QUYỂN
THỨ MƯỜI BA
PHẨM
CHIẾU MINH
THỨ
BỐN MƯƠI
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đây chính là Bát
nhã ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Chính là Bát nhã ba la mật!”
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật
hay chiếu sáng tất cả pháp, vì rốt ráo thanh tịnh vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Nên kính lễ Bát nhã ba la mật.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật chẳng dính mắc ba cõi.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật trừ các sự tối tăm, vì
tất cả phiền não kiến chấp đều dứt trừ vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Trong tất cả pháp trợ đạo, thời Bát nhã
ba la mật là tối thượng.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là an ổn, vì hay dứt trừ
tất cả bố úy khổ não vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay đem lại quang minh, vì
trang nghiêm với ngũ nhãn vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay chỉ dẫn những chúng
sanh đã sa vào tà kiến, vì rời hẳn hai bên vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là nhứt thiết chủng trí,
vì tất cả phiền não và tập khí dứt diệt vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là mẹ của chư đại Bồ
Tát, vì hay xuất sanh các Phật pháp vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật bất sanh bất diệt, vì tự
tướng rỗng không vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật xa rời sanh tử, vì chẳng
phải thường, chẳng phải diệt vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật là chỗ hộ vệ của người
không ai cứu giúp, vì ban bố tất cả trân bửu vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật đầy đủ năng lực, vì
không gì phá hoại được vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay chuyển ba lần chuyển
mười hai hành pháp luân, vì tất cả các pháp chẳng chuyển,
chẳng hườn vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật hay hiển thị các pháp tánh,
vì vô pháp hữu pháp không vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Phải cúng dường Bát nhã ba la mật thế nào?”
Đức
Phật nói: “Phải như cúng dường Phật mà cúng dường Bát
nhã ba la mật. Phải như lễ Phật mà lễ Bát nhã ba la mật.
Tại
sao vậy?
Vì
Phật chẳng khác Bát nhã ba la mật và Bát nhã ba la mật tức
là Phật. Phật tức là Bát nhã ba la mật và Bát nhã ba la
mật tức là Phật.
Trong
Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh chư Phật, chư Bồ Tát, Bích
Chi Phật, A La Hán, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn.
Trong
Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh mười thiện đạo, tứ thiền,
tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, năm thần thông, nội
không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bát
thánh đạo.
Trong
Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh thập lực, mười tám pháp
bất cộng, đại từ đại bi, nhứt thiết chủng trí”.
Bấy
giờ Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn nghĩ rằng do cớ gì mà
Ngài Xá Lợi Phất hỏi đức Phật những sự như vậy.
Thiên
Đế bèn đem ý nghĩ đó hỏi Ngài Xá Lợi Phất.
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Đại Bồ Tát được
Bát nhã ba la mật thủ hộ, do phương tiện lực, đối với
thiện căn của tam thế chư Phật từ sơ phát tâm đến pháp
trụ, đều hòa hiệp tùy hỉ, tất cả hồi hướng Vô thượng
Bồ đề. Vì cớ ấy nên tôi bạch hỏi việc như vậy.
Nầy
Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát hơn Đàn
na ba la mật, Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia
ba la mật và Thiền na ba la mật.
Ví
như những người sanh manh, hoặc số trăm, số ngàn, hoặc
cả trăm ngàn người, mà không ai dẫn đường, thời học
không đi vào thành được.
Cũng
vậy, năm ba la mật mà rời Bát nhã ba la mật thời như kẻ
mù không người dẫn đường, không thể tiến đạo, không
thể được nhứt thiết chủng trí.
Nếu
được Bát nhã ba la mật dắt dẫn, thời năm ba la mật gọi
là có con mắt và được danh tự Ba la mật”.
Thiên
Đế hỏi Ngài Xá Lợi Phất: “Như lời Ngài nói là Bát nhã
ba la mật tương tợ thời năm ba la mật chẳng dược danh tự
Ba la mật. Nếu không Thi la ba la mật, hoặc nếu không Sằn
đề ba la mật, hoặc không Tỳ lê gia ba la mật hay Thiền na
ba la mật tương tợ thời năm ba la mật chẳng được danh
tự Ba la mật.
Nếu
đã như thế, tại sao chỉ riêng ca ngợi Bát nhã ba la mật?”
Ngài
Xá Lợi Phất nói: “Đúng như lời Kiếu Thi Ca nói. Nếu không
Đàn na ba la mật v.v… thời năm ba la mật chẳng được danh
tự Ba la mật.
Nhưng
vì đại Bồ Tát an trụ trong Bát nhã ba la mật thời hay đầy
đủ Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật.
Vì
thế nên đối với với năm ba la mật, thời Bát nhã ba la
mật là đệ nhứt trên hết, là tối diệu vô lượng, không
gì bằng”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Phải
phát sanh Bát nhã ba la mật thế nào?”
Đức
Phật nói: “Vì sắc chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật sanh.
Vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật
sanh. Vì Đàn na ba la mật đến Thiền na ba la mật chẳng sanh
nên Bát nhã ba la mật sanh. Vì nội không đến pháp hữu pháp
không chẳng sanh, vì tứ niệm xứ đến nhứt thiết chủng
trí chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật sanh.
Vì
tất cả các pháp chẳng sanh như vậy nên Bát nhã ba la mật
phải sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là vì
sắc chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật sanh. Nhẫn đến thế
nào là vì tất cả pháp chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật phải
sanh?”
Đức
Phật nói: “Sắc chẳng khởi, chẳng sanh vì là chẳng được,
chẳng mất vậy. Nhẫn đến tất cả các pháp chẳng khởi,
chẳng sanh vì là chẳng được, chẳng mất vậy, Do đó, mà
Bát nhã ba la mật sanh”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Sanh Bát nhã ba
la mật như vậy hiệp với những pháp nào?”
Đức
Phật nói: “Không có cùng hiệp. Thế nên được gọi là
Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Chẳng cùng hiệp
với những pháp nào?”
Đức
Phật nói: “Chẳng cùng hiệp với pháp bất thiện, chẳng
cùng hiệp với pháp thiện, chẳng cùng hiệp với pháp thế
gian, chẳng cùng hiệp với pháp xuất thế gian, chẳng cùng
hiệp với pháp xuất thế gian, chẳng cùng hiệp với pháp
hữu lậu, chẳng cùng hiệp với pháp vô lậu, chẳng cùng
hiệp với pháp tội, chẳng cùng hiệp với pháp vô tội, chẳng
cùng hiệp với pháp hữu vi, chẳng cùng hiệp với pháp vô
vi.
Tại
sao vậy?
Vì
Bát nhã ba la mật chẳng vì được các pháp mà sanh. Thế nên
đối với các pháp không chỗ cùng hiệp”.
Thiên
Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật nầy cũng
chẳng hiệp với nhứt thiết trí chăng?”
Đức
Phật nói: “Đúng như vậy. Nầy Kiều Thi Ca! Bát nhã ba la
mật cũng chẳng hiệp và nhứt thiết trí cũng chẳng được.
Tại
sao vậy?
Bát
nhã ba la mật chẳng như danh tự, chẳng như tướng, chẳng
như pháp khởi tác hiệp”.
Thiên
Đế thưa: “Nay hiệp thế nào?”
Đức
Phật nói: “Nếu đại Bồ Tát như chẳng lấy, chẳng thô,
chẳng ở, chẳng mắc, chẳng dứt, hiệp như vậy cũng không
chỗ hiệp, cũng vậy, Bát nhã ba la mật tất cả pháp hiệp
cũng không chỗ hiệp”.
Thiên
Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thật là chưa từng có.
Bát nhã ba la mật nầy vì tất cả pháp chẳng khởi, chẳng
sanh, chẳng được, chẳng mất nên sanh”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát
lúc thật hành Bát nhã ba la mật mà quan niệm rằng Bát nhã
ba la mật hoặc hiệp với tất cả pháp, hoặc chẳng hiệp,
thời vị Bồ Tát nầy đã bỏ Bát nhã ba la mật, đã lìa
Bát nhã ba la mật”.
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Lại có nhơn duyên mà đại
Bồ Tát bỏ và xa lìa Bát nhã ba la mật.
Nếu
đại Bồ Tát quan niệm rằng Bát nhã ba la mật nầy không
chỗ có, trống rỗng, chẳng cứng chắc.
Đại
Bồ Tát nầy thời là bỏ và lìa xa Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Tin Bát nhã ba la mật
là chẳng tin pháp nào?”
Đức
Phật nói: “Tin Bát nhã ba la mật thời chẳng tin sắc, chẳng
tin thọ, tưởng, hành, thức, chẳng tin nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý, chẳng tin sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng
tin nhã giới đến ý thức giới, chẳng tin Đàn na ba la mật
đến Thiền na ba la mật, chẳng tin nội không đến vô pháp
hữu pháp không, chẳng tin tứ niệm xứ đến bát thánh đạo
phần, chẳng tin thập lực đến mười tám pháp bất cộng,
chẳng tin quả Tu Đà Hoàn đến đạo Bích Chi Phật, chẳng
tin đạo Bồ Tát, chẳng tin Vô thượng Bồ đề nhẫn đến
nhứt thiết chủng trí.
Tại
sao vậy?
Vì
sắc bất khả đắc nên tin Bát nhã ba la mật thời chẳng
tin sắc. Nhẫn đến vì nhứt thiết chủng trí bất khả đắc
nên Bát nhã ba la mật thời chẳng tin nhứt thiết chủng trí.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Lúc tin Bát nhã ba la mật thời chẳng
tin sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật
nầy gọi là Đại ba la mật.
Tại
sao vậy?
Vì
Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm sắc lớn, chẳng làm sắc
nhỏ, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề chẳng làm lớn, chẳng
làm nhỏ, chư Phật chẳng làm lớn, chẳng làm nhỏ.
Vì
Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm sắc hiệp, chẳng làm sắc
tan, nhẫn đến chư Phật chẳng làm hiệp, chẳng làm tan.
Vì
Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm sắc vô lượng, chẳng làm
sắc chẳng phải vô lượng, nhẫn đến chư Phật chẳng làm
vô lượng, chẳng làm chẳng phải vô lượng.
Vì
Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm sắc rộng, chẳng làm sắc
hẹp, nẫn đến chư Phật chẳng làm rộng, chẳng làm hẹp.
Vì
Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm hữu lực, chẳng làm sắc
vô lực, nhẫn đến chư Phật chẳng làm hữu lực, chẳng
làm vô lực.
Do
nhơn duyên trên đây nên Bát nhã ba la mật gọi là đại ba
la mật.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu Bồ Tát mới phát tâm chẳng xa lìa Bát
nhã ba la mật, chẳng xa lìa Thiền na ba la mật đến Đàn na
ba la mật, quan niệm rằng Bát nhã ba la mật nầy chẳng làm
sắc lớn, chẳng làm sắc nhỏ, chẳng làm sắc hiệp, chẳng
làm sắc tan, chẳng làm sắc vô lượng, chẳng làm sắc chẳng
phải vô lượng, chẳng làm sắc hữu lực, chẳng làm sắc
vô lực. Nhẫn đến chư Phật cũng như vậy.
Bồ
Tát biết như vậy thời chẳng hiện hành Bát nhã ba la mật.
Tại sao vậy? Vì chẳng phải tướng Bát nhã ba la mật. Nghĩa
là làm sắc lớn, nhỏ đến hữu lực, vô lực, nhẫn đến
chư Phật làm lớn, nhỏ, hữu lực, vô lực.
Bạch
đức Thế Tôn! Vì dụnh hữu sở đắc, Bồ Tát nầy bèn có
lỗi lầm lớn. Nghĩa là lúc thật hành Bát nhã ba la mật làm
sắc lớn, nhỏ đến hữu lực, vô lực, nhẫn đến chư Phật
làm lớn nhỏ, nhỏ, hữu lực, vô lực.
Bạch
đức Thế Tôn! Vì dụng hữu sở đắc, Bồ Tát nầy bèn có
lỗi lầm lớn. Nghĩa là lúc thật hành Bát nhã ba la mật làm
sắc lớn, nhỏ, nhẫn đến chư Phật làm hữu lực, vô lực.
Tại
sao vậy?
Vì
người hữu sở đắc thời không Vô thượng Bồ đề.
Tại
sao vậy?
Vì
chúng sanh chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật chẳng sanh, nhẫn
đến vì Phật chẳng sanh nên Bát nhã ba la mật chẳng sanh.
Vì
chúng sanh tánh không nên Bát nhã ba la mật tánh không. Vì sắc
tánh không nên Bát nhã ba la mật tánh không. Nhẫn đến vì
Phật tánh không nên Bát nhã ba la mật tánh không.
Vì
chúng sanh chẳng phải pháp nên Bát nhã ba la mật chẳng phải
pháp. Vì sắc chẳng phải pháp nên Bát nhã ba la mật chẳng
phải pháp. Nhẫn đến vì Phật chẳng phải pháp nên Bát nhã
ba la mật chẳng phải pháp.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật rỗng không nên Bát nhã ba la mật
rỗng không.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật ly nên Bát nhã ba la mật ly.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật không có nên Bát nhã ba la mật không
có.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật bất khả tư nghì nên Bát nhã ba
la mật bất khả tư nghì.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật chẳng diệt nên Bát nhã ba la mật
chẳng diệt.
Vì
chúng sanh sắc đến Phật bất khả tri nên Bát nhã ba la mật
bất khả tri.
Vì
chúng sanh đến Phật lực chẳng thành tựu nên Bát nhã ba
la mật lục chẳng thành tựu.
Thế
nên, bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật của đại Bồ
Tát gọi là Đại ba la mật vậy”.
●
PHẨM
TÍN HỦY
THỨ
BỐN MƯƠI MỐT
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Có đại Bồ Tát
tin hiểu Bát nhã ba la mật nầy. đại Bồ Tát ấy từ đâu
sanh nơi đây? Phát tâm Bồ đề đã được bao lâu? Đã cúng
dường bao nhiêu đức Phật? Thật hành sáu ba la mật được
bao lâu mà nay có thể tùy thuận và hiểu thâm nghĩa Bát nhã
ba la mật?’
Đức
Phật nói: “Đại Bồ Tát nầy cúng dường chư Phật mười
phương đến sanh nơi đây. Đại Bồ Tát nầy đã phát tâm
Vô thượng Bồ đề từ vô lượng vô biên a tăng kỳ trăm
ngàn muôn ức kiếp. Từ lúc mới phát tâm Bồ đề, đại
Bồ Tát nầy thường thật hành sáu ba la mật.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nầy hoặc thấy hay nghe Bát nhã
ba la mật liền nghĩ rằng tôi thấy Phật, nghe Phật thuyết
pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nầy hay tùy thuận hiểu thâm
nghĩa Bát nhã ba la mật. Vì vô tướng, vô nhị và vô sở
đắc vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật
nầy có thể nghe, có thể thấy chăng?”
Đức
Phật nói: “Bát nhã ba la mật nầy không có ai nghe, cũng không
có ai thấy.
Bát
nhã ba la mật không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy.
Thiền
na ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Sằn đề ba la mật, Thi
la ba la mật và Đàn na ba la mật không nghe không thấy,
vì các pháp độn vậy.
Tứ
niệm xứ đến bát thánh đạo không nghe không thấy, vì các
pháp độn vậy.
Thập
lực đến bất cộng pháp không nghe thấy, vì các pháp độn
vậy.
Phật
và Phật đạo không nghe không thấy, vì các pháp độn vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thật hành đạo bao
lâu mà Bồ Tát nầy có thể thật hành thâm Bát nhã ba la mật
nầy?”
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Trong đây phải phân biệt để
nói.
Có
đại Bồ Tát sơ phát tâm tập thật hành thâm sáu ba la mật,
do sứ phương tiện nên đối với các pháp không chỗ phá
hoại, chẳng thấy các pháp có pháp nào là không lợi ích,
cũng trọn chẳng xa rời thật hành sáu ba la mật, cũng chẳng
xa lìa chư Phật. Từ một thế giới đến một thế giới,
nếu muốn dùng sức thiện căn để cúng dường chư Phật,
thời tùy ý liền được. Vĩnh viễn chẳng còn thác sanh trong
bụng bà mẹ nhơn loại. Trọn chẳng rời những thần thông,
trọn chẳng sanh những phiền não và tâm niệm Thanh văn, Bích
Chi Phật. Từ một quốc độ đến một quốc độ để thành
tựu chúng sanh thanh tịnh Phật độ.
Nầy
Tu Bồ Đề! Chư đại Bồ Tát có thể tập thật hành Bát
nhã ba la mật như vậy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Có đại Bồ Tát thấy chư Phật nhiều. Hoặc
từ vô lượng trăm ngàn ức kiếp theo chư Phật thật hành
sáu ba la mật, vì không sức phương tiện, đều vì có sở
đắc, nên lúc nghe giảng thuyết thâm Bát nhã ba la mật, liền
từ trong chúng hội bỏ đi, chẳng cung kính thâm Bát nhã ba
la mật và chư Phật. Chư đại Bồ Tát ấy hiện nầy ngồi
trong đại chúng nầy, nghe thâm Bát nhã ba la mật, vì không
thích nên bèn bỏ đi.
Tại
sao vậy?
Vì
những người nầy đời trước lúc nghe nói thâm Bát nhã ba
la mật bèn bỏ đi nên đời nay nghe nói thâm Bát nhã ba la
mật nên cũng bỏ đi, thân tâm không hòa.
Những
người nầy gieo trồng giống nghiệp duyên ngu si.
Do
nghiệp duyên ngu si nên khi nghe giảng thâm Bát nhã ba la mật
bèn khinh chê. Vì khinh chê Bát nhã ba la mật nên tức là khinh
chê nhứt thiết trí và nhứt thiết chủng trí của tam thế
chư Phật.
Vì
người nầy khinh che nhứt thiết trí của tam thế chư Phật
nên phát khởi nghiệp phá pháp. Do tội phá pháp kết hợp
nhơn duyên nên đọa trong đại địa ngục vô lượng trăm
ngàn muôn ức năm.
Những
người phá pháp nầy, từ một đại địa ngục đến một
đại địa ngục. Nơi đó, lúc hỏa kiếp pháp khởi, người
nầy lại dời đến một đại địa ngục ở cõi khác mà
thác sanh, từ một đại địa ngục đến một đại địa
ngục. Nếu lúc cõi đó hỏa tai phát khởi, thờingười nầy
lại thác sanh vào đại địa ngục ở cõi khác. Lần lượt
thác sanh như vậy khắp thế giới mười phương. Vì tội phá
pháp chưa hết, nên sanh trở lại cõi nầy, từ một đại
địa ngục đến một đại địa ngục thọ vô lượng khổ.
Cõi nầy phát khởi hỏa kiếp lại thác sanh vào đại địa
ngục cõi khác.
Người
nầy lúc thác sanh vào súc sanh chịu khổ vì tội phá pháp
cũng vậy.
Lúc
tội nặng lần mỏng nhẹ, người nầy hoặc được thân nhơn
loại, sanh vào nhà người sanh manh, hoặc sanh vào nhà chiên
Đà La, sanh vào những nhà hạ tiện như hốt phân hay khiêng
thây người chết v.v… Hoặc không có con mắt, hoặc một
mắt, hoặc mắt mù, không lưỡi, không tai, không chân tay.
Nơi người thác sanh không có Phật, không có chánh pháp, không
Phật đệ tử. Tại sao vậy? Vì tội phá pháp chứa nhóm quá
sâu nặng nên thọ lấy quả báo như vậy”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Tội ngũ nghịch
cùng tội phá pháp có tương tợ nhau không?”
Đức
Phật nói: “Chẳng nên bảo là tương tợ. Tại sao vậy?”
Nếu
có người nghe nói thâm Bát nhã ba la mật mà chẳng tin nổi
rồi hủy báng rằng chẳng nên học pháp ấy. Đó là phi pháp,
chẳng phải pháp lành, chẳng phải lời Phật dạy, chẳng
phải Phật giáo.
Người
nầy tự mình hủy báng, cũng bảo người khác hủy báng Bát
nhã ba la mật.
Người
nầy tự phá hoại thân mình, cũng phá hoại thân người khác.
Người
nầy tự uống thuốc độc dược giết thân mình, cũng đầu
độc người khác.
Người
nầy tự làm mất thân mình, cũng làm mất thân người khác.
Người
nầy tự chẳng tin, chẳng biết thâm Bát nhã ba la mật, cũng
làm người khác chẳng tin, chẳng biết.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ta còn chẳng cho nghe danh tự của người ấy,
huống là mắt thấy và cùng ở.
Tại
sao vậy?
Phải
biết người nầy gọi là kẻ làm nhơ chánh pháp, bị sa vào
tánh đen trược suy hoại.
Những
ai nghe và tin dùng lời người nầy thời cũng thọ khổ như
vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Nếu người nàophá hủy Bát nhã ba la mật thời
gọi là kẻ hoại pháp”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Đức Thế Tôn nói người hoại pháp
phải mang lấy trọng tội mà chẳng nói thân thể lớn nhỏ
của người nầy phải thọ”.
Đức
Phật nói: “Chẳng cần nói người nầy thọ thân lớn nhỏ.
Tại
sao vậy?
Người
phá pháp nầy nếu nghe thân thể lớn nhỏ mà mình phải thọ
thời sẽ thổ máu nóng, hoặc chết hoặc sắp chết.
Người
phá pháp nầy nghe thân thể như vậy, có trọng tội như vậy,
sẽ rất buồn lo như mũi tên đâm vào tim, sẽ lần khô héo
mà nghĩ rằng vì tội phá pháp nên mắc lấy thân đại quỷ
thọ vô lượng khổ như vậy”.
Vì
thế nên Phật chẳng cho Xá Lợi Phất hỏi thân lớn nhỏ
mà người phá pháp nầy phải thọ.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Xin đức Thế Tôn nói để làm điều
răn sáng suốt cho người đời sau, khiến biết rằng tội
nghiệp phá pháp mắc phải thân lớn xấu thọ khổ như vậy”.
Đức
Phật nói: “Người đời sau nếu nghe tội phá pháp nghiệp
nhơn dầy nặng đầy đủ phải chịu vô lượng khổ rất
lâu trong đại địa ngục, cũng đủ làm điều răn sáng suốt
rồi”.
Ngài
Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu thiện nam,
thiện nữ tánh thiện thanh tịnh được nghe pháp nầy cũng
đủ làm chỗ y chỉ, thà mất thân mạng chớ hủy phá chánh
pháp. Họ tự nghĩ rằng nếu ta hủy phá chánh pháp thời sẽ
phải thọ lấy sự khổ như vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Những thiện nam, thiện nữ phải khéo
nhiếp thân khẩu ý ba nghiệp, chớ để thọ lấy sự khổ
như vậy, hoặc chẳng được thấy Phật, hoặc chẳng được
nghe pháp, hoặc chẳng được thân cận chư tăng, hoặc sanh
ở quốc độ không Phật, hoặc sanh ở nhà bần cùng, hoặc
mọi người chẳng tín thọ lời nói.
Bạch
đức Thế Tôn! Do nơi thân khẩu nghiệp nhơn duyên, có tội
nặng phá pháp như vậy chăng?”
Đức
Phật nói: “Do nơi khẩu nghiệp nhơn duyên có tội nặng phá
pháp như vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Người ngu si ấy ở trong Phật pháp xuất gia thọ
giới rồi phá thâm Bát nhã ba la mật, chê bai chẳng tín thọ.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu phá Bát nhã ba la mật, chê bai Bát nhã ba
la mật, thời là phá nhứt thiết trí của chư Phật mười
phương. Phá nhứt thiết trí là phá Phật Bảo. Phá Phật Bảo
thời là phá Pháp Bảo. Phá Pháp Bảo thời là phá Tăng Bảo.
Phá Tam Bảo thời là phá chánh kiến của thế gian. Phá chánh
kiến thế gian thời là phá tứ niệm xứ đến nhứt thiết
chủng trí. Phá nhứt thiết chủng trí thời mắc vô lượng
vô biên a tăng kỳ tội, thời phải thọ lấy vô lượng vô
biên a tăng kỳ sự ưu khổ”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Có mấy nhơn duyên
mà người ngu si nầy chê bai phá hoại thâm Bát nhã ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Có bốn nhơn duyên. Một là bị ma sai sử. Hai
là chẳng tin thâm pháp, chẳng tin, chẳng hiểu, tâm không thanh
tịnh. Ba là gần gủi thầy bạn ác, tâm mê tối giải đãi,
chấp chặt thân ngũ ấm. Bốn là nhiều sân giận, tự cao,
khinh người.
Nầy
Tu Bồ Đề! Do bốn nhơn duyên trên đây mà người ngu si muốn
phá hoại thâm Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người tương đắc
với bạn ác, gieo trồng điều bất thiện, chẳng siêng năng
tinh tấn tu pháp lành thời khó tin, khó hiểu thâm Bát nhã
ba la mật nầy”.
Đức
Phật nói: “Đúng như vậy, Người ấy khó tin, khó hiểu
thâm Bát nhã ba la mật nầy”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào Bát nhã
ba la mật nầy rất sâu khó tin, khó hiểu?”
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Sắc chẳng trói, chẳng mở.
Tại sao vậy? Vì tánh vô sở hữu là sắc.
Thọ,
tưởng, hành, thức chẳng trói chẳng mở. Tại sao vậy? Vì
tánh vô sở hữu là thọ, tưởng, hành, thức.
Đàn
na ba la mật đến Bát nhã ba la mật chẳng trói, chẳng mở.
Tại sao vậy? Vì tánh vô sở hữu là sáu ba la mật.
Nội
không đến vô pháp hữu pháp không chẳng trói, chẳng mở.
Tại sao vậy? Vì tánh vô sở hữu là nội không đến vô pháp
hữu pháp không.
Tứ
niệm xứ đến nhứt thiết trí và nhứt thiết chủng trí
chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tánh vô sở hữu
là tứ niệm xứ đến nhứt thiết trí và nhứt thiết chủng
trí chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì tánh vô sở hữu
là tứ niệm xứ đến nhứt thiết trí và nhứt thiết chủng
trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Sắc bổn tế chẳng trói, chẳng mở. Tại sao
vậy? Vì bổn tế tánh vô sở hữu là sắc.
Nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí bổn tế chẳng trói, chẳng mở.
Tại sao vậy? Vì bổn tế tánh vô sở hữu là nhứt thiết
chủng trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Sắc hậu tế nhẫn đến nhứt thiết chủng trí
hậu tế chẳng chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì hậu
tế vô sở hữu là sắc, nhẫn đến là nhứt thiết chủng
trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Sắc hiện tại nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí hiện tại chẳng trói, chẳng mở. Tại sao vậy? Vì hiện
tại tánh vô sở hữu là sắc nhẫn đến là nhứt thiết chủng
trí”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những người chẳng
chuyên cần tinh tấn, chẳng gieo trồng căn lành, gần gũi bạn
ác, giải đãi, ưa quên, không trí huệ thiện xảo phương
tiện, thiệt khó tin, khó hiểu Bát nhã ba la mật”.
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Đúng như vậy. Những người
ấy thiệt khó tin khó hiểu Bát nhã ba la mật nầy. Tại sao
vậy? Vì sắc thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh. Thọ, tưởng,
hành, thức thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh. Nhẫn đến
Vô thượng Bồ đề thanh tịnh thời quả cũng thanh tịnh.
Lại
vì sắc thanh tịnh tức là Bát nhã ba la mật thanh tịnh. Bát
nhã ba la mật thanh tịnh tức là sắc thanh tịnh.
Nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí thanh tịnh tức là Bát nhã ba
la mật thanh tịnh. Bát nhã ba la mật thanh tịnh tức là nhứt
thiết chủng trí thanh tịnh.
Sắc
thanh tịnh và Bát nhã ba la mật thanh tịnh không hai, không
khác, không đoạn, không hoại. Nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí thanh tịnh và Bát nhã ba la mật thanh tịnh không hai, không
khác, không đoạn, không hoại.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Vì chẳng hai thanh tịnh nên sắc thanh tịnh.
Vì chẳng hai thanh tịnh nên nhứt thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì chẳng hai thanh tịnh nầy cùng sắc thanh tịnh
đến nhứt thiết chủng trí thanh tịnh không hai, không khác.
Vì
ngã thanh tịnh, chúng sanh đến tri giả, kiến giả thanh tịnh
nên sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí thanh tịnh.
Vì
sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí thanh tịnh nên ngã
chúng sanh nhẫn đến tri giả, kiến giả thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì ngã đến kiến giả thanh tịnh nầy cùng với
sắc đến nhứt thiết chủng trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng
khác, không đoạn, không hoại.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì tham, sân, si thanh tịnh nên sắc đến nhứt
thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì tham, sân, si thanh tịnh cùng với sắc đến nhứt
thiết chủng trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng khác.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì vô minh thanh tịnh nên hành thanh tịnh. Vì hành
thanh tịnh nên thức thanh tịnh. Vì thức thanh tịnh nên danh
sắc thanh tịnh. Vì danh sắc thanh tịnh nên lục nhập thanh
tịnh. Vì lục nhập thanh tịnh nên xúc thanh tịnh. Vì xúc
thanh tịnh nên thọ thanh tịnh. Vì thọ thanh tịnh nên ái thanh
tịnh. Vì ái thanh tịnh nên thủ thanh tịnh. Vì thủ thanh tịnh
nên hữu thanh tịnh. Vì hữu thanh tịnh nên sanh thanh tịnh.
Vì sanh thanh tịnh nên lão tử thanh tịnh. Vì lão tử thanh
tịnh nên Bát nhã ba la mật thanh tịnh. Vì Bát nhã ba la mật
thanh tịnh nên Thiền na thanh tịnh. Nhẫn đến vì Đàn na thanh
tịnh nên nội không thanh tịnh. Vì nội không thanh tịnh nên
nhẫn đến vô pháp hữu pháp không thanh tịnh. Vì vô pháp
hữu pháp không thanh tịnh nên tứ niệm xứ nhẫn đến nhứt
thiết trí thanh tịnh. Vì nhứt thiết trí thanh tịnh nên nhứt
thiết chủng trí thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì nhứt thiết trí nầy cùng với nhứt thiết chủng
trí không hai, không khác, không đoạn, không hoại.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Vì Bát nhã ba la mật thanh tịnh nên sắc
thanh tịnh. Nhẫn đến vì Bát nhã ba la mật thanh tịnh nên
nhứt thiết trí thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật nầy cùng với nhứt thiết trí
không hai, không khác.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì Thiền na ba la mật thanh tịnh nên nhẫn đến
nhứt thiết trí thanh tịnh. Nhẫn đến vì Đàn na ba la mật
thanh tịnh nên nhẫn đến nhứt thiết trí thanh tịnh. Vì nội
không thanh tịnh nên nhẫn đến nhứt thiết trí thanh tịnh.
Vì tứ niệm xứ thanh tịnh nên nhẫn đến nhứt thiết trí
thanh tịnh.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì nhứt thiết trí thanh tịnh nên nhẫn đến
Bát nhã ba la mật thanh tịnh.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì hữu vi thanh tịnh nên vô ci thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì hữu vi thanh tịnh nên vô vi thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì hữu vi thanh tịnh cùng với vô thanh tịnh không
hai, không khác, không đoạn, không hoại.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì quá khứ thanh tịnh nên vị lai và hiện tại
thanh tịnh nên vị lai và hiện tại thanh tịnh. Vì vị lai
thanh tịnh nên quá khứ và hiện tại thanh tịnh. Vì hiện
tại thanh tịnh nên quá khứ và vị lai thanh tịnh.
Tại
sao vậy? Vì hiện tại thanh tịnh cùng với quá khứ và vị
lai thanh tịnh không hai, không khác, không đoạn, không hoại
vậy”.