tâm thấy và
phân biệt thành. Đại huệ! Thí như nắm bùn và vi trần không
khác nhau, cũng không phải là một. Vàng và đồ trang sức
cũng thế. Đại Huệ, nếu bùn và vi trần khác nhau thì đáng
lẽ bùn không do vi trần hợp thành, nên nói không khác. Nếu
nắm bùn và vi trần không khác, thì đáng ra không thể phân
biệt nắm bùn với vi trần. Đại huệ! Chuyển thức và tạng
thức nếu khác nhau, thì tạng thức không thể làm nhân cho
các chuyển thức. Nếu không khác thì khi chuyển thức diệt,
lẽ ra tạng thức cũng diệt luôn, song kỳ thật chân tướng
của tạng thức không diệt. Đại huệ! Chân tướng của tạng
thức không diệt, chỉ có nghiệp tướng của nó diệt. Nếu
chân tướng diệt thì tạng thức cũng diệt hay sao? Nếu tạng
thức diệt, thì không khác gì thuyết đoạn diệt của ngoại
đạo. Đại huệ! Ngoại đạo lập thuyết thế này: cái thức
tương tục nắm giữ cảnh giới diệt thì thức tương tục
từ vô thỉ cũng diệt. Đại huệ! Những người ngoại đạo
bảo thức tương tục do một tác giả tạo ra chứ không nói
nhãn thức do sắc, hình, ánh sáng hòa hợp mà sinh; chỉ nói
tác giả làm nhân sinh ra. Tác giả ấy là gì? Họ kể ra Thắng
tính (Pradhàna), trượng phu (purusa), Tự tại (Ìs'vara), Thời
(kàla) và vi trần (anu) là những pháp năng tác. Lại nữa,
này Đại huệ! có bảy món tự tính, ấy là Tập (Samudaya),
Tính (Bhàva), Tướng (Laksana), Đại chủng (Mahàbhàta), nhân
(hetu), duyên (pratyaya), Thành (nispatti). Và nữa, này Đại huệ,
có bảy thứ đệ nhất nghĩa, là: Tâm sở hành (cittagocara),
Trí sở hành (Jnànagocara), nhị kiến sở hành (Drstidvayagocara),
siêu nhị kiến sở hành (Drstidvayàtikràntagocara), siêu tử
địa sở hành, Như lai sở hành, Như lai tự chứng thánh trí
sở hành (Tathàgatasyapratyàtma- gatigiocarah). Này Đại huệ,
ấy là pháp tự tại, tâm đệ nhất nghĩa của tất cả Như
lai Ứng Chính đẳng giác trong ba đời quá khứ, hiện tại,
vị lai, dùng tâm này mà thành tựu các pháp tối thượng của
Như lai ở thế gian và xuất thế gian, dùng tuệ nhãn của
bậc thánh mà thể nhập các tự tướng và cọng tướng, thảy
đều an lập. Những gì các bậc ấy an lập không đồng với
chỗ lập thuyết của ngoại đạo ác kiến. Đại huệ ! Sao
gọi là ác kiến ngoại đạo? Ấy là không biết rằng cảnh
giới vốn do tự tâm phân biệt mà hiện, đối tự tính đệ
nhất nghĩa mà chấp có, không, khởi ra ngôn thuyết. Đại
huệ! Ta nay sẽ nói, nếu biết rõ cảnh giới là như huyễn,
do tự tâm hiện, thì sẽ diệt khổ vì vọng tưởng ba cõi,
diệt các vô tri, ái, nghiệp, duyên. Đại huệ, có những bà
la môn và sa môn vọng chấp cái vốn không và cho rằng những
pháp hiện ở ngoài y theo nhân quả, thời gian mà trú, hoặc
cho rằng uẩn giới xứ theo duyên mà sinh, trú, sau khi hiện
hữu thì hoại diệt. Đại huệ! Quan niệm của những người
kia đối với các pháp như tương tục, tác dụng, sinh diệt,
hiện hữu, Niết bàn, đạo, nghiệp, quả, đế ... đều là
lý luận phá hoại, đoạn diệt. Vì sao? Bởi vì họ không
đạt được hiện pháp (pratyaksa), không thấy căn bản. Đại
huệ! Thí như chiếc bình vỡ không thể làm được việc của
nó, lại như hạt giống cháy không thể sinh mầm, đây cũng
thế. Nếu các pháp uẩn giới xứ đã hiện sẽ diệt, nên
biết đấy tất không phải tương tục sinh, vì chúng không
có nhân, chỉ có tự tâm hư vọng thấy thành. Lại nữa, Đại
huệ! Nếu thức vốn không, do ba duyên hợp mà sinh, thì đáng
lẽ rùa cũng sinh lông, cát sẽ sinh dầu; như vậy Tôn (pratijnà)
của ngươi hỏng, vì trái với nghĩa quyết định (niyama);
những gì lập ra tất sẽ thành vô dụng. Đại huệ! Ba pháp
hợp làm duyên là do tính nhân quả mà nói, và như vậy có
(những pháp như) hiện tại quá khứ vị lai, hữu và vô. Nếu
họ cứ ở trên lập trường lý giáo (yuktyàgama) ấy, thì
những gì họ chứng minh sẽ là do luận lý, lý giáo của họ,
vì ký ức những quan niệm sai lầm sẽ mãi mãi huân tập họ
(theo bản Suzuki). Đại huệ! Kẻ phàm phu ngu dốt bị ác kiến
cắn rỉa, tà kiến mê hoặc, vô trí mà vọng nói là Nhất
thiết trí. Đại huệ! Lại có các sa môn, bà la môn, quán
hết thảy pháp không tự tính, như mây giữa hư không, như
vòng lửa quay, như thành biến hóa của loài Càn thát bà, như
huyễn hóa, như ảo ảnh, như trăng dưới nước, như cảnh
chiêm bao, tất cả đều không ngoài tâm, chỉ vì cái thấy
hư vọng từ vô thỉ mà chấp thật có cảnh giới bên ngoài.
Quán như thế rồi, họ bặt dứt các duyên phân biệt, xa lìa
danh nghĩa mà vọng tâm ôm giữ, biết rằng thân, tài sản
và nhà cửa, tất cả đều là cảnh giới tạng thức, không
có năng sở, không có sinh, trụ, diệt, họ thường tư duy
như thế không rời. Đại huệ! Những đại Bồ tát ấy không
lâu sẽ xem bình đẳng giữa sinh tử và Niết bàn (samsàranirvàna),
được hạnh đại bi phương tiện không cần dụng công, quán
sát chúng sinh như huyễn như hóa, như hình ảnh theo duyên mà
sinh, biết ngoài tâm không có các cảnh giới. Các vị ấy
sẽ thực hành đạo vô tướng, dần tiến lên các "địa",
an trú trong chính định, hiểu rõ ba cõi do tâm, chứng được
định Như huyễn (Màyopamasamàdhi), tuyệt dứt các ảnh tượng,
thành tựu trí tuệ, chứng pháp vô sinh, nhập định kim cương
dụ (vajravimbopama), sẽ được Phật thân (Tathàgatakàya). Nhưng
vị ấy sẽ thường trú trong Như như (Tathàta) mà khởi các
thần thông biến hóa, trang sức bằng tự tại, trí tuệ, phương
tiện để dạo chơi các cõi Phật, xa lìa các ngoại đạo.
Tâm, ý, thức, lần lượt chuyển y mà thành tựu thân Như
lai. Đại huệ! Các vị đại Bồ tát muốn được thân Phật,
phải xa lìa uẩn giới xứ, vì đấy là các pháp do nhân duyên
sinh, xa lìa các pháp sinh, trú, diệt, phân biệt, hí luận.
Chỉ nên chú tâm quán sát ba cõi là do tập khí hư vọng từ
vô thỉ khởi lên, tư duy Phật địa vốn vô tướng, vô sinh,
là thánh pháp tự chứng. Như thế sẽ được tâm tự tại,
hạnh không cần dụng công, như ngọc ma ni hiện đủ thứ
hình sắc, đạt lý duy tâm, tuần tự nhập vào các địa.
Bởi thế, này Đại huệ, các bậc đại Bồ tát nên siêng
tu học chân lý tự chứng này.
09-17-2008
05:34:12