QUYỂN
THỨ NHẤT
PHẨM
TỰ
THỨ
NHỨT
Tôi
nghe như vầy: Một thuở nọ đức Phật ở trong núi Kỳ Xà
Quật tại thành Vương Xá cùng với đại Tỳ Kheo Tăng trên
năm ngàn người, đều là những bậc A La Hán đã hết hữu
lậu dứt phiền não, tâm được giải thoát, huệ được giải
thoát, tâm ý điều nhu, là bực đại long tượng, chỗ làm
đã xong, lợi mình đã được, sạch hết kiết sử, bỏ gánh
hoặc nghiệp, kham gánh chánh pháp, do chánh trí mà được giải
thoát. Riêng Ngài A Nan là còn ở bực hữu học, chứng quả
Tu Đà Hoàn.
Lại
có năm trăm Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thấy được
thánh đế.
Lại
có hàng đại Bồ Tát đều được những môn đà là ni và
những môn tam muội, thật hành không, vô tướng, vô tác, đã
được đẳng nhẫn và vô ngại tổng trì. Đây đều là bực
ngũ thần thông không còn giải đãi, đã rời bỏ danh lợi,
thuyết pháp không cầu báo, lời nói ra tất được mọi người
kính tin, chứng thâm pháp nhẫn được sức vô úy, giải thoát
tất cả ma hạnh nghiệp chướng, khéo tuyên nói pháp nhơn
duyên. Từ vô số kiếp đến nay, các Ngài phát thệ nguyện
lớn, nhan sắc hòa vui thường thưa hỏi trước, lời nói dịu
dàng, ở giữa đại chúng tự tại không sợ, từng khéo thuyết
pháp từ vô số ức kiếp, biết rõ các pháp như ảo, như
diệm, như bóng trăng trong nước, như hư không, như vang, như
bóng, như mộng, như thành càn thát bà, như tượng trong gương,
như biến hóa, đã được vô ngại vô úy biết rõ tâm hành
của chúng sanh dùng trí huệ vi diệu mà cứu độ chúng. Các
Ngài đã thành tựu đại nhẫn vô ngại như thật, nguyện
lãnh thọ vô lượng thế giới của chư Phật, tưởng niệm
đến vô lượng thế giới, chư Phật chánh định thường
hiện tiền, có thể thỉnh vô lượng chư Phật, có thể dứt
những kiến chấp và các phiền não, xuất sanh và du hí trăm
ngàn muôn tam muội. Hàng đại Bồ Tát đây thành tựu vô lượng
công đức như vậy. Danh hiệu của các Ngài là: Bạt Đà Là
Bồ Tát, Kế Na Na Dà La Bồ Tát, Đạo Sư Bồ Tát, Na La Đạt
Bồ Tát, Tinh Đắc Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Chủ Thiên
Bồ Tát, Đại Ý Bồ Tát, Ých Ý Bồ Tát, Tăng Ý Bồ Tát,
Bất Hư Kiến Bồ Tát, Thiện Tấn Bồ Tát, Thế Thắng Bồ
Tát, Thường Cần Bồ Tát, Bất Xả Tinh Tấn Bồ Tát, Nhựt
Tạng Bồ Tát, Bất Khuyết Ý Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Chấp Bửu Ấn Bồ Tát, Thường Cử
Thủ Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát, có trăm ngàn muôn ức na do
tha đại Bồ Tát như vậy. Hàng đại Bồ Tát nầy đều là
bực nhất sanh bổ xứ nối ngôi Phật.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn tự trải tòa sư tử rồi ngồi kiết
già ngay thẳng nhiếp niệm nhập tất cả môn vương tam muội.
Sau đó đức Phật an tường xuất định dùng thiên nhãn nhìn
xem thế giới trọn thân mỉm cười, từ tướng thiên bức
luân dưới lòng bàn chân phóng ra sáu trăm muôn ức quang minh.
Từ mười ngón chân, hai mắt cá, hai bắp chân, hai gối, hai
vế, eo, lưng, rún, bụng, hông, ngực, chữ vạn, vai, cánh tay,
mười ngón tay, cổ, miệng, bốn mươi răng, mũi, mắt, tai,
bạch hào, nhục kế, mỗi chỗ trên thân Phật phóng sáu trăm
muôn ức quang minh. Từ những quang minh nầy phát ra quang minh
lớn chiếu khắp Đại Thiên thế giới, rồi chiếu đến hằng
sa thế giới của chư Phật ở mười phương, từ đây quang
minh lại chiếu vượt qua hằng sa thế giới khắp mười phương.
Nếu chúng sanh nào gặp được quang minh nầy thời quyết định
được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tất
cả lỗ lông khắp thân của Phật cũng đều mỉm cười phóng
quang minh chiếu khắp cõi Đại Thiên suốt đến hằng sa thế
giới ở mười phương. Nếu chúng sanh nào gặp được quang
minh nầy thời quyết định được vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Đức
Thế Tôn lại phóng quang minh thường chiếu khắp cõi Đại
Thiên suốt đến hằng sa thế giới ở mười phương. Nếu
chúng sanh nào gặp được quang minh nầy thời quyết định
được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Đức
Thế Tôn mỉm cười vui vẻ hiện tướng lưỡi rộng dài trùm
khắp Đại Thiên thế giới, phóng ra vô lượng ngàn muôn ức
quang minh. Mỗi quang minh nầy hóa thành hoa báu ngàn cánh màu
hoàng kim. Trên hoa báu đều có Hóa Phật ngồi kiết già tuyên
nói sáu phép ba la mật. Chúng sanh nào nghe được thời quyết
định được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Quang minh
nầy cũng chiếu đến hằng sa thế giới ở mười phương
và cũng hiện hoa báu Hóa Phật thuyết pháp như vậy.
Bấy
giờ đức Phật vẫn ngồi trên tòa sư tử mà nhập sư tử
du hí tam muội. Do thần lực của Phật, cả Đại Thiên thế
giới đều chấn động sáu cách, làm cho mọi loài đều hòa
vui.
Trong
cõi Đại Thiên nầy, hàng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và
bát nạn đều được sanh lên cõi trời Tứ Vương đến trời
Tha Hóa Tự Tại. Các vị Thiên Tử nầy tự biết túc mạng
đều rất vui mừng đồng đến chỗ đức Phật ngự, đảnh
lễ chân Phật rồi ngồi qua một phía. Hằng sa thế giới
ở mười phương cũng chấn động sáu cách, các loài địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh và bát nạn đều được sanh lên
sáu cõi trời Dục Giới.
Bấy
giờ chúng sanh ở cõi Đại Thiên nầy, kẻ mù được thấy,
kẻ điếc được nghe, kẻ câm được nói, kẻ điên được
tỉnh, kẻ loạn được định, kẻ bịnh được lành, kẻ
tàn tật được hết tật nguyền, kẻ rách được được
mặc, kẻ đói khát được ăn uống.
Tất
cả mọi loài đều phát thiện tâm xem nhau như cha mẹ, anh
em, chị em ruột thịt, đồng thực hành mười nghiệp đạo
lành, tịnh tu phạm hạnh không phạm lỗi lầm, lòng họ điềm
nhiên khoái lạc như Tỳ Kheo nhập đệ tam thiền. Họ đều
được trí huệ tốt giữ mình theo giới luật không làm tổn
não kẻ khác.
Đức
Thế Tôn ngự trên tòa sư tử, quang minh sắc tướng oai đức
nguy nguy tôn nghiêm bực nhứt, hơn cả Đại Thiên cùng hằng
sa thế giới ở mười phương, như núi Tu Di cao sáng hơn tất
cả
núi non.
Lúc
đức Thế Tôn đem thân thường hiển thị cho chúng sanh trong
cõi Đại Thiên, nhơn chúng cùng hàng phi nhơn và chư Thiên
ở Dục giới, Sắc giới đem những thiên hoa, thiên hương,
thiên anh lạc đến rải trên đức Phật. Những hoa hương
báu nầy dừng ở hư không hóa thành đài báu lớn thòng những
chuỗi ngọc cùng lọng báu nhiều màu giăng trùm Đại Thiên
thế giới, do đây nên toàn cõi Đại Thiên thành màu hoàng
kim, đến hằng sa thế giới ở mười phương cũng như vậy.
Chúng
sanh ở cõi nầy và chúng sanh ở thế giới mười phương đều
tự cho là đức Phật chỉ riêng thuyết pháp cho mình.
Đức
Thế Tôn vui vẻ mỉm cười, miệng Phật phóng quang minh chiếu
khắp Đại Thiên thế giới. Do quang minh nầy mà chúng sanh
đồng thấy chư Phật và Tăng chúng trong hằng sa thế giới
ở mười phương. Chúng sanh ở hằng sa thế giới ở mười
phương kia cũng thấy Phật Thích Ca Mâu Ni và đại chúng ở
cõi Đại Thiên nầy.
Phương
đông qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Đa Bửu của Phật
Bửu Tích. Đức Phật đây hiện đương giảng Bát nhã ba la
mật cho chư Đại Bồ Tát. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Phổ Minh
thấy quang minh thấy chấn động lại thấy thân Phật Thích
Ca Mâu Ni, Ngài liền đến bạch hỏi duyên do với Phật Bửu
Tích. Đức Phật Bửu Tích bảo đó là thần lực của Phật
Thích Ca Mâu Ni ở cõi Ta Bà cách đây hằng sa thế giới về
phương Tây. Đức Thích Ca Mâu Ni sắp vì chúng đại Bồ Tát
mà tuyên nói Bát nhã ba la mật. Phổ Minh Bồ Tát bạch đức
Phật Bửu Tích rằng nay tôi muốn đến lễ bái cúng dường
Phật Thích Ca Mâu Ni và gặp gỡ các vị đại Bồ Tát. Phật
Bửu Tích thuận cho và trao hoa sen ngàn cánh màu hoàng kinh cho
Phổ Minh Bồ Tát mà dặn rằng ông đem hoa nầy cúng dường
Phật Thích Ca Mâu Ni. Ông nên nhứt tâm trân trọng đến cõi
Ta Bà. Các vị Bồ Tát sanh vào cõi đó thật là khó bằng
khó hơn.
Phổ
Minh Bồ Tát lãnh hoa sen ngàn cánh màu hoàng kim từ tạ Phật
Bửu Tích rồi cùng vô số đại chúng đem những hoa hương
phan lọng đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni đảnh lễ bạch rằng,
đức Phật Bửu Tích gởi lời thăm và dâng hoa cúng dường.
Phật
Thích Ca Mâu Ni nhận hoa sen ngàn cánh màu hoàng kim rồi rải
vụt qua phương Đông cúng dường hằng sa chư Phật. Hoa sen
ấy hóa thành hằng sa đóa hoa khắp cả hằng sa thế giới
ở phương Đông. Trên mỗi đóa hoa sen đều có Hóa Bồ Tát
ngồi kiết già nói sáu pháp ba la mật, ai nghe được tiếng
pháp nầy thời quyết định đến vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Đại
chúng theo Phổ Minh Bồ Tát cũng đem hoa hương phan lọng của
mình dâng cúng Phật Thích Ca Mâu Ni.
Phương
Nam qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Ly Nhứt Thiết Ưu của
Phật Vô Ưu Đức. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Ly Ưu.
Phương
Tây qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Diệt Ác của Phật
Bửu Sơn. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Nghĩa Ý.
Phương
Bắc qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Thắng Quốc của đức
Phật Thắng Vương. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Đức Thắng.
Hạ
phương qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Thiện Quốc của
đức Phật Thiện Đức. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Hoa Thượng.
Thượng
phương qua khỏi hằng sa thế giới có cõi Hỉ Quốc của đức
Phật Hỉ Đức. Nơi đó có Bồ Tát hiệu Đức Hỉ.
Chư
Bồ Tát trên đây ở cõi mình thấy quang minh thấy chấn động.v.v…liền
cùng đại chúng cầm hoa hương phan lọng đến Ta Bà thế giới
kính lễ cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni đồng như Phổ Minh
Bồ Tát ở phương Đông.
Lúc
bấy giờ Đại Thiên thế giới thành trang nghiêm vi diệu như
Hoa Tích thế giới cùng Phổ Hoa thế giới.
Đức
Như Lai biết hàng đại Bồ Tát cùng chư Nhơn Thiên Bát bộ
ở hằng sa thế giới đều đã vân tập bèn gọi Ngài Xá
Lợi Phất mà dạy rằng: “Đại Bồ Tát muốn dùng nhứt
thiết chủng trí để biết tất cả pháp, thời phải tu tập
Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn
dùng nhứt thiết chủng trí để biết tất cả pháp, thời
phải tu tập Bát nhã ba la mật như thế nào?”
Phật
dạy: “Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát dùng phương pháp
chẳng an trụ mà an trụ trong Bát nhã ba la mật.
Bởi
không có pháp để xả bỏ nên được đầy đủ Đàn ba la
mật, vì người cho, kẻ nhận và tài vật đều bất khả
đắc.
Vì
tội và không tội đều bất khả đắc nên đầy đủ Thi
ba la mật.
Vì
tâm chẳng động nên đầy đủ Sằn đề ba la mật.
Vì
thân tâm tinh tấn chẳng giải đải nên đầy đủ Tỳ lê
gia ba la mật.
Vì
chẳng tán loạn, chẳng say mê nên đầy đủ Thiền na ba la
mật.
Vì
chẳng chấp trước tất cả pháp nên đầy đủ Bát nhã ba
la mật.
Đại
Bồ Tát dùng phương pháp chẳng an trụ mà an trụ trong Bát
nhã ba la mật. Vì bất sanh nên đầy đủ bốn niệm xứ, bốn
chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bẩy giác phần,
tám thánh đạo phần, không tam muội, vô tướng tam muội,
vô tác tam muội, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định
vô sắc, tám bội xả, tám thắng xứ, chín định thứ đệ,
mười nhứt thiết xứ.
Cũng
đầy đủ chín pháp tưởng thây chết: Tưởng sình, tưởng
nứt, tưởng máu chảy, tưởng thúi rã, tưởng bầm xanh, tưởng
dòi trùng ăn, tưởng nát, tưởng xương trắng, tưởng cháy
tan.
Cũng
đầy đủ tám chánh niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
niệm giới, niệm thí xả, niệm thiên, niệm xuất tức, nhập
tức, niệm chết.
Cũng
đầy đủ mười pháp quán: Quán vô thường, quán khổ, quán
vô ngã, quán món ăn nhơ nhớp, quán thế gian tất cả đều
không đáng vui ưa, quán chết, quán bất tịnh, quán đoạn
trừ, quán ly dục, quán diệt tận.
Cũng
đầy đủ mười một trí: Pháp trí, tỷ trí, tha tâm trí,
thế trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí,
vô sanh trí, như thiệt trí.
Cũng
đầy đủ ba môn tam muội: Tam muội có giác có quán, tam muội
không giác có quán, tam muội không giác không quán.
Cũng
đầy đủ ba căn: Căn chưa biết sắp biết, căn biết, căn
đã biết.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn biết tất cả công đức
của Phật như mười trí lực, bốn vô sở úy, bốn trí vô
ngại, mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi, thời
phải tu tập Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn đầy đủ đạo huệ, muốn dùng đạo huệ để
đầy đủ đạo chủng huệ, muốn dùng đạo chủng huệ để
đầy đủ nhất thiết trí, muốn dùng nhất thiết trí để
đầy đủ nhất thiết chủng trí, muốn dùng nhất thiết chủng
trí để dứt tập khí phiền não, đều phải tu tập Bát nhã
ba la mật.
Đại
Bồ Tát phải học tập Bát nhã ba la mật như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn lên địa vị Bồ Tát, muốn
hơn bực Thanh Văn, Duyên Giác, muốn trụ bực bất thối chuyển,
muốn có lục thần thông, muốn biết chí hướng của tất
cả chúng sanh, muốn có trí huệ hơn tất cả của tất cả
Thanh Văn, Bích Chi Phật, muốn được những môn đà la ni,
những môn tam muội, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn dùng tâm tùy hỉ để hơn trên những sự bố
thí, trì giới, tam muội thiền định, trí huệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến, giải thoát tam muội của tất cả những
người cầu Thanh Văn, Bích Chi Phật, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Đại
Bồ Tát thật hành phần ít bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí huệ, mà muốn do sức phương tiện
hồi hướng để được vô lượng vô biên công đức, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn thật hành Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật,
Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn đời đời thân thể giống như thân Phật đủ
ba mươi hai tướng đại nhơn, tám mươi tùy hình hảo, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
sanh nhà Bồ Tát, muốn được bực đồng chơn, muốn chẳng
rời Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
đem những thiện căn cúng dường chư Phật và cung kính tôn
trọng tán thán tùy ý thành tựu, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Muốn
làm cho chúng sanh thỏa nguyện về những thứ uống, ăn, y
phục, giường nệm, đèn đuốc, phòng nhà, xe cộ, thuốc men,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh ở hằng
sa thế giới đứng vững nơi sáu môn ba la mật, thời phải
học Bát nhã ba la mật.
Muốn
gieo một thiện căn ở trong phước điền của Phật còn mãi
đến khi được vô thượng chánh đẳng chánh giác vẫn không
hết, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
chư Phật ở mười phương ca ngợi danh hiệu của mình, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
vừa phát ý thời thân liền đến hằng sa thế giới ở mười
phương, muốn vừa phát âm thời tiếng vang đến hằng sa thế
giới ở mười phương, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
thế giới của chư Phật chẳng dứt diệt, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn an trụ nơi nội không, ngoại không, nội ngoại
không, không không đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu
vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thỉ không, tán không,
tánh không, tự tướng không, chư pháp không, vô sở đắc
không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
biết nhơn duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên và tăng thượng
duyên của các pháp, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
biết pháp như, pháp tánh và thiệt tế của các pháp, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát phải như vậy mà an trụ trong Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn đếm biết số vi trần
của những hòn núi, của những quả đất trong Đại Thiên
thế giới, muốn phân tích một sợ lông làm trăm phần rồi
lấy một phần lông chấm hết nước của những suối ao,
sông ngòi, biển cả trong Đại Thiên thế giới mà không kinh
động đến loài thủy tộc, muốn thổi một cái liền tắt
ngọn lửa cháy khắp Đại Thiên thế giới như hỏa tai lúc
kiếp tận, muốn lấy một ngón tay ngăn dừng những cơn gió
lớn có thể làm tan nát Đại Thiên thế giới đến tất cả
những núi Tu Di như thổi tan đống cỏ mục, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Muốn
một lần ngồi kiết già có thể làm cho thân thể khắp tất
cả không gian trong Đại Thiên thế giới, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Muốn
lấy một sợ lông vít những núi Tu Di trong Đại Thiên thế
giới ném qua khỏi vô số thế giới phương khác mà không
kinh động đến chúng sanh trong đó, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Muốn
đem một suất ăn, một bộ y phục, một nén hương, một cành
hoa, một cây đèn, một tràng phan, một bảo cái mà có thể
cúng dường đầy đủ khắp chư Phật cùng chư Tăng trong hằng
sa thế giới ở mười phương, thời phải học Bát nhã ba
la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh trong hằng
sa thế giới ở mười phương đều đủ giới hạnh, tam muội,
trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, cùng làm cho được
quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán,
nhẫn đến được vô dư Niết Bàn, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật lúc bố thí nên biết
rõ rằng: Bố thí như vậy được quả báo rất lớn, bố
thí như vậy được sanh vào giòng quý hiền, bố thí như vậy
được sanh lên trời Tứ Vương, trời Đao Lợi, trời Dạ
Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa, bố thí
như vậy được nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ
thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ,
phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, nhơn bố thí nầy được
bát thánh đạo phần, nhơn bố thí nầy được quả Tu Đà
Hoàn nhẫn đến quả Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
lúc bố thí, do nơi sức huệ phương tiện nên có thể đầy
đủ Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật,
Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật và Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là đại
Bồ Tát lúc bố thí, do nơi sức huệ phương tiện nên đầy
đủ sáu ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Do vì người bố thí, kẻ
thọ và tài vật đều bất khả đắc nên có thể đầy đủ
Đàn na ba la mật. Vì có tội cùng chẳng tội đều chẳng
dính mắc nên đầy đủ Thi la ba la mật. Vì tâm bất động
nên đầy đủ Sằn đề ba la mật. Vì thân tâm tinh tấn nên
đầy đủ Tỳ lê gia ba la mật. Vì chẳng tán loạn chẳng
say đắm nên đầy đủ Thiền na ba la mật. Vì biết tất cả
pháp đều bất khả đắc nên đầy đủ Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được công đức của chư
Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Muốn
đến bờ kia của pháp hữu vi và pháp vô vi, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Muốn
biết pháp như, pháp tướng và biên tế vô sanh của các pháp
quá khứ, hiện tại, vị lai, thời phải học Bát nhã ba la
mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn đứng trước tất cả hàng
Thanh Văn, Duyên Giác, muốn hầu hạ chư Phật, muốn làm nội
quyến của chư Phật, muốn được quyến thuộc lớn, muốn
được quyến thuộc Bồ Tát, muốn thanh tịnh báo đại thí,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn những tâm xan lẫn, phá
giới, sân khuể, giải đãi, tán loạn, ngu si đều chẳng phát
khởi, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho tất cả chúng sanh
đứng vững nơi phước bố thí, nơi phước trì giới, nơi
phước tu tập thiền định, nơi phước khuyến đạo, nơi
tài phước và pháp phước, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được ngũ nhãn thời phải
học Bát nhã ba la mật. Đây là ngũ nhãn: nhục nhãn, thiên
nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.
Đại
Bồ Tát muốn dùng thiên nhãn thấy chư Phật trong hằng sa
thế giới, muốn dùng thiên nhĩ nghe pháp của chư Phật ở
mười phương tuyên nói, muốn hiểu biết tâm của Phật, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
nghe được pháp của chư Phật ở mười phương tuyên nói,
nghe xong nhớ mãi đến khi thành Vô thượng Bồ đề vẫn không
quên, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
thấy thế giới của chư Phật ở quá khứ, thấy thế giới
của chư Phật vị lai và thế giới ở mười phương của
chư Phật hiện tại, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
nghe mười hai bộ kinh, từ khế kinh trường hàng đến luận
nghị kinh mà hàng Thanh Văn nghe cùng chẳng nghe, nghe xong đều
muốn đọc tụng, thọ trì trọn vẹn, thời phải học Bát
nhã ba la mật.
Chánh
pháp của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai trong hằng
sa thế giới đã tuyên nói, hiện nay nói và sẽ nói, được
nghe xong đều muốn tin lãnh thọ trì, thật hành và giảng
nói lại cho người khác, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
đem quang minh chiếu khắp những chỗ mà mặt nhựt mặt nguyệt
chẳng chiếu đến trong hằng sa thế giới ở mười phương,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
làm cho tất cả chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười
phương, những nơi không có danh hiệu Phật, Pháp, Tăng, đều
được chánh kiến nghe danh hiệu Tam Bảo, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Muốn
làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương,
do năng lực của ta mà kẻ mù được thấy, kể điếc được
nghe, kẻ rách được lành, kẻ đói khát được no đủ, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh trong hằng
sa thế giới ở mười phương, do năng lực của ta mà những
loài trong ba ác đạo đều được thân người, thời phải
học Bát nhã ba la mật.
Muốn
làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương,
do năng lực của ta mà được đứng vững nơi giới, định,
huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, được quả Tu Đà
Hoàn nhẫn đến quả Vô thượng Bồ đề, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn học oai nghi của chư Phật, muốn nhìn ngó như
tượng vương, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát nguyện rằng khiến cho tôi lúc đi, chân tôi cách đất
bốn ngón tay không đạp trên đất, tôi sẽ được vô lượng
chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc, từ Tứ Thiên Vương đến Sắc
Cứu Cánh Thiên cung kính vây quanh cùng đi đến dưới cội
bồ đề. Tôi sẽ ngồi dưới cội bồ đề và chư Thiên sẽ
trải tòa cho tôi. Muốn được như vậy, thời phải học Bát
nhã ba la mật.
Lại
nguyện lúc tôi thành Phật, chỗ tôi đi đứng ngồi nằm đều
sẽ là Kim cang. Muốn được vậy, thời phải học Bát nhã
ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nếu muốn ngày xuất gia liền
thành đạo Vô thượng Bồ đề, liền chuyển pháp luân có
vô lượng vô số chúng sanh xa lìa trần cấu ở trong các pháp
được pháp nhãn thanh tịnh, có vô lượng vô số chúng sanh
vì chẳng thọ tất cả pháp nên được vô lậu giải thoát,
có vô lượng vô số chúng sanh được bất thối chuyển Vô
thượng Bồ đề, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn lúc thành Phật sẽ dùng vô lượng vô số Thanh
Văn làm Tăng, lúc nói một thời pháp, tất cả chư Tăng nầy
liền được quả A La Hán, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn lúc thành Phật, sẽ dùng vô lượng vô số Bồ
Tát làm Tăng, lúc nói một thời pháp, tất cả chư Tăng nầy
đều được bất thối chuyển, được vô lượng thọ mạng
đầy đủ quang minh, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn lúc thành Phật, trong thế giới không có danh
từ tam độc, dâm dục, sân khuể, ngu si, tất cả chúng sanh
đều thành tựu chánh trí huệ, thiện thí, thiện giới, thiện
định, thiện phạm hạnh, thiện từ bi, thời phải học Bát
nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn lúc thành Phật, sau khi nhập Niết Bàn, chánh
pháp không diệt tận, cũng không có danh từ diệt tận, thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát muốn lúc thành Phật, chúng sanh ở hằng sa thế giới
ở mười phương nghe danh hiệu của ta quyết định sẽ được
Vô thượng Bồ đề, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được những công đức
như vậy, thời phải học Bát nhã ba la mật.
PHẨM
PHỤNG BÁT
THỨ
HAI
Đức
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Nếu đại Bồ Tát thật hành
Bát nhã ba la mật có thể làm những công đức ấy thời bốn
vị Thiên Vương đều rất vui mừng mà nghĩ rằng chúng ta
phải đem bốn cái bát dâng lên Bồ Tát như những bát mà
chư Thiên Vương thuở trước đã dâng cho Phật thuở trước.
Lúc
đó trời Đao Lợi nhẫn đến trời Tha Hóa Tự Tại cũng rất
hoan hỷ mà nghĩ rằng chúng ta phải hầu hạ cúng dường Bồ
Tát để hàng Thiên chúng được thêm đông và giảm bớt hàng
A tu la.
Chư
Thiên trong cõi Đại Thiên, từ cõi Tứ Vương đến cõi Sắc
Cứu Cánh đều rất vui mừng mà nghĩ rằng chúng ta phải cẩn
thỉnh Bồ Tát chuyển pháp luân.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc vị đại Bồ Tát nầy thật hành Bát nhã
ba la mật Tăng ích sáu ba la mật, các thiện nam tử và thiện
nữ nhơn đều tự vui mừng mà nghĩ rằng chúng ta phải làm
cha mẹ, vợ con, thân tộc, họ hàng cho người nầy.
Lúc
đó trời Tứ Vương nhẫn đến trời Sắc Cứu Cánh đều
rất vui mừng mà tự nghĩ rằng chúng ta phải tìm cách làm
cho Bồ Tát nầy xa lìa dâm dục, từ sơ phát tâm luôn là đồng
nhơn, chớ để vị nầy hội hiệp với sắc dục, nếu hưởng
thọ ngũ dục thời sẽ chướng ngại sanh về Phạm Thiên huống
là quả Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát cần phải là người đoạn dục
xuất gia mới đáng được Vô thượng Bồ đề, chẳng phải
là người không đoạn dục mà được”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát cần
phải có cha mẹ, vợ con, thân tộc, họ hàng chăng?”
Đức
Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! hoặc có Bồ Tát có cha mẹ,
vợ con, thân tộc. Hoặc có Bồ Tát từ khi sơ phát tâm đoạn
dục tu hạnh đồng nhơn mãi đến thành Vô thượng Bồ đề
chẳng phạm sắc dục. Hoặc có Bồ Tát dùng phương tiện
lực hưởng thọ ngũ dục xong mới xuất gia thành Vô thượng
Bồ đề.
Ví
như nhà ảo thuật giỏi khéo dùng phương ảo thuật hóa ra
cảnh ngũ dục rồi vui đùa trong đó. Ý ông nghĩ thế nào,
nhà ảo thuật có thiệt hưởng thọ cảnh ngũ dục ấy chăng?”
- Bạch
đức Thế Tôn! Không ạ.
- Nầy
Xá Lợi Phất! cũng vậy đại Bồ Tát dùng phương tiện lực
hóa ra cảnh ngũ dục rồi ở trong đó hưởng thọ để độ
chúng sanh.
Đại
Bồ Tát nầy chẳng nhiễm ngũ dục, lại dùng nhiều cách quở
trách ngũ dục: Ngũ dục là lửa cháy, ngũ dục là nhơ nhớp
xấu xa, ngũ dục là thứ phá hoại, ngũ dục như oán thù.
Do
đây nên biết rằng vì độ chúng sanh mà Bồ Tát hưởng thọ
ngũ dục.
-
Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát phải thực hành Bát nhã
ba la mật thế nào?
- Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng thấy danh tự Bồ Tát, chẳng thấy Bát nhã ba la
mật, cũng chẳng thấy là mình có thật hành Bát nhã ba la
mật cùng không thật hành Bát nhã ba la mật.
Tại
sao vậy? Vì Bồ Tát là danh tự Bồ Tát, tánh vốn rỗng không.
Trong tánh không chẳng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rời
lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng có tánh không,
tánh không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Tại
sao vậy? Vì chỉ có danh tự gọi là bồ đề, chí có danh
tự gọi là Bồ Tát, chỉ có danh tự gọi là tánh không.
Tại
sao vậy? Vì thật tánh của các pháp vốn là không sanh, không
diệt, không cấu, không tịnh.
Đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật như vậy cũng chẳng thấy
sanh, chẳng thấy diệt, cũng chẳng thấy cấu, chẳng thấy
tịnh.
Tại
sao vậy? Vì danh tự là những pháp do nhơn duyên hòa hiệp
làm thành, chỉ do nhớ tưởng phân biệt giả danh mà nói thôi.
Vì
thế nên đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật chẳng
thấy tất cả danh tự. Vì chẳng thấy nên chẳng chấp trước.
PHẨM
TU TẬP ĐÚNG
THỨ
BA
Đức
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Lúc thật hành Bát nhã ba
la mật, đại Bồ Tát phải suy nghĩ như thế nầy:
Bồ
Tát chỉ có danh tự, Phật cũng chỉ có danh tự, Bát nhã ba
la mật cũng chỉ có danh tự, sắc, thọ, tưởng, hành, thức
cũng chỉ có danh tự.
Nầy
Xá Lợi Phất! Như ngã chúng sanh thọ giả, mạng giả, sanh
giả, dưỡng dục giả, tác giả, sử tác giả, khởi giả,
sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả, tri giả, kiến giả
đều là bất khả đắc tất cả. Vì là bất khả đắc nên
rỗng không. Vì rỗng không nên chỉ dùng danh tự để tuyên
nói.
Đại
Bồ Tát cũng thật hành Bát nhã ba la mật như vậy: Chẳng
thấy ngã, chẳng thấy chúng sanh, nhẫn đến chẳng thấy tri
giả, kiến giả. Nhữnh danh tự tuyên nói đó cũng chẳng thấy.
Đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật như vậy hơn trên tất
cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, trừ trí huệ của Phật,
do vì tánh không, tác dụng bất khả đắc.
Tại
sao vậy? Vì đại Bồ Tát nầy đối với những pháp danh tự
cùng chỗ mà danh tự dính đến, tất cả đều bất khả đắc.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát có thể thật hành như vậy đó
là thật hành Bát nhã ba la mật.
Ví
như số Tỳ Kheo nhiều bằng số tre, lau, mía, mè, lúa, đậu,
lùm rừng đầy cả cõi Diêm Phù Đề, tất cả đều có trí
huệ như Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, đem tất cả
trí huệ ấy muốn so sánh với trí huệ của Bồ Tát thật
hành Bát nhã ba la mật, thời không bằng một phần trăm, không
bằng một phần ngàn, không bằng một phần trăm ngàn ức,
nhẫn đến không bằng một phần ví dụ.
Tại
sao vậy? Vì dùng trí huệ nầy mà Bồ Tát độ thoát tất
cả chúng sanh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Không nói đến như Xá Lợi Phất và Đại Mục
Kiền Liên đầy cõi Diêm Phù Đề, mà ví như đầy cả cõi
Đại Thiên, hoặc nhẫn đến đầy cả hằng sa thế giới
ở mười phương, đem tất cả trí huệ ấy muốn so sánh với
trí huệ của Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật cũng không
bằng một phần trăm, nhẫn đến không bằng một phần ví
dụ.
Nầy
Xá Lợi Phất! “Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
một ngày tu tập trí huệ hơn trên tất cả hàng Thanh Văn,
Bích Chi Phật”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Trí huệ của hàng
Thanh Văn, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, trí huệ
của hàng Bích Chi Phật, trí huệ của Phật, những trí huệ
nầy không sai biệt, không chống trái nhau, đều là vô sanh
tánh không. Nếu đã là tánh vô sanh tánh không, chẳng trái
nhau thời là không sai khác nhau. Cớ sao đức Thế Tôn lại
dạy rằng Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật một ngày tu
tập trí huệ hơn trên tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật?”
Phật
nói: “Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật một ngày
tu tập trí huệ, tâm niệm rằng: Ta hành đạo trí huệ lợi
ích tất cả chúng sanh, ta sẽ dùng nhứt thiết chủng trí
biết rõ tất cả pháp, độ thoát tất cả chúng sanh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ý của ông nghĩ thế nào, trí huệ của hành
Thanh Văn, Bích Chi Phật có những sự như vậy không?”
-Bạch
dức Thế Tôn! Không ạ.
-Nầy
Xá Lợi Phất! Hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật có quan niệm nầy:
Ta sẽ thành Vô thượng Bồ đề độ thoát tất cả chúng
sanh, làm cho họ đều được vô dư y Niết Bàn, như chư đại
Bồ Tát không?
-Bạch
đức Thế Tôn! Không ạ.
-Nầy
Xá Lợi Phất! Do những cớ trên đây nên biết rằng trí huệ
của hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật sánh với trí huệ của đại
Bồ Tát không bằng một phần trăm, nhẫn đến không bằng
một phần thí dụ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật có quan niệm nầy:
Ta thật hành sáu ba la mật, thành tựu chúng sanh, trang nghiêm
Phật độ, đầy đủ mười trí lực, bốn vô sở úy, bốn
vô nggại trí, mười tám pháp bất cộng, độ thoát vô lượng
vô số chúng sanh đến quả Niết Bàn như chư đại Bồ Tát
không?
-Bạch
đức Thế Tôn! Không ạ.
-Nầy
Xá Lợi Phất! Ví như loài đom đóm kia chẳng bao giờ nghĩ
rằng mình như mạt nhựt mọc lên chiếu ánh sáng khắp Diêm
Phù Đề.
Cũng
vậy, hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng có quan niệm như
đại Bồ Tát: Ta thật hành sáu ba la mật nhẫn đến mười
tám pháp bất cộng được Vô Thượng Bồ đề, độ vô lượng
vô số chúng sanh đến quả Niết Bàn”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “ Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là đại
Bồ Tát hơn bực Thanh Văn, Bích Chi Phật mà đến bực bất
thối chuyển thanh tịnh Phật đạo?”
Đức
Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát từ lúc sơ
phát tâm thật hành sáu ba la mật, an trụ nơi pháp không, vô
tướng, vô tác, có thể vượt hơn bực Thanh Văn, Bích Chi
Phật mà đến bực bất thối chuyển thanh tịnh Phật đạo”.
-Bạch
đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát an trụ bực nào mà có thể làm
phước điền cho hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật?
-Nầy
Xá Lợi Phất! Từ lúc sơ phát tâm thật hành sáu ba la mật
nhẫn đến lúc ngồi đạo tràng thành Vô thượng Bồ đề,
trong khoảng thời gian ấy, luôn thường làm phước điền
cho hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Tại
sao vậy? Vì do có nhân duyên của đại Bồ Tát nên những
thiện pháp của thế gian phát sanh. Như những pháp thập thiện,
ngũ giới, bát quan trai, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ
vô sắc định, tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc,
ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần,
lục ba la mật, thật bát không, thập lực, tứ vô úy, tứ
vô ngại trí, thập bát bất cộng, đại từ, đại bi, nhứt
thiết chủng trí, do nhơn duyên của đại Bồ Tát mà những
pháp nầy hiện ra trên thế gian. Cũng do nhơn duyên của Bồ
Tát mà những đại tộc Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Cư Sĩ, Tứ
Thiên Vương nhẫn đến Phi Phi Tưởng Thiên, Tu Đà Hoàn, Tư
Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật và Phật Đà đều
xuất hiện trên thế gian.
-Bạch
đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát có thanh tịnh xong phước bố
thí chăng?
-Nầy
Xá Lợi Phất! Không có. Vì bổn lai đã thanh tịnh xong.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát là vị đại thí chủ bố thí
những thiện pháp như thập thiện, ngũ giới nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào đại
Bồ Tát tu tập đúng Bát nhã ba la mật tương ứng với Bát
nhã ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tu tập đúng
sắc không, tu tập đúng thọ, tưởng, hành, thức không, đây
gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tu tập đúng nhãn không,
tu tập đúng nhĩ, tĩ, thiệt, thân, tâm không, đây gọi là
tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng sắc không, tu tập đúng thinh, hương,
vị, xúc, pháp không, đây gọi là tương ứng với Bát nhã
ba la mật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng nhãn giới không, đúng sắc giới không,
nhãn thức giới không, nhãn đến tu tập đúng ý thức giới
không, đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng khổ không, tu tập đúng tập, diệt,
đạo không, đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng vô minh không, tu tập đúng hành, thức,
danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử
không, đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng tất cả pháp không, hoặc hữu vi hoặc
vô vi, đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tu tập đúng tánh không,
tự tướng không, chư pháp không, vô sở đắc không, vô pháp
không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không bảy môn không,
đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc tu tập bảy môn không, đại Bồ Tát chẳng
thấy sắc hoặc tương ứng hay không tương ứng, chẳng thấy
thọ, tưởng, hành, thức hoặc tương ứng hay không tương
ứng, chẳng thấy sắc hoặc sanh tướng hay diệt tướng,
chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức hoặc sanh tướng hay
diệt tướng, chẳng thấy sắc hoặc cấu tướng hay tịnh
tướng, chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức hoặc cấu tướng
hay tịnh tướng, chẳng thấy sắc hiệp với thọ, chẳng thấy
thọ hiệp với tưởng, chẳng thấy tưởng hiệp với hành,
chẳng thấy hành hiệp với thức. Tại sao vậy? Vì tánh của
các pháp vốn rỗng không nên không có pháp nào hiệp với
pháp nào.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trong sắc không chẳng có sắc, trong thọ không,
tưởng không, hành không, thức không chẳng có thọ, tưởng,
hành, thức.
Nầy
Xá Lợi Phất! Vì sắc rỗng không nên không có tướng não
hoại, vì thọ rỗng không nên không có tướng thọ, vì tưởng
rỗng không nên không có tướng biết, vì hành rỗng không
nên không có tướng tác giả, vì thức rỗng không nên không
có tướng tri giác. Tại sao vậy? Vì chẳng phải sắc khác
với không, cũng chẳng phải không khác với sắc, mà sắc
chính là không và không chính là sắc, thọ, tưởng, hành,
thức chính là không và không chính là thọ, tưởng, hành,
thức.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tướng rỗng không của các pháp vốn chẳng
sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng
giảm, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiên tại, vì thế nên
trong không pháp ấy không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
không có nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý, không có sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, nhẫn đến không
có ý thức giới, không có vô minh cũng không có vô minh tận,
nhẫn đến không có lão tử, cũng không có lão tử tận, không
có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí cũng không có đắc,
không có Tu Đà Hoàn và quả Tu Đà Hoàn, không có Tư Đà Hàm,
A Na Hàm, A La Hán và Phật, cũng không có quả Tư Đà Hàm,
A Na Hàm, A Na Hán, quả Bích Chi Phật và quả Phật.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát
nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng thấy Bát nhã ba la mật hoặc tương ứng hay chẳng
tương ứng, cũng chẳng thấy Đàn na ba là mật, Thi la ba la
mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật và Thiền na
ba la mật hoặc tương ứng hay chẳng tương ứng. Đại Bồ
Tát cũng chẳng thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chẳng
thấy nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý, chẳng thấy sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp, chẳng thấy nhãn giới nhẫn đến ý
thức giới hoặc tương ứng hay chẳng tương ứng. Đại Bồ
Tát cũng chẳng thấy tứ niệm xứ đến bát thánh đạo phần,
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí hoặc tương ứng hay chẳng
tương ứng.
Như
trên đây, nầy Xá Lợi Phất! Phải biết đó là đại Bồ
Tát tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba
la mật, không chẳng hiệp với không, vô tướng chẳng hiệp
với vô tướng, vô tác chẳng hiệp với vô tác. Tại sao vậy?
Vì không, vô tướng, vô tác chẳng có hiệp với chẳng hiệp.
Đại
Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát
nhã ba la mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát nhập vào tự tướng không của các pháp, nhập xong
nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, Bồ Tát chẳng cho là hiệp
chẳng cho là chẳng hiệp, sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng
hiệp với tiền tế cũng chẳng hiệp với hậu tế, chẳng
hiệp với hiện tại. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát chẳng thấy
tiền tế, chẳng thấy hậu tế cũng chẳng thấy hiện tại.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật,
vì tham tế là danh từ rỗng không, nên tiền tế chẳng hiệp
với hậu tế, hậu tế chẳng hiệp với tiền tế, hiện tại
chẳng hiệp với tiền tế, hậu tế, tiền tế với hậu tế
cũng chẳng hiệp với hiện tại. Như đây gọi là tương ứng
với Bát nhã ba la mật. Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật
hành Bát nhã ba la mật, nhứt thiết trí chẳng hiệp với đời
quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại. Tại sao vậy? Vì
đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại đều còn chẳng
thể thấy huống là có hiệp. Như đây gọi là tương ứng
với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng thể thấy, vì nhãn
đến ý chẳng thể thấy, vì sắc nhẫn đến pháp chẳng thể
thấy, vì nhãn thức nhẫn đến ý thức chẳng thể thấy nên
sắc, thọ đến ý thức đều chẳng hiệp với nhứt thiết
trí. Như đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
vì Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật đều chẳng thể
thấy nên Đàn na đến Bát nhã ba la mật chẳng hiệp với
nhất thiết trí. Vì tứ niệm xứ đến bát thánh đạo phần
nhẫn đến thập lực, thập bát bất cộng pháp đều chẳng
thể thấy nên tất cả đều chẳng hiệp với nhất thiết
trí. Như đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng tu tập sắc là hữu hay là vô, chẳng tu tập sắc
là vô thường hay là vô thường, chẳng tu tập sắc là khổ
hay là lạc, chẳng tu tập sắc là ngã hay là phi ngã, chẳng
tu tập sắc là tịch diệt hay là chẳng phải tịch diệt,
chẳng tu tập sắc là rỗng không hay là chẵng phải rỗng
không, chẳng tu tập sắc là hữu tướng hay là vô tướng,
chẳng tu tập sắc là hữu tác hay là vô tác; thọ, tưởng.
hành. thức cũng như vậy. Như đây gọi là tương ứng với
Bát nhã ba la mật.
Lúc
thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng có quan niệm
là ta thật hành hay chẳng thật hành Bát nhã ba la mật, cũng
chẳng có quan niệm chẳng phải thật hành cùng chẳng phải
chẳng thật hành. Như đây gọi là tương ứng với Bát nhã
ba la mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Chẳng vì Bát nhã ba la mật mà đại Bồ
Tát thật hành Bát nhã ba la mật. Cũng chẳng vì Đàn na, Thi
la, Sằn đề, Tỳ lê gia, Thiền na ba la mật, cũng chẳng vì
bực bất thối chuyển thành tựu chúng sanh thanh tịch Phật
độ, cũng chẳng vì thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí,
thập bát bất cộng pháp mà đại Bồ Tát thật hành Bát nhã
ba la mật. Cũng chẳng vì nội không, ngoại không, nội ngoại
không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu
vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thỉ không, tán không,
tánh không, chư pháp không, tự tướng không, bất khả đắc
không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không,
cũng chẳng vì như pháp tánh, thiệt tế mà đại Bồ Tát thật
hành Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì lúc thật hành Bát
nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng phá hoại tướng của các
pháp. Tu tập đúng như đây thời gọi là tương ứng vơi Bát
nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Chẳng vì thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc
mạng, thần túc, lậu tận sáu môn thần thông mà đại Bồ
Tát thật hành Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì lúc thật
hành, đại Bồ Tát còn chẳng thấy Bát nhã ba la mật huống
là thấy Bồ Tát thần thông. Như đây gọi là tương ứng
với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng quan niệm rằng ta dùng như ý thần thông bay đến
phương Đông cùng bay đến khắp mười phương để cúng dường
hằng sa chư Phật, cũng chẳng quan niệm rằng ta dùng thiên
nhĩ nghe hằng sa chư Phật mười phương thuyết pháp, dùng
tha tâm thông trí biết tâm niệm của hằng sa chúng sanh mười
phương, dùng túc mạng trí biết việc làm của vô lượng
đời của hằng sa chúng sanh ở mười phương, cũng chẳng
nghĩ rằng ta dùng thiên nhãn thấy hằng sa chúng sanh chết
đây sanh về nơi kia. Như đây gọi là đại Bồ Tát thật
hành Bát nhã ba la mật tương ứng với Bát nhã ba la mật và
cũng có thể độ thoát vô lượng vô số chúng sanh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát có thể thật hành Bát nhã ba
la mật như vậy thời ác ma không hại được, tất cả sự
việc thế gian đều tùy ý muốn, hằng sa chư Phật mười
phương đều ủng hộ cho Bồ Tát nầy chẳng sa vào hành Thanh
Văn, Bích Chi Phật. Chư Thiên từ Tứ Vương đến Sắc Cứu
Cánh Thiên cũng đều ủng hộ Bồ Tát giúp thêm tự tại.
Nếu Bồ Tát nầy đã có trọng tội thì hiện đời bị báo
nhẹ. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát nầy dùng lòng bình đẳng lợi
ích chúng sanh. Như đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba
la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát mau được các môn đà la ni và các môn tam muội, sanh về
đâu cũng thường gặp được chư Phật mãi đến khi chứng
quả Vô thượng Bồ đề không bao giờ rời chư Phật. Đây
gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng nghĩ rằng có pháp nầy với pháp nầy hoặc hiệp
hay chẳng hiệp nhau, hoặc bằng hay chẳng bằng nhau. Tại sao
vậy? Vì đại Bồ Tát chẳng thấy có pháp nầy cùng những
pháp khác hoặc hiệp hoặc bằng hay chẳng hiệp chẳng bằng.
Đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng nghĩ rằng ta sẽ chóng được pháp tánh hoặc chẳng
được. Tại sao vậy? Vì pháp tánh chẳng phải là tướng
được. Đây gọi là tu tập tương ứng với Bát nhã ba la
mật.
Lại
nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng thấy có pháp nào ra ngoài pháp tánh, cũng chẳng
nghĩ rằng pháp tánh khác với các pháp, cũng chẳng nghĩ rằng
pháp nầy có thể được pháp tánh hay chẳng được. Tại
sao vậy? Vì đại Bồ Tát chẳng thấy dùng pháp nầy có thể
được pháp tánh hay chẳng được pháp tánh. Đại Bồ Tát
tu tập đúng như đây thời gọi là tương ứng với Bát nhã
ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
pháp tánh chẳng hiệp với không, không cũng chẳng hiệp với
pháp tánh. Đây gọi là tương ứng với Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
nhãn giới chẳng hiệp với không, không cũng chẳng hiệp với
nhãn giới, sắc giới chẳng hiệp với không, không cũng chẳng
hiệp với sắc giới, nhãn thức giới chẳng hiệp với không,
không cũng chẳng hiệp với nhãn thức giới, nhẫn đến ý
giới, pháp giới và ý thức giới chẳng hiệp với không,
không cũng chẳng hiệp với ý giới, pháp giới và ý thức
giới. Tương ứng không như vậy gọi là tương ứng đệ nhứt.
Nầy
Xá Lợi Phất! Bồ Tát thật hành pháp không chẳng sa vào hành
Thanh Văn, Bích Chi Phật, có thể thanh tịnh Phật độ, thành
tựu chúng sanh, chóng được Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trong các môn tương ứng, thời tương ứng với
Bát nhã ba la mật là tối đệ nhứt, là tối tôn, tối thắng,
tối diệu không có gì trên. Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát
nầy thật hành tương ứng với Bát nhã ba la mật, chính đó
là không, vô tướng, vô tác. Phải biết rằng Bồ Tát nầy
như đã được thọ ký hoặc đã gần được thọ ký.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát tương ứng như vậy có thể làm
lợi ích cho vô lượng vô số chúng sanh. Đại Bồ Tát nầy
cũng chẳng nghĩ rằng ta tương ứng với Bát nhã ba la mật,
chư Phật sẽ thọ ký cho ta, ta sẽ gần được thọ ký, ta
sẽ thanh tịnh Phật độ, sẽ thành Phật chuyển pháp luân.
Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát nầy chẳng thấy có pháp nào
ra ngoài pháp tánh, cũng chẳng thấy có pháp nào thật hành
Bát nhã ba la mật, chẳng thấy có pháp nào được Phật thọ
ký, chẳng thấy có pháp nào thành Phật chuyển pháp luân.
Tại sao vậy? Vì lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng sanh tướng ngã, tướng chúng sanh nhẫn đến chẳng
sanh tướng tri giả, tướng kiến giả. Tại sao vậy? Vì chúng
sanh rốt ráo bất sanh bất diệt, chúng sanh không có sanh, không
có diệt. Nếu các pháp đã không có tướng sanh diệt thời
làm sao lại có pháp thật hành Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nên vì đại Bồ Tát chẳng thấy chúng
sanh đó chính là thật hành Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy?
Vì chúng sanh là bất thọ, là bất khả đắc, là ly, chính
đây là thật hành Bát nhã ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Trong các môn tương ứng của đại Bồ Tát,
tương ứng với không là tối đệ nhất. Tương ứng với
không đây hơn tất cả các môn tương ứng.
Đại
Bồ Tát tu tập pháp không như vậy có thể phát sanh đại
từ, chẳng sanh những tâm san lẫn, phạm giới, sân hận, giải
đải, tán loạn, vô trí”.