QUYỂN
THỨ MƯỜI BẢY
PHẨM
THÀNH BIỆN
THỨ
NĂM MƯƠI
Lúc
bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát
nhã ba la mật rất sâu nầy vì đại sự mà phát khởi, vì
bất khả tư nghì sự, vì bất khả xưng sự, vì bất khả
lượng sự, vô đẳng đẳng sự mà phát khởi”.
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Bát nhã ba la
mật rất sâu nầy vì bất khả tư nghì sự đến vì vô đẳng
đẳng sự mà phát khởi,
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật chứa đựng năm ba la mật,
chứa đựng mười tám không, chứa đựng tứ niệm xứ đến
bát thánh đạo, chứa đựng mười trí lực đến nhứt thiết
chủng trí.
Ví
như nhà vua là bực tôn quý trong nước, bao nhiêu việc nước
đều ủy nhiệm cho đại thần, nhà vua vô sự an vui nhàn nhã.
Cũng
vậy, nầy Tu Bồ Đề! Bao nhiêu pháp Thanh văn, pháp Bích Chi
Phật, pháp Bồ Tát, pháp Phật, tất cả đều ở trong Bát
nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật hay hoàn thành những sự việc
đó.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật vì đại sự mà phát
khởi nhẫn đến vì vô đẳng đẳng sự mà phát khởi.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật chẳng lấy sắc, chẳng
dính sắc nên có thể hoàn thành được, chẳng lấy, chẳng
dính thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng lấy, chẳng
dính nhứt thiết chủng trí nên có thể hoàn thành được,
chẳng lấy, chẳng dính quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chẳng
lấy, chẳng dính Vô thượng Bồ đề nên Bát nhã ba la mật
nầy có thể hoàn thành tất cả pháp”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! thế nào vì chẳng
lấy, chẳng dính, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến
vì chẳng lấy, chẳng dính nhứt thiết chủng trí mà Bát nhã
ba la mật hay hoàn thành tất cả pháp?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Ý ông nghĩ thế nào? Vả thấy
sắc, thấy thọ, tưởng, hành, thức có thể lấy, có thể
dính được chăng? Nhẫn đến thấy nhứt thiết chủng trí
có thể lấy, có thể dính được chăng?”
Bạch
đức Thế Tôn! Không thể được.
Lành
thay! Nầy Tu Bồ Đề! Đức cũng chẳng thấy sắc có thể
lấy, có thể dính được nhẫn đến chẳng thấy nhứt thiết
chủng trí có thể lấy, có thể dính được. Vì chẳng thấy
nên chẳng lấy, vì chẳng lấy nên chẳng dính.
Nầy
Tu Bồ Đề! Đức Phật cũng chẳng thấy pháp của Phật, pháp
của Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp của bực nhứt
thiết trí có thể lấy, có thể dính được. Vì chẳng thấy
nên chẳng lấy, vì chẳng lấy nên chẳng dính.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Chư đại Bồ Tát chẳng nên lấy, chẳng
nên dính nơi sắc, nhẫn đến chẳng nên lấy, chẳng nên dính
nơi pháp của bực nhứt thiết trí”.
Bấy
giờ chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc thưa: “Bạch đức Thế
Tôn! Bát nhã ba la mật rất sâu nầy khó thấy, khó hiểu chẳng
thể suy nghĩ so sánh để biết được. Bực thiện xảo vi
diệu trí huệ tịch diệt mới biết được.
Người
tin được Bát nhã ba la mật nầy, phải biết là đại Bồ
Tát cúng dường nhiều đức Phật, gieo căn lành nhiều, gần
gũi thiện tri thức, nên tin hiểu được Bát nhã ba la mật
rất sâu nầy.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu trong cõi Đại Thiên có bao nhiêu chúng
sanh, tất cả đều làm người tín hành, người pháp hành,
làm Bát Nhơn, làm Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán,
làm Bích Chi Phật hoặc trí hoặc đoạn, đều chẳng bằng
được Bồ Tát nầy thật hành Bát nhã ba la mật trong một
ngày. Tại sao vậy? Vì người tín hành, pháp hành nhẫn đến
Bích Chi Phật hoặc trí hoặc đoạn chính là vô sanh pháp nhẫn
của Bồ Tát”.
Đức
Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc: “Đúng như vậy.
Nầy chư Thiên Tử! Người tín hành, người pháp hành nhẫn
đến Bích Chi Phật chính là vô sanh pháp nhẫn đến Bích Chi
Phật chính là vô sanh pháp nhẫn của đại Bồ Tát.
Nầy
chư Thiên Tử! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la
mật sâu xa nầy rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng nhẫn
đến chánh ức niệm thì sẽ mau được Niết Bàn hơn thiện
nam, thiện nữ vì cầu Thanh văn hay Bích Chi Phật mà lìa bỏ
Bát nhã ba la mật, đi thật hành theo kinh khác hoặc một kiếp
hoặc dưới một kiếp.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy nói rộng về
pháp thượng diệu mà người tín hành, người pháp hành nhẫn
đến đại Bồ Tát đều phải nên học. Học xong chứng được
Vô thượng Bồ đề”.
Lúc
bấy giờ chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc đồng phát thanh rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật nầy gọi là Ma ha
ba la mật, gọi là bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất
khả lượng, vô đẳng đẳng ba la mật. Người tín hành, pháp
hành nhẫn đến Bích Chi Phật học Bát nhã ba la mật được
thành đại Bồ Tát, được thành Vô thượng Bồ đề, Bát
nhã ba la mật nầy cũng chẳng tăng, chẳng giảm”.
Bạch
xong, chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc đảnh lễ chưn Phật, nhiều
Phật rồi trở về Thiên cung.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát
nghe Bát nhã ba la mật sâu xa nầy mà liền tin, liền hiểu.
Người nầy từ nơi nào chết rồi sanh nhơn gian đây?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Nếu đại Bồ Tát nghe Bát nhã
ba la mật sâu xa nầy liền tin, liền hiểu, chẳng quên, chẳng
bỏ, chẳng thắc mắc, chẳng nghi, chẳng ăn năn mà vui mừng
ưa nghe, nghe xong ghi nhớ chẳng rời lìa, hoặc lúc đi đứng
hoặc lúc nằm ngồi chẳng hề quên sót, thường theo sát Pháp
sư.
Như
trâu nghé theo sát trâu mẹ, Bồ Tát vì nghe Bát nhã ba la mật
mà thường theo sát Pháp sư, khi được Bát nhã ba la mật miệng
tụng, tâm hiểu, chánh kiến thông suốt.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phải biết đại Bồ Tát nầy từ loài người
chết mà sanh trở lại trong nhơn gian nầy.
Tại
sao vậy? người cầu Phật đạo, đời trước nghe Bát nhã
ba la mật rồi biên chép, cung kính, cúng dường, nên sau khi
chết sanh trở lại nhơn gian được nghe Bát nhã ba la mật
liền tin, liền hiểu”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Có vị Bồ Tát nào
ở phương khác thành tựu công đức trên đây, cúng dường
chư Phật rồi bỏ thân mà đến sanh tại nhơn gian nầy, được
nghe Bát nhã ba la mật liền tin, liền hiểu, biên chép, đọc
tụng, chánh ức niệm chăng?”
Đức
Phật phán: “Có. Ở phương khác, Bồ Tát thành tựu công
đức trên đây, cúng dường chư Phật, bỏ thân đến sanh
tại nhơn gian nầy được nghe Bát nhã ba la mật sâu xa liền
tin, liền hiểu, biên chép, thọ trì, đọc tung, chánh ức niệm.
Phải biết đó là do công công đức thành tựu ở đời trước
nên được như vậy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Có Bồ Tát ở nơi Di Lặc Bồ Tát được
nghe Bát nhã ba la mật sâu xa, do căn lành ấy mà đến tại
nhơn gian nầy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Lại có Bồ Tát đời trước nghe Bát nhã ba la
mật mà chẳng thưa hỏi những cớ sự trong đó. Vì không
thưa hỏi nên đến sanh tại nhơn gian nghe Bát nhã ba la mật,
nghe Bát nhã ba la mật sâu xa nầy lòng họ tiếp tục nghi ngờ,
khó tỏ ngộ.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đời trước hoặc nghe Thiền ba la
mật, hoặc nghe Tinh tấn ba la mật, hoặc nghe Nhẫn nhục ba
la mật, hoặc nghe Trì giới ba la mật, hoặc nghe Bố thí ba
la mật mà không thưa hỏi cớ sự trong đó. Vì đời trước
không thưa hỏi nên đến sanh tại nhơn gian nầy, nghe Bát nhã
ba la mật sâu xa lòng họ tiếp tục nghi ngờ, khó tỏ ngộ.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu đời trước Bồ Tát hoặc nghe nội không,
ngoại không nhẫn đến nghe nhứt thiết chủng trí mà không
thưa hỏi cớ sự trong ấy, vì đời trước không thưa hỏi
để được hiểu quyết định nên đến sanh tại nhơn nầy,
nghe Bát nhã ba la mật sâu xa lòng họ nghi ngờ, khó tỏ ngộ.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Nếu đời trước Bồ Tát nghe Bát nhã ba
la mật sâu xa rồi thưa hỏi sự việc trong ấy mà không thật
hành, khi bỏ thân sanh đời sau nghe Bát nhã ba la mật sâu xa
nầy trong khoảng một ngày hoặc hai, ba, bốn, năm ngày, lòng
họ vững chắc không ai phá hoại được. Nếu họ xa rời
chỗ nghe thì sẽ thối thất. Tại sao vậy? Vì ở đời trước,
lúc nghe Bát nhã ba la mật dầu họ có thưa hỏi sự việc
trong ấy nhưng họ chẳng thật hành đúng như lời. Người
nầy có lúc muốn nghe, tâm chẳng vững chắc, chí chẳng quyết
định, như cái lông nhẹ, theo gió mà bay mà bay qua Đông hoặc
qua Tây.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát nầy phát tâm chẳng được
lâu, chẳng thường gần gũi thiện tri thức, chẳng cúng dường
nhiều Phật, đời trước dầu được nghe mà chẳng biên chép,
chẳng đọc tụng, chẳng chánh ức niệm Bát nhã ba la mật,
chẳng học sáu ba la mật, chẳng học nội không, ngoại không
nhẫn đến chẳng học nhứt thiết chủng trí. Bồ Tát mới
phát tâm Đại thừa, vì ít tin ít thích nên chẳng đọc tụng,
chẳng chánh ức niệm Bát nhã ba la mật, chẳng thể biên chép
được nhẫn đến chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật
sâu xa nầy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo mà
chẳng biên chép, chẳng thọ trì nhẫn đến chẳng chánh ức
niệm Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, cũng chẳng được sự
gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, nhẫn đến cũng
chẳng được sự gia hộ của nhứt thiết chủng trí. Người
nầy cũng chẳng thật hành Bát nhã ba la mật đúng như lời.
Người nầy hoặc sa vào bực Thanh văn hoặc Bích Chi Phật.
Tại
sao vậy? Người nầy chẳng biên chép nhẫn đến thật hành
Bát nhã ba la mật được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật
sâu xa, thế nên họ sẽ sa vào trong hai thừa ấy”.
●
PHẨM
THÍ DỤ
THỨ
NĂM MƯƠI MỐT
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Ví như thuyền hư chìm giữa
biển lớn, nếu người nào trong thuyền chẳng nắm phao, chẳng
ôm cây ván hoặc tử thi, phải biết những người ấy không
thể vào bờ và sẽ chìm chết. Người nào nắm phao hoặc
ôm cây ván, tử thi, phải biết người nầy chẳng bị chìm
chết, sẽ được vào đến bờ an ổn tự tại.
Cũng
vậy, nầy Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo,
nếu chỉ có lòng tin ưa mà chẳng y Bát nhã ba la mật, chẳng
biên chép, chẳng thọ trì, chẳng đọc, chẳng tụng, chẳng
giảng thuyết, chẳng chánh ức niệm, với năm ba la mật kia
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí cũng đều chẳng y, chẳng
biên chép, đọc tụng, chánh ức niệm, phải biết thiện nam,
thiện nữ nầy giữa đường suy hao, chẳng đến được nhứt
thiết chủng trí, sẽ chứng lấy bực Thanh văn hoặc Bích
Chi Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, có
đức tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, có
giải, có xả, có tinh tấn, y Bát nhã ba la mật, biên chép,
thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, chánh ức niệm, người
nầy được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật sâu xa, nhẫn
đến được sự gia hộ của nhứt thiết chủng trí. Vì được
gia hộ nên người nầy chẳng giữa đường suy hao, vượt
khỏi bực Thanh văn, Bích Chi Phật, hay tịnh Phật độ, thành
tựu chúng sanh, sẽ chứng Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Tu Bồ Đề! Ví như có người dùng cáo bình đất chưa nung
chín để múc nước, phải biết không bao lâu cái bình ấy
sẽ bể rã, trở về nơi đất.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Vô thượng Bồ đề,
có đức tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện,
có giải, có xả, có tinh tấn, mà chẳng được sự gia hộ
của Bát nhã ba la mật sâu xa nhẫn đến của nhứt thiết
chủng trí, người nầy giữa đường suy hao, sẽ sa vào bực
Thanh văn, Bích Chi Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Ví như có người dùng bình đất đã nung chín
để múc nước, phải biết cái bình nầy sẽ chứa được
mà không rã.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Vô thượng Bồ đề, có đức
tin, đức nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải,
xả, tinh tấn, lại được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật
sâu xa nhẫn đến của nhứt thiết chủng trí, phải biết
người nầy chẳng suy hao giữa đường mà vượt khỏi bực
Thanh văn, Bích Chi Phật, hay tịnh Phật độ, thành tựu chúng
sanh, chứng được Vô thượng Bồ đề.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ví như thuyền trang bị chưa hoàn thành mà
chở tài vật vượt biển khơi, sẽ biết thuyền nầy sẽ
hư chìm giữa đường, người một nơi, thuyền và tài vật
chìm trôi một ngả. Vì phương tiện không đầy đủ nên lái
buôn phải mất tài vật.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Bồ đề, có đức
tin, có nhẫn, nguyện, tịnh tâm, thâm tâm đến tinh tấn mà
không được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật nhẫn
đến của nhứt thiết chủng trí gia hộ, phải biết người
nầy giữa đường suy hao, mất đại trân bảo nhứt thiết
chủng trí, sa vào bực Thanh văn, Bích Chi Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Ví như người có trí, trang bị thuyền lớn hoàn
hảo, sau đó mới hạ thuyền xuống biển chuyên chở tài vật,
phải biết thuyền nầy tất không hư giữa đường, sẽ đến
được chỗ muốn đến.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, có đức tin, có
nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải, xả, tinh tấn,
lại được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật đến
nhứt thiết chủng trí gia hộ, phải biết người nầy sẽ
được Vô thượng Bồ đề, không bị suy hao giữa đường,
sa vào Thanh văn, Bích Chi Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Ví như có người tuổi già hơn trăm, suy yếu
nhiều bịnh. Người già bịnh nầy nằm liệt trên giường
không thể dậy đi được, hoặc có dậy đi được cũng không
thể bước đi xa một, hai mươi dặm được.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ dầu có tâm Bồ đề có đức tin,
nhẫn có tịnh tâm, thâm tâm, có nguyện, giải, xả, tinh tấn
nhưng chẳng được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật
gia hộ, nhẫn đến chẳng được phương tiện lực của nhứt
thiết chủng trí gia hộ, phải biết người nầy giữa đường
sa vào bực Thanh văn, Bích Chi Phật.
Như
người già hơn trăm tuổi, suy yếu nhiều bịnh muốn đứng
dậy bước đi, có hai người khỏe mạnh tận lực kèm dìu
hai bên, nhờ đó người già bịnh đi đến được chỗ muốn.
Cũng
vậy, thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, có đức tin, có
nhẫn, có tịnh tâm, thâm tâm, có dục, giải, xả, tinh tấn,
lại được phương tiện lực của Bát nhã ba la mật nhẫn
đến của nhứt thiết chủng trí gai hộ, phải biết người
nầy giữa không sa vào bực Thanh văn, Bích Chi Phật mà đến
được chỗ muốn đến, đó là Vô thượng Bồ đề”.
Đến
đây đức Phật lại khen Ngài Tu Bồ Đề: “Lành thay, lành
thay! Tu Bồ Đề vì chư Bồ Tát mà thưa hỏi nơi Như Lai sự
việc như vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! nếu có thiện nam, thiện nữ từ lúc mới phát
tâm đến nay dùng tâm ngã ngã sở mà bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Lúc bố thí nhẫn
đến trí huệ, người nầy có quan niệm: Tôi là thí chủ,
tôi bố thí cho người ấy, tôi bố thí vật ấy, nhẫn đến
có quan niệm tôi là người tu trí huệ, tôi tu trí huệ ấy,
tôi có trí huệ. Người nầy chẳng biết, thử ngạn, chẳng
được sự gia hộ của Bát nhã ba la mật nhẫn đến chẳng
được sự gia hộ của nhứt thiết chủng trí. Vì trong Bát
nhã ba la mật nhẫn đến trong Đàn na ba la mật không có sự
phân biệt như vậy. Xa lìa thử ngạn, bỉ ngạn, đó là tướng
của sáu ba la mật. Vì không được gia hộ nên người nầy
chẳng đến nhứt thiết chủng trí mà sa vào bực Thanh văn,
Bích Chi Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào là người cầu Phật đạo mà không có
phương tiện?
Người
cầu Phật đạo từ lúc sơ phát tâm đến nay không có sức
phương tiện trong khi thật hành sáu độ, người nầy quan
niệm rằng tôi là thí chủ bố thí cho người và dùng tài
vật ấy để bố thí, nhẫn đến quan niệm rằng tôi tu huệ
ấy, có huệ ấy, do đó mà có quan niệm tự cao: Nơi bố thí
tự cao, trì giới tự cao, nhẫn nhục tự cao, tinh tấn tự
cao, thiền định tự cao, trí huệ tự cao. người nầy không
biết rằng không phân biệt nhớ tưởng, xa lìa thử ngạn,
bỉ ngạn là tướng của sáu ba la mật. Vì không biết thử
ngạn, không biết bỉ ngạn nên người nầy không được thủ
hộ của Đàn na ba la mật nhẫn đến không được thủ hộ
của nhứt thiết chủng trí, do đó không thể đến được
nhứt thiết chủng trí mà phải sa vào bực Thanh văn hay Bích
Chi Phật.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! đại Bồ Tát nếu chẳng được sức
phương tiện của Bát nhã ba la mật thủ hộ, tất phải sa
vào bực Thanh văn hay Bích Chi Phật.
Nếu
được sự gia hộ của phương tiện lực Bát nhã ba la mật,
đại Bồ Tát tất mau được Vô thượng Bồ đề, không bị
sa vào bực Thanh văn hay Bích Chi Phật.
Thế
nào là được sự gia hộ?
Nầy
Tu Bồ Đề! Từ ban sơ đến nay, Bồ Tát dùng sức phương
tiện mà bố thí, không tâm nghĩ có ngã ngã sở nhẫn đến
không tâm ngã ngã sở mà tu trí huệ. Bồ Tát nầy chẳng nghĩ
rằng tôi có bố thí, đó là của tôi bố thí, chẳng vì bố
thí mà tự cao, nhẫn đến chẳng vì trí huệ mà tự cao. Bồ
Tát nầy chẳng nghĩ rằng tôi là thí chủ, tôi bố thí cho
người ấy, tôi đem vật ấy để bố thí, nhẫn đến chẳng
nghĩ rằng tôi tu trí huệ, tôi có trí huệ ấy. Tại sao vậy?
Vì trong Đàn na ba la mật không có sự phân biệt như vậy,
xa lìa thử ngạn, bỉ ngạn là tướng của Đàn na ba la mật,
nhẫn đến xa lìa thử ngạn, bỉ ngạn là tướng Bát nhã
ba la mật. Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật không sự
nhớ nghĩ, phân biệt như vậy.
Bồ
Tát nầy biết thử ngạn, biết bỉ ngạn. Bồ Tát nầy được
Đàn na ba la mật hộ niệm nhẫn đến được Bát nhã ba la
mật hộ niệm, được nội không, ngoại không nhẫn đến
được nhứt thiết chủng trí họ niệm. Vì được sự hộ
niệm đó nên Bồ Tát nầy chẳng sa vào bực Thanh văn, Bích
Chi Phật mà được đến bực nhứt thiết chủng trí.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! đại Bồ Tát vì được phương tiện
lực của Bát nhã ba la mật gia hộ nên chẳng sa vào bực Thanh
văn, Bích Chi Phật mà mau được Vô thượng Bồ đề”.
●
PHẨM
THIỆN TRI THỨC
THỨ
NĂM MƯƠI HAI
Ngài
Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Hàng tân học
Bồ Tát phải học sáu ba la mật như thế nào?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Nếu muốn học sáu ba la mật,
hàng tân học Bồ Tát phải trước cúng dường gần gũi bực
thiện tri thức hay giảng nói Bát nhã ba la mật sâu xa nầy.
Thiện tri thức ấy giảng dạy rằng: Nầy thiện nam tử! Có
bao nhiêu bố thí đều hồi hướng Bồ đề tất cả, có bao
nhiêu trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ
đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề tất cả. Ngươi chớ
cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Vô thượng Bồ đề,
chớ cho sáu ba la mật là Vô thượng Bồ đề, chớ cho nội
không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không là Vô thượng Bồ
đề, chớ cho tứ niệm xứ đến bát thánh đạo là Vô thượng
Bồ đề, chớ cho mười trí lực đến mười tám pháp bất
cộng là Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy? Vì chẳng nắm
lấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì được Vô thượng
Bồ đề, chẳng nắm lấy sáu ba la mật nhẫn đến chẳng
nắm lấy mười tám pháp bất cộng thì được Vô thượng
Bồ đề.
Nầy
thiện nam tử! Lúc thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa nầy
chớ tham sắc, chớ tham thọ, tưởng, hành, thức, chớ tham
sáu ba la mật nhẫn đến chớ tham nhứt thiết chủng trí.
Vì sắc chẳng phải cái có thể tham được, nhẫn đến vì
nhứt thiết chủng trí chẳng phải có cái để tham được.
Nầy
thiện nam tử! Chớ tham quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến chớ tham
bực Bồ Tát, chớ tham Vô thượng Bồ đề. Tại sao vậy?
Vì Vô thượng Bồ đề chẳng phải cái có thể được. Tại
sao vậy? Vì pháp tánh không vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Chư Bồ Tát hay làm
việc khó: ở trong pháp tánh không mà cầu Vô thượng Bồ
đề, mà muốn được Vô thượng Bồ đề.
Đức
Phật dạy: “Đúng như vậy. Nầy Tu Bồ Đề! đại Bồ Tát
hay làm được việc khó: Ở trong pháp tánh không mà cầu Vô
thượng Bồ đề, mà muốn được Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì muốn an ổn thế gian nên chư đại Bồ Tát
phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì muốn an lạc thế gian, cứu
thế gian, làm chỗ về cho thế gian, làm chỗ ý cứ cho thế
gian, làm cồn đảo cho thế gian, làm nhà dìu dắt thế gian,
làm con đường rốt ráo cho thế gian, làm chỗ đến cho thế
gian mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì an ổn thế gian, vì an lạc thế gian
mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ
Tát lúc được Vô thượng Bồ đề để cứu với lục đạo
chúng sanh ra khỏi lo khổ sấu não, đặt lên bờ Niết Bàn
vô úy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì cứu thế gian mà chư đại Bồ Tát
phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát lúc được Vô
thượng Bồ đề cứu khổ sanh tử cho chúng sanh, thuyết pháp
cho chúng sanh, chúng sanh được nghe pháp lần lần do ba thừa
mà được độ thoát.
Nầy
Tu Bồ Đề! thế nào là vì làm chỗ về cho thế gian mà chư
đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát
lúc được Vô thượng Bồ đề cứu chúng sanh ra khỏi tướng
sanh, già, bịnh, chết, lo buồn sầu não, đặt chúng nơi bờ
Niết Bàn vô úy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm chỗ y cứ cho thế gian mà chư
đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát
lúc được Vô thượng Bồ đề vì chúng sanh mà nói tất cả
pháp không chỗ y cứ”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là tất cả
pháp không chỗ y cứ?”
Đức
Phật dạy: “Nầy Tu Bồ Đề! Sắc chẳng tương tục đó
là sắc không sanh, sắc không sanh đó là sắc không diệt,
sắc không diệt đó là sắc không chỗ y cứ. Như sắc, thọ,
tưởng, hành, thức đến nhứt thiết chủng trí cũng vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! thế nào vì làm con đường rốt ráo cho thế gian
mà chư đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Lúc được
Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát vì chúng sanh mà nói pháp
như vầy: Tướng rốt ráo của sắc, thọ, tưởng, hành, thức
nhẫn đến của nhứt thiết chủng trí chẳng phải sắc, chẳng
phải thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng phải nhứt
thiết chủng trí.
Như
tướng rốt ráo, tất cả pháp tướng đều như vậy”.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều như tướng rốt ráo,
tại sao chư đại Bồ Tát đều phải được Vô thượng Bồ
đề. Vì trong tướng rốt ráo của sắc, thọ, tưởng, hành,
thức nhẫn đến trong tướng rốt ráo của nhứt thiết chủng
trí đều không có phân biệt là sắc, là thọ, tưởng, hành,
thức nhẫn đến không có phân biệt là nhứt thiết chủng
trí“. Đức Phật dạy: “Đúng như vậy. Nầy Tu Bồ Đề!
Trong tướng rốt ráo của sắc, của thọ, tưởng, hành, thức
nhẫn đến không có phân biệt là sắc, là thọ, tưởng, hành,
thức nhẫn đến không có phân biệt là nhứt thiết chủng
trí.
Tu
Bồ Đề! Đây là việc khó của đại Bồ Tát: quán sát tướng
tịch diệt của các pháp mà tâm Bồ Tát chẳng mất, chẳng
bỏ. Vì đại Bồ Tát nghĩ rằng pháp sâu xa như vậy tôi phải
biết như vậy, lúc được Vô thượng Bồ đề sẽ vì chúng
sanh mà nói pháp tịch diệt vi diệu như vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm cồn đảo cho thế gian mà đại
Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Trong sông trong biển,
chỗ đất mà bốn phía đều bị nước cắt đứt thì gọi
là cồn đảo. Cũng vậy, sắc trước sau đứt đoạn, thọ,
tưởng, hành, thức trước sau đứt đoạn, nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí trước sau đứt đoạn. Vì trước sau đứt
đoạn nên tất cả pháp đều đứt đoạn.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp trước sau đứt đoạn đó là tịch
diệt, đó là diệu bảo, tức là không, là vô sở đắc, nhiễn
ái dứt sạch, là ly dục Niết Bàn.
Lúc
được Vô thượng Bồ đề, đại Bồ Tát vì chúng sanh mà
nói pháp tịch diệt vi diệu.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm nhà dìu dắt thế gian mà chư
đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề? Đại Bồ Tát
lúc được Vô thượng Bồ đề vì chúng sanh mà giảng nói
sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng
cấu, chẳng tịnh, vì chúng sanh mà giảng nói thập nhị nhập,
thập bát giới, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ không định,
tứ niệm xứ đến bát thánh đạo, ngũ thần thông là chẳng
sanh, diệt, chẳng cấu, tịnh, giảng nói Tu Đà Hoàn quả nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí là chẳng sanh, diệt, cấu, tịnh.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thế nào vì làm chỗ đến cho chúng sanh mà chư
đại Bồ Tát phát tâm Vô thượng Bồ đề! Đại Bồ Tát
lúc được Vô thượng Bồ đề vì chúng sanh mà giảng nói
sắc đến không, thọ, tưởng, hành, thức đến không nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí đến không. Vì chúng sanh mà giảng
nói sắc chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến, nhẫn
đến giảng nói nhứt thiết chủng trí chẳng phải đến chẳng
phải chẳng đến. Tại sao vậy? Vì tướng không của sắc
chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến, vì tướng không
của thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến tướng không của
nhứt thiết chủng trí chẳng phải đến chẳng phải chẳng
đến. Vì tất cả pháp đến không tức là đến mà chẳng
có qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong không đều không có
đến hay chẳng phải đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô tướng. Sự đến nầy là
chẳng
qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô tướng, đến và chẳng
đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô tác. Sự đến nầy là chẳng
qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô tác, đến và chẳng
đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô khởi, đến bất sanh diệt,
đến bất cấu tịnh, đến vô sở hữu. Sự đến nầy là
chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô khởi, trong
vô sở hữu, trong bất sanh diệt, bất cấu tịnh, đến và
chẳng đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến mộng, ảo, hưởng, ảnh, hóa.
Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong
mộng, ảo, hưởng, ảnh, hóa, đến và chẳng đến đều không
có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến vô lượng vô biên. Sự đến
nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong vô lượng
vô biên, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến chẳng cho, chẳng lấy. Sự đến
nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong chẳng
cho, chẳng lấy nầy, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến chẳng cao, chẳng hạ. Sự đến
nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong chẳng
cao, chẳng hạ nầy, đến và chẳng đến đều không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến bất tăng, bất giảm. Sự đến
nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong bất tăng,
bất giảm nầy, đến và chẳng đến đều không thể được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến bất lai, bất khứ, bất nhập
xuất, bất hiệp tán, bất trước đoạn. Sự đến nầy là
chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì trong bất lai khứ, nhập
xuất, hiệp tán, trước đoạn, đến và chẳng đến đều
không có được.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến ngã, đến nhơn, đến chúng sanh,
đến thọ giả, đến khởi, đến sử khởi, đến tác, đến
sử tác, đến tri giả, đến kiến giả. Sự đến nầy là
chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì ngã nhẫn đến tri giả,
kiến giả đều rốt ráo không có được thì làm sao có đến,
chẳng phải đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến thường, đến lạc, đến ngã,
đến tịnh. Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao
vậy? Vì thường, lạc, ngã, tịnh rốt ráo không có được
thì làm sao có đến, chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến tham, sân, si, mạn, nghi, kiến.
Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì tham,
sân, si, mạn, nghi, kiến rốt ráo không có được thì làm
sao có đến, chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến như, đến pháp tánh, đến thiệt
tế, đến bất tư nghì tánh. Sự đến nầy là chẳng qua đến
đâu. Tại sao vậy? Vì trong như, trong pháp tánh, thiệt tế,
bất tư nghì tánh không có lai, không có khứ.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến bình đẳng, đến bất động
tướng. Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy?
Vì trong bình đẳng, trong tướng bất động không có đến
và chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến sắc, đến thọ, tưởng, hành,
thức, đến thập nhị nhập, thập bát giới. Sự đến nầy
là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, nhập, giới đều chẳng có được thì làm sao
có đến, chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến lục ba la mật nhẫn đến thập
bát không, đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Sự đến nầy
là chẳng qua đến đâu. Tại sao vậy? Vì sáu ba la mật nhẫn
đến bát thánh đạo đều không có được thì làm sao có
đến, chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến mười trí lực nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí. Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại
sao vậy? Vì trong nhứt thiết chủng trí không có đến và
chẳng đến.
Tu
Bồ Đề! Tất cả pháp đến quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến Vô
thượng Bồ đề. Sự đến nầy là chẳng qua đến đâu. Tại
sao vậy? Vì trong quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến trong Vô thượng
Bồ đề không có đến và chẳng đến”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! ai là người tin hiểu
Bát nhã ba la mật sâu xa nầy?”
Đức
Phật dạy: “Nầy Tu Bồ Đề! Có đại Bồ Tát từ trước
ở chỗ chư Phật đã tu sáu ba la mật, thiện căn thuần thục,
cúng dường vô số trăm ngàn muôn ức chư Phật, thường gần
gũi thiện tri thức. Những người nầy hay tin hiểu Bát nhã
ba la mật sâu xa”.
Bạch
đức Thế Tôn! Người hay tin hiểu Bát nhã ba la mật sâu xa
nầy có tánh gì, tướng gì, mạo gì?
Tánh,
tướng, mạo rời lìa tham, sân, si, đại Bồ Tát nầy tin hiểu
Bát nhã ba la mật sâu xa”.
●
PHẨM
XU HƯỚNG NHỨT THIẾT TRÍ
THỨ
NĂM MƯƠI BA
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát hiểu
Bát nhã ba la mật sâu xa nầy sẽ đến chỗ nào?”
Đức
Phật dạy: “Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát hiểu Bát nhã
ba la mật sâu xa nầy sẽ đến nhứt thiết chủng trí”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát hay đến
nhứt thiết chủng trí nầy làm chỗ về đến cho tất cả
chúng sanh, vì tu Bát nhã ba la mật vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Tu Bát nhã ba la mật là tu tất cả pháp.
Bạch
đức Thế Tôn! Không chỗ tu là tu Bát nhã ba la mật. Chẳng
thọ tu, hư hoại tu là tu Bát nhã ba la mật”.
- Do
pháp gì hư hoại mà Bát nhã ba la mật là hư hoại tu?
- Bạch
đức Thế Tôn! Vì sắc hư hoại nên Bát nhã ba la mật là
hư hoại tu.
Vì
thọ, tưởng, hành, thức hư hoại, vì thập nhị nhập, thập
bát giới hoại nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì
ngã nhẫn đến tri giả, kến giả hoại nên Bát nhã ba la mật
là hoại tu.
Vì
Đàn na ba la mật hoại nhẫn đến Bát nhã ba la mật hoại
nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì
nội không hoại nhẫn đến mười tám pháp bất cộng hoại
nên Bát nhã ba la mật là hoại tu.
Vì
tứ niệm xứ hoại nhẫn đến nhứt thiết chủng trí hoại
nên Bát nhã ba la mật là hoại tu”.
Đức
Phật dạy: “Đúng như vậy. Nầy Tu Bồ Đề! Vì sắc hoại
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí hoại nên Bát nhã ba la mật
là hoại tu.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, bực bất
thối địa Bồ Tát phải nghiệm biết.
Nếu
ở trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy mà chẳng trước chấp,
phải biết đó là bực bất thối địa Bồ Tát.
Nếu
trong Thiền na ba la mật nhẫn đến trong nhứt thiết chủng
trí mà chẳng trước chấp, phải biết đó là bực bất thối
địa Bồ Tát.
Lúc
hành thâm Bát nhã ba la mật, bực bất thối địa Bồ Tát
chẳng lấy lời người khác làm khẩn yếu, cũng chẳng làm
theo lời chỉ bảo của người khác.
Bực
bất thối địa Bồ Tát chẳng bị tâm dục, tâm sân, tâm
si kéo dắt, chẳng bao giờ rời lìa sáu ba la mật.
Lúc
nghe nói Bát nhã ba la mật sâu xa, bực bất thối địa Bồ
Tát chẳng kinh sợ, chẳng ăn năn, nghi ngờ mà hoan hỉ ưa
nghe, thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm và thật hành đúng
như lời.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phải biết Bồ Tát nầy đời trước đã từng
nghe sự việc trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy và đã thọ
trì, đọc tụng, chánh ức niệm. Tại sao vậy? Vì đại Bồ
Tát nầy hiện tại có oai đức lớn, nghe Bát nhã ba la mật
sâu xa mà lòng không kinh sợ, ăn năn, nghi ngờ, lại hoan hỉ
ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát
nghe Bát nhã ba la mật sâu xa nầy mà không kinh sợ, lại ưa
nghe nhẫn đến chánh ức niệm thì thật hành Bát nhã ba la
mật nầy thế nào?”
Đức
Phật dạy: “Tùy thuận tâm nhứt thiết chủng trí, đây là
chỗ phải thật hành Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát”.
- Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào gọi là tùy thuận tâm nhứt thiết
chủng trí mà đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật phải
như vậy?
- Nầy
Tu Bồ Đề! Lấy không để tùy thuận, lấy vô tướng, vô
tác để tùy thuận, lấy vô sở hữu, bất sanh, bất diệt,
bất cấu, bất tịnh để tùy thuận, đó là đại Bồ Tát
thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa.
Lấy
như mộng, như ảo, diệm. hưởng, hóa để tùy thuận, đó
là thật hành Bát nhã ba la mật.
- Bạch
đức Thế Tôn! Như đức Phật tuyên dạy lấy không nhẫn
đến lấy như mộng, ảo để tùy thuận, người thật hành
Bát nhã ba la mật phải như vậy. Đại Bồ Tát nầy hành pháp
gì?
- Nầy
Tu Bồ Đề! đại Bồ Tát chẳng hành nơi sắc, thọ, tưởng,
hành, thức nhẫn đến chẳng hành nơi nhứt thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì chỗ hành của Bồ Tát nầy không pháp làm,
không pháp hoại, không từ đâu đến cũng chẳng đến đâu,
không chỗ trụ, không tính được, không lường được. Nếu
là không tính được, không lường được thì pháp ấy là
chẳng thể được, chẳng thể dùng sắc để được nhẫn
đến chẳng thể dùng nhứt thiết chủng trí để được.
Tại sao vậy? Vì sắc tức là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba
la mật tức là sắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí tức
là Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật tức là nhứt thiết
chủng trí.
Nếu
sắc tướng như nhẫn đến nhứt thiết chủng trí tướng
như thì đều là như duy nhứt, không hai, không khác.
Sắc
tướng như, Bát nhã ba la mật tướng như: như duy nhứt, không
hai, không khác.
Nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí tướng như, Bát nhã ba la mật
tướng như: như duy nhdất, không hai, không khác”.