QUYỂN
HAI
Tiết
II - THỰC HÀNH TẤT CẢ PHÁP
Bấy
giờ Bồ tát Đại huệ lại bạch Phật rằng:
Bạch
Thế Tôn! Xin Thế Tôn vì con nói về các pháp môn vi diệu:
Tâm, ý, ý thức (cittamanomanovijnàna), 5 pháp, ba tự tính (Svabhàvas),
tướng (Laksanas). Đấy là những gì mà chư Phật, Bồ tát
- những vị đã thâm nhập cảnh giới tự tâm, lìa các hành
tướng - xem là nghĩa chân thật, là nòng cốt của Phật giáo.
Xin Thế Tôn thuận theo chư Phật quá khứ, vì chúng Bồ tát
trong núi này mà diễn nói cảnh giới của pháp thân, như những
làn sóng của biển tạng thức.
Phật
bảo Bồ tát Đại huệ:
Có
bốn loại nhân duyên chuyển nhãn thức. Bốn nhân duyên ấy
là gì? Ấy bởi không biết sự vật do tự tâm hiện nên khởi
sự nắm giữ; bởi tập khí hư vọng từ vô thỉ chấp trước
sắc tướng, bởi bản tính của thức vốn như vậy, bởi
ưa nhìn sắc tướng. Đại huệ! Vì bốn duyên ấy nên thức
a lại da giống như nước lũ sinh những luồng sóng thức.
Về các thức khác cũng vậy. Ở nơi tất cả căn, vi trần,
lỗ chân lông v.v.. chuyển thức hoặc sinh liền, như gương
sáng hiện sắc hình, hoặc sinh từ từ, như gió mạnh thổi
trên biển lớn. Biển Tâm cũng vậy, bị gió cảnh giới thổi
làm nổi dậy những làn sóng thức, nối nhau không cùng. Đại
huệ! Nhân, sở tác và tướng không phải một cũng không phải
khác; nghiệp tướng cùng sinh tướng tương quan ràng buộc
chặt chẽ. Vì không biết tự tính của sắc (thanh hương vị
xúc) nên năm chuyển thức hoạt động. Đại huệ! Cùng với
năm thức này, do nhận thức các cảnh tướng khác nhau mà
ý thức sinh khởi. Nhưng các thức ấy không nghĩ "Chúng ta
đồng thời làm nhân cho nhau" mà lại khởi các cảnh giới
do tự tâm hiện, rồi phân biệt chấp trước đồng thời
phát sinh, chứ thật ra không có những tướng riêng biệt tự
rõ biết đối tượng của mình. Đại huệ! Các bậc tu hành
nhập chính định, vì sức mạnh tập quán nổi lên một cách
vi tế khó biết, nên nghĩ là "Ta đã nhập tam muội diệt các
thức." Song kỳ thực họ nhập tam muội chưa diệt các thức,
vì chưa diệt các tập khí; chỉ vì họ không chấp lấy các
cảnh nên họ gọi là thức diệt. Đại huệ, hành tướng
của tạng thức rất vi tế, trừ chư Phật và Bồ tát đã
an trú trong các địa, ngoài ra năng lực định, tuệ của nhị
thừa ngoại đạo không thể biết. Chỉ có những bậc tu hành
như thật, dùng trí tuệ biết rõ tướng các giai đoạn tu
hành, thông đạt nghĩa lý, rộng tu các thiện căn ở vô lượng
cõi Phật, không lầm phân biệt những cảnh do tự tâm thấy...
mới có thể biết được. Đại huệ! Các bậc tu hành ưa
ở chỗ núi rừng, tu các bực cao, vừa, hay thấp, có thể
thấy hành tướng của tự tâm, được chư Phật với Tam muội
tự tại thần thông lấy nước cam lộ rưới đầu, Bồ tát
vây quanh, biết rõ các cảnh giới do tâm, ý, ý thức làm nên,
vượt được biển lớn vô trí (ajnàna), sinh tử, ái nghiệp.
Bởi thế các ông nên gần gũi chư Phật Bồ tát, các vị
thiện tri thức tu hành như thật."
Thế
Tôn lại nói bài kệ:
Như
ba đào biển lớn
Đều
do gió mạnh thổi
Sóng
lớn khua biển, ngòi
Không
lúc nào dừng nghỉ
Biển
Tạng thức thường bị
Gió
cảnh giới lay động
Khiến
những luồng sóng thức
Múa
nhảy mà chuyển sinh
Các
màu xanh cùng đỏ
Muối,
mật và thạch nhũ
Hoa,
trái, ánh trời, trăng
Không
khác, không không khác
Nên
biết cũng như thế
Ý
và bảy loại thức
Như
biển cùng ba đào
Do
tâm hòa hiệp sinh
Thí
như nước biển động
Chuyển
các luồng sóng lớn
Tạng
thức cũng như thế
Sinh
ra các loại thức
Tâm
ý cùng ý thức
Là
nói về mặt tướng
Tướng
tám thức không khác
Không
năng tướng sở tướng
Như
biển cùng ba đào
Hai
thứ không khác nhau
Các
thức tâm cũng thế
Cũng
không thể khác được
Tâm
hay chứa các nghiệp
Ý
tập họp đủ thứ
Liễu
biệt gọi ý thức
Đối
hiện cảnh có năm.
Khi
ấy Bồ tát Đại huệ hỏi Phật bằng bài tụng:
Các
sắc tượng xanh đỏ
Hiện
nơi thức chúng sinh
Vì
sao như sóng biển?
Xin
Phật thương nói rõ.
Đức
Thế Tôn đáp:
Các
sắc tượng xanh đỏ
Trong
sóng vốn không có
Nói
tâm khởi các tướng
Để
khai ngộ phàm phu
Chứ
thật vốn không khởi
Tâm
vốn lìa "nắm giữ"
Năng
thủ và sở thủ
Cũng
như sóng nước kia
Thân,
nhà cửa, tư tài
Hiện
nơi thức chúng sinh
Nên
thấy có sinh khởi
Cùng
sóng không sai khác.
Đại
huệ lại nói bài tụng:
"Tính
sóng" của biển cả
Cuồn
cuộn dễ phân biệt
Tạng
thức khởi như thế
Vì
sao không hay biết?
Thế
Tôn đáp:
A lại
gia như biển
Chuyển
thức như sóng lớn
Là
ví dụ khai diễn
Cho
phàm phu vô trí.
Đại
huệ lại nói bài tụng:
Thí
như mặt trời hiện
Trên
dưới đều soi chiếu
Phật
ngọn đèn của đời
Cũng
nên vì bọn ngu
Nói
nghĩa lý chân thật
Đã
hay mở bày pháp
Vì
sao không nói thẳng?
Thế
Tôn đáp:
Nếu
nói nghĩa chân thật
Tâm
kia không chân thật
Ví
như sóng đại dương
Bóng
trong gương, cảnh mộng
Đồng
thời mà hiển hiện
Cảnh
giới tâm cũng thế
Vì
điều kiện không đủ
Nên
tuần tự chỉ ra
Mạt
na chấp hiện thức
Ý
thức nhận thức ý
Năm
thức rõ hiện cảnh
Không
thứ lớp nhất định
Thí
như người họa sư
Và
học trò họa sư
Hòa
màu vẽ các hình
Ta
dạy cũng như thế
Họa
không có trong màu
Trong
bút hay trong vải
Vì
làm vui chúng sinh
Tạo
các hình tươi đẹp
Nói
ra tất biến đổi
Chân
lý lìa văn tự
Thật
pháp ta an trú
Để
nói cho bậc tu
Chỗ
tự chứng chân thật
Lìa
phân biệt năng sở
Đấy
vì Bồ tát nói
Người
ngu khởi phân biệt.
Các
pháp đều như huyễn
Đối
tượng không thể có
Nói
những thứ như vậy
Tùy
việc mà biến đổi
Giáo
lý không phù hợp
Không
phải là giáo lý
Ví
như đối bệnh nhân
Lương
y tùy cho thuốc
Như
lai vì chúng sinh
Tùy
căn cơ nói pháp
Chỗ
chứng trí sở hành
Của
đấng đời nương tựa
Không
phải cảnh ngoại đạo
Hay
của hàng Thanh văn.
Lại
nữa, Đại huệ! Nếu Bồ tát đại hữu tình muốn biết rõ
cảnh giới phân biệt năng thủ sở thủ đều do tự tâm hiện,
thì hãy xa lìa sự huyên náo, hôn trầm, ngủ gật; đầu đêm
giữa đêm và cuối đêm nên siêng gia công tu tập, xa lìa tụ
hội, nghe tà luận ngoại đạo và các pháp nhị thừa, phân
biệt các tướng do tự tâm bày đặt. Lại nữa, này Đại
huệ! Khi bậc đại Bồ tát đã an trú trong tâm trí tuệ, hãy
siêng tu học ba tướng của thánh trí cao cả. Ba tướng ấy
là gì? ấy là tướng "vô ảnh tượng" (Niràbhàsalaksana), tướng
"nhất thiết chư Phật nguyện trì" (Sarvabuddha-svapranidhàradhisthànalaksana),
tướng "Tự chứng Thánh trí sở thú" (pratyàtmàryajnàna- gatilaksana)
(chỗ thú hướng của bậc tự chứng thánh trí). Những vị
tu hành khi đạt được các tướng ấy rồi, liền xả bỏ
tướng "lừa què" của trí tuệ (khanjagardabha), vào địa thứ
8 của Bồ tát , đối với ba tướng ấy tu hành không gián
đoạn. Đại huệ! Tướng vô ảnh tượng là sao? Là kết quả
đạt được do tu tập các pháp nhị thừa ngoại đạo. Tướng
"Hết thảy chư Phật nguyện trì" là sao? Là do bổn nguyện
gia trì của chư Phật mà sinh. Tướng "Chỗ hướng đến của
bậc tự chứng thánh trí" là sao? Là do không giữ hết thảy
pháp tướng mà thành tựu các thân tam muội như huyễn, đạt
đến Phật địa. Đại huệ! ấy là ba tướng của Thánh trí
cao thượng. Nếu được tướng ấy tức là đạt đến cảnh
giới của Thánh trí tự chứng. Ông và các Bồ tát nên siêng
tu học."
Khi
ấy Đại huệ Bồ tát nhờ uy thần của Phật, biết được
ý nghĩ của các Bồ tát trong hội chúng, liền bạch Phật:
Xin
Thế Tôn vì chúng con nói rõ thánh trí đối với việc phân
biệt 108 câu như thế nào? Hết thảy chư Như lai, Ứng cúng,
chính biến giác đều vì các Bồ tát rơi vào tự tướng cọng
tướng mà phân tích bản chất và sự sai biệt của những
vọng chấp. Biết được nghĩa ấy rồi, tất sẽ thanh tịnh
được hai phép quán vô ngã, sáng tỏ các giai đoạn tu hành,
vượt trên pháp lạc của định nhị thừa ngoại đạo, thấy
được cảnh giới không thể nghĩ bàn của chư Như lai. Khi
ấy Bồ tát sẽ rốt ráo xa lìa ba tự tính, năm pháp, dùng
trí tuệ của pháp thân Phật mà tự trang nghiêm, thâm nhập
cảnh giới như huyễn. Các vị ấy sẽ thành tựu thân Như
lai ở các cõi Đâu suất đà (Tusitabhavana), Sắc cứu cánh
(Akanis- thàlaya).
Phật
dạy:
Này
Đại huệ! Có một hạng ngoại đạo thấy vạn pháp theo nhân
mà diệt, liền sinh phân biệt rằng thỏ không sừng, khởi
"chấp không". Ví như sừng thỏ vốn không có, hết thảy pháp
cũng thế. Lại có hạng ngoại đạo chấp "đại chủng" (bhùta),
cầu na (guna) vi trần (anu) v.v.. hình lượng phân vị đều
khác nhau, nên đã chấp thỏ không sừng, lại theo đó mà tưởng
trâu có sừng. Đại huệ! Những kẻ ấy lạc vào nhị kiến,
không
rõ duy tâm, chỉ làm tăng trưởng sự phân biệt nơi tự tâm.
Đại huệ! Thân, tài sản, khí thế gian v.v.. tất cả đều
do phân biệt mà hiện. Đại huệ! Nên biết sừng thỏ vốn
lìa có và không, các pháp khác cũng thế, chớ sinh phân biệt.
Vì sao sừng thỏ lìa hữu vô? Vì các nhân đối đãi nhau vậy.
Phân chẻ sừng trâu cho đến thành vi trần để tìm thể tính
của nó rốt cuộc vẫn không nắm được. Tư duy của Thánh
trí xa lìa kiến chấp ấy, bởi thế không nên phân biệt.
Đại
huệ Bồ tát lại bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Phải chăng vì vọng kiến khởi ra tướng, rồi những
người (phàm phu) kia mới so sánh phỏng đoán, vọng chấp không?
Phật
dạy:
Không
phải vì đối với tướng do phân biệt khởi mà nói là không.
Vì sao? Những người kia lấy phân biệt làm sinh nhân, lấy
sự phân biệt sừng làm chỗ nương của nhân ấy. Chỗ nương
cho nhân ấy vốn lìa khác và không khác. Không phải do đối
đãi mà chứng minh rằng sừng thỏ không có. Đại huệ! Nếu
sự phân biệt kia khác với sừng thỏ, thì tất không phải
do sừng làm nhân. Nếu nó không khác, tất phải do sừng khởi.
Đại huệ! Chia tách sừng trâu cho đến thành cực vi mà tìm
sừng cũng không có, còn khác với sừng nói không sừng thì
sự phân biệt ấy tất phi lý. Cả hai (sừng trâu và sừng
thỏ) đều không, thì cái gì đối đãi với cái gì? Nếu
sự đối đãi đã bất thành, chỉ đối với có mà nói sừng
thỏ là không thì không nên phân biệt, vì không phải chính
nhân vậy. Những người luận hữu, luận vô, chấp có chấp
không, cả hai đều không thành. Đại huệ! Lại có những
người ngoại đạo thấy sắc, hình trạng, hư không phân định
rõ ràng nên sinh chấp rằng sắc khác hư không, khởi phân
biệt. Đại huệ! Hư không chính là sắc, thuộc vào sắc.
Đại huệ! Sắc là hư không, vì nương sắc mà có hư không,
nương hư không mà có sắc. Để lập ranh giới giữa sắc,
không, nên biết như thế. Đại huệ! Khi các đại khởi sinh
vũ trụ, tự tướng của chúng khác nhau, không ở trong hư
không, không phải chúng không có hư không. Đại huệ! Sừng
thỏ cũng vậy, chính vì đối đãi với sừng trâu mà nói
thỏ không sừng. Đại huệ! Phân tích sừng trâu cho đến
vi trần, lại tách chẻ vi trần kia ra thì tướng của vi trần
cũng không hiện. Vậy đối đãi với cái gì mà nói vi trần
là không? Với các vật khác cũng thế. Này Đại huệ! Hãy
xa lìa những phân biệt về sừng thỏ sừng trâu, hư không
cùng sắc... Ông và các đại Bồ tát nên thường quán sát
các tướng phân biệt do tự tâm thấy, ở các cõi hãy vì
Phật tử mà nói pháp tu quán sát tự tâm."
Bấy
giờ Thế Tôn nói bài tụng:
Vật
tâm thấy vốn không
Chỉ
do tâm mà khởi
Thân,
tài vật, chỗ ở
Là
bóng Tạng thức hiện
Tâm,
ý, thức, tự tính
Năm
pháp, hai vô ngã
Đều
rốt ráo thanh tịnh
Đấy
điều chư Phật nói
Dài
ngắn cùng nương nhau
Xoay
vần sinh lẫn nhau
Do
có mà nói không
Nhân
không mà nói có
Phân
tích đến vi trần
Không
khởi phân biệt sắc
Chỉ
do tâm vọng lập
Kẻ
ác kiến không tin
Đây
không phải ngoại đạo
Hay
Thanh văn đã nói
Mà
chính đấng cứu đời
Nói
cảnh đã thân chứng.
Bấy
giờ Bồ tát Đại huệ, vì muốn thanh tịnh tâm hiện lưu
nên bạch Phật:
Làm
sao thanh tịnh tự tâm hiện lưu (dòng tư tưởng tuôn chảy
không ngừng) của chúng sinh? Sự thanh tịnh ấy có thứ lớp
hay ngay tức thì?
Phật
dạy:
- Này
Đại huệ! Thanh tịnh dần dần, không phải tức khắc. Như
trái am la (àmraphala, xoài) chín lần, không chín ngay. Chư Như
lai làm cho dòng tâm thức chúng sinh thanh tịnh cũng thế, dần
dần chứ không tức khắc. Như người thợ gốm làm các vật
dần thành hình, không phải tức khắc. Chư Như lai tịnh dòng
tâm thức chúng sinh cũng thế, tuần tự không tức thì. Như
đất lớn sinh thảo mộc cũng sinh từ từ, không sinh lập
tức, chư Phật thanh tịnh dòng tâm thức tuôn chảy nơi chúng
sinh cũng thế, tuần tự không phải tức thì. Đại huệ! Thí
như người học âm nhạc, đọc sách, vẽ, hoặc các thứ kỹ
thuật, dần dần mà thành tài chứ không tức khắc, chư Phật
thanh tịnh dòng tâm thức chảy xiết của chúng sinh cũng thế,
không phải ngay tức thì. Ví như gương lớn hiện ngay các
vật không phân biệt, chư Như lai làm thanh tịnh dòng tâm thức
của chúng sinh cũng vậy, làm hiện tức khắc hết thảy cảnh
giới vô tướng không phân biệt. Như vừng nhật nguyệt soi
chiếu tất cả sắc hình tượng cùng một lúc, chư Phật làm
thanh tịnh tập quán lỗi lầm nơi tự tâm chúng sinh cũng thế,
lập tức vì chúng sinh thị hiện cảnh giới trí tuệ bất
khả tư nghì của chư Như lai. Như tạng thức hiện ngay một
lúc hết thảy cảnh giới: quốc độ, thân, tài sản; Báo
Phật cũng thế (nisyandabuddha) ở cõi Sắc cứu cánh, thường
tức khắc thành tựu chúng sinh, khiến chúng tu các hạnh. Như
Pháp tính Phật (Dharmatàbuddha) tức khắc hiện Báo Phật và
ánh sáng quang minh của Hóa Phật (Nirmànabuddha); Thánh trí tự
chứng cũng vậy, hiện ngay các pháp tướng làm ánh sáng chiếu
soi, khiến lìa hết tà kiến về có và không. Lại nữa, Đại
huệ, đức Phật từ pháp tính lưu xuất (dharmatànisyandabuddha)
nói tự tướng cộng tướng của hết thảy pháp, các tướng
do tập khí làm nhân (vàsanàhetu) do tự tâm hiện, các tướng
do vọng chấp sinh... đều là các tướng huyễn hóa lệ thuộc
lẫn nhau, không có tự tính. Những gì chúng sinh chấp thật
có đều không thể nắm giữ (bất khả đắc). Lại nữa,
Đại huệ! Tính vọng kế (parikatantrasvabhàva) là do chấp trước
vào tính duyên khởi mà sinh. Đại huệ! Thí như thầy phù
thủy dùng huyễn thuật lấy cỏ cây ngói gạch tạo ra bao
nhiêu hình tượng chúng sinh, khiến cho người thấy liền phân
biệt các sự vật, mà kỳ thật không có gì.Đại huệ! Đây
cũng vậy. Do thói quen cố chấp cảnh giới là thật, nên trong
các pháp do duyên khởi lại có ra các tướng vì vọng chấp
mà hiện, ấy gọi là phát sinh vọng kế. Đại huệ! Đấy
là pháp tướng mà chư Phật pháp tính đã nói. Đại huệ,
Phật Pháp tính kiến lập các cảnh giới của tự chứng trí,
lìa tướng do tự tâm hiện. Đại huệ! Hóa Phật nói các
pháp: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định,
trí tuệ, uẩn, giới, xứ, cùng các phương pháp giải thoát
các hành tướng của thức, kiến lập sai biệt, vượt trên
kiến chấp của ngoại đạo, siêu việt hạnh vô sắc. Lại
nữa, Đại huệ! Phật pháp tính không vin vào đâu cả, xa
lìa hết thảy các tướng: sở duyên, sở tác, căn, lượng...
không phải cảnh giới mà phàm phu, nhị thừa và ngoại đạo
ưa chấp ngã thường quan niệm. Bởi thế, Đại huệ, ông
nên siêng tu học cảnh giới thù thắng của bậc Tự chứng
Thánh trí, nên mau xa lìa các tướng do tự tâm hiện, do kiến
chấp phân biệt. Lại nữa, Đại huệ! Thanh văn thừa có hai
tướng sai biệt, ấy là tướng Tự chứng Thánh trí thù thắng,
và tướng phân biệt chấp trước tự tính. Sao gọi là tướng
"Tự chứng Thánh trí thù thắng" (pratyàtmàryàdhi- gamavisesalaksana)?
Ấy là nhân thấy rõ cảnh giới các đế khổ, không, vô thường,
vô ngã, mà lìa ham muốn, trở nên vắng lặng; biết rõ một
cách chân thật các tướng bất hoại ở ngoài uẩn, giới,
xứ hoặc tự hoặc cọng, nên tâm trụ vào một chỗ. Khi tâm
đã an trú vào một cảnh thì sẽ được các đạo quả thiền
định, giải thoát, tam muội... mà được hạnh viễn ly. Họ
an trú trong pháp lạc của cảnh giới do Thánh trí tự chứng,
song vẫn chưa lìa được tập khí và những hình thái "biến
dị sinh tử" khó nghĩ bàn, nên gọi là tướng Tự chứng thánh
trí của Thanh văn thừa. Các bậc đại Bồ tát tuy cũng được
cảnh giới Thánh trí tự chứng ấy, nhưng vì thương xót chúng
sinh, giữ tròn bản nguyện nên không thể chứng pháp môn tịch
diệt cùng pháp lạc tam muội. Các đại Bồ tát không tu học
pháp lạc tự chứng thánh trí ấy. Đại huệ! Sao gọi là
tướng "phân biệt chấp trước tự tính"? Ấy là biết các
pháp như cứng, ẩm, động, xanh, vàng, đỏ, trắng vv.. đều
không do một tác giả sinh, nhưng lại y cứ vào sự giảng
dạy, lý luận mà có tự tướng cọng tướng và khởi phân
biệt chấp trước, ấy gọi là tướng phân biệt của Thanh
văn. Các vị đại Bồ tát đối với các pháp ấy nên biết,
nên xa lìa kiến chấp nhân vô ngã, nhập vào tướng "pháp
vô ngã" dần dần an trú trong các địa vị tu hành.
Bồ
tát Đại huệ bạch Phật
Bạch
Thế Tôn! Như lai nói cảnh giới đệ nhất nghĩa của Thánh
trí tự chứng là "Thường còn, không thể nghĩ bàn", há không
giống với ngoại đạo bảo đấng Tạo hóa của họ cũng
thường còn, không thể nghĩ bàn đấy hay sao?
Đại
huệ! Đấy không phải là tướng thường bất tư nghì mà
đấng
tạo hóa ngoại đạo có. Vì sao? Bởi vì, Đại huệ, tướng
thường bất tư nghì của ngoại đạo là do tự tướng, không
do nhân thành. Đã do tự tướng, thì lấy gì chứng minh cái
thường bất tư nghì? Đại huệ! Cái thường bất tư nghì
của ngoại đạo nói nếu do tự tướng thì tất nó hữu thường,
song vì lấy đấng tạo hóa làm nhân nên không thành thường
bất tư nghì. Đại huệ! Đệ nhất nghĩa thường bất tư
nghì của ta, xa lìa có, không. Nó có đặc tính riêng của
nó vì là cảnh giới do thánh trí tự chứng. Nó do đệ nhất
nghĩa làm nhân nên có nhân. Nó lìa có, không, nên không phải
là tác giả. Vì nó như hư không, tịch diệt của Niết bàn,
nên thường bất tư nghì của ta nói không giống với chỗ
tranh luận của ngoại đạo. Đại huệ này, cái thường bất
từ nghì của ta là chân lý do thánh trí chư Như lai tự chứng,
nên Bồ tát hãy siêng tu học. Lại nữa, Đại huệ, nghĩa
thường bất từ nghì của ngoại đạo là nhân trái với vô
thường mà nói thường, không phải do tự tướng. Đại huệ!
Nghĩa thường bất tư nghì của ngoại đạo là do thấy các
pháp sinh ra có rồi hoàn không, bởi đó vô thường, so đấy
mà nói thường. Ta cũng thấy các pháp sinh ra có rồi lại
không, bởi đó vô thường, nhưng không vì thế mà nói nghĩa
thường. Đại huệ! Nếu ngoại đạo lấy tướng nguyên nhân
mà thành thường bất từ nghì, thì tướng nguyên nhân ấy
vốn không có, cũng như sừng thỏ; cái thường bất từ nghì
chỉ là phân biệt, chỉ có trên danh từ. Vì sao? Vì cái nhân
ấy cũng như sừng thỏ, không có đặc tính của tự nhân
vậy.Đại huệ! Thường bất từ nghì của ta lấy tự chứng
làm nhân, không lấy pháp bên ngoài có rồi hoàn không - vô
thường - mà làm nhân. Ngoại đạo, trái lại, chưa từng biết
tướng của tự nhân thường bất từ nghì, mà thường ở
bên ngoài cảnh giới của Thánh trí tự chứng.
Lại
nữa, Đại huệ! Các hàng Thanh văn vì sợ sinh tử, vọng tưởng,
khổ (samsàravikalpadukkha) mà cầu Niết bàn, không biết tất
cả tướng sai biệt giữa Niết bàn sinh tử đều do hư vọng
phân biệt mà có, chứ thật vốn không. Thanh văn vọng chấp
rằng trong tương lai các căn, cảnh đều diệt, cho đó là
Niết bàn, mà không biết cảnh giới của trí tự chứng, là
chuyển tạng thức bị hạn cuộc thành Đại Niết bàn. Những
người ngu kia nói có 3 thừa, không nói ngoài tâm không cảnh.
Những người ấy không biết cảnh giới tự tâm mà chư Phật
quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói, lại chấp trước cảnh
ngoài tâm, nên thường trôi lăn không cùng trong sinh tử. Lại
nữa, Đại huệ! Chư Như lai vì sao nói hết thảy pháp quá
khứ hiện tại vị lai không sinh (anutpanna)? Vì cảnh do tự
tâm thấy đều không có tự tính, lìa có không, nên nói vô
sinh, như sừng thỏ, sừng ngựa v.v.. mà phàm phu vọng chấp.
Cảnh giới vô sinh này là cảnh của bậc Tự chứng trí, không
phải của hạng ngu phu phân biệt nhị nguyên. Đại huệ! Thân,
tài sản, khí thế gian, v.v.. tất cả đều là bóng dáng của
tạng thức, năng thủ sở thủ (gràhyagràhaka) đồng hiện
khởi. Hàng ngu phu theo hai kiến chấp về sinh, trú, diệt, mà
vọng khởi phân biệt hữu, vô. Đại huệ! Ông nên siêng năng
tu học nghĩa này.
Lại
nữa, này Đại huệ! Có năm loại chủng tính là: Chủng tính
Thanh Văn, chủng tính Duyên giác, chủng tính Như lai, chủng
tính bất định và vô chủng tính. Đại huệ! Sao biết được
là chủng tính Thanh văn thừa? Những người khi nghe nói tự
tướng, cọng tướng, uẩn, giới, xứ, hoặc biết hoặc chứng,
thì lông tóc dựng ngược, khao khát tu tập; nhưng đối với
lý duyên khởi thì không thích quán sát, nên biết đấy là
chủng tính Thanh văn thừa. Những người ấy khi đã thấy
chỗ mình chứng được, ở vào địa thứ năm thứ sáu, thì
dứt được trói buộc của phiền não song chưa đoạn được
tập khí phiền não. Họ vẫn vướng vào "bất tư nghì tử"
- cái chết không thể nghĩ bàn. Tiếng rống như sư tử của
họ là: "Sinh đã tận, phạm hạnh đã hoàn thành, việc nên
làm đã xong, không còn thọ thân sau." Họ tu tập "nhân vô
ngã" sinh tâm cho mình đã đạt Niết bàn.
Đại
huệ! Lại có chúng sinh cầu chứng Niết bàn, tự nói đã
biết tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, cho đấy là Niết
bàn. Lại có những người nói: Thấy các pháp thảy đều
do nguyên nhân sinh ra, đó là Niết bàn. Đại huệ! Những kẻ
ấy không giải thoát, vì chưa thể thấy pháp vô ngã vậy.
Đó là chủng tính Thanh văn thừa, ngoại đạo, chưa giải
thoát mà cho mình đã giải thoát. Ông hãy siêng tu tập xả
bỏ ác kiến này. Đại huệ! Sao biết được chủng tính duyên
giác thừa? Ấy là những người khi nghe nói 12 nhân duyên thì
lông tóc dựng đứng, động lòng rơi lụy, xa lìa huyên náo,
không đam mê gì nữa. Khi nghe nói hiện các thứ thân hoặc
tụ hoặc tán, các việc thần thông biến hóa, thì tâm họ
tin chịu, không phản đối. Nên biết đấy là chủng tính
Duyên giác; hãy nói pháp Duyên giác thừa cho họ. Đại huệ!
Các pháp mà chủng tính Như lai thừa chứng được thuộc ba
loại: Ấy là pháp "tự tính vô tự tính", pháp "nội thân
tự chứng Thánh trí" và pháp "thấy hết thảy các cõi Phật
ở ngoài." Đại huệ! Nếu có người nghe nói mỗi mỗi pháp
này cho đến pháp "thân, nhà cửa, tài sản đều do tự tâm
hiện," nghe nói cảnh giới không thể nghĩ bàn của thức a
lại gia mà không sợ, không kinh khiếp hãi hùng, nên biết
người ấy thuộc chủng tính Như lai. Đại huệ! Bất định
chủng tính là gì? ấy là khi nghe nói về ba thừa trên đây
đều có thể khởi phát lòng tin, muốn tu học. Đại huệ!
Ta vì các hạng người mà so sánh các giai đoạn tu tập, nói
các chủng tính, vì muốn khiến họ an trú trong cảnh giới
vô ảnh tượng nên kiến lập như thế. Đại huệ! Những
người Thanh văn an trú trong pháp lạc tam muội, nếu chứng
được thức bị duyên của mình, thấy được pháp vô ngã,
sạch tập khí phiền não, thì rốt cuộc cũng sẽ được thân
Như lai." Thế Tôn liền nói bài tụng:
Quả
Dự lưu, Nhất lai
Bất
hoàn, A la hán
Những
thánh nhân như thế
Tâm
họ đều mê hoặc
Ba
thừa ta lập ra
Một
thừa đến không thừa
Vì
kẻ ngu trí nhỏ
Vì
bậc Thánh ưa tịch
Pháp
môn đệ nhất nghĩa
Xa
lìa cả hai chấp
Trong
chỗ vô cảnh giới
Làm
sao lập ba thừa?
Các
thiền cùng vô lượng
Vô
sắc tam ma đề (àrùpya samadhi)
Cho
đến diệt thọ tưởng
Đều
không ở ngoài tâm.
Lại
nữa Đại huệ, tại sao hạng Nhất xiển đề (Icchantika) đối
với pháp giải thoát không sinh vui thích? Đại huệ! Vì họ
đã bỏ mất hết căn lành, hoặc vì từ vô thủy đã khởi
nguyện độ chúng sinh. Sao gọi là bỏ mất hết căn lành?
Ấy là những người chê bai các tạng kinh của Bồ tát, cho
rằng không hợp với Khế kinh, với sự điều phục và giải
thoát. Như vậy là đoạn hết căn lành, không nhập niết bàn
được. Sao gọi là từ vô thỉ vì chúng sinh khởi nguyện?
Ấy là những Bồ tát dùng phương tiện bản nguyện, nguyện
cho hết thảy chúng sinh đều vào Niết bàn, nếu còn một
chúng sinh chưa vào thì Bồ tát cũng không vào. Hạng này cũng
ở trong đường của Nhất xiển đề, không có tướng của
chủng tính Niết bàn.
Đại
huệ Bồ tát bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Trong hai hạng đó rốt cùng ai không vào Niết bàn?
Phật
dạy:
Những
Bồ tát Nhất xiển đề kia vì biết rõ hết thảy pháp xưa
nay vốn là Niết bàn, nên rốt cuộc không nhập. Song hạng
Nhất xiển đề đã bỏ các thiện căn thì hoặc sẽ nhờ
uy lực Phật, hoặc có khi phát sinh thiện căn. Vì sao? Vì Phật
không bao giờ bỏ rơi một chúng sinh nào. Cho nên chỉ có Bồ
tát Nhất xiển đề là không nhập Niết bàn. Lại nữa Đại
huệ ! Bồ tát đại hữu tình nên biết rõ tướng của 3 tự
tính (svabhàva). Ba tự tính ấy là gì? ấy là vọng kế, duyên
khởi và viên thành. Đại huệ, vọng kế tự tính là do tướng
sinh. Sao là do tướng sinh? Ấy là nương theo các sự tướng
duyên khởi hiện ra các chủng loại mà sinh chấp trước, so
đo. Đại huệ ! Sự kế trước ấy sinh hai thứ vọng kế
tính, ấy là những gì chư Như lai diễn nói: danh tướng kế
trước và sự tướng kế trước. Sự tướng kế trước là
chấp các pháp trong và ngoài cho là thật có, danh tướng kế
trước là đối các pháp trong và ngoài ấy, chấp có tự tướng
cọng tướng. Ấy là hai thứ vọng kế. Đại huệ! Do duyên
sở y mà khởi lên, ấy gọi là tính duyên khởi. Sao gọi là
viên thành tự tính? (Parnispannasvabhàva) Ấy là chân như mà
đấng tự chứng Thánh trí đạt được, lìa hết thảy danh
tướng, sự tướng. Đại huệ! đấy là tự tính viên thành,
Như lai tạng tâm.
Đức
Thế Tôn bèn nói bài tụng:
Phân
biệt danh tướng
Là
tướng tự tính
Chính
trí chân như
Là
tính viên thành.
Đại
huệ! đấy là pháp môn quán sát 5 pháp, hai tự tính, là cảnh
giới của bậc Tự chứng thánh trí. Ông cùng các bồ tát
đại hữu tình nên siêng tu học. Lại nữa, này Đại huệ,
Bồ tát nên quán sát hai tướng vô ngã. Hai tướng ấy là
gì? Là tướng nhân vô ngã, tướng pháp vô ngã. Đại huệ,
sao gọi là tướng nhân vô ngã? Ấy là uẩn, xứ, giới, lìa
ngã, ngã sở, vì ngu si và ái nghiệp mà sinh các thức như
nhãn v.v.. Do sắc, thanh... mà sinh chấp trước. Lại thân và
khí thế gian mà tự tâm thấy đều do tạng tâm biến hiện,
từng giây phút tiếp nhau biến hoại không ngừng. Như dòng
sông, như hạt giống, như ánh đèn, như gió qua mau, như mây
nổi. Nó động chuyển không an như vượn khỉ, ưa chỗ dơ
uế như ruồi nhặng, không biết chán đủ như lửa mạnh.
Nó lấy tập quán tà ác từ vô thỉ làm nhân, nên trôi lăn
các cõi không ngừng như bánh xe kéo nước, cuốn theo các loại
thân hình, như thây chết do mãnh lực bùa chú mà cử động,
lại như người gỗ do máy mà chuyển động. Nếu biết rõ
tướng của tự thân là như vậy, thì gọi là trí "nhân vô
ngã" (Putgalarairàtnyajnàra). Đại huệ! Sao gọi là trí pháp
vô ngã? Ấy là biết uẩn, giới, xứ là tính vọng chấp.
Nguyên uẩn, giới, xứ vốn lìa ngã, ngã sở, chỉ vì sợi
dây trói buộc của ái và nghiệp tích tụ làm duyên cho nhau
mà sinh khởi, không có tác giả. Uẩn giới xứ cũng thế,
lìa tự tướng cọng tướng. Những hiện tượng giả dối
đủ loại hiện ra chỉ có phàm phu mới phân biệt, thánh giả
thì không. Quan sát các pháp như vậy nên lìa tâm, ý, ý thức,
5 pháp, 3 tự tính, ấy gọi là trí pháp vô ngã của Bồ tát
đại hữu tình. Khi được trí ấy thì biết không có cảnh
giới, hiểu rõ tướng các giai đoạn tu hành. Bồ tát liền
nhập sơ địa, tâm sinh vui mừng, tuần tự tiến dần lên
đến bực Thiện huệ và Pháp vân. Các việc phải làm đều
thành tựu, ở địa vị ấy có hoa sen báu lớn cùng các báu
trang nghiêm, trên hoa có cung điện báu hình hoa sen, do Bồ tát
tu pháp môn như huyễn mà thành tựu. Bồ tát ngồi trên hoa
sen được các Bồ tát đồng hàng vây quanh, được chư Phật
từ các cõi Phật đưa tay rưới đầu bằng nước cam lồ
như rưới cho con vua chuyển luân. Khi vượt qua giai đoạn cuối
cùng của Bồ tát địa, Bồ tát thành tựu pháp thân tự tại
của Như lai. Đại huệ! ấy gọi là tướng "thấy pháp vô
ngã". Ông và các Bồ tát nên siêng tu học.
Bấy
giờ Đại huệ Bồ tát lại bạch Phật rằng:
Bạch
đức Thế Tôn, xin vì con giảng nói tướng lập và phá (samàropàpavàda-
laksana) khiến con cùng các Bồ tát lìa các kiến chấp ấy,
mau được Vô thượng bồ đề. Khi ấy, con sẽ phá được
sự chấp thường (lập) và chấp đoạn (phá), đối với chính
pháp không sinh hủy báng.
Phật
nhân lời thưa thỉnh của Đại huệ bồ tát mà nói bài kệ
tụng như sau:
Thân,
tài vật, chỗ ở
Đều
là bóng của tâm
Phàm
phu không biết được
Khởi
kiến lập, bác bỏ
Mọi
pháp do tâm khởi
Lìa
tâm không có được.
Đức
Thế Tôn muốn nói rõ lại nghĩa ấy, bảo bồ tát Đại huệ:
Có
4 kiến lập (cho là có, những cái vốn là không), đó là không
tướng lập có tướng, không kiến lập có kiến, không nhân
lập có nhân, không tính lập có tính. Đại huệ! Còn hủy
báng (phá) là sao? Ấy là các pháp do tà kiến lập ra đều
không tự tính, vì không khéo quán sát nên sinh hủy báng (chối
bỏ). Đấy là tướng kiến lập và hủy báng (xác định cùng
phủ định). Này Đại huệ! Sao gọi là không tướng lập
có tướng? Ấy là tự tướng, cọng tướng của uẩn, giới,
xứ vốn không, mà lại sinh ra kế chấp cho nó như thế này,
không thế khác. Những phân biệt ấy đều do ác tập từ
vô thỉ sinh ra. Đấy gọi là không tướng lập có tướng.
Sao gọi là không kiến lập có kiến? Ấy là từ uẩn giới
xứ, đặt ra các quan niệm ngã, nhân, chúng sinh v.v.. Sao gọi
là không nhân lập có nhân? Ấy gọi là sơ thức (pràgvijnàna)
trước kia vốn vô nhân, bất sinh, sơ thức ấy vốn không,
mà sau vì mắt, sắc, ánh sáng, niệm v.v.. làm nhân như huyễn
sinh, sinh rồi có, có rồi hoàn diệt. Ấy là không nhân lập
có nhân. Sao gọi là không tính lập có tính? Ấy là chấp
trước các pháp vốn vô tác như hư không, Niết bàn không
phải thường diệt. Đại huệ! Những pháp này lìa tính phi
tính, hết thảy pháp đối với có và không chỉ như bụi
lông, sừng thỏ, ngựa... Ấy là không tính lập có tính. Đại
huệ! Kiến lập và bác bỏ đều do kẻ phàm phu không hiểu
duy tâm tạo, nên sinh phân biệt. Bậc thánh không làm thế.
Các ông nên quán sát để xa lìa kiến chấp ấy. Này Đại
huệ, Bồ tát khi đã biết rõ tâm, ý, ý thức, 5 pháp, 3 tự
tính, 2 vô ngã, thì sẽ vì chúng sinh, hiện các loại thân
hình, như ngọc ma ni hiện các màu tùy tâm. Các Bồ tát ấy
đi vào các Phật hội, nghe Phật dạy các pháp như huyễn như
mộng, như bóng, như hình trong gương, như trăng đáy nước,
xa lìa sinh diệt, đoạn thường. Không ở trong đường Thanh
văn và Bích chi Phật, nghe xong chư bồ tát ấy thành tựu vô
lượng trăm ngàn ức na do tha định. Được các định ấy
rồi, họ du hành khắp các cõi Phật, cúng dường chư Phật,
sinh lên các cõi trời để làm sáng tỏ ngôi Tam bảo. Họ
hiện thân Phật vì đại chúng Thanh văn Bồ tát mà nói pháp
duy tâm khiến xa lìa các chấp hữu, vô. Bấy giờ Thế Tôn
nói bài tụng:
Phật
tử hay quán thấy
Thế
gian không ngoài tâm
Hiện
ra đủ loại thân
Việc
làm không ngăn ngại
Sức
thần thông tự tại
Tất
cả đều viên thành.
Bồ
tát Đại huệ lại thỉnh Phật:
Xin
Thế Tôn vì con nói tướng không, vô sinh, vô nhị, vô tự
tính của vạn pháp. Con và các Bồ tát ngộ được tướng
ấy, sẽ lìa phân biệt hữu vô, mau thành Vô thượng bồ đề.
Phật
dạy:
Hãy
nghe kỹ, ta sẽ nói cho ông. Đại huệ! "Không" ấy là tính
vọng chấp. Đại huệ! Vì chấp trước, vọng kế nơi tự
tính nên nói không, vô sinh, vô nhị, vô tự tính. Đại huệ!
Lược nói tính không có bảy: tướng không, tự tính không,
vô hành không, hành không, nhất thiết pháp bất khả thuyết
không, đệ nhất nghĩa thánh đế không, bỉ bỉ không. Tướng
không là tự tướng cọng tướng của tất cả pháp đều
không, chỉ xoay vần tích tụ đối đãi lẫn nhau mà hiện
ra, nếu phân tích đến cùng thì không có gì. Không tự sinh,
không tha sinh không vừa tự vừa tha, rốt ráo bất sinh. Tự
tướng cọng tướng không sinh cũng không trú, nên gọi hết
thảy pháp tự tướng vốn không. Sao gọi là tự tính không?
Ấy là hết thảy pháp tự tính vốn không sinh, nên gọi là
tự tính không. Sao gọi là vô hành không? Là các uẩn bản
lai vắng lặng, không hành động tạo tác, nên gọi là vô
hành không. Sao là hành không? Là các uẩn do nghiệp và nhân
hòa hợp mà sinh, lìa ngã, ngã sở, nên gọi là hành không.
Sao là nhất thiết pháp bất khả thuyết không? Là tự tính
của hết thảy các vọng chấp không thể nói hết, nên gọi
là bất khả thuyết không. Sao là đệ nhất nghĩa thánh trí
đại không? Là khi được tự chứng thánh trí, thì lìa được
tất cả tập khí lầm lạc, kiến chấp. Ấy gọi là đệ
nhất nghĩa thánh trí đại không. Sao là bỉ bỉ không? Là
cái này không cái kia (emptiness of mutual non-existence - Suzuki).
Thí như trong giảng đường không có quạ, ngựa, trâu, dê,
v.v.. ta nói giảng đường kia không, không phải là không có
chúng tỳ kheo. Đại huệ, không phải là phòng không có tự
tính của phòng, không phải tỳ kheo không có tự tính của
tỳ kheo, không phải các nơi khác không có quạ, ngựa, trâu,
dê. Này Đại huệ, tự tướng cọng tướng của các pháp
đều nương nhau mà có, nhưng thực chất là không nên gọi
là bỉ bỉ không.
Lại
nữa Đại huệ, vô sinh là trí thể không sinh, chứ không phải
là bất sinh, trừ khi ở trong định. Vì vô sinh nên theo ý
nghĩa sâu xa chính là vô tự tính. Đại huệ, hết thảy pháp
không tự tính, vì không sát na nào ở yên, vừa trông thấy,
nó đã đổi khác, nên gọi là vô tự tính. Sao là không hai
tướng? Đại huệ! Như sáng tối, ngắn dài, đen trắng, đều
đối đãi nhau mà lập, một mình thì không thành. Đại huệ!
Không phải ngoài sinh tử có Niết bàn, không phải ngoài Niết
bàn có sinh tử, sinh tử và Niết bàn không phải là hai tướng
đối nghịch. Như sinh tử và Niết bàn, hết thảy pháp đều
như vậy, ấy gọi là không hai tướng. Đại huệ này, các
tướng không, vô sinh, không hai, vô tự tính, ông nên siêng
tu học. Khi ấy Thế Tôn lại nói bài tụng:
Ta
thường nói pháp "không"
Xa
lìa hẳn đoạn, thường
Sinh
tử như huyễn mộng
Mà
nghiệp cũng không tan
Hư
không và Niết bàn
Hai
diệt cũng như thế
Phàm
phu vọng phân biệt
Thánh
giả lìa hữu, vô.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo Đại huệ Bồ tát:
Đại
huệ! Tướng không, vô sinh, không hai, vô tự tính ấy, có
thể tìm thấy trong kinh của chư Phật nói. Đại huệ! Kinh
tùy thuận tâm chúng sinh mà nói, nhưng chân lý không nằm trong
lời. Thí như những con thú bị quáng nắng tưởng thấy nước
mà thật không có nước, những gì các kinh nói cũng thế,
chỉ thuận theo phân biệt của ngu phu, khiến chúng sinh hoan
hỷ, đều không phải là các pháp hiển bày chỗ chứng chân
thật của Thánh trí. Đại huệ, hãy theo nghĩa, không nên bám
vào lời.
Đại
huệ Bồ tát bạch Phật:
Bạch
đức Thế Tôn! Trong kinh nói bản tính Như lai tạng vốn thanh
tịnh, hằng tồn không dứt, không biến dịch, đủ 32 tướng,
ở trong tất cả thân chúng sinh, bị quấn trong lớp áo dơ
uế của uẩn giới xứ, bị ô nhiễm vì tham, nhuế, si... và
sự phân biệt hư vọng, như ngọc vô giá bọc trong áo dơ.
Ngoại đạo thì nói ngã là tác giả thường trú, lìa câu
na (guna, đức), tự tại, bất diệt. Như lai tạng mà Thế
Tôn dạy không phải giống như Ngã của ngoại đạo sao?
Phật
dạy:
Này
Đại huệ! Như lai tạng do ta nói không giống ngã ngoại đạo
nói. Đại huệ! Như lai dùng các nghĩa tính không, thật tế,
Niết bàn, bất sinh, vô tướng, vô nguyện v.v.. mà diễn tả
Như lai tạng. Vì muốn ngu phu lìa sợ hãi đối với vô ngã
mà nói pháp môn Như lai tạng, vô phân biệt, vô ảnh tượng.
Các Bồ tát vị lai, hiện tại không nên do đó mà chấp ngã.
Đại huệ! Thí như thợ gốm do đất sét, nhân công, nước
gỗ, mà làm ra các vật dụng, Như lai cũng thế, vì để giảng
dạy pháp môn viễn ly hết thảy tướng phân biệt, vô ngã,
mà phải dùng trí tuệ phương tiện khéo, sử dụng các danh
từ khác nhau như khi thì nói Như lai tạng, khi thì nói vô ngã
v.v... Đại huệ! Ta nói Như lai tạng là để nhiếp phục ngoại
đạo chấp ngã, khiến lìa tà kiến, thâm nhập 3 giải thoát,
mau chứng Vô thượng Bồ đề. Vì thế Như lai tạng mà chư
Phật nói không giống với Ngã của ngoại đạo. Muốn xa lìa
tà kiến ngoại đạo, ông nên biết nghĩa Như lai tạng là
vô ngã. Khi ấy Thế Tôn nói bài tụng:
Uẩn
tương tục và người
Các
duyên và vi trần
Thắng,
tự tại, tác giả
Đều
do tâm phân biệt.
Bồ
tát Đại huệ quán chúng sinh đời vị lai mà hỏi Phật rằng:
Bạch
Thế Tôn, xin vì con nói pháp tu đầy đủ để thành tựu bậc
đại tu hành như các Bồ tát đại hữu tình.
Phật
dạy:
Đại
huệ! Bồ tát đại hữu tình đủ 4 điều kiện thì thành
bậc đại tu hành, âý là:
1.
Quán sát cảnh tự tâm hiện. 2. Xa lìa kiến chấp sinh, trú,
diệt. 3. Biết rõ các pháp do tâm sinh vốn không có tự tính.
4. Chuyên cầu tự chứng thánh trí. Nếu các bồ tát thành
tựu bốn pháp ấy thì gọi là bậc đại tu hành. Đại huệ!
Sao là quán sát cảnh tự tâm hiện? Là quán 3 cõi không ngoài
tâm, lìa ngã, ngã sở, không có hành động tạo tác, không
đến đi, chỉ do tập khí chấp trước từ vô thỉ huân thành.
Bồ tát quán sát cảnh tự tâm hiện như thế. Đại huệ!
Sao gọi là lìa cái thấy sinh trú diệt? Ấy là quán sát hết
thảy pháp như huyễn mộng sinh, không tự sinh, không cọng
sinh, không tự tha cùng sinh, chỉ do tự tâm hiện. Thấy ngoại
vật không thực có, thấy các thức không sinh, các duyên không
tích tụ, thấy do phân biệt mà có ra ba cõi. Quán sát như
thế, hoặc ở trong hoặc ở ngoài, các pháp đều bất khả
đắc, biết rõ không có thể tính chân thật, nên xa lìa kiến
chấp về sinh, chứng tính như huyễn. Khi ấy Bồ tát liền
được vô sinh pháp nhẫn, an trú địa thứ 8, hiểu rõ tâm,
ý, thức, 5 pháp, 3 tự tính, 2 vô ngã, chuyển thức sở y,
được thân ý sinh.
Đại
huệ nói:
Bạch
Thế Tôn! Sao gọi là thân ý sinh?
Đại
huệ! Thân ý sinh nghĩa là, như ý đi rất mau, không bị chướng
ngại, gọi là thân ý sinh. Này Đại huệ! Thí như tâm ý nhớ
đến các sự vật đã thấy được trước kia ở cách ngoài
vô lượng trăm ngàn do tuần, niệm niệm nối tiếp không dứt
liền đi đến chỗ ấy, không bị thân và sông núi đá tường
ngăn ngại. Thân ý sinh cũng thế, được năng lực "như huyễn
tam muội" thần thông tự tại, các tướng trang nghiêm, nhớ
đến lời nguyện thành tựu chúng sinh nên liền đi nhanh như
ý mà sinh vào tất cả Thánh chúng. Ấy gọi là Bồ tát được
xa lìa sinh, trú, diệt. Đại huệ! Sao là quán sát các pháp
bên ngoài đều không tính? Ấy là quán hết thảy pháp như
ảo tượng, như chiêm bao, như mao luân. Do hí luận, chấp trước,
tập khí hư vọng từ vô thỉ làm nhân. Quán sát tất cả
pháp đều thế, rồi chuyên cầu Thánh trí tự chứng. Đại
huệ! Ấy gọi là Bồ tát đủ 4 pháp thành bực đại tu hành.
Ông nên theo đó siêng năng tu học. Đại huệ Bồ tát lại
bạch:
Nguyện
xin Thế Tôn vì con nói nhân duyên của hết thảy các pháp,
khiến con và các Bồ tát liễu đạt nghĩa ấy, sẽ xa biên
chấp hữu, vô, không vọng chấp các pháp sinh từ từ hay sinh
lập tức.
Phật
dạy:
Đại
huệ! Hết thảy các pháp do duyên sinh khởi. Có hai thứ duyên,
trong và ngoài. Ngoài là các duyên như đất sét, nước, gậy,
dây, nhân công v.v.. làm thành cái bình. Như bình làm bằng
đất sét, hay vải làm bằng sợi tơ, hay tấm thảm làm bằng
cỏ, hay mầm sinh từ hạt giống, "gia ua" sinh từ sữa ... tất
cả đều như vậy, gọi là duyên bên ngoài. Trong là vô minh,
ái, nghiệp v.v.. sinh các pháp uẩn, giới, xứ ấy là duyên
bên trong. Đây là do ngu phu phân biệt mà thành có. Đại huệ,
nhân có 6 thứ: 1. Đương hữu, 2. Tương thuộc, 3. Tướng,
4. Năng tác. 5. Hiển liễu, 6. Quán đãi. "Đương hữu" là các
pháp trong ngoài làm nhân sinh ra quả. "Tương thuộc" là các
pháp trong ngoài làm duyên sinh ra quả, các chủng tử uẩn v.v..
"Tướng" là làm cho các tướng không gián đoạn, sinh ra quả
tương tục. "Năng tác" là nhân tối thắng để sinh quả như
chuyển luân vương. "Hiển liễu" là khi phân biệt sinh, làm
cho cảnh tượng hiện rõ như đèn soi các vật. "Quán đãi"
là khi hoại diệt thì tương tục cũng dứt, không còn sinh
vọng tưởng. Đại huệ! Đây là do ngu phu tự phân biệt,
không phải sinh từ từ cũng không phải sinh tức khắc. Tại
sao, nếu như sinh tức khắc thì thành ra năng tác và sở tác
không khác nhau, không thể tìm tướng "nhân" của nó. Còn nếu
sinh từ từ thì tìm cái thể của nó không được, như chưa
sinh con sao gọi là cha? Người lý luận cho rằng vì các nhân
duyên (hetipratyaya), sở duyên duyên (àrambanapratyaya) vô gián
duyên ( nirantarapratyaya), tăng thượng duyên (adhipatipratyaya)
v.v.. sở sinh, năng sinh lệ thuộc lẫn nhau, nên theo thứ tự
sinh dần. Lý ấy không vững, đều là vọng tình chấp trước.
Đại huệ ! Dần dần hay tức khắc đều không sinh, chỉ có
tâm hiện ra thân, tài sản v.v.. Ngoài tự tướng cọng tướng
ra không có tính, chỉ vì các thức khởi, các kiến tự phân
biệt mà thôi. Đại huệ, do đấy ông nên xa lìa các kiến
chấp tiệm sinh hay đốn sinh, đối với các tướng do nhân
duyên hòa hợp thành.
Khi
ấy đức Thế Tôn nói bài tụng:
Hết
thảy pháp không sinh
Lại
cũng không có diệt
Trong
các thứ duyên kia
Phân
biệt tướng sinh diệt
Không
ngăn các duyên hội
Diệt
cùng sinh như thế
Mà
phải dứt vọng tình
Của
phàm ngu chấp trước
Hữu,
vô của duyên sinh
Đều
rốt ráo không sinh
Tập
khí mê chuyển tâm
Do
đó ba cõi hiện
Bản
lai không vật sinh
Lại
cũng không có diệt
Quán
các pháp hữu vi
Đều
như hoa đốm sinh
Lìa
năng thủ sở thủ
Và
kiến chấp sai lầm
Không
năng sinh sở sinh
Lại
cũng không nhân duyên
Chỉ
thuận theo thế tục
Mà
nói có sinh diệt.