QUYỂN
THỨ TÁM
PHẨM
VÔ SANH
THỨ
HAI MƯƠI SÁU
Bấy
giờ Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Đại Bồ
Tát thật hành Bát nhã ba la mật quán các pháp.
Những
gì là Bồ Tát? Những gì là Bát nhã ba la mật? Những gì là
quán?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Vì vô thượng Chánh đẳng Cánh giác phát
đại tâm, người nầy gọi là Bồ Tát. Người nầy cũng biết
tất cả pháp, tất cả tướng mà cũng chấp trước, biết
tướng của sắc nhẫn đến biết tướng của bất cộng pháp
cũng chẳng chấp trước”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Những gì là tất cả pháp tướng?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nếu dùng danh tự, nhơn duyên hòa hiệp
v.v…để biết các pháp, đây là sắc, đây là thanh, hương,
vị, xúc, pháp, là pháp hữu vi, là pháp vô vi. Dùng tướng
danh tự ngữ ngôn để biết các pháp thời gọi là biết các
pháp tướng.
Như
lời Xá Lợi Phất hỏi, những gì là Bát nhã ba la mật? Vì
viễn ly nên gọi là Bát nhã ba la mật.
Những
pháp gì viễn ly? Viễn lý ấm giới nhập. Viễn ly ba la mật.
Viễn ly không, Do đây nên viễn ly gọi là Bát nhã ba la mật.
Lại
viễn ly tứ niệm xứ đến viễn ly mười tám pháp bất cộng,
viễn ly nhứt thiết trí. Do đây nên viễn ly gọi là Bát nhã
ba la mật.
Những
gì là quán? Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát
quán sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng
phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải
vô ngã, chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải
tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải ác, chẳng phải
vô tác, chẳng phải tịch diệt, chẳng phải chẳng tịch diệt,
chẳng phải ly, chẳng phải chẳng ly, thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy. Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, nội
không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bất
cộng pháp, tất cả môn tam muội đến nhứt thiết chủng
trí cũng như vậy. Đây gọi là đại Bồ Tát lúc thật hành
Bát nhã ba la mật quán các pháp”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Do nhơn duyên gì mà sắc chẳng sanh là
chẳng phải sắc; nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng
sanh là chẳng phải nhứt thiết chủng trí?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Sắc sắc tướng rỗng không. Trong sắc
không ấy không có sắc cũng không có sanh, nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí cũng như vậy. Do đây nên sắc chẳng sanh
là chẳng phải sắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng
sanh là chẳng phải nhứt thiết chủng trí”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Do nhơn duyên gì mà nói rằng sắc chẳng
hai là chẳng phải sắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí
chẳng hai là chẳng phải nhứt thiết chủng trí?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Có sắc là có chẳng hai, nhẫn đến có
nhứt thiết chủng trí là có chẳng hai. Tất cả những pháp
nầy đều chẳng hiệp, chẳng tan,, không sắc, không hình,
không đối một tướng. Do đây nên sắc chẳng hai là chẳng
phải sắc, nhẫn đên nhứt thiết chủng trí chẳng hai là
chẳng phải nhứt thiết chủng trí”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “ Do nhơn duyên gì mà nói rắng sắc nầy
vào trong pháp số vô nhị, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí
vào trong pháp số vô nhị ?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác
sắc, sắc tức là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Do đây nên
sắc vào trong pháp số vô nhị. Nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí cũng như vậy”.
Bấy
giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu đại Bồ
Tát thật hành Bát nhã ba la mật quán các pháp như vậy thời
thấy sắc vô sanh, vì rốt ráo tịnh vậy. Thấy thọ, tưởng,
hành, thức vô sanh vì rốt ráo tịnh vậy. Nhẫn đến thấy
Phật và Phật pháp vô sanh vì rốt ráo tịnh vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Cứ theo nghĩa của Tu Bồ Đề nói
mà tôi được nghe thời sắc là chẳng sanh, thọ, tưởng,
hành, thức là chẳng sanh, nhẫn đến Phật và Phật pháp cũng
chẳng sanh.
Nếu
như vậy thời lẽ ra nay chẳng nên được Tu Đà Hoàn Tu Đà
Hoàn quả, Tư Đà Hàm Tư Đà Hàm quả, A Na Hàm A Na Hàm quả,
A La Hán A La Hán quả, Bích Chi Phật Bích Chi Phật đạo, chẳng
nên được đại Bồ Tát nhứt thiết chủng trí, cũng không
có lục đạo chúng sanh sai khác, cũng chẳng nên được đại
Bồ Tát năm thứ bồ đề.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu tất cả pháp là tướng chẳng sanh, cớ chi
Tu Đà Hoàn tu đạo đế để dứt bă kiết sử? Tư Đà Hàm
tu đạo đế để làm mỏng tham, sân, si? A Na Hàm tu đạo đế
để dứt năm hạ phần kiết sử? A La Hán tu đạo đế để
dứt năm thượng phần kiết sử? Bích Chi Phật vì pháp Bích
Chi Phật mà tu đạo đế ? Cớ chi đại Bồ Tát vì thọ khổ
thay chúng sanh mà làm những việc khó làm? Cớ chi Phật chuyển
pháp luân?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn cho pháp vô sanh có sở
đắc. Tôi cũng chẳng muốn cho trong pháp vô sanh có được
Tu Đà Hoàn và Tu Đà Hoàn quả, nhẫn đến có được Bích
Chi Phật và Bích Chi Phật đạo. Tôi cũng chẳng muốn trong
pháp vô sanh có Bồ Tát làm việc khó làm để thay khổ chio
chúng sanh, Bồ Tát cũng chẳng dùng tâm khó làm để hành đạo.
Tại
sao vậy? Vì nếu sanh tâm khó, tâm khổ thời chẳng thể lợi
ích cho vô lượng vô số chúng sanh.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nay đây Bồ Tát thương xót chúng sanh. Với
chúng sanh, Bồ Tát tưởng như cha mẹ, anh em, con cháu, cũng
tưởng như thân mình. Thế nên Bồ Tát có thể lợi ích cho
vô lượng vô số chúng sanh, vì pháp dụng vô sở đắc vậy.
Bồ
Tát nên sanh tâm như thế nầy: Như ngã bất khả đắc, nơi
tất cả thứ, tất cả chỗ, nội pháp, ngoại pháp cũng vậy,
đều bất khả đắc. Nếu sanh tâm như trên đây thời Bồ
Tát không có tâm khó, tâm khổ. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát nầy
nơi tất cả thứ, tất cả chỗ, tất cả pháp đều chẳng
lãnh thọ.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tôi cũng chẳng muốn cho trong vô sanh có Phật
chứng Vô thượng Bồ đề, trong vô sanh có chuyển pháp luân,
tôi cũng chẳng muốn dùng pháp vô sanh để đắc đạo”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Nay Tu Bồ Đề muốn khiến dùng pháp
sanh đắc đạo hay là dùng pháp vô sanh đắc đạo?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn khiến dùng pháp sanh đắc
đạo”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Vậy thời Tu Bồ Đề muốn khiến dùng
pháp vô sanh đắc đạo?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Tôi cũng chẳng muốn khiến dùng pháp vô
sanh đắc đạo”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Như lời Tu Bồ Đề nói thời là vô
tri, vô đắc”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Có tri, có đắc không phai hai pháp. Nay theo
danh tự thế gian nên có tri, có đắc. Theo danh tự thế gian
nên có Tu Đà Hoàn đến có chư Phật.
Trong
đệ nhứt nghĩa đế thời vô tri, vô đắc, cũng không Tu Đà
Hoàn đến không chư Phật”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Nếu theo danh tự thế gian nên có tri,
có đắc, thời sáu loài sai khác cũng do danh tự thế gian mà
có, chẳng phải là đệ nhứt nghĩa đế”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Đúng như vậy. Theo danh tự thế gian nên
có tri, có đắc. Sáu loài sai khác cũng do danh tự thế gian
mà có, chẳng phải là đệ nhứt nghĩa đế.
Tại
sao vậy? Vì trong đệ nhứt nghĩa đế không có nghiệp, không
có báo, không có sanh, không có diệt, không có tịnh, không
có cấu”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Pháp chẳng sanh sanh chăng? Pháp sanh sanh
chăng?”
Ngià
Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn khiến pháp chẳng sanh sanh,
cũng chẳng muốn khiến pháp sanh sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Pháp chẳng sanh nào không muốn khiến
sanh?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Sắc là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng
không chẳng muốn khiến sanh. Nhẫn đến Vô thượng Bồ đề
là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng muốn khiến
sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Sanh sanh hay chẳng sanh?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Chẳng phải sanh, cũng chẳng phải chẳng
sanh sanh.
Tại
sao vậy? Vì sanh và chẳng sanh là hai pháp chẳng hiệp, chẳng
tan, không sắc không hình, không đối, một tướng tức là
không có tướng. Do đây nên chẳng phải sanh sanh cũng chẳng
phải chẳng sanh sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: ”Tu Bồ Đề khéo thích nói pháp vô sanh
và tướng vô sanh”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Tôi thích nói pháp vô sanh và tướng vô
sanh.
Tại
sao vậy? Vì những pháp vô sanh, tướng vô sanh và những lời
thích nói đều chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình,
không đối, một tướng, tức là không có tướng”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Tu Bồ Đề thích nói pháp chẳng sanh,
cũng thích nói tướng chẳng sanh, những lời thích nói nầy
cũng chẳng sanh”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Đúng như vậy. Vì sắc chẳng sanh nhẫn
đến nhất thiết chủng trí chẳng sanh. Do đây nên tôi thích
nói pháp chẳng sanh, cũng thích nói tướng chẳng sanh, lời
thích nói nầy cũng chẳng sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Trong những người thuyết pháp, Tu Bồ
Đề đáng là người trên hết. Vì có hỏi điều chi, Tu Bồ
Đề đều đáp được cả”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Vì các pháp không có sở y vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là các pháp không có sở y?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Sắc tánh thường không, chẳng y tựa trong,
chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Nhẫn đến nhất
thiết chủng trí tánh thường không, chẳng y tựa trong, chẳng
y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Do đây nên tất cả pháp
không chỗ y tựa, vì tánh thường không vậy.
Ngài
Xá Lợi Phất! Thế nên đại Bồ Tát lúc thật hành sáu môn
ba la mật phải tịnh sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn
đến phải tịnh nhất thiết chủng trí”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là đại Bồ Tát lúc thật
hành sáu môn ba la mật tịnh Bồ Tát đạo?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Có thế gian Đàn na ba la mật. Có xuất
thế gian Đàn na ba la mật. Năm ba la mật kia cũng đều có
thế gian và có xuất thế gian”.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là thế gian Đàn na ba la mật?
Thế nào là xuất thế gian Đàn na ba la mật?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nếu đại Bồ Tát làm thí chủ có thể
bố thí cho Sa Môn, Bà La Môn và người nghèo cùng đi xin: cần
ăn cho ăn, cần uống cho uống, cần mặc cho mặc, cần chỗ
ở cho chỗ ở, cần tiền bạc, châu báu, hoa hương, cần cầu
thuốc mem cho thuốc mem, tất cả thứ cần dùng đều cấp
cho.
Lúc
bố thí, Bồ Tát nghĩ rằng tôi cho họ nhận, tôi chẳng bỏn
xẻn tham lam, tôi là thí chủ, tôi có thể thí xả tất cả,
tôi y theo lời Phật dạy mà thật hành Đàn na ba la mật.
Bố
thí xong, Bồ Tát lúc dùng pháp đã được, cùng chung với
tất cả chúng sanh hồi hướng Vô thượng Bồ đề mà nghĩ
rằng nhân duyên bố thí nầy khiến chúng sanh được sự an
lạc đời nay, về sau khiến họ được sự an lạc nhập Niết
Bàn.
Nầy
Xá Lợi Phất! Bồ Tát nầy bố thí có ba điều chướng ngại:
Một là ngã tướng, hai là tha tướng, ba là thí tướng. Vì
bố thí mà có ba tướng nầy nên gọi là thế gian Đàn na
ba la mật.
Tại
sao gọi là thế gian? Vì ở trong thế gian chẳng động dời,
chẳng siêu xuất vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là xuất thế gian Đàn na ba la
mật? Chính là ba phần thanh tịnh vậy.
Những
gì là ba? Lúc bố thí, đại Bồ Tát chẳng thấy có mình,
chẳng thấy có người nhận, chẳng có thấy vật bố thí,
cũng chẳng trong mong báo đáp. Đây gọi là đại Bồ Tát ba
phần thanh tịnh Đàn na ba la mật.
Lại
lúc bố thí, đại Bồ Tát bố thí cho tất cả chúng sanh mà
không thấy có chúng sanh, đem sự bố thí nầy hồi hướng
Vô thượng Bồ đề nhẫn đến không thấy có pháp tướng
vi tế.
Đây
gọi là xuất thế gian Đàn na ba la mật.
Tại
sao gọi là xuất thế gian? Vì ở trong thế gian có thể động
dời, có thể siêu xuất vậy.
Năm
môn ba la mật kia nếu có sở y thời gọi là thế gian, nếu
không sở y thời gọi là xuất thế gian, ngoài ra như đã giải
nói về Đàn na ba la mật.
Lúc
thật hành sáu môn ba la mật, đại Bồ Tát tịnh Bồ Tát đạo
như vậy”
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là đại Bồ Tát vì đạo Vô
thượng Bồ đề?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Tứ niệm xứ là đại Bồ Tát vì đạo
Vô thượng Bồ đề, nhẫn đến Bát thánh đạo phần, giải
thoát môn, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tất cả
tam muội môn và đà la ni môn, thập lực, tứ vô sở úy, tứ
vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi,
đây gọi là đại Bồ Tát vì đạo Vô thượng Bồ đề”.
Ngài
Xá Lợi Phất khen: “Lành thay lành thay!
Nầy
Tu Bồ Đề! “Gì là ba la mật lực?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Là Bát nhã ba la mật lực. Vì Bát nhã ba
la mật hay sanh tất cả pháp lành của Thanh Văn, Bích Chi Phật,
Bồ Tát và Phật.
Bát
nhã ba la mật hay nạp thọ tất cả pháp lành, hoặc pháp Thanh
Văn, pháp Bích Chi Phật, hoặc pháp Bồ Tát và Phật pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Quá khứ chư Phật thật hành Bát nhã ba la mật
được Vô thượng Bồ đề. Vị lai chư Phật cũng thật hành
Bát nhã ba la mật sẽ được Vô thượng Bồ đề. Hiện tại
nay, chư Phật trong các quốc độ mười phương cũng thật
hành Bát nhã ba la mật được Vô thượng Bồ đề.
Nếu
lúc nghe nói Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nghi ngờ,
chẳng cho là khó, thời nên biết đại Bồ Tát nầy thật
hành Bồ Tát đạo.
Người
thật hành Bồ Tát đạo vì cứu tất cả chúng sanh nên tâm
chẳng rời bỏ tất cả chúng sanh, bởi vô tâm đắc vậy.
Bồ
Tát phải thường chẳng rời niệm nầy: Chính là đại bi
niệm”.
Ngài
Xá Lợi Phất lại hỏi: “Muốn khiến đại Bồ Tát thường
chẳng rời niệm nầy: chính là đại bi niệm. Nếu đại Bồ
Tát thường chẳng rời đại bi niệm, thời nay đây tất cả
chúng sanh sẽ làm Bồ Tát. Vì tất cả chúng sanh cũng chẳng
rời các niệm vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Lành thay, lành thay! Xá Lợi Phất muốn
chất vấn tôi mà trở thành nghĩa của tôi.
Tại
sao vậy? Vì chúng sanh không có nên niệm không. Vì chúng sanh
tánh không có nên niệm tánh cũng không. Vì chúng sanh pháp
không có nên niệm pháp cũng không. Vì chúng sanh ly nên niệm
cũng ly. Vì chúng sanh rỗng không nên niệm cũng rỗng không.
Vì chúng sanh bất khả tri nên niệm cũng bất khả tri.
Nầy
Xá Lợi Phất! Vì sắc không có nên niệm cũng không. Vì sắc
tánh không có nên niệm tánh cũng không. Vì sắc pháp không
có nên niệm pháp cũng không. Vì sắc ly nên niệm cũng ly.
Vì sắc rỗng không nên niệm cũng rỗng không. Vì sắc bất
khả tri nên niệm cũng bất khả tri. Nhẫn đến Vô thượng
Bồ đề cũng như vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bồ Tát đạo, tôi
muốn khiến chẳng rời niệm nầy: chính là đại bi niệm”.
Bấy
giờ đức Phật khen: “Lành thay, lành thay! Đây chính là Bát
nhã ba la mật của đại Bồ Tát. Ai muốn nói thời phải nói
như vậy.
Tu
Bồ Đề nói về Bát nhã ba la mật đều là tuân thừa ý của
Phật. Đại Bồ Tát học Bát nhã ba la mật phải học như
lời của Tu Bồ Đề nói”.
Lúc
Ngài Tu Bồ Đề nói phẩm Bát nhã ba la mật, cõi Đại Thiên
chấn động sáu cách.
Bấy
giờ đức Phật mỉm cười.
Ngài
Tu Bồ Đề bạch hỏi duyên do.
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Như ta nói Bát nhã ba la mật
tại quốc độ nầy, mười phương trong vô lượng vô số
quốc độ, chư Phật cũng nói Bát nhã ba la mật như vậy”.
Lúc
đức Phật nói phẩm Bát nhã ba la mật, có mười hai na do
tha Nhơn, Thiên được vô sanh pháp nhẫn.
Lúc
mười phương chư Phật nói Bát nhã ba la mật cũng có vô lượng
vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
PHẨM
THIÊN VƯƠNG
THỨ
HAI MƯƠI BẢY
Bấy
giờ trong Đại Thiên thế giới, chư vị Tứ Thiên Thiên Vương
cùng vô số trăm ngàn ức chư Thiên đồng đến pháp hội.
Chư
vị Đao Lợi Thiên Vương cùng vô số trăm ngàn ức chư Thiên,
chư vị Dạ Ma Thiên Vương, chư vị Đâu Suất Thiên Vương
cùng vô số trăm ngà ức chư Thiên, chư vị Hóa Lạc Thiên
Vương cùng vô số trăm ngàn ức chư Thiên, chư vị Tự Tại
Thiên Vương cùng vô số trăm ngàn ức chư Thiên, chư vị Phạm
Thiên Vương cùng vô số trăm ngàn ức chư Thiên đồng đến
pháp hội.
Thân
quang minh do nghiệp báo sanh của chư vị Tứ Thiên Vương nhẫn
đến chư vị Đại Tự Tại Thiên so với thường quang của
đức Phật không bằng một phần muôn ức, ở bên Phật khác
nào cột cháy nám sánh với đống vàng diêm phù đàn.
Thích
Đề Hoàn Nhơn, vị Thiên Vương cõi trời Đau Lợi bạch Ngài
Tu Bồ Đề: “Chư vị Thiên Vương đây cùng hòa hiệp đều
muốn nghe Đại Đức Tu Bồ Đề nói Bát nhã ba la mật.
Bạch
Ngài Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát nên an trụ trong Bát nhã ba
la mật thế nào? Những gì là Bát nhã ba la mật của đại
Bồ Tát? Thế nào đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Tôi sẽ thừa thuận ý
của đức Phật mà nói Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát,
như chỗ chư đại Bồ Tát phải an trụ trong Bát nhã ba la
mật.
Nay
chư Thiên Tử nào chưa phát tâm Vô thượng Bồ đề thời
nên phát tâm. Người nào nhập chánh vị Thanh Văn thời chẳng
thể phát tâm Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì chướng
cách với sanh tử vậy.
Người
nầy nếu phát bồ đề tâm, tôi cũng tùy hỉ. Vì bực thượng
nhan phải nên lại cầu thượng pháp. Tôi trọn không dứt
tuyệt công đức của họ.
Nầy
Kiều Thi Ca! Gì là Bát nhã ba la mật?
Đại
Bồ Tát đúng với tâm nhất thiết trí để tư niệm sắc
là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã. Tư niệm sắc
như bịnh, như mụn nhọt vỡ bể, như mũi tên ghim vào thân,
làm cho đau đớn, suy hoại, lo sợ chẳng an, vì vô sở đắc
vậy.
Tư
niệm thọ, tưởng, hành, thức đến địa, thủy, hỏa, phong
không thức, sáu đại chủng cũng như vậy, vì đều vô sở
đắc cả.
Bồ
Tát lại quán sắc đến thức chủng là tịch diệt, là ly,
là bất sanh, là bất diệt, là bất cấu, là bất tịnh, vì
vô sở đắc vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát đúng với tâm thứ nhứt thiết
trí quán vô minh duyên ra các hành nhẫn đến lão tử nhơn
duyên tụ tập những sự khổ lớn, vì cũng vô sở đắc vậy.
Đại
Bồ Tát quán vì vô minh diệt nên các hành diệt, nhẫn đến
vì sanh diệt nên lão tử diệt. Vì lão tử diệt nên nhóm
khổ lớn ưu bi khổ não cũng diệt, vì vô sở đắc vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát đúng với tâm nhứt thiết
chủng trí tu tứ niệm xứ, vì vô sở đắc vậy. Nhẫn đến
mười tám pháp bất cộng, vì vô sở đắc vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát đúng với tâm nhứt thiết
trí thật hành Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật, vì
vô sở đắc vậy.
Lại
Kiều Thi Ca! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát
quán như vầy: Chỉ có các pháp và các pháp làm nhơn duyên
cho nhau mà có thuận ích, tăng trưởng, phân biệt, so tính,
trong đây không có ngã và ngã sở.
Tâm
hồi hướng của Bồ Tát chẳng ở trong tâm Vô thượng Bồ
đề, tâm bồ đề chẳng ở trong tâm hồi hướng.
Ở
trong tâm Vô thượng Bồ đề, tâm hồi hướng bất khả đắc.
Ở
trong tâm hồi hướng, tâm Vô thượng Bồ đề bất khả đắc.
Đại
Bồ Tát dù quán tất cả pháp, nhưng cũng không có pháp khả
đắc.
Đây
gọi là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát”.
Thích
Đề Hoàn Nhơn hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Thế nào là tâm hồi
hướng của Bồ Tát chẳng ở trong tâm Vô thượng Bồ đề,
nhẫn đến ở trong tâm hồi hướng, tâm Vô thượng Bồ đề
bất khả đắc”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Tâm hồi hướng và tâm
Vô thượng Bồ đề chẳng phải tâm, là chẳng phải tâm tướng.
Trong
chẳng phải tâm tướng chẳng hồi hướng được, chẳng phải
tâm tướng nầy thường chẳng phải tâm tướng. Bất khả
tư nghì tướng thường bất khả tư nghì tướng. Đây gọi
là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát”.
Đức
Phật khen: “Lành thay, lành thay! Tu Bồ Đề vì chư đại Bồ
Tát mà nói Bát nhã ba la mật, an ổn tâm của đại Bồ Tát”.
Ngài
Tu Bồ Đề bạch Phật: “Thế Tôn! Con phải báo ân.
Thuở
quá khứ, chư Phật và các đệ tử vì hàng đại Bồ Tát
nói sáu ba la mật dạy bảo lợi ích vui mừng. Lúc ấy đức
Thế Tôn cũng ở nơi đó học được Vô thượng Bồ đề.
Hôm
nay cũng phải vì hàng Bồ Tát nói sáu ba la mật, dạy bảo
lợi ích vui mừng cho họ được Vô thượng Bồ đề”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói với Thích Đề Hoàn Nhơn: “Nầy Kiều Thi
Ca! Nay Ngài nên nghe chỗ nên an trụ cùng chỗ chẳng nên an
trụ trong Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát.
Nầy
Kiều Thi Ca! Sắc sắc rỗng không, đến thức thức rỗng không,
Bồ Tát Bồ Tát rỗng không.
Sắc
không và Bồ Tát không nầy chẳng hai, chẳng khác, đến thức
không và Bồ Tát không chẳng hai, chẳng khác.
Nầy
Kiều Thi Ca! Trong Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát nên
an trụ như vậy.
Lại
nhãn nhãn rỗng không, đến ý rỗng không, Bồ Tát Bồ Tát
rỗng không.
Nhãn
không nhẫn đến Bồ Tát không chẳng hai, chẳng khác.
Lục
trần, sắc đến pháp, lục đại, đại địa đến thức đại
thức đại rỗng không, Bồ Tát Bồ Tát rỗng không.
Thức
đại không và Bồ Tát không chẳng hai, chẳng khác.
Vô
minh vô minh rỗng không đến lão tử lão tử rỗng không. Vô
minh diệt vô minh diệt rỗng không đến lão tử diệt lão
tử diệt rỗng không, Bồ Tát Bồ Tát rỗng không.
Vô
minh không đến lão tử diệt không và Bồ Tát không chẳng
hai, chẳng khác.
Nầy
Kiều Thi Ca! Trong Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát phải
an trụ như vậy.
Lại
Đàn na ba la mật đến nhứt thiết chủng trí nhứt thiết
chủng trí rỗng không, Bồ Tát Bồ Tát rỗng không.
Nhứt
thiết chủng trí không và Bồ Tát không chẳng hai, chẳng khác.
Nầy
Kiều Thi Ca! Trong Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát phải
an trụ như vậy.
Thế
nào trong Bát nhã ba la mật chỗ chẳng nên an trụ?
Nầy
Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, vì có sở đắc vậy. Chẳng nên an trụ
trong nhãn đến ý. Chẳng nên an trụ trong sắc đến pháp.
Chẳng nên an trụ trong nhãn thức đến ý thức. Chẳng nên
an trụ trong nhãn xúc, nhơn duyên, sanh thọ, vì có sở đắc
vậy.
Chẳng
nên an trụ trong Đàn na ba la mật đến nhứt thiết trí, vì
có sở đắc vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát đối với sắc là thường,
sắc là vô thường, sắc là lạc, là khổ, sắc là tịnh,
sắc là bất tịnh, sắc là ngã, sắc là vô ngã, sắc là không,
sắc là bất không, sắc là tịch diệt, sắc là chẳng tịch
diệt, sắc là ly, sắc là chẳng ly, đều chẳng nên an trụ,
vì có sở đắc vậy. Như với sắc, với thọ, tưởng, hànht,
thức cũng vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát đối với vô vi tướng và
phước điền của quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến của Phật đều
chẳng nên an trụ, vì có sở đắc vậy.
Ở
trong sơ phát tâm: Tôi phải đầy đủ sáu môn ba la mật, sẽ
nhập Bồ Tát vị, sẽ ở bực bất thối chuyển, có đủ
năm thần thông, đại Bồ Tát đều chẳng nên an trụ, vì
có sở đắc vậy.
Có
đủ năm thần thông rồi tôi sẽ đến vô lượng vô số cõi
Phật để lễ kính cúng dường, nghe Phật thuyết pháp, nghe
xong nói lại cho người khác. Tất cả như vậy, đại Bồ
Tát đều chẳng nên an trụ, vì có sở đắc vậy.
Như
quốc độ nghiêm tịnh của chư Phật, tôi cũng sẽ nghiêm
tịnh quốc độ như vậy, sẽ thành tựu chúng sanh khiến họ
nhập Phật đạo, sẽ đến chỗ của vô lượng vô số chư
Phật để tán thán kính trọng cúng dường phát tâm Vô thượng
Bồ đề. Tất cả như vầy, đại Bồ Tát đều chẳng nên
an trụ, vì có sở đắc vậy.
Tôi
sẽ sanh ngũ nhãn, sẽ sanh tất cả tam muội, tất cả đà
la ni, sẽ được nhập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí,
mười tám pháp bất cộng, sẽ đầy đủ đại từ đại bi,
ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình. Tất cả như vậy,
đại Bồ Tát đều chẳng nên an trụ, vì có sở đắc vậy.
Đây
là bát nhơn, là tín hành nhơn, là pháp hành nhơn, Tu Đà Hoàn
tột bảy đời, Tu Đà Hoàn mạng chung sạch phiền não, Tu
Đà Hoàn trung gian nhập Niết Bàn, người nầy hướng Tư Đà
Hàm quả chứng, Tư Đà Hàm nhứt lai nhập Niết Bàn, người
nầy hướng A Na Hàm quả chứng, A Na Hàm nơi kia nhập Niết
Bàn, người nầy hướng A La Hán quả chứng, A La Hán đời
nay nhập vô dư Niết Bàn, người nầy là Bích Chi Phật, trụ
Bồ Tát địa, vượt hơn Thanh Văn, Bích Chi Phật, được đạo
chủng trí, nhứt thiết chủng trí, đắc Vô thượng Bồ đề,
sẽ chuyển pháp luân, làm Phật sự độ vô lượng chúng sanh
nhập Niết Bàn. Tất cả như vậy, đại Bồ Tát đều chẳng
nên an trụ, vì có sở đắc vậy.
Được
tứ như ý túc, trụ trong tam muội nầy sẽ trụ thọ số kiếp
như số cát sông Hằng, sẽ được ba mươi hai tướng, mỗi
mỗi tướng có trăm phước trang nghiêm, thế giới của ta
như hằng sa thế giới mười phương, Đại Thiên thế giới
của ta thuần kim cang, cây bồ đề của ta sẽ phát ra mùi
thơm làm cho chúng sanh dứt sạch thân bịnh và tâm bịnh, chúng
sanh nghe mùi thơm nầy sẽ sạch tham, sân, si, cũng không có
tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật, tất cả sẽ được Vô thượng
Bồ đề. Tất cả như vậy, đại Bồ Tát đều chẳng nên
an trụ, vì có sở đắc vậy.
Sẽ
khiến trong thế giới của tôi không có danh tự sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, không có danh tự Đàn na ba la mật đến
Bát nhã ba la mật, không có danh tự tứ niệm xứ đến bất
cộng pháp, cũng không có danh tự Tu Đà Hoàn đến Phật. Tất
cả như vậy, đại Bồ Tát đều chẳng nên an trụ, vì có
sở đắc vậy.
Tại
sao vậy? Vì chư Phật lúc đắc Vô thượng Bồ đề, tất
cả pháp đề vô sở đắc vậy.
Nầy
Kiều Thi Ca! Thế nên ở trong Bát nhã ba la mật, Bồ Tát chẳng
nên an trụ, vì có sở đắc vậy.
Ngài
Xá Lợi Phất nghĩ rằng nay đây Bồ Tát phải an trụ trong
Bát nhã ba la mật như thế nào?”
Biết
tâm niệm của Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Tu Bồ Đề nói: “Nầy
Xá Lợi Phất! Cứ theo ý Ngài thời chư Phật an trụ chỗ
nào?”
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Chư Phật không có chỗ an trụ.
Chư
Phật chẳng an trụ trong sắc, chẳng an trụ trong thọ, tưởng,
hành, thức, chẳng an trụ trong tánh hữu vi, trong tánh vô vi,
chẳng an trụ trong tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, chẳng
an trụ trong nhứt thiết chủng trí.
Trong
Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát phải an trụ như chư Phật
an trụ. Nơi tất cả pháp chẳng phải an trụ chẳng phải
chẳng an trụ.
Trong
Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát phải học như vậy, phải
an trụ nơi pháp chẳng trụ”.
Bấy
giờ trong pháp hội có chư Thiên Tử nghĩ rằng lời nói câu
chữ của hàng Dạ Xoa còn có thế rõ biết được, Đại Đức
Tu Bồ Đề luận nói, giải thích Bát nhã ba la mật, chúng
tôi trọn chẳng biết chi cả.
Ngài
Tu Bồ Đề biết tâm niệm của Chư Thiên Tử nên hỏi rằng:
“Các Ngài chẳng hiểu, chẳng biết ư?”
Chư
Thiên Tử nói: “Bạch Đại Đức! Chúng tôi chẳng hiểu,
chẳng biết”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Đúng ra thời các Ngài phải nên chẳng
biết, còn tôi thì không có luận nói, nhẫn đến tôi không
nói đến một chữ, cũng không có người nghe.
Tại
sao vậy? Vì những chữ chẳng phải Bát nhã ba la mật. Trong
Bát nhã ba la mật không có thích giả.
Vô
thượng Bồ đề của chư Phật không có chữ, không có lời.
Nầy
các Ngài! Như đức Phật biến hóa thành hóa nhơn. Hoá nhơn
nầy lại biến hóa bốn bộ chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Như-lai-tạng
Tiểu thừa, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di. Ở giữa bốn bộ chúng
nầy, hóa nhơn thuyết pháp.
Ý
các Ngài nghĩ thế nào, trong đó có thuyết giả, có thích
giả, có trí giả chăng?“
Chư
thiên Tử nói: “Bạch Đại Đức! Không có”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy các Ngài! Tất cả pháp đều như biến
hóa, trong đó không có thuyết giả, không có thích giả cũng
không có tri giả.
Nầy
các Ngài! Ví như có người chiêm bao thấy Phật thuyết pháp,
ý các Ngài nghĩ thế nào, trong đó có thuyết giả, thính giả
và tri giả chăng?”
Chư
Thiên Tử nói: “Bạch Đại Đức! Không có”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy các Ngài! Tất cả các pháp đều như
chiêm bao, không có người nói, không có người nghe, không
có người biết.
Nầy
các Ngài! Ví như có hai người ở một bên bờ khe sâu lên
tiếng ca ngợi Phật, Pháp và Tăng phát ra hai vang.
Ý
các Ngài nghĩ thế nào, hai vang ấy có hiểu lẫn nhau chăng?”
Chư
Thiên Tử nói: “Bạch Đại Đức! Không”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy các Ngài! Tất cả pháp cũng như vang,
không thuyết giả, không thích giả, không tri giả.
Nầy
các Ngài! Như nhà ảo thuật giỏi, ở giữa ngã tư đường
hóa làm Phật và bốn bộ chúng rồi thuyết pháp. Ý các Ngài
nghĩ thế nào, trong đó có người nói, người nghe, người
biết không?”
Chư
Thiên Tử nói: “Bạch Đại Đức! Không có”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nầy các Ngài! Tất cả pháp như ảo huyễn,
trong đó không có thuyết giả, thích giả, cũng không có tri
giả”.
Bấy
giờ chư Thiên Tử nghĩ rằng Đại Đức Tu Bồ Đề giải
nói muốn cho dễ hiểu mà trở lại càng thâm, càng diệu.
Ngài
Tu Bồ Đề biết tâm niệm của chư Thiên Tử mà nói rằng:
“Nầy các Ngài! Sắc chẳng phải thâm, chẳng phải diệu,
thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thâm, chẳng phải diệu.
Sắc tánh đến thức tánh chẳng phải thâm, chẳng phải diệu.
Nhãn tánh đến ý tánh, sắc tánh đến pháp tánh, nhãn giới
tánh đến ý thức giới tánh, nhãn xúc đến ý xúc, nhãn xúc,
nhơn duyên, sanh thọ đến ý xúc, nhơn duyên, sanh thọ đều
chẳng phải thâm, chẳng phải diệu.
Đàn
na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, nội không đến vô pháp
hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, tất cả
tam muội đến tất cả đà la ni, nhứt thiết chủng trí và
nhứt thiết chủng trí tánh đều chẳng phải thâm, chẳng
phải diệu”.
Chư
Thiên Tử nghĩ rằng trong thuyết pháp ấy chẳng phải nói
sắc đến chẳng nói nhứt thiết chủng trí, chẳng nói Tu
Đà Hoàn quả đến A La Hán quả, chẳng nói Bích Chi Phật
đạo, chẳng nói Vô thượng Bồ đề đạo, trong chẳng pháp
ấy chẳng nói danh tự ngữ ngôn.
Ngài
Tu Bồ Đề biết tâm niệm của chư Thiên Tử nên nói rằng:
“Nầy các Ngài! Đúng như vậy, trong pháp ấy, Vô thượng
Bồ đề của chư Phật không có tướng nói được, trong ấy
không có thuyết giả, không có thính giả, không có tri giả.
Nầy
các Ngài! Do đây nên thiện nam tử, thiện nữ nhơn, người
muốn an trụ Tu Đà Hoàn quả, muốn y chứng Tu Đà Hoàn quả,
người nầy chẳng lìa rời trí nhẫn trên đây. Người muốn
an trụ, muốn chứng Tư Đà Hàm quả, A Na Hàm quả, A La Hán
quả, Bích Chi Phật đạo và Phật đạo, người nầy chẳng
rời lìa trí nhẫn trên đây.
Nầy
các Ngài! Đại Bồ Tát từ sơ phát tâm, ở trong Bát nhã ba
la mật, phải an trụ như vậy. Vì không có nói, không có nghe
vậy”.