QUYỂN
THỨ BA
PHẨM
KHUYẾN HỌC
THỨ
TÁM
Ngài
Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát muốn
đầy đủ Ðàn na ba la mật thời phải học Bát nhã ba la mật,
muốn đầy đủ Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê
gia ba la mật, Thiền na ba la mật và Bát nhã ba la mật thời
phải học Bát nhã ba la mật.
Ðại
Bồ Tát muốn biết ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới,
muốn biết nhãn xúc cùng nhãn xúc làm nhơn duyên sanh ra thọ,
nhẫn đến ý xúc làm nhơn duyên sanh ra thọ, thời phải học
Bát nhã ba la mật.
Ðại
Bồ Tát muốn dứt tam, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, giới
thủ, các thứ tâm sở phiền não, thời phải học Bát nhã
ba la mật. Muốn dứt tứ phược, tứ kiến, tứ điên đảo,
thời phải học Bát nhã ba la mật.
Ðại
Bồ Tát muốn biết thập thiện, tứ thiền, tứ vô lượng
tâm, tứ vô sắc định, tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám
pháp bất cộng, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Ðại
Bồ Tát muốn nhập giác ý tam muội, muốn nhập lục thần
thông, muốn nhập cửu thứ đệ định, muốn nhập siêu việt
tam muội, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Ðại
Bồ Tát muốn được sư tử du hí tam muội, sư tử phấn tấn
tam muội, muốn được tất cả môn đà la ni, muốn được
thủ lăng nghiêm tam muội, bửu ấn tam muội, diệu nguyệt
tam muội, nguyệt tràng tướng tam muội, nhứt thiết pháp ấn
tam muội, quán ấn tam muội, tất pháp tánh tam muội, tất
trụ tứơng tam muội, như kim cang tam muội, nhập nhứt thiết
pháp môn tam muội, tam muội vương tam muội, vương ấn tam
muội, tịnh lực tam muội, cao xuất tam muội, tất nhập nhứt
thiết biện tài tam muội, nhập chư pháp danh tam muội, quán
thập phương tam muội, chư đà la ni môn ấn tam muội, nhật
thiết pháp bất vong tam muội, nhiếp nhứt thiết pháp tụ
ấn tam muội, hư không trụ tam muội, tam phần thanh tịnh tam
muội, bất thối thần thông tam muội, xuất bát tam muội,
chư tam muội tràng tướng tam muội, đều phải học Bát nhã
ba la mật.
Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát muốn thỏa mãn nguyện vọng
của tất cả chúng sanh thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn
được đầy đủ những thiện căn sau đây: thường chẳng
đọa vào ác đạo, chẳng sanh nhà ti tiện, chẳng ở trong
hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng sa vào Bồ Tát đảnh,
thời phải học Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là sa vào Bồ Tát đảnh?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Nếu đại Bồ Tát chẳng dùng pháp phương
tiện mà thật hành sáu ba la mật nhập không, vô tướng vô
tác tam muội, chẳng sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng
chẳng nhập Bồ Tát vị, đây gọi là đại Bồ Tát pháp ái
sanh, vì thế nên sa vào Bồ Tát đảnh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào gọi là Bồ Tát sanh?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Sanh gọi là pháp ái”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Những gì là pháp ái?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Ðại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không, là vô tướng, là
vô tác, là tịch diệt, là vô thường, là khổ, là vô ngã,
Bồ Tát nhẫn thọ ghi nhớ nắm giữ nơi đây, thời gọi là
thuận đạo pháp ái sanh.
Ðây
là khổ phải biết, đây là tập phải dứt, đây là diệt
phải chứng, đây là đạo phải tu pháp nầy cấu, pháp nầy
tịnh, nên gần pháp nầy, chẳng nên gần pháp nầy, chỗ nầy
nên làm, chỗ nầy chẳng nên làm, đây là Bồ Tát đạo, đây
chẳng phải Bồ Tát đạo, đây là chỗ học của Bồ Tát,
đây chẳng phải chỗ học của Bồ Tát, đây là Ðàn na ba
la mật nhẫn đến Bát nhã ba la mật của Bồ Tát, đây chẳng
phải sáu pháp ba la mật của Bồ Tát, đây là phương tiện
của Bồ Tát, đây chẳng phải phương tiên của Bồ Tát, đây
là chỗ thành thục của Bồ Tát, đây chẳng phải chỗ thành
thục của Bồ Tát. Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, nếu
đại Bồ Tát nhẫn thọ ghi nhớ nắm giử những pháp trên
đây thời gọi là thuận đạo pháp ái sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là Bồ Tát bất sanh?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Ðại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la
mật, trong nội không chẳng thấy ngoại không, trong ngoại
không chẳng thấy nội không, trong ngoại không chẳng thấy
nội ngoại không, trong nội ngoại không chẳng thấy ngoại
không, trong nội ngoại không chẳng thấy không không, trong
không không chẳng thấy nội ngoại không, trong đại không
chẳng thấy không không, trong đại không chẳng thấy đệ
nhứt nghĩa không, trong đệ nhứt nghĩa không chẳng thấy đại
không, trong đệ nhứt nghĩa không chẳng thấy hữu vi không,
trong hữu vi không chẳng thấy đệ nhứt nghĩa không, trong
hữu vi không chẳng thấy vô vi không, trong vô vi không chẳng
thấy hữu vi không, trong vô vi không chẳng thấy tất cánh
không, trong tất cánh không chẳng thấy vô vi không, trong tất
cánh không chẳng thấy vô thỉ không, trong vô thỉ không chẳng
thấy tất cánh không, trong vô thỉ không chẳng thấy tán không,
trong tán không chẳng thấy vô thỉ không, trong tán không chẳng
thấy tánh không, trong tánh không chẳng thấy tán không, trong
tánh không chẳng thấy chư pháp không, trong chư pháp không
chẳng thấy tánh không, trong chư pháp không chẳng thấy tự
tướng không, trong tự tướng không chẳng thấy chư pháp không,
trong tự tướng không chẳng thấy vô sở đắc không, trong
vô sở đắc không chẳng thấy tự tướng không, trong vô sở
đắc không chẳng thấy vô pháp không, trong vô pháp không chẳng
thấy vô sở đắc không, trong vô pháp không chẳng thấy hữu
pháp không, trong hữu pháp không chẳng thấy vô pháp không,
trong hữu pháp không chẳng thấy vô pháp hữu pháp không,?
trong vô pháp hữu pháp không chẳng thấy hữu pháp không.
Như
trên đây là Bồ Tát bất sanh, là được nhập Bồ Tát vị.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát muốn học Bát nhã ba la mật phải
học thế nầy: Chẳng nghĩ nhớ ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập
bát giới, chẳng nghĩ nhớ sáu ba la mật nhẫn đến mười
tám pháp bất cộng.
Lúc
được những tâm nầy, tâm vô đẳng đẳng, đại tâm, đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật chẳng nên nghĩ nhớ,
chẳng nên tự đắc.
Tại
sao vậy? Vì tâm nầy chẳng phải tâm, vì tâm tướng vốn
là thường tịnh vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là tâm tính thường thanh tịnh?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Bồ Tát biết rõ tâm tướng cùng với tham,
sân, si, tất cả kiết sử, phiền não vốn chẳng hiệp, chẳng
lý nhau, với tâm Thanh Văn, tâm Bích Chi Phật vốn chẳng hiệp,
chẳng lý nhau. Ðây gọi là Bồ Tát tâm tướng thường thanh
tịnh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Có cái tâm không tâm tướng nầy chăng?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Trong tâm không tướng nầy có thể được
những tướng hữu tâm cùnng tướng vô tâm chăng?"
Ngài
Xá Lợi Phất nói: "Chẳng thể được”.
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Nếu là chẳng thể được thời chẳng nên
hỏi có cái tâm không tâm tướng chăng”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Những gì là không tâm tướng?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Với các pháp, chẳng hư hoại, chẳng phân
biệt, đây gọi là không tâm tướng”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Chỉ có tâm nầy chẳng hư hoại, chẳng
phân biệt, còn sắc nhẫn đến Phật đạo có là cũng chẳng
hư hoại, chẳng phân biệt chăng?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Nếu có thể biết tam tướng chẳng hư hoại,
chẳng phân biệt, thời cũng có thể biết sắc nhẫn đến
Phật đạo cũng chẳng hư hoại, chẳng phân biệt”.
Ngài
Xá Lợi Phất tán thán: " Lành thay, lành thay! Tu Bồ Ðề là
chơn Phật tử từ miệng Phật mà sanh, từ thấy pháp mà sanh,
từ pháp hóa sanh, lấy được pháp phần, chẳng lấy tài phần.
Trong chánh pháp tự tin thân được chứng.
Ðúng
như lời đức Phật từng khen ông là bực nhứt trong những
người được vô tránh tam muội.
Ðại
Bồ Tát phải học Bát nhã ba la mật như vậy. Trong đây cũng
phải biết rõ Bồ Tát đúng như lời ông đa nói mà thật
hành, thời chẳng rời Bát nhã ba la mật.
Những
thiện nam tử, thiện nữ nhơn muốn học bực Thanh Văn cũng
phải nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi
nhớ, thậc hành. Người muốn học bực Bích Chi Phật cũng
phải nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi
nhớ, thật hành. Người muốn học bực Bồ Tát cũng phải
nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ,
thực hành.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật nói rộng về tam thừa,
nên Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật đều phải học”.
PHẨM
TẬP TÁN
THỨ
CHÍN
Ngài
Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng
cảm thấy cũng chẳng được gì là Bồ Tát thật hành Bát
nhã ba la mật thời sẽ vì ai mà giảng thuyết Bát nhã ba la
mật?
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được tất cả các pháp tập
hợp rời tan, nếu con vì Bồ Tát mà gọi tên là Bồ Tát có
thể con sẽ hối hận.
Bạch
đức Thế Tôn! Tên gọi ấy chẳng an trụ cũng chẳng phải
chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì tên gọi vốn vô sở hữu.
Vì thế tên gọi ấy chẳng trụ cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được sắc nhẫn đến thức,
nhãn nhẫn đến ý, sắc nhẫn đến pháp, nhãn thức nhẫn
đến ý thức, nhãn xúc nhẫn đến ý xúc, nhơn duyên, sanh
thọ, con cũng chẳng thấy được vô minh nhẫn đến lão tử
hợp tan, vô minh diệt nhẫn đến lão tử hợp tan, vô minh
diệt nhẫn đến lão tử diệt hợp tan. Nếu đã là chẳng
thấy được thời thế nào lại đặt tên. Thế nên tên gọi
chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Tại sao vậy? Vì
tên gọi vô sở hữu vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được tham, sân, si các phiền
não, kiết sử hợp tan, chẳng thấy được sáu ba la mật đến
mười tám pháp bất cộng tập hợp rời tan, thời thế nào
sẽ đặt tên gọi là Bồ Tát. Tên gọi nầy chẳng an trụ
chẳng phải chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì tên gọi vô sở
hữu vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được ngũ ấm hợp tan như
mộng, như bóng, như vang, như dương diệm, như biến hóa.
Con
chẳng được rời hợp tan, cùng tịch diệt, bất sanh, bất
diệt, bất cấu, bất tịnh hợp tan.
Con
chẳng được pháp tánh, thiệt tế, pháp tướng, pháp vị
hợp tan.
Con
chẳng được những pháp thiện, pháp bất thiện hợp tan.
Con
chẳng được những pháp hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu
hợp tan.
Con
chẳng được những pháp quá khứ, vị lai, hiện tại hợp
tan.
Con
chẳng được những pháp chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng
hiện tại hợp tan.
Những
gì là pháp chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại?
Chính là pháp vô vi vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được pháp vô vi hợp tan.
Chẳng thấy được Phật hợp tan, cũng chẳng thấy được
hằng sa Phật quốc, chư Phật và Bồ Tát cùng Thanh Văn, Bích
Chi Phật hợp tan. Vì đều vô sở hữu nên chẳng trụ, chẳng
phải chẳng trụ.
Như
thế thời thế nào sẽ có thể giáo Bồ Tát về Bát nhã ba
la mật.
Bạch
đức Thế Tôn! Danh tự Bồ Tát đây chẳng an trụ, cũng chẳng
phải chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì danh tự nầy vô sở
hữu vậy, thế nên chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng an
trụ.
Bạch
đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được chư pháp thiệt tướng
hợp tan thời thế nào đặt tên cho Bồ Tát mà gọi là Bồ
Tát. Danh tự thiệt tướng của các pháp chẳng trụ, cũng
chẳng phải chẳng trụ. Vì danh tự nầy vô sở hữu. Thế
nên danh tự chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng an trụ.
Bạch
đức Thế Tôn! Các pháp do nhơn duyên hòa hiệp mà có giả
danh thi thiết. Danh tự Bồ Tát trong ngũ ấm, thập nhị xứ,
thập bát giới nhẫn đến trong mười tám pháp bất cộng
đều bất khả thuyết, ở trong pháp hòa hiệp cũng là bất
khả thuyết.
Ví
như mộng, ảnh, hưởng, diệm, hóa trong các pháp, đều bất
khả thuyết.
Ví
như danh tự hư không, địa, thủy, hỏa, phong cũng chỉ có
thể nói trong không có pháp.
Danh
tự của giới, tam muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát
tri kiến, danh tự của Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A
La Hán, Bích Chi Phật cũng chỉ có thể nói trong không có pháp.
Danh
tự của Phật, của Pháp cũng chỉ có thể nói trong không
có pháp. những pháp là thiện, bất thiện, thường vô thường,
khổ, lạc, ngã vô ngã, tịch diệt, ly, hữu, vô .
Bạch
đức Thế Tôn! Vì thế nên lòng con sẽ hối hận nếu con
đạt danh tự Bồ Tát mà gọi là Bồ Tát, vì tướng hợp
tan của tất cả pháp đều bất khả đắc. Danh tự ấy chẳng
trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ, vì là vô sở hữu vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát nghe nói tướng và nghĩa
của Bát nhã ba la mật như vậy mà tâm chẳng trầm một, chẳng
hối tiếc, chẳng kinh, chẳng sợ, thời phải biết Bồ Tát
nầy quyết định an trụ trong tánh bất thối chuyển, vì chẳng
an trụ nơi các pháp vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát muốn thật hành Bát nhã ba la
mật, chẳng nên an trụ trong ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập
bát giới, chẳng nên an trụ trong sáu đại chủng, thập nhị
nhơn duyên.
Tại
sao vậy? Vì sắc và sắc tướng là không nhẫn đến lão tử
và tướng lão tử là không.
Sắc
không nhẫn đến lão tử không chẳng gọi là sắc nhẫn đến
chẳng gọi là lão tử. rời ngoài không cũng cũng không có
sắc, nhẫn đến rời ngoài không cũng không có lão tử. Sắc
tức là không, không tức là sắc. Nhẫn đến lão tử tức
là không, không tức là lão tử.
Vì
lẽ trên đây nên lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ trong sắc, nhẫn đến chẳng nên
an trụ trong lão tử. Chẳng nên an trụ trong tứ niệm xứ
nhẫn đến chẳng nên an trụ trong mười tám pháp bất cộng.
Tại sao vậy? Vì tứ niệm xứ và tướng của tứ niệm xứ
là không. Tứ niệm xứ không chẳng gọi là tứ niệm xứ,
rời ngoài không cũng không có tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ
tức là không, không tức là tứ niệm xứ. Nhẫn đến mười
tám pháp bất cộng cũng như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên ai trụ trong sáu ba la mật. Tại sao vậy?
Vì sáu ba la mật và tướng của sáu ba la mật là không. Sáu
ba la mật không chẳng gọi là sáu ba la mật. rời ngoài không
cũng chẳng có sáu ba la mật. Sáu ba la mật tức là không,
không tức là sáu ba la mật.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ trong nhứt tự môn, nhị tự môn
nhẫn đến vô lượng tự môn. Vì ý nghĩa cũng như trên đã
nói.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ trong các môn thần thông. Vì ý nghĩa
cũng như trên đã nói.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ trong sắc là vô thường, sắc là
khổ, sắc là vô ngã, sắc là không, sắc là tịch diệt, là
ly. Tại sao vậy? Vì vô thường và tướng vô thường là không.
Vô thường không chẳng gọi là vô thường, rời ngoài không
cũng chẳng có vô thường. Vô thường tức là không, không
tức là vô thường. Khổ, vô ngã không tịch diệt và ly cũng
như vậy. Nhẫn đến thọ, tưởng, hành, thức là ly, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ cũng như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng nên an trụ trong như như. Tại sao vậy? Vì như
tướng là không nên chẳng gọi như như, rời ngoài không cũng
chẳng có như như. Như tức là không, không tức là như.
Bạch
đức Thế Tôn! Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát chẳng nên an trụ trong pháp tánh, pháp tướng, pháp vị,
thiệt tế. Tại sao vậy? Vì thiệt tế và thiệt tế tướng
là không. Thiệt tế không chẳng gọi là thiệt tế, rời ngoài
không cũng cũng chẳng có thiệt tế. Thiệt tế tức là không,
không tức là thiệt tế.
Bạch
đức Thế Tôn! Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bát
nhã ba la mật chẳng nên an trụ trong tất cả môn đà la ni,
môn tam muội. Tại sao vậy? Vì tướng của đà la ni và tam
muội là không. Ðã là không thời chẳng gọi là môn đà la
ni môn tam muội. Rời ngoài không cũng chẳng có môn đà la
ni, môn tam muội. Môn đà la ni và môn tam muội tức là không,
không tức là môn đà la ni và môn tam muội.
Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát muốn thật hành Bát nhã ba la
mật, vì không phương tiện nên an trụ trong sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, vì có tâm chấp ngã nên Bồ Tát nầy sanh khởi
sắc hành. Nếu đã sanh khởi hành thời chẳng nhẫn thọ Bát
nhã ba la mật và cũng chẳng đầy đủ Bát nhã ba la mật.
Vì chẳng đầy đủ Bát nhã ba la mật nên chẳng thành tựu
được nhứt thiết chủng trí.
Như
ngũ uẩn, thập nhị xứ đến tam muội môn cũng như vậy.
Do tâm ngô ngã mà Bồ Tát sanh khởi tam muội môn hành. Vì
có hành nên chẳng nhẫn thọ và chẳng đầy đủ Bát nhã
ba la mật, do đây nên chẳng thành tựu được nhất thiết
chủng trí.
Tại
sao vậy? Vì sắc đến tam muội môn vốn chẳng thọ nhận.
Vì chẳng thọ nhận nên sắc chẳng phải sắc, đến tam muội
môn, chẳng phải tam muội môn, vì là tánh không. Bát nhã ba
la mật cũng chẳng thọ nhận, thế nên chẳng phải Bát nhã
ba la mật, vì là tánh không.
Vì
thế nên muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát
phải quán các pháp tánh không, quán tâm không hành xứ. Ðây
gọi là Bồ Tát chẳng thọ nhận, công dụng tam muội quảng
đại nầy chẳng cùng chung với hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Nhứt
thiết chủng trí đây cũng chẳng thọ nhận, vì là nội không,
vì là ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không,
đệ nhứt nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh
không, vô thỉ không, tán không, tánh không, tự tướng không,
chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp
không,vô pháp hữu pháp không.
Tại
sao vậy? Vì nhứt thiết chủng trí chẳng thể dùng tướng
và hành mà có thể được tướng hành. Vì tướng hành là
cấu tướng.
Những
gì là cấu tướng? Sắc tướng đến tam muội môn tướng
gọi là tướng cấu uế.
Nếu
nhẫn thọ, nếu tu hành cấu tướng nầy mà có thể được
nhứt thiết chủng trí thời phạm chí Tiên Ni tất chẳng phát
tín tâm.
Tin
thế nào? Tin Bát nhã ba la mật. Suy gẫm phân biệt rõ biết
chẳng do pháp hữu tướng, chẳng do pháp vô tướng. Như thế,
phạm chí Tiên Ni chẳng chấp lấy tướng mà an trụ. Trong
tín hành, phạm chí Tiên Ni dùng tín không trí nhập trong pháp
tướng, chẳng nhẫn thọ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì
các pháp vốn tự tướng không nên chẳng thể nhẫn thọ.
Phạm
chí Tiên Ni nầy do chẳng phải nội quán, ngoại quán và nội
ngoại quán mà được trí tuệ nầy. Cũng do chẳng phải là
không trí huệ quán nên được trí huệ nầy.
Tại
sao vậy? Phạm chí nầy chẳng thấy có pháp, vì người trí
biết pháp, biết xứ vậy.
Chẳng
phải ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng chẳng phải
ở ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà phạm chí nầy
được trí, cũng chẳng ở trong nội ngoại sắc, thọ, tưởng,
hành, thức mà được trí huệ nầy, cũng chẳng phải rời
ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà được trí tuệ nầy,
vì nội ngoại không vậy.
Ở
trong đây phạm chí Tiên Ni tâm được tín giải nơi nhứt
thiết trí. Thế nên phạm chí tin thiệt tướng của các pháp,
vì tất cả các pháp bất khả đắc. Tín giải như vậy rồi
thời không có pháp để có thể nhẫn thọ, vì các pháp không
tướng, không ức niệm.
Nơi
các pháp, phạm? chí Tiên Ni cũng vô sở đắc, không thủ,
không xả, vì thủ xả đều bất khả đắc vậy.
Phạm
chí Tiên Ni cũng chẳng niệm trí huệ, vì các pháp tướng
vôn vô niệm vậy.
Ðây
gọi là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát vì Bát nhã ba
la mật chẳng phải Bát nhã ba la mật vậy.
Ðại
Bồ Tát chẳng nhẫn thọ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì
tất cả các pháp chẳng nhẫn thọ vậy. Nhẫn đến chẳng
thọ tam muội môn, vì tất cả pháp chẳng htọ vậy.
Ở
trong đây, Bồ Tát nầy cũng chẳng lấy Niết Bàn niệm xứ,
vì chưa đầy đủ tứ niệm xứ nhẫn đến chưa đầy đủ
mười tám pháp bất cộng. Tứ niệm xứ nầy chẳng phải
tứ niệm xứ, nhẫn đến mười tám pháp bất cộng chẳng
phải pháp bất cộng. Những pháp nầy chẳng phải pháp, cũng
không chẳng phải pháp.
Ðây
gọi là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát chẳng thọ sắc,
nhẫn đến chẳng thọ pháp bất cộng.
Bạch
đức Thế Tôn! Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ
Tát phải tư duy như vầy: Gì là Bát nhã ba la mật? Tại sao
gọi là Bát nhã ba la mật? Bát nhã ba la mật của ai?
Nếu
thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nên nghĩ nhớ rằng
nếu các pháp vô sở hữu bất khả đắc thời là Bát nhã
ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Những pháp gì vô sở hữu bất khả đắc?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Bát nhã ba la mật là pháp vô sở hữu bất
khả đắc, Thiền na, Tỳ lê gia, Sằn đề, Thi la, Ðàn na ba
la mật là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Tại sao vậy?
Vì là nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không,
đại không, đệ nhứt nghĩa không, hữu vi không, vô vi không,
tất cánh không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả
đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp
không vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là pháp vô sở
hữu bất khả đắc, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không là
pháp vô sở hữu bất khả đắc. Tứ niệm xứ đến bất
cộng pháp là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Các môn thần
thông cùng như như pháp tánh, pháp tướng, pháp vị, pháp trụ
và thiệt tế đều là pháp vô sở hữu bất khả đắc.
Nầy
Xá Lợi Phất! Phật cùng nhứt thiết trí, nhứt thiết chủng
trí là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Vì là nội không
nhẫn đến vô pháp hữu pháp không vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nếu lúc tư duy như vậy, quán sát như vậy,
đại Bồ Tát tâm chẳng trầm một, chẳng hối tiếc, chẳng
khinh, chẳng sợ, phải biết đại Bồ Tát nầy chẳng rời
hạnh Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Do nhơn duyên gì mà biết Bồ Tát chẳng
rời hạnh Bát nhã ba la mật?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Sắc rời sắc tánh, nhẫn đến thức rời
thức tánh. Sáu ba la mật rời sáu ba la mật tánh, nhẫn đến
thiệt tế rời thiệt tế tánh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là sắc tánh đến thiệt tế
tánh?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Vô sở hữu là sắc tánh, nhẫn đến vô
sở hữu là thiệt tế tánh. Vì duyên cớ nầy nên biết rằng
sắc rời sắc tánh nhẫn đến thiệt tế rời thiệt tế tánh.
Nầy
Ngài Xá Lợi Phất! Sắc cũng rời sắc tướng, nhẫn đến
thiệt tế cũng rời thiệt tế tướng. Tướng cũng rời tướng,
tánh cũng rời tánh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Nếu học như vậy, đại Bồ Tát được
nhứt thiết chủng trí chăng?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Ðúng như vậy. Nếu đại Bồ Tát học như
vậy thời thành tựu nhứt thiết chủng trí. Tại sao vậy?
Vì các pháp chẳng sanh khởi, chẳng thành tựu vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Duyên cớ gì các pháp chẳng sanh, chẳng
thành?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Vì sắc tức là sắc không, nhẫn đến vì
thiệt tế là thiệt tế không nên sắc sanh thành bất khả
đắc, nhẫn đến thiệt tế sanh thành bất khả đắc.
Nầy
Ngài Xá Lợi Phất! Học như vậy, đại Bồ Tát lần lần
gần nhứt thiết chủng trí, lần lần được thân thanh tịnh,
tâm thanh tịnh và tướng thanh tịnh. Vì được thân và tâm
cùng tướng thanh tịnh nên đại Bồ Tát nầy chẳng phát sanh
những tâm phiền não, tham, sân, si, mạn, xan tà kiến. Vì chẳng
phát sanh tâm phiền não nên Bồ Tát nầy chẳng sanh từ bụng
người mẹ mà thường hóa sanh từ một Phật quốc đến một
Phật quốc để thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật độ,
mãi đến khi thành Vô thượng Bồ đề trọn chẳng lúc nào
rời chư Phật.
Ðại
Bồ Tát phải học và hành Bát nhã ba la mật như vậy”.
PHẨM
HÀNH TƯỚNG
THỨ
MƯỜI
Ngài
Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ
Tát nếu không phương tiện mà muốn thật hành Bát nhã ba
la mật, nếu duyên nơi sắc, nếu duyên nơi thọ, tưởng, hành,
thức, thời là hành tướng, nếu duyên nơi sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay khổ,
hoặc hữu hay không, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc ly, hoặc tịch
diệt, đây đều là hành tướng cả.
Nếu
đại Bồ Tát không phương tiện mà duyên nơi tứ niệm xứ,
nhẫn đến duyên nơi mười tám pháp bất cộng, đây là hành
tướng.
Nếu
thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nghĩ rằng: Tôi
có thật hành Bát nhã ba la mật, đây là hành tướng. Hoặc
lại nghĩ rằng có thể thật hành như vậy thời là tu hành
Bát nhã ba la mật, đây cũng là hành tướng. Nên biết đại
Bồ Tát nầy không có phương tiện mà thật hành Bát nhã ba
la mật.
Ngài
Tu Bồ Ðề lại nói với Ngài Xá Lợi Phất: "Lúc thật hành
Bát nhã ba la mật, nếu đại Bồ Tát phân biệt duyên nơi
sắc, vì vấn đề sắc mà khởi hạnh. Nếu vì vấn đề sắc
mà khởi hạnh, thời chẳng thể thoát ly sanh, lão, bệnh, tử,
ưu bi, khổ não và khổ quả đời sau. Như sắc với thọ,
tưởng, hành, thức cũng vậy.
Như
ngũ ấm với lục căn, lục trần, thập bát giới với tứ
niệm xứ, nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng vậy.
Nếu đại Bồ Tát phân biệt duyên nơi pháp bất cộng, vì
vấn đề pháp bất cộng mà khởi hạnh thời chẳng thể thoát
ly sanh, lão, bịnh, tử, ưu bi, khổ não và quả khổ đời
sau
Bồ
Tát như đây còn chẳng thể chứng bực Thanh Văn, Bích Chi
Phật huống là có thể được Vô thượng Bồ đề.
Nên
biết Bồ Tát như vậy là không phương tiện mà thật hành
Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào biết rằng đại Bồ Tát thật
hành Bát nhã ba la mật mà có phương tiện?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại
Bồ Tát chẳng duyên nơi sắc, chẳng duyên nơi thọ, tưởng,
hành, thức, chẳng duyên nơi tướng của sắc, chẳng duyên
nơi tướng của thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng duyên
nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường, là vô thường,
là lạc, là khổ, là ngã, là vô ngã, là không, là vô tướng,
là vô tác, là ly, là tịnh diệt. Với tất cả, đại Bồ
Tát đều chẳng duyên.
Tại
sao vậy?
Nầy
Xá Lợi Phất! Sắc không đây thời chẳng phải sắc, rời
ngoài không cũng chẳng có sắc, rời ngoài sắc cũng chẳng
có không, sắc tức là không, không tức là sắc. thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy.
Nhẫn
đến mười tám pháp bất cộng, pháp bất cộng không thời
là chẳng phải pháp bất cộng, rời không chẳng có pháp bất
cộng, rời pháp bất cộng cũng chẳng có không, pháp bất
cộng tức là không, không tức là pháp bất cộng.
Nên
biết đây là đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật có
phương tiện vậy.
Thật
hành Bát nhã ba la mật mà có phương tiện như vậy, đại
Bồ Tát nầy có thể được Vô thượng Bồ đề.
Lúc
thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nầy chẳng nhận
lấy thật hành, chẳng nhận lấy chẳng thật hành, chẳng
nhận lấy thật hành chẳng thật hành, cũng chẳng nhận lấy
chẳng phải thật hành chẳng phải chẳng thật hành. Chẳng
nhận lấy, cũng chẳng nhận lấy”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Duyên cớ gì mà đại Bồ Tát chẳng nhận
lấy?”
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Vì tự tánh bất khả đắc nên chẳng nhận
lấy.
Tại
sao vậy? Vì không có tánh, chính đó là Bát nhã ba la mật.
Thế nên đại Bồ Tát với tất cả đều chẳng nhận lấy.
Với chẳng nhận lấy, cũng chẳng nhận lấy.
Tại
sao vậy? Vì pháp tánh là vô sở hữu nên chẳng duyên nơi
pháp, cũng chẳng nhận lấy các pháp tướng.
Ðây
gọi là tác dụng quảng đại của chư pháp vô sở thọ tam
muội của đại Bồ Tát. Tam muội chẳng cùng chung với hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Ðại
Bồ Tát thường thật hành tam muội nầy mà chẳng rời thời
mau được Vô thượng Bồ đề”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Chỉ chẳng rời tam muội nầy mà đại
Bồ Tát mau được Vô thượng Bồ đề, hay là còn những tam
muội khác?”
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Những tam muội sau đây cũng làm cho đại
Bồ Tát mau được Vô thượng Bồ đề. Như là thủ lăng nghiêm
tam muội, bửu ấn tam muội, sư tử du hí tam muội, diệu nguyệt
tam muội, nguyệt tràng tướng tam muội, xuất chư pháp ấn
tam muội, quán đảnh tam muội, tất pháp tánh tam muội, tất
tràng tướng tam muội, kim cang tam muội, nhập pháp ấn tam
muội, tam muội vương an lập tam muội, vương ấn tam muội,
phóng quang tam muội, lực tấn tam muội, xuất sanh tam muội,
tất nhập biện tài tam muội, nhập danh tự tam muội, quán
phương tam muội, đà la ni ấn tam muội, bất vong tam muội,
nhiếp chư pháp hải ấn tam muội, biến phú hư không tam muội,
kim cang luân tam muội, bửu đoạn tam muội, năng chiếu diệu
tam muội, bất cầu tam muội, tam muội vô xứ trụ tam muội,
vô tâm tam muội, tịnh đăng tam muội, vô biên minh tam muội,
năng tác minh tam muội, phổ chiếu minh tam muội, kiên tịnh
chư tam muội tam muội, vô cấu minh tam muội, tác nhạc tam
muội, điển quang tam muội, vô tịnh tam muội, oai đức tam
muội, ly tận tam muội, bất động tam muội, trang nghiêm tam
muội, nhựt quang tam muội, nguyệt tịnh tam muội, tịnh minh
tam muội, tác hành tam muội, tri tướng tam muội, như kim cang
tam muội, tâm trụ tam muội, biến chiếu tam muội, an lập
tam muội, bửu đảng tam muội, diệu pháp ấn tam muội, pháp
đẳng tam muội, lập sanh hỉ tam muội, đáo pháp đảnh tam
muội, năng tán tam muội, hoại chư pháp xứ tam muội, tự
đẳng tướng tam muội, ly tự tam muội, đoạn duyên tam muội,
bất hoại tam muội, vô chủng tướng tam muội, vô xứ hành
tam muội, ly ám tam muội, vô khứ tam muội, độ duyên tam muội,
tập chư đức tam muội, trụ vô tâm tam muội, tịnh diệu
hoa tam muội, giác ý tam muội, vô lượng biện tam muội, vô
đẳng đẳng tam muội, độ chư pháp tam muội, phân biệt chư
pháp tam muội, tán nghi tam muội, vô trụ xứ tam muội, nhứt
tướng tâm muội, bất nhứt hạnh tam muội, diệu hạnh tam
muội, đạt nhứt thiết hữu để tán tam muội, nhập ngôn
ngữ tam muội, ly âm thanh tự ngữ tam muội, nhiên cự tam muội,
tịnh tướng tam muội, phá tướng tam muội, nhứt thiết chủng
như túc tam muội, bất hỷ khổ lạc tam muội, bất tận hành
tam muội, đà la ni tam muội, thủ chư tà chánh tướng tam muội,
diệt tắng ái tam muội, nghịch thuận tam muội, tịnh quang
tam muội, kiên cố tam muội, mãn nguyệt tịnh quang tam muội,
đại trang nghiêm tam muội, năng chiếu nhứt thiết thế tam
muội, đẳng tam muội, vô tránh hạnh tam muội, vô trụ xứ
lạc tam muội, như trụ định tam muội, hoại thân tam muội,
hoại ngữ như hư không tam muội, ly trước như hư không bất
nhiễn tam muội.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát thật hành các môn tam muội trên
đây cùng vô lượng vô số môn tam muội môn đà la ni đều
có thể mau được Vô thượng Bồ đề”.
Thuận
theo ý của đức Phật, Ngài Tu Bồ Ðề nói: "Nên biết rằng
chư đại Bồ Tát thật hành các môn tam muội nầy, thời đã
được chư Phật quá khứ thọ ký. Chư Phật hiện tại ở
mười phương cũng thọ ký cho đại Bồ Tát nầy.
Chư
đại Bồ Tát nầy chẳng thấy, chẳng nghĩ những tam muội
ấy, cũng chẳng nghĩ rằng tôi sẽ nhập, đương nhập, hay
đã nhập những tam muội ấy. Chư đại Bồ Tát nầy hoàn
toàn không có quan niệm phân biệt”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Ðại Bồ Tát an trụ nơi những tam muội
nầy, có phải đã được thọ ký từ chư Phật quá khứ chăng?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Không phải. Tại sao vậy? Nầy Xá Lợi Phất!
Bát nhã ba la mật chẳng khác những tam muội, . Những tam muội
chẳng khác Bát nhã ba la mật. Bồ Tát chẳng khác Bát nhã
ba la mật và tam muội. Bát nhã ba la mật và tam muội chẳng
khác Bồ Tát. Bát nhã ba la mật tức là tam muội. Tam muội
tức là Bát nhã ba la mật. Bồ Tát tức là Bát nhã ba la mật
và tam muội. Bát nhã ba la mật và tam muội tức là Bồ Tát”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Nếu tam muội chẳng khác Bồ Tát, Bồ
Tát chẳng khác tam muội, tam muội tức là Bồ Tát, Bồ Tát
tức là tam muội, thời Bồ Tát thế nào biết tất cả pháp
là tam muội?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Lúc Bồ Tát nhập tam muội nầy chẳng nghĩ
rằng tôi dùng pháp nầy để nhập tam muội nầy. Do duyên
cớ đây nên đối với các tam muội, Bồ Tát chẳng biết,
chẳng nhớ”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Tại sao chẳng biết, chẳng nhớ ?"
Ngài
Tu Bồ Ðề nói: "Vì các tam muội vô sở hữu nên Bồ Tát
chẳng biết, chẳng nhớ”.
Ðức
Phật khen: "Lành thay, lành thay! Nầy Tu Bồ Ðề! Ðúng như
lời của Phật từng nói, ông là người thật hành vô tránh
tam muội đệ nhứt được tương ứng với nghĩa nầy.
Ðại
Bồ Tát phải y theo nghĩa nầy mà học sáu ba la mật, tứ niệm
xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát học
như vậy có phải là học Bát nhã ba la mật chăng?"
Ðức
Phật nói: "Ðại Bồ Tát học như vậy chính là học Bát nhã
ba la mật bì pháp ấy là bất khả đắc. Cũng chính là học
năm ba la mật kia cùng tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám
pháp bất cộng, vì pháp ấy là bất khả đắc vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát học
Bát nhã ba la mật như vậy, có phải pháp ấy là bất khả
đắc chăng?"
Ðức
Phật nói: "Ðại Bồ Tát học Bát nhã ba la mật như vậy,
pháp ấy là bất khả đắc”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những pháp gì là
bất khả đắc?"
Ðức
Phật nói: "Ngã là bất khả đắc, nhẫn đến tri giả, kiến
giả là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Ngũ ấm,
thập nhị xứ, thập bát giới là bất khả đắc, vì rốt
ráo thanh tịnh vậy. Tứ đế, thập nhị nhơn duyên là bất
khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Dục giới, Sắc giới,
Vô sắc giới là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy.
Tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng là vô
sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Sáu ba la mật là vô
sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà
Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật là vô
sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì là rốt
ráo thanh tịnh?"
Ðức
Phật nói: "Chẳng xuất, chẳng sanh, không được, không làm,
đây gọi là rốt ráo thanh tịnh”.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát học như vậy, đó là học
những pháp gì ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát học như vậy, với các pháp là
vô sở học. Tại sao vậy? Nầy Xá Lợi Phất! Các pháp tướng
chẳng phải như chỗ chấp trước của kẻ phàm phu.
Bạch
đức Thế Tôn! Các pháp thiệt tướng thế nào có ?
Nầy
Xá Lợi Phất! Các pháp vô sở hữu. Hữu như vậy, vô sở
hữu như vậy, nơi sự nầy mà chẳng biết thời gọi là vô
minh.
Bạch
đức Thế Tôn! Những gì là vô sở hữu, nơi sự nầy chẳng
biết nên gọi là vô minh?
Nầy
Xá Lợi Phất! Ngũ ấm đến thập bát giới là vô sở hữu,
tứ niệm xứ đến pháp bất cộng là vô sở hữu. Tại sao
vậy? Vì là nội không, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không
vậy.
Ở
trong đây, vì sức vô minh làm cho khát ái nên kẻ phàm phu
vọng thấy phân biệt. Ðây gọi là vô minh. kẻ phàm phu nầy
bị nhị biên trói buộc nên chẳng biết, chẳng thấy các
pháp vô sở hữu. Do đây mà nhớ tưởng phân biệt chấp trước
nơi sắc, nhẫn đến pháp bất cộng.
Nơi
pháp vô sở hữu, vì chấp trước nên người nầy sanh ra sự
phân biệt biết và thấy. Ðây là kẻ phàm phu chẳng biết,
chẳng thấy. Chẳng thấy, chẳng biết những gì ? Chẳng thấy,
chẳng biết sắc, nhẫn đến chẳng thấy, chẳng biết pháp
bất cộng. Do cớ nầy mà sa vào hàng phàm phu như trẻ nít.
Người
nầy chẳng ra khỏi. Chẳng ra khỏi chỗ nào? Chẳng ra khỏi
Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, chẳng ra khỏi trong pháp
của Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Người
nầy cũng chẳng tin. Chẳng tin những gì ? Chẳng tin sắc không,
nhẫn đến chẳng tin pháp bất cộng không.
Người
nầy cũng chẳng an trụ. Chẳng an trụ nơi đâu? Chẳng an trụ
nơi lục ba la mật, chẳng an trụ bực bất thối chuyển, nhẫn
đến chẳng an trụ pháp bất cộng.
Do
duyên cớ nầy mà gọi là phàm phu như trẻ nít. Cũng gọi
là kẻ chấp trước. Chấp trước những gì ? Chấp trước
sắc, nhẫn đến ý thức giới, chấp trước tham, nhẫn đến
tà kiến, chấp trước tứ niệm xứ, nhẫn đến Phật đạo.
Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát học như vậy, có phải cũng
là chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được nhứt thiết
chủng trí chăng?
Nầy
Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát học như vậy cũng là chẳng học
Bát nhã ba la mật, chẳng được nhứt thiết chủng trí.
Tại
sao vậy? Vì đại Bồ Tát nầy không phương tiện nên nghĩ
tưởng phân biệt chấp trước Bát Nhã, Thiền na, Tỳ lê gia,
Sằn đề, Thi la và Ðàn na ba la mật, nhẫn đến nghĩ tưởng,
phân biệt, chấp trước pháp bất cộng và nhứt thiết chủng
trí. Vì duyên cớ nầy nên đại Bồ Tát học như vậy cũng
là chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được nhứt thiết
chủng trí.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu như vậy thời đại Bồ Tát phải học
Bát nhã ba la mật như thế mới là học Bát nhã ba la mật
được nhứt thiết chủng trí?
Nầy
Xá Lợi Phất! Lúc học Bát nhã ba la mật, nếu đại Bồ Tát
chẳng thấy Bát nhã ba la mật thời là học Bát nhã ba la mật
được nhứt thiết chủng trí, vì bất khả đắc vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Tại sao gọi là bất khả đắc?
Nầy
Xá Lợi Phất! Vì tất cả pháp nội không nhẫn đến vô pháp
hữu pháp không vậy”.