|
.
KINH
ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ
THÍCH
NỮ TRÍ HẢI
Phụng
dịch theo bản đời Đường của Ngài Thiệt Xoa Nan Đà
 |
 |
QUYỂN
BẢY
CHƯƠNG
X
KỆ
TỤNG - PHẦN THỨ NHÌ
Nếu
những bậc tu hành
Không
khởi các phân biệt
Không
lâu được tam muội
Lực,
thông, và tự tại
Kẻ
tu hành không nên
Vọng
chấp nhân, vi trần
Thời,
thắng tính, tác giả
Duyên
sinh ra thế gian
Thế
gian do phân biệt
Các
thứ tập khí sinh
Kẻ
tu hành hãy quán
Các
hữu như mộng huyễn
Xa
lìa kiến chấp thường
Phủ
định và xác định
Thân,
tài sản, chỗ ở
Không
phân biệt ba cõi
Không
nghĩ việc ăn uống
Chính
niệm đoan thân trú
Luôn
luôn cung kính lễ
Chư
Phật và Bồ tát
Khéo
giải nghĩa kinh luật
Pháp
lý thú chân thật
Năm
pháp, hai vô ngã
Lại
tư duy tự tâm
Pháp
nội chứng thanh tịnh
Các
địa cùng Phật địa
Hành
giả tu như thế
Ngồi
đài sen, (được) quán đảnh
Du
hành khắp các nẻo
Chán
ghét tất cả hữu
Đến
gò mả, chỗ tịnh
Tu
tập các quán hạnh
Có
vật không nhân sinh
Vọng
nói lìa đoạn, thường
Lại
nói lìa hữu, vô
Vọng
chấp là trung đạo
Vọng
chấp vô nhân luận
Vô
nhân là đoạn kiến
Vì
không rõ ngoại vật
Phá
hoại lý trung đạo
Sợ
sa vào đoạn kiến
Không
xả pháp sở chấp
Vừa
xác định phủ định
Vọng
nói là trung đạo
Khi
đã rõ duy tâm
Xả
lìa hết ngoại pháp
Lại
lìa vọng phân biệt
Như
thế hợp trung đạo
Duy
tâm, không có cảnh
Không
cảnh, tâm không sinh
Ta
và chư Như lai
Nói
đó là trung đạo
Dù
sinh hay không sinh
Tự
tính, không tự tính
Hữu
và vô đều không
Không
nên phân biệt hai
Không
thể khởi phân biệt
Kẻ
ngu nói giải thoát
Tâm
không biết trí sinh
Sao
đoạn được nhị chấp
Vì
hiểu rõ tự tâm
Đoạn
được hai sở chấp
Hiểu
rõ nên đoạn được
Không
phải không phân biệt
Biết
rõ do tâm hiện
Phân
biệt sẽ không khởi
Vì
phân biệt không khởi
Tâm
chân như chuyển y
Nếu
thấy pháp khởi ra
Lìa
các lỗi ngoại đạo
Niết
bàn của bậc trí
Không
phải là diệt hoại
Ta
và chư Phật nói
Biết
vậy sẽ thành Phật
Nếu
lại thêm phân biệt
Tức
là luận ngoại đạo
Không
sinh mà hiện sinh
Không
diệt mà hiện diệt
Biến
khắp muôn ức chỗ
Liền
hiện như trăng nước
Một
thân làm nhiều thân
Đốt
lửa cùng rưới mưa
Tùy
cơ hiện trong tâm
Cho
nên nói duy tâm
Tâm
cũng là duy tâm
Phi
tâm cũng tâm khởi
Thông
đạt các sắc tướng
Tất
cả đều duy tâm
Hình
tướng Phật, thanh văn
Cùng
hiện tướng Duyên giác
Và
các hình sắc khác
Đều
nói là duy tâm
Từ
nơi vô sắc giới
Cho
đến trong địa ngục
Vì
chúng sinh hiện khắp
Đều
do tâm làm nên
Các
tam muội như huyễn
Cùng
với thân ý sinh
Mười
địa và tự tại
Đều
do chuyển y thành
Kẻ
ngu bị tưởng chuyển
Theo
thấy nghe hay biết
Tự
phân biệt điên đảo
Bị
hý luận làm động
Hết
thảy không, vô sinh
Ta
thật không Niết bàn
Hóa
Phật ở các cõi
Nói
tam thừa, nhất thừa
Phật
có ba mươi sáu
Mỗi
loại có mười hạng
Tùy
tâm khí chúng sinh
Mà
hiện ở các cõi
Pháp
Phật ở thế gian
Cũng
như tính vọng kế
Tuy
thấy có đủ thứ
Kỳ
thực không có gì
Pháp
Phật là chân Phật
Ngoài
ra đều (là) Hóa Phật
Tùy
chủng tử chúng sinh
Thấy
hiện thân của Phật
Vì
mê hoặc các tướng
Nên
khởi ra phân biệt
Phân
biệt không khác chân
Tướng
bất (?) nơi phân biệt
Tự
tính cùng thọ dụng
Hóa
thân cùng Hiện hóa
Ba
mươi sáu vị Phật
Đều
do tự tính thành
Do
giống tập huân ngoài
Mà
sinh ra phân biệt
Không
giữ cái chân thật
Mà
giữ cái vọng chấp
Mê
hoặc do nội tâm
Cùng
duyên ở ngoại cảnh
Chỉ
hai thứ ấy khởi
Không
có duyên thứ ba
Mê
hoặc nương trong ngoài
Mà
có ra sinh khởi
Sáu
mươi hai, mười tám
Nên
ta nói là tâm
Biết
chỉ có căn, cảnh
Tất
lìa nơi ngã chấp (àtmagràha)
Rõ
tâm không cảnh giới
Liền
lìa được pháp chấp
Do
nương nơi bản thức (àlaya)
Mà
có các thức sinh
Do
nương vào nội xứ
Mà
tợ hình hiện ngoài
Kẻ
ngu thường phân biệt
Hữu
vi cùng vô vi
Đều
là bất khả đắc
Như
hoa đốm, mao luân
Như
thành Càn thát bà
Như
huyễn như ảo tượng
Không
có mà thấy có
Duyên
khởi pháp cũng thế
Ta
do ba thứ tâm
Giả
lập căn, cảnh, ngã
Mà
tâm, ý, thức kia
Tự
tính thật không có
Tâm
ý cùng với thức
Vô
ngã có hai thứ
Năm
pháp và tự tính
Ấy
là cảnh giới Phật
Nhân
tập khí là một
Mà
thành ra ba tướng
Như
lấy một màu hòa
Tường
vẽ thấy các hình
Năm
pháp hai vô ngã
Tự
tính, tâm, ý thức
Ở
trong chủng tính Phật
Đều
là bất khả đắc
Xa
lìa tâm, ý, thức
Lại
lìa nơi năm pháp
Và
lìa nơi tự tính
Đấy
là chủng tính Phật
Nếu
nghiệp thân ngữ ý
Không
tu pháp bạch tịnh
Chủng
tính tịnh của Phật
Tất
lìa nơi hiện hạnh
Thần
thông lực tự tại
Tam
muội, tịnh trang nghiêm
Các
thứ ý sinh thân
Ấy
chủng tính Phật tịnh
Chỗ
nội chứng vô cấu
Xa
lìa các tướng nhân
Bát
địa và Phật địa
do
Như lai tính thành
Viễn
hành cùng Thiện thệ
(Dùramgamà,
Sàdhumatì)
Pháp
vân và Phật địa
Đều
là chủng tính Phật
Ngoài
ra đều nhị thừa
Tâm
Như lai tự tại
Nhưng
vì hàng ngu phu
Tướng
tâm có sai biệt
Mà
nói bảy thứ địa
Địa
thứ bảy không khởi
Lỗi
lầm thân ngữ ý
Sở
y địa thứ tám
Như
mộng thấy qua sông
Địa
thứ tám thứ năm
Hiểu
rõ công xảo minh
Các
Bồ tát hay làm
Vua
trong các cõi hữu
Kẻ
trí không phân biệt
Sinh
hay là không sinh
Không
cùng với bất không
Tự
tính, vô tự tính
Thảy
chỉ là tâm lượng
Mà
thật bất khả đắc
Vì
hàng nhị thừa nói
Đây
thật, đây hư vọng
Không
phải vì Bồ tát
Không
nên nói phân biệt
Hữu
phi hữu đều không
Cũng
không tướng sát na
Pháp
giả, thật cũng không
Ngoài
tâm không có được
Hữu
pháp là tục đế
Vô
tính đệ nhất nghĩa
Mê
hoặc chỗ vô tính
Ấy
tức là thế tục
Hết
thảy pháp đều không
Ta
vì hàng phàm ngu
Theo
tục giả bày nói
Nhưng
đấy không chân thật
Các
pháp do ngôn khởi
Tất
có nghĩa sở hành
Khi
thấy do ngôn sinh
Thì
các pháp không có
Như
lìa tưởng không hoa
Lìa
hình cùng không bóng
Nếu
tạng thức thanh tịnh
Thì
sóng thức không sinh
Nương
pháp thân có báo
Từ
Báo khởi Hóa thân
Đấy
là Căn bản Phật
Ngoài
ra Hóa Phật hiện
Không
nên vọng phân biệt
Không
cùng với bất không
Vọng
chấp hữu và vô
Lời
nghĩa đều không có
Kẻ
phàm vọng phân biệt
Đức,
thật, trần làm sắc
Một
mảy trần không có
Cho
nên không cảnh giới
Chúng
sinh thấy tướng ngoài
Đều
do tự tâm hiện
Cái
bị thấy đã không
Nên
không có ngoại cảnh
Như
voi bị sa lầy
Không
thể nào di động
Thanh
văn trú trong định
Chìm
đắm cũng như thế
Nếu
thấy các thế gian
Do
tập khí làm nhân
Hữu
vô đều không thấy
Pháp
vô ngã, giải thoát
Tự
tính là vọng kế (parikalpita)
Duyên
khởi tức y tha (paritantra)
Chân
như là viên thành
Trong
kinh ta thường nói
Tâm,
ý cùng với thức
Phân
biệt cùng biểu thị
Tạng
thức làm ba cõi
Đều
đồng nghĩa với tâm
Thọ
mạng, hơi ấm, thức
A
lại gia, mạng căn (jìvitendriyà)
Ý
cùng với ý thức
Đều
đồng nghĩa "phân biệt"
Tâm
hay giữ được thân
Ý
(manas) xét đoán suy lường
Ý
thức cùng năm thức
Rõ
cảnh giới tự tâm
Hoặc
thật có ngã thể
Khác
uẩn cùng trong uẩn
Nơi
đó tìm ngã thể
Rốt
ráo không thể được
Quán
thế gian mỗi mỗi
Các
phiền não chính, phụ
Đều
do tự tâm hiện
Lìa
khổ được giải thoát
Tâm
trí thanh văn đạt
Tịch
tịnh trí duyên giác
Trí
tuệ của Như lai
Sinh
khởi vô cùng tận
Thật
không có sắc ngoài
Chỉ
do tự tâm hiện
Phàm
phu không hay biết
Vọng
phân biệt hữu vi
Không
biết cảnh giới ngoài
Các
thứ đều do tâm
Kẻ
ngu dùng nhân, dụ
Lập
thành bốn cú nghĩa
Bậc
trí tất hiểu rõ
Cảnh
giới tự tâm hiện
Không
dùng tôn nhân dụ
Lập
ra các cú nghĩa
Phân
biệt, bị phân biệt
Đều
là tướng vọng kế
Y
chỉ nơi vọng kế
Mà
khởi thêm phân biệt
Xoay
chuyển nương lẫn nhau
Đều
do một tập khí
Cả
hai đều là khách
Không
(phải) tâm chúng sinh khởi
Ở
yên trong ba cõi
Phân
biệt tâm, tâm sở
Tợ
cảnh giới hiện ra
Là
tự tính vọng kế
Hình
bóng cùng chủng tử
Hợp
thành mười hai xứ
Sở
y, sở duyên hợp
Nói
có vật được sinh
Cũng
như bóng trong gương
Mắt
lòa thấy mao luân
Tập
khí che cũng thế
Kẻ
ngu khởi vọng kiến
Nơi
cảnh tự phân biệt
Mà
khởi thêm phân biệt
Ngoại
cảnh không thể có
Như
ngu không biết dây
Lầm
cho dây là rắn
Không
hiểu tự tâm hiện
Vọng
phân biệt cảnh ngoài
Như
thế tự thể dây
Tính
nhất dị đều lìa
Chỉ
vì tâm mê lầm
Vọng
khởi phân biệt dây
Khi
vọng kế phân biệt
Tính
vọng kế không còn
Như
các vật cũng vậy
Chỉ
do phân biệt sinh
Sở
kiến tuyệt phi hữu
Từ
vô thỉ mê hoặc
Khởi
phân biệt hữu vi
Pháp
nào khiến mê hoặc
Nguyện
Phật vì con nói
Các
pháp không tự tính
Chỉ
do tự tâm hiện
Không
hiểu rõ tự tâm
Cho
nên phân biệt sinh.
Như
kẻ ngu phân biệt
Vọng
kế thật không có
Có
những cái khác thế
Mà
kẻ ngu không biết
Những
cái bậc thánh có
Kẻ
ngu không biết đến
Nếu
thánh cũng như phàm
Thì
thánh có hư vọng
Vì
tâm thánh vốn tịnh
Nên
không có mê hoặc
Tâm
phàm ngu không tịnh
Nên
có vọng phân biệt
Như
mẹ bảo con thơ:
"Thôi
con đừng khóc nữa
Trên
trời có quả rơi
Xuống
nhiều cho con bắt"
Ta
vì chúng sinh nói
Các
thứ quả tưởng tượng
Khiến
chúng vui ham theo
Pháp
thật lìa hữu vô
Các
pháp trước không có
Các
duyên không hòa hợp
Vốn
không sinh mà sinh
Tự
tính vốn không có
Pháp
chưa sinh không sinh
Lìa
duyên, không chỗ sinh
Pháp
hiện sinh cũng thế
Lìa
duyên không thể có
Quán
thật chỉ duyên khởi
Không
hữu cũng không vô
Không
hữu vô cùng sinh
Kẻ
trí không phân biệt
Kẻ
ngu phu ngoại đạo
Vọng
nói tính nhất, dị
Không
hiểu lý duyên khởi
Thế
gian như huyễn mộng
Đại
thừa ta vô thượng
Siêu
việt nơi danh ngôn
Nghĩa
ấy rất rõ ràng
Mà
kẻ ngu không biết
Thanh
văn cùng ngoại đạo
Thuyết
họ đầy xan lẫn
Khiến
nghĩa đều biến đổi
Tất
cả do vọng kế
Các
tướng cùng tự thể
Hình
trạng cùng với tên
Bốn
thứ ấy duyên nhau
Mà
khởi các phân biệt
Chấp
do Phạm, Tự tại
Một
thân (Suz. nhân) cùng nhiều thân
Cùng
nhật nguyệt vận hành
Kẻ
ấy không (phải) con ta
Đầy
đủ các Thánh kiến
Thông
đạt pháp như thật
Khéo
léo chuyển các tưởng
Đến
bên kia bờ thức
Dùng
pháp giải thoát này
Lìa
hẳn nơi hữu vô
Cùng
lìa chỗ khứ, lai
Đấy
(là) con trong pháp ta
Nếu
sắc, thức chuyển diệt
Các
nghiệp bị hư hoại
Tức
là không sinh tử
Cũng
không thường, vô thường
Nhưng
khi chúng chuyển diệt
Tuy
xả ly sắc xứ
Nghiệp
vẫn ở tạng thức
Lìa
lỗi lầm hữu vô
Sắc
thức tuy chuyển diệt
Mà
nghiệp không hoại mất
Khiến
ở trong các cõi
Sắc
thức lại tương tục
Nếu
các chúng sinh kia
Nghiệp
đã khởi bị hoại
Ấy
là không sinh tử
Lại
không có Niết bàn
Nếu
nghiệp cùng sắc thức
Đồng
thời mà diệt hoại
(Nếu)
trong sinh tử có sinh
Sắc,
nghiệp sẽ không khác
Sắc,
tâm và phân biệt
Không
khác, không không khác
Kẻ
ngu nói diệt hoại
Mà
thật lìa hữu, vô
Duyên
khởi cùng vọng kế
Xoay
vần không tướng riêng
Như
sắc với vô thường
Xoay
chuyển sinh cũng thế
Đã
lìa khác, không khác
Vọng
kế không thể biết
Như
sắc tính vô thường
Vì
sao nói có không
Khéo
đạt chỗ vọng kế
Duyên
khởi tất không sinh
Do
thấy chỗ duyên khởi
Vọng
kế tức chân như
Nếu
diệt tính vọng kế
Tức
là hoại pháp nhãn
Bèn
ở trong pháp ta
Xác
định cùng phủ định
Các
hạng người như thế
Thường
hủy báng chính pháp
Kẻ
kia cùng phi pháp
Diệt
hoại pháp nhãn ta
Bậc
trí không giao thiệp
Lại
bỏ việc tỳ kheo
Vì
phá hoại vọng kế
Nên
xác định, phủ định
Nếu
theo sự phân biệt
Khởi
các kiến hữu, vô
Họ
như huyễn, mao luân
Mộng,
nắng cùng Càn thành
Họ
không học Phật pháp
Không
nên cùng ở chung
Đã
tự do hai biên (?)
Lại
còn phá người khác
Nếu
có bậc tu hành
Quán
nơi tính vọng kế
Vắng
lặng lìa hữu vô
Phật
tử nên cùng ở
Như
thế gian có chỗ
Sinh
vàng, ngọc ma ni
Chỗ
kia không tạo tác
Mà
chúng sinh thọ dùng
Nghiệp
tính cũng như vậy
Xa
lìa các thứ tính
Nghiệp
được thấy vốn không
Mà
vẫn sinh các nẻo
Như
chỗ thánh biết rõ
Pháp
đều không có gì
Do
kẻ ngu phân biệt
Pháp
vọng kế phi không
Vì
kẻ ngu phân biệt
Pháp
ấy không có vậy
Đã
không hết thảy pháp
Chúng
sinh không tạp nhiễm
Vì
có pháp tạp nhiễm
Bị
vô minh, ái buộc
Hay
khởi thân sinh tử
Các
căn tất đầy đủ
Nếu
nói ngu phân biệt
Pháp
này đều là không
Thì
không các căn sinh
Kẻ
tu hành không chơn
Nếu
không có pháp này
Vẫn
làm nhân sinh tử
Kẻ
ngu không đợi tu
Tự
nhiên mà giải thoát
Nếu
không có pháp kia
Phàm
Thánh làm sao phân
Lại
tất không Thánh nhân
Tu
hành ba giải thoát
Các
uẩn cùng nhân, pháp
Tự,
cọng tướng sáu tướng
Các
duyên và các căn
Ta
vì Thanh văn nói
Duy
tâm và không nhân
Các
địa và tự tại
Chân
như tịnh nội chứng
Ta
vì Bồ tát nói
Đời
vị lai sẽ có
Kẻ
mặc áo ca sa
Vọng
nói chỗ hữu, vô
Hủy
hoại chính pháp ta
Pháp
duyên khởi vô tính
Là
lãnh vực chư Thánh
Tính
vọng kế không vật (Bhàva)
Kẻ
suy tính phân biệt
Vị
lai có kẻ ngu
Các
ngoại đạo Kiệt ma (Kanabhuj)
Nói
ra luận vô nhân (Asatkàryavàda)
Ác
kiến hoại thế gian
Vọng
nói các thế gian
Đều
do vi trần sinh
Mà
trần kia không nhân
Chín
món thật vật thường
Do
thật mà sinh thật
Do
đức mà sinh đức
Pháp
tính khác với đây
Hủy
báng nói không có
Nếu
vốn không mà sinh
Thế
gian có nhân đầu
Sinh
tử không nhân đầu
Ấy
là pháp của ta
Hết
thảy vật ba cõi
Vốn
không mà sinh ra
Thì
lừa, chó sinh sừng
Đáng
lẽ không nghi ngại
Noãn
sắc thức vốn không
Mà
nay mới có sinh
Áo,
mũ, đệm các thứ
Lẽ
ra do bùn sinh
Trong
vải không có đệm
Trong
cây bồ cũng không
Trong
mỗi duyên sao không
Đều
sinh ra cái đệm
Nếu
mạng và thân kia
Vốn
không mà nay sinh
Như
ta đã nói trước
Đấy
là luận ngoại đạo
Tôn
ta nói trước kia
Vì
để ngăn ý ấy
Khi
ngăn ý ấy rồi
Sau
mới nói tên mình
Sợ
rằng chúng đệ tử
Mê
chấp tôn hữu vô
Nếu
ta vì kẻ ấy
Trước
nói luận ngoại đạo (tìthavàda)
Ác
tuệ Ca tỳ la
Vì
các đệ tử nói
Thắng
tính sinh thế gian
(Bị
cầu na) chuyển biến
Vì
các duyên không có
Không
đã sinh, hiện sinh
Các
duyên đã là không
Không
sinh không bất sinh
Tôn
ta lìa hữu vô
Lại
lìa các nhân duyên
Sinh
diệt và sở tướng
Hết
thảy đều xa lìa
Thế
gian như huyễn mộng
Nhân
duyên đều vô tính
Thường
quán sát như vậy
Phân
biệt tuyệt không khởi
Nếu
quán được các hữu
Như
ảo tượng, mao luân
Lại
như Tầm hương thành
Thường
lìa hữu lìa vô
Nhân
duyên đều xả ly
Khiến
tâm được thanh tịnh
Nếu
nói không ngoại cảnh
Mà
chỉ có tâm thôi
Không
cảnh tức không tâm
Làm
sao thành duy thức (cittamàtra)
Nếu
có cảnh sở duyên
Tâm
chúng sinh khởi lên
Không
nhân tâm không sinh
Làm
sao thành duy thức
Chân
như cùng duy thức
Là
lãnh vực chúng Thánh
Có
danh ngôn không thật
Không
giải được pháp ta
Do
năng thủ sở thủ
Mà
tâm có sinh khởi
Tâm
thế gian như vậy
Nên
không là duy tâm
Hình
bóng, thân, tài, đất
Như
huyễn, do tâm sinh
Tâm
tuy phân làm hai
Mà
tâm không hai tướng
Như
dao không tự cắt
Như
ngón không tự sờ
Tâm
không tự thấy mình
Việc
ấy cũng như vậy
Không
có hình tượng xứ
Tất
không y tha khởi
Tính
vọng kế cũng không
Năm
pháp hai tâm diệt
Năng
sinh và sở sinh
Đều
là tướng tự tâm
Mật
ý nói năng sinh
Mà
thật không tự sinh
Các
thứ cảnh hình trạng
Nếu
do tưởng tượng sinh
Hư
không cùng sừng thỏ
Đáng
cũng thành cảnh tướng
Tợ
cảnh do tâm khởi
Cảnh
ấy không phải vọng
Nhưng
cảnh vọng kế kia
Lìa
tâm không thể có
Trong
vô thỉ sinh tử
Cảnh
giới đều không có
Tâm
không có chỗ khởi
Làm
sao thành hình tượng
Nếu
vật không có (mà) sinh
Sừng
thỏ đáng cũng sinh
Không
thể vô vật sinh
Mà
khởi ra phân biệt
Như
bóng gương không có
Thì
trước kia cũng không
Làm
sao trong vô cảnh
Mà
tâm duyên cảnh khởi
Chân
như, không, thật tế
Niết
bàn cùng pháp giới
Hết
thảy pháp không sinh
Ấy
tính đệ nhất nghĩa
Kẻ
ngu sa hữu vô
Phân
biệt các nhân duyên
Không
thể biết các hữu
Không
sinh, không tác giả
(Do)
tâm vô thỉ làm nhân
Duy
tâm không có vật
Đã
không cảnh vô thỉ
Tâm
do đâu mà sinh?
Vô
vật mà sinh được
Thì
nghèo đáng là giàu
Vô
cảnh mà sinh tâm
Nguyện
Phật vì con nói
Hết
thảy đều không nhân
Không
tâm cũng không cảnh
Tâm
đã không chỗ sinh
Lìa
chỗ làm ba cõi
Nhân
các bình, áo, sừng
Mà
nói không sừng thỏ
Cho
nên không được nói
Không
có pháp nhân nhau
Không
nhân có mà không
Cái
không ấy không thành
Có
đối không cũng thế
Xoay
chuyển nhân nhau khởi
Nếu
y theo vài pháp
Mà
có vài pháp khởi
Ấy
tức cái đã y
Không
nhân mà tự có
Nếu
vật có chỗ nương
Chỗ
nương cũng có nương
Thì
thành lỗi vô cùng
Lại
không có ít pháp
Như
nương các cây lá
Hiện
ra các huyễn tướng
Chúng
sinh cũng như vậy
Nương
sự hiện các vật
Nương
năng lực huyễn sư
Kẻ
ngu thấy huyễn tướng
Nương
nơi các cây lá
Không
huyễn nào có được
Nếu
y chỉ nơi sự
Pháp
ấy tức liền hoại
Sở
kiến đã không hai
Còn
chút nào phân biệt
Phân
biệt không vọng kế
Phân
biệt cũng không có
Vì
phân biệt là không
Không
sinh tử Niết bàn
Do
không (cái) bị phân biệt
Phân
biệt tất không khởi
Làm
sao tâm không khởi
Mà
có được duy tâm
Ý
sai biệt vô lượng
Đều
không pháp chân thật
Không
thật không giải thoát
Lại
không các thế gian
Như
kẻ ngu phân biệt
Sở
kiến ngoài đều không
Tập
khí quấy đục tâm
Như
hình ảnh hiện ra
Các
thứ pháp hữu, vô
Hết
thảy đều không sinh
Chỉ
duy tự tâm hiện
Xa
lìa nơi phân biệt
Nói
các pháp do duyên
Cho
kẻ ngu, chẳng trí
Tự
tính tâm giải thoát
Tịnh
tâm lãnh vực thánh
Số,
thắng cùng lộ hình (nanga)
Phạm
chí (Vipra) và tự tại
Đều
sa vào vô kiến
Xa
lìa nghĩa tịch tịnh
Không
sinh, không tự tính
Ly
cấu, không như huyễn
Phật
xưa và Phật nay
Vì
ai nói như vậy
Kẻ
tịnh tâm tu hành
Lìa
các kiến, kế đạt
Chư
Phật vì họ nói
Ta
cũng nói như vậy
Nếu
tất cả do tâm
Thế
gian ở chỗ nào
Nhân
gì thấy đại địa
Chúng
sinh có đi lại
Như
chim bay trong không
Tùy
phân biệt mà đi
Không
nương cũng không ở
Như
đạp đất mà đi
Chúng
sinh cũng như vậy
Do
nơi vọng phân biệt
Dạo
đi nơi tự tâm
Như
chim trong hư không
Bóng
thân, tài, quốc độ
Phật
nói chi tâm khởi
Xin
nói bóng chỉ (là) tâm
Nhân
gì, vì sau khởi
Bóng
thân, tài, quốc độ
Đều
do tập khí chuyển
Lại
nhân không như lý
Phân
biệt mà sinh ra
Cảnh
ngoài là tưởng tượng
Tâm
duyên cảnh mà sinh
Rõ
cảnh chỉ là tâm
Thì
phân biệt không khởi
Nếu
thấy tính vọng kế
Danh
nghĩa không hòa hợp
Xa
lìa giác, sở giác
Giải
thoát các hữu vi
Danh,
nghĩa đều xa lìa
Đấy
là pháp chư Phật
Nếu
lìa đó cầu ngộ
Tất
không giác tự tính
Nếu
thấy được thế gian
Lìa
năng giác, sở giác
Khi
ấy tất không khởi
Phân
biệt danh, sở danh
Do
thấy được tự tâm
Danh
tự vọng tác diệt
Không
thấy được tự tâm
Tất
khởi lên phân biệt
Bốn
uẩn không sắc tướng
Số
bốn không có được
Đại
chủng tính khác tên
Làm
sao cùng sinh sắc
Do
lìa được các tướng
Năng
sở tạo không có
Dị
sắc riêng có tướng
Các
uẩn sao không sinh
Nếu
thấy được vô tướng
Uẩn
xứ đều xả ly
Khi
ấy tâm cũng ly
Nên
thấy pháp vô ngã
Do
căn cảnh sai khác
Sinh
ra tám loại thức
Ở
trong vô tướng kia
Ba
tướng ấy đều lìa
Ý
duyên A lại gia
Khởi
chấp ngã, ngã sở
Cùng
hai chấp của thức
Biết
rõ tất xa lìa
Quán
thấy lìa nhất, dị
Ấy
tức không bị động
Lìa
nơi ngã, ngã sở
Hai
thứ vọng phân biệt
Không
sinh không tăng trưởng
Lại
không lâm (?) nhãn thức
Đã
lìa năng sở tác
Diệt
rồi không sinh lại
Thế
gian không năng tác
Lại
lìa tướng năng sở
Vọng
kế cũng duy tâm
Ra
sao xin Phật nói
Tự
tâm hiện các thứ
Phân
biệt các hình tướng
Không
hiểu do tâm hiện
Vọng
cho là ngoài tâm
Vì
không có trí giác
Nên
khởi ra vô kiến
làm
sao nơi tính hữu
Mà
tâm không sinh chấp
Phân
biệt không hữu, vô
Nên
nơi hữu không sinh
Rõ
sở kiến duy tâm
Phân
biệt tất không khởi
Vì
phân biệt không khởi
Chuyển
y không chỗ vướng
Đình
chỉ bốn tông kia
Gọi
là nhân pháp hữu
Đấy
là phân biệt tên
Chỗ
lập đều không thành
Nên
biết nhân năng tác
Cũng
thành lập như thế
Vì
người thuyết năng tác
Nói
nhân duyên hòa hợp
Vì
ngăn lỗi chấp thường
Nói
duyên là vô thường
Kẻ
ngu nói vô thường
Mà
thật không sinh diệt
Không
thấy pháp hoại diệt
Mà
vẫn có sở tác
Trời,
người, A tu la
Quỷ,
súc sinh, diêm la
Chúng
sinh sinh trong đó
Ta
nói là lục đạo
Do
nghiệp thượng, trung, hạ
Mà
thọ sinh trong đó
Giữ
gìn các thiện pháp
Mà
được thắng giải thoát
Phật
vì các tỳ kheo
Nói
các chỗ thọ sinh
Niệm
niệm đều sinh diệt
Xin
Phật vì con nói
Sắc
sắc không tạm ngừng
Niệm
niệm cũng sinh diệt
Ta
vì đệ tử nói
Sinh
diệt cũng như thế
Phân
biệt là chúng sinh
Lìa
phân biệt không có
Ta
vì nhân duyên ấy
Nói
các niệm niệm sinh
Nếu
lìa bám nơi sắc
Không
sinh cũng không diệt
Duyên
sinh không duyên sinh
Vô
minh cùng chân như
Hai
pháp nên có khởi
Không
hai tức chân như
Nếu
duyên kia không duyên
Sinh
pháp có sai biệt
Thường,
vô thường, các duyên
Có
năng tác sở tác
Đó
tức đại Mâu ni
Cùng
chư Phật đã nói
Có
năng tác sở tác
Không
khác với ngoại đạo
Ta
vì Phật tử nói
Thân
là khổ ở đời
Cùng
là tập ở đời
Diệt,
đạo tất đều đủ
Kẻ
ngu vọng phân biệt
Nên
giữ ba tự tính
Thấy
có năng, sở thủ
Thế
cùng xuất thế pháp
Ta
trước quán đối đãi
Nói
thủ nơi tự tính
Nay
vì ngăn các kiến
Không
nên vọng phân biệt
Tìm
lỗi là phi pháp
Lại
khiến tâm không định
Đều
do hai thủ khởi
Không
hai tức chân như
Nếu
vô minh, ái, nghiệp
Mà
sinh ra các thức
Tà
niệm lại có nhân
Ấy
tức lỗi "vô cùng"
Không
trí nói các pháp
Có
bốn thứ hoại diệt
Vọng
khởi hai phân biệt
Pháp
thật lìa hữu, vô
Xa
lìa bốn cú nghĩa
Lại
lìa nơi nhị kiến
Hai
thứ phân biệt khởi
Biết
rõ không sinh lại
Trong
bất sinh biết sinh
Trong
sinh biết bất sinh
Vì
pháp kia đồng đẳng
Không
nên khởi phân biệt
Nguyện
Phật vì con nói
Lý
ngăn ngừa hai kiến
Khiến
con cùng các chúng
Thường
không sa hữu, vô
Không
lẫn ngoại đạo luận
Lại
xa lìa nhị thừa
Chỗ
mà Phật đã chứng
Chỗ
con Phật không lùi
Giải
thoát nhân phi nhân
Cùng
một tướng vô sinh
Vì
mê chấp dị danh
Kẻ
trí nên thường lìa
Pháp
do phân biệt sinh
Như
mao luân, huyễn ảo
Ngoại
đạo vọng phân biệt
Thế
do tự tính sinh
Vô
sinh cùng chân như
Tính
không và chân tế (bhùtakoti)
Các
thứ ấy đồng nghĩa
Không
nên chấp là không
Như
lông có nhiều tên
Tên
Đế thích cũng thế
Các
pháp cũng như vậy
Không
nên chấp là không
Sắc
và không không khác
Vô
sinh cũng như thế
Không
nên chấp là khác
Thành
ra lỗi kiến chấp
Vì
phân biệt tổng, biệt
Cùng
với biến phân biệt
Chấp
trước các tự tướng
Dài
ngắn cùng vuông tròn
Tổng
phân biệt (samkalpa) là tâm
Biến
phân biệt (parikalpa) là ý
Biệt
phân biệt (Vikalpa) là thức
Đều
lìa tướng năng sở
Trong
pháp ta khởi kiến
Cùng
vô sinh ngoại đạo
Đều
là vọng phân biệt
Lỗi
lầm, đều không khác
Nếu
có người rõ được
Pháp
vô sinh ta nói
Cùng
cái vô sinh làm
Người
ấy hiểu pháp ta
Vì
muốn phá các kiến
Vô
sinh vô trú xứ
Khiến
biết hai nghĩa ấy
Nên
ta nói vô sinh
Phật
nói pháp vô sinh
Dù
là hữu hay vô
Tức
đồng với ngoại đạo
Luận
vô nhân, bất sinh
Ta
nói là Duy tâm
Xa
lìa nơi hữu vô
Dù
sinh hay bất sinh
Kiến
ấy đều nên lìa
Vô
nhân nói không sinh
Sinh
tất chấp tác giả
Tác
tức lẫn các kiến
Vô
tức tự nhiên sinh
Phật
nói các phương tiện
Chính
kiến cùng đại nguyện
Hết
thảy pháp nếu không
Thì
sao thành đạo tràng
Lìa
năng thủ sở thủ
Không
sinh cũng không diệt
Chỗ
thấy pháp phi pháp
Đều
do tự tâm khởi
Thuyết
do Mâu ni nói
Trước
sau tự mâu thuẫn
Vì
sao nói các pháp
Lại
nói là không sinh
Chúng
sinh không thể biết
Nguyện
Phật vì con nói
Được
lìa lỗi ngoại đạo
Cùng
cái nhân điên đảo (Visamàhetu)
Duy
nguyện bậc Thắng thuyết
Nói
chỗ sinh và diệt
Đều
lìa nơi hữu vô
Mà
không hoại nhân quả
Thế
gian sa nhị biên
Bị
các kiến mê hoặc
Nguyện
xin đấng Mắt xanh
Nói
thứ lớp các địa
Thủ,
sinh, cùng bất sinh
Không
rõ nhân tịch diệt
Đạo
tràng không chỗ được
Ta
cũng không nói gì
Pháp
sát na đều không
Không
sinh không tự tính
Các
Phật đã sạch hai
Có
hai tức thành lỗi
Bị
các kiến che lấp
Phân
biệt không phải Phật
Tưởng
tượng ra sinh diệt
Nguyện
vì chúng con nói
Tích
tập các hí luận
Do
hòa hiệp mà sinh
Tùy
chủng loại hiện ra
Sắc
cảnh đều đầy đủ
Thấy
các ngoại sắc rồi
Bèn
khởi ra phân biệt
Nếu
hiểu được chỗ ấy
Tức
thấy nghĩa chân thật
Đều
lìa nơi đại chủng
Các
Phật đều không thành
Đại
chủng đã duy tâm
Nên
biết không gì sinh
Tất
thuận chủng tính thánh
Chớ
phân biệt phân biệt
Không
phân biệt là trí
Phân
biệt nơi ph |