Quyển
thứ năm
PHẨM
THỨ TƯ : PHẬT TÂM
Lúc
bấy giờ, đức Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Ta nay vì ông nói về Ý sinh thân tu hành sai
biệt ! Này Ðại Tuệ ! Ông hãy lắng nghe ! Lắng nghe ! Ta sẽ
vì ông nói !
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Thưa vâng, con xin thọ giáo!
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Có ba thứ Ý sinh thân. Những gì là ba ?
Một
là, được niềm vui tam muội Tam ma bạt đề Ý sinh thân.
Hai
là, như thật hay biết tướng các pháp Ý sinh thân.
Ba
là, chủng loại sinh không tác hạnh Ý sinh thân. Bồ tát từ
Sơ địa tu hành như thật được Thượng thượng địa (lên
địa trên) chứng tướng trí.
Này
Ðại Tuệ ! Ðại Bồ tát được Tam muội lạc Tam ma bạt
đề Ý sinh thân là gì ? Nghĩa là trong địa thứ ba, thứ tư,
thứ năm, tự tâm tịch tịnh tu hành đủ thứ hạnh. Sóng
lòng biển cả chuyển niềm vui tướng thức Tam ma bạt đề,
gọi là Ý thức sinh. Do thấy cảnh giới tự tâm nên biết
như thật tướng có, không. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là Ý
sinh thân tướng.
Này
Ðại Tuệ ! Hiểu biết như thật các pháp tướng Ý sinh thân
là gì ? Nghĩa là Ðại Bồ tát ở trong Bát địa quan sát hiểu
rõ, được các pháp vô tướng, pháp như huyễn.v.v... đều
không sở hữu, thân tâm chuyển biến được Như huyễn tam
muội và vô lượng cửa vui Tam ma bạt đề khác, vô lượng
tướng lực tự tại thần thông, diệu hoa trang nghiêm phấn
tấn như ý, giống như huyễn, mộng, trăng trong nước, hình
tượng trong gương, chẳng phải bốn đại sinh ra mà tương
tợ tướng bốn đại, đầy đủ thân phận. Tất cả tu hành
được tự tại như ý, theo vào đại chúng của đất nước
chư Phật. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là Như Thật Giác Tri Chư
Pháp Tướng Ý Sinh Thân.
Này
Ðại Tuệ ! Chủng loại sinh vô tác hạnh Ý sinh thân là gì
? Nghĩa là, tự thân nội chứng tất cả các pháp, vui như
thật với tướng vui tướng pháp. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi
là Chủng loại sinh vô tác hạnh Ý sinh thân.
Này
Ðại Tuệ ! Ông phải đối với ba thứ thân tướng đó mà
quan sát biết rõ !
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Thừa
ta phi Ðại thừa
Phi
thuyết (nói) cũng phi tự (chữ)
Phi
giải thoát, phi Ðế
Chẳng
phải cảnh giới không (có)
Nhưng
thừa Ma ha diễn (đại thừa)
Tự
tại Tam ma đề
Ý
sinh thân đủ thứ
Tự
tại hoa trang nghiêm.
Lúc
bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại bạch đức Phật
rằng:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Như đức Thế Tôn nói, thiện nam tử,
thiện nữ nhân làm năm nghiệp vô gián. Thưa đức Thế Tôn
! Những gì là năm nghiệp vô gián mà thiện nam tử, thiện
nữ nhân làm năm vô gián vào với vô gián.
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay này Ðại Tuệ ! Ông hãy lắng nghe
! Lắng nghe ! Ta sẽ vì ông nói !
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Thưa vâng, con xin thọ giáo !
Ðức
Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng :
-
Năm Vô gián, một là giết mẹ. Hai là, giết cha. Ba là, giết
A la hán. Bốn là, phá hòa hợp Tăng. Năm là, ác tâm làm chảy
máu thân Phật.
Này
Ðại Tuệ ! Mẹ chúng sinh là gì ? Nghĩa là lại thọ đời
sau, ham thích sinh ra như duyên vào mẹ lập nên.
Này
Ðại Tuệ ! Cha là gì ? Nghĩa là vô minh là cha sinh, sáu nhập
gom lại. Này Ðại Tuệ ! Ðoạn trừ hai thứ căn bản có khả
năng sinh đó thì gọi là giết cha, mẹ.
Này
Ðại Tuệ ! Giết A la hán là gì ? Nghĩa là các sử như dịch
độc loài chuột phát, hạt đi các sử oán căn bản, chẳng
sinh ra. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là giết A la hán.
Này
Ðại Tuệ ! Phá hòa hợp Tăng là gì ? Nghĩa là tướng khác
năm ấm hòa hợp tích tụ mà đoạn phá rốt ráo thì gọi
là phá Tăng.
Này
Ðại Tuệ ! Tâm ác làm chảy máu thân Phật là gì ? Nghĩa
là tự tướng đồng tướng thấy tướng bên ngoài tự tâm,
thân tám thứ thức nương vào vô lậu, ba cửa giải thoát,
đoạn rốt ráo Phật tám thứ thức thì gọi là ác tâm làm
chảy máu thân Phật. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là nội thân
năm thứ vô gián. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân làm vô
gián này được gọi là người vô gián, người vô gián gọi
là chứng như thật pháp.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Ta vì các ông nói năm thứ tướng vô
gián bên ngoài. Các Bồ tát nghe nghĩa đó rồi, ở đời vị
lai chẳng sinh ra lòng nghi.
Này
Ðại Tuệ ! Năm thứ vô gián bên ngoài là gì ? Nghĩa là giết
cha, mẹ, A la hán, phá hòa hợp Tăng, làm chảy máu thân Phật.
Người làm vô gián này thì ở trong ba cửa giải thoát chẳng
thể được chứng mỗi một giải thoát, trừ nương vào lực
Như Lai trụ trì. Thần lực của Như Lai, Bồ tát, Thanh Văn
ứng hóa vì năm thứ tội nhân sám hối nghi tâm. Ðoạn nghi
tâm này khiến sinh ra thiện căn, rồi vì tội nhân đó tạo
tác ứng hóa mà nói. Này Ðại Tuệ ! Nếu người phạm năm
thứ tội vô gián thì rốt ráo chẳng được chứng vào đạo
phận, trừ kẻ thấy tự tâm chỉ là hư vọng, lìa khỏi chỗ
nương trụ và của cải của thân, phân biệt thấy tướng
của ngã và ngã sở, ở trong vô lượng vô biên kiếp gặp
được thiện tri thức, thân ở đường khác thì lìa khỏi
lỗi thấy của tự tâm hư vọng.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Tham
ái gọi là mẹ
Vô
minh tức là cha
Liễu
cảnh thức là Phật
Các
sử là La hán
Ấm
tụ gọi là Tăng
Vô
gián nối nhau đoạn
Nghiệp
vô gián lại không
Ðược
chân như vô gián.
Lúc
bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại bạch đức Phật
rằng:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Nguyện xin vì con nói tướng tri giác
của các đức Như Lai !
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Ðại Bồ tát rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Biết như thật là người vô ngã, pháp vô
ngã, như thật có thể biết hai thứ chướng, xa lìa hai thứ
phiền não. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là Tri giác như thật
của Như Lai. Này Ðại Tuệ ! Thanh Văn, Bích Chi Phật, người
được pháp này thì cũng gọi là Phật. Này Ðại Tuệ ! Do
nhân duyên này nên ta nói Nhất Thừa.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn lại một lần nữa nói kệ rằng :
Giỏi
biết hai vô ngã
Hai
chướng, hai não phiền
Ðược
biến (hóa) chẳng nghĩ bàn
Gọi
là tri giác Phật.
Bấy
giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại bạch đức Phật rằng
:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Vì sao đức Thế Tôn ở trong đại chúng
nói lời như vầy : “Ta là tất cả Phật quá khứ” và nói
đủ thứ kinh Bản Sinh : “Ta vào lúc ấy làm vua Ðỉnh Sinh,
voi lớn sáu ngà, chim Anh vũ, Tỳ Gia Ta tiên nhân, Ðế Thích
vương, Thiện Nhãn Bồ tát.v.v... như vậy, trong trăm ngàn Kinh
đều nói Bản Sinh.
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Ðại Bồ tát rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Nương theo bốn thứ bình đẳng, Như Lai Ứng
Chánh Biến Tri, ở trong đại chúng xướng lên lời như vầy
: “Ta vào lúc ấy làm Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni
Phật, Ca Diếp Phật”. Những gì là bốn ? Một là, chữ (tự)
bình đẳng. Hai là lời nói (ngữ) bình đẳng. Ba là, pháp
bình đẳng. Bốn là, thân bình đẳng. Này Ðại Tuệ ! Nương
vào bốn thứ pháp bình đẳng này, các đức Phật Như Lai
ở tại trong chúng nói lời như vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Chữ bình đẳng là gì ? Nghĩa là những chữ gì
mà Phật quá khứ gọi Phật thì ta đồng với chữ đó cũng
gọi là Phật, chẳng qua khỏi chữ đó mà cùng với chữ đó
ngang bằng không khác không biệt. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi
là Tự bình đẳng.
Này
Ðại Tuệ ! Lời nói chư Phật bình đẳng là gì ? Nghĩa là
ngôn ngữ nói pháp của Phật quá khứ có sáu mươi bốn thứ
Phạm thanh mỹ diệu thì ta cũng có sáu mươi tư thứ ngôn
ngữ nói pháp bằng Phạm thanh vi diệu. Này Ðại Tuệ ! Các
đức Phật vị lai cũng dùng ngôn ngữ nói pháp bằng sáu mươi
tư thứ Phạm thanh vi diệu, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng
khác, không sai biệt tiếng Phạm mỹ diệu như tiếng chim Ca
Lăng Tần Già. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là lời nói bình đẳng
của các đức Phật.
Này
Ðại Tuệ ! Thân bình đẳng của chư Phật là gì ? Này Ðại
Tuệ ! Pháp thân, sắc thân của ta và chư Phật, tướng tốt
trang nghiêm không khác, không sai biệt, trừ việc nương theo
những chúng sinh đáng hóa. Những chúng sinh kia đủ thứ chỗ
sinh sống nên chư Phật Như Lai hiện đủ thứ thân theo họ.
Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là thân bình đẳng của chư Phật.
Này
Ðại Tuệ ! Sao là pháp bình đẳng của chư Phật ? Nghĩa là
đức Phật đó và ta được ba mươi bảy pháp Bồ Ðề phận,
mười lực, bốn vô úy.v.v... Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là
Pháp bình đẳng của chư Phật.
Này
Ðại Tuệ ! Nương vào bốn thứ pháp bình đẳng này nên Như
Lai ở trong đại chúng nói lời như vầy : “Ta là vua Ðỉnh
Sinh đời quá khứ.v.v...”
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Ca
Diếp, Câu Lưu Tôn
Câu
Na Hàm... ta đó
Nói
cho các Phật tử
Bốn
pháp bình đẳng nương.
Bồ
tát Ðại Tuệ lại bạch đức Phật rằng :
-
Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai nói rằng, đêm nào ta chứng
Ðại Bồ Ðề ? Ðêm nào ta vào Bát Niết Bàn ? Ta ở trung
gian chẳng nói một chữ chữ, Phật nói chẳng phải nói. Ðức
Thế Tôn y vào những nghĩa gì mà nói lời như vậy ? Lời
nói của Phật chẳng phải lời nói ?
Ðức
Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Như Lai y vào hai thứ pháp mà nói lời như
vậy. Cái gì là hai để ta nói như vậy ? Một là, y vào pháp
tự thân nội chứng. Hai là, y vào pháp bản trụ. Ta y vào
hai pháp này mà nói lời như vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Làm sao y vào pháp tự thân nội chứng ? Là pháp
chứng được của các đức Phật Như Lai quá khứ kia, ta cũng
chứng được như vậy chẳng thêm chẳng bớt, tự thân nội
chứng các cảnh giới hạnh, lìa khỏi tưởng ngôn ngữ phân
biệt, lìa khỏi hai thứ chữ (tự) vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Pháp bản trụ là gì ? Này Ðại Tuệ ! Nghĩa là
đường bản hạnh bằng phẳng ví như các báu vàng, bạc,
trân châu ở tại chỗ đó. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là pháp
tính bản trụ xứ.
Này
Ðại Tuệ ! Các đức Phật Như Lai ra đời, chẳng ra đời
thì pháp tính, pháp giới, pháp trụ, pháp chứng vẫn thường
trụ như đường đi vốn có của ngôi thành. Này Ðại Tuệ
! Ví như có người đi trong vùng Khoáng dã thấy hướng đi
về ngôi thành có con đường ngay bằng phẳng liền theo đó
vào thành. Vào ngôi thành đó rồi, hưởng thụ đủ thứ niềm
vui, tạo tác đủ thứ nghiệp. Này Ðại Tuệ ! Ý ông thế
nào ? Việc làm trước của người đó chính là con đường
theo vào thành sao ? Trước đã đủ thứ các trang nghiêm sao
?
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Chẳng phải vậy, thưa đức Thế Tôn !
-
Này Ðại Tuệ ! Ta và tất cả chư Phật quá khứ thì pháp
tính, pháp giới, pháp trụ, pháp tướng, pháp thường trụ
cũng lại như vậy. Này Ðại Tuệ ! Ta y vào ý nghĩa này mà
ở trong đại chúng nói lên như vầy : “Ta đêm nào được
Ðại Bồ Ðề, đêm nào vào Bát Niết Bàn, khoản giữa hai
đêm này, ta chẳng nói một chữ, cũng chẳng đã nói, sẽ
nói và hiện nói”.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Ta
đêm nào thành đạo
Ðêm
nào Bát Niết Bàn
Khoản
giữa hai đêm ấy
Lời
nói ta đều không.
Nội
thân chứng pháp tính
Nói
như vậy, ta nương
Ta
và mười phương Phật
Các
pháp không sai biệt.
Bấy
giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại thỉnh đức Phật
rằng :
-
Nguyện xin đức Thế Tôn nói về tướng có không của tất
cả pháp, khiến cho con và đại chúng Bồ tát khác được
nghe thế rồi lìa khỏi tướng có không, mau chóng được Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay ! Này Ðại Tuệ ! Ông hãy lắng nghe
! Lắng nghe ! Ta sẽ vì ông giải nói !
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Thưa vâng, con xin thọ giáo!
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Người thế gian, đa phần rơi vào hai kiến.
Những gì là hai kiến ? Một là, thấy có. Hai là, thấy không.
Do thấy có các pháp, thấy không các pháp, chẳng phải pháp
cứu cánh mà sinh ra cứu cánh tưởng.
Này
Ðại Tuệ ! Làm sao thế gian rơi vào hữu kiến ? Gọi là nhân
duyên thật có mà sinh ra các pháp chẳng phải chẳng thật
có. Pháp thật có sinh chẳng phải không pháp sinh ra. Này Ðại
Tuệ ! Người thế gian nói như vậy thì đó gọi là nói không
nhân, không duyên và bài báng thế gian, không nhân không duyên
mà sinh ra các pháp.
Này
Ðại Tuệ ! Người thế gian làm sao rơi vào vô kiến ? Là
nói rằng, tham sân si, thật có tham sân si mà lại nói rằng,
không tham sân si, phân biệt có, không.
Này
Ðại Tuệ ! Nếu lại có người nói lên lời như vầy : “Không
có các pháp do chẳng thấy tướng của các vật”.
Này
Ðại Tuệ ! Nếu lại có người nói lên như vầy : “Thanh
Văn, Bích Chi Phật không tham không sân không si” rồi lại
nói, trước thì có. Hai người này thì người nào thắng hơn
? Người nào chẳng đúng ?
Bồ
tát Ðại Tuệ bạch rằng :
-
Nếu người nói rằng, trước có tham sân si, thời gian sau
không thì người này chẳng đúng !
Ðức
Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay ! Này Ðại Tuệ ! Ông giỏi, ta hỏi.
Này Ðại Tuệ ! Chẳng phải chỉ nói trước thật có tham
sân si, về sau nói không đồng với vệ thế sư (thầy hộ
vệ đời).v.v... Vậy nên chẳng đúng !
Này
Ðại Tuệ! Chẳng phải chỉ chẳng như diệt tất cả pháp
của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Vì sao vậy ? Này Ðại Tuệ !
Do thật không các pháp nội ngoại, do chẳng phải một chẳng
phải khác, do các phiền não chẳng phải một, chẳng phải
khác vậy. Này Ðại Tuệ ! Pháp tham sân si nội thân chẳng
thể được, trong ngoại pháp cũng chẳng thể được, không
thật thể nên ta chẳng hứa. Này Ðại Tuệ ! Ta chẳng hứa
là chẳng hứa có tham sân si. Vậy nên người đó diệt pháp
của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Vì sao vậy ? Vì các đức Phật
Như Lai biết pháp Tịch tịnh còn Thanh Văn, Duyên Giác chẳng
thấy pháp, do không có nhân của năng phược, sở phược (khả
năng trói, kẻ bị trói). Này Ðại Tuệ ! Nếu có năng phược
thì nhất định có sở phược. Nếu có sở phược thì nhất
định có nhân năng phược. Này Ðại Tuệ ! Nói như vậy thì
gọi là diệt các pháp. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là Vô pháp
tướng.
Này
Ðại Tuệ ! Ta y vào nghĩa này mà trong Kinh khác nói rằng,
thà khởi lên ngã kiến như núi Tu Di mà khởi lên kiêu mạn,
chứ chẳng nói rằng, các pháp là trống không.
Này
Ðại Tuệ ! Người tăng thượng mạn nói rằng, các pháp không
có thì chính là diệt các pháp, rơi vào kiến tự tướng,
đồng tướng. Do thấy tự tâm thấy pháp, do thấy ngoại vật
vô thường, các tướng đắp đổi đó, đó sai biệt, do thấy
thể nối tiếp nhau của ấm, giới, nhập nhân duyên đó, đó
đắp đổi mà sinh ra, do tự tâm hư vọng phân biệt. Vậy
nên, này Ðại Tuệ ! Như người này là diệt các Phật pháp.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Kiến
lập nội chứng pháp
Và
nói pháp tướng danh
Nếu
hay giỏi phân biệt
Chẳng
theo lời người khác.
Pháp
ngoại đạo thật không
Như
phàm phu phân biệt
Nếu
pháp hư vọng sinh
Vì
sao thủ (lấy) giải thoát
Quan
sát các hữu vi
Sinh
diệt luôn tương tục
Với
hai kiến lớn thêm
Chẳng
thể biết nhân duyên
Niết
Bàn lìa khỏi Thức
Chỉ
một pháp thật này
Quán
thế gian hư vọng
Như
cây chuối, huyễn, mộng.
Tuy
có tham sân si
Mà
không có tác giả
Từ
ái mà ấm sinh
Hữu
(có) đều như huyễn, mộng.
Lúc
bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại thỉnh đức Phật
rằng :
-
Thưa đức Thế Tôn ! Nguyện xin đức Như Lai Ứng Chánh Biến
Tri vì các Bồ tát nói về vọng tưởng chẳng thật. Vọng
tưởng trong pháp là những gì?
Ðức
Phật bảo Bồ tát Ðại Tuệ rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay ! Này Ðại Tuệ ! Ông vì yên ổn
cho tất cả chúng sinh, nhiêu ích cho tất cả chúng sinh, an
vui cho tất cả chúng sinh, thương xót tất cả trời, người
của thế gian mà thỉnh ta việc này. Này Ðại Tuệ! Ông hãy
lắng nghe ! Lắng nghe ! Ta sẽ vì ông nói đó !
Ngài
Ðại Tuệ bạch rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Con xin vâng lời thọ giáo !
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Tất cả chúng sinh chấp trước hư vọng tưởng
chẳng thật thì từ kiến (thấy) đủ thứ pháp hư vọng sinh
ra. Do chấp trước các cảnh giới hư vọng năng thủ khả
thủ vào tự tâm kiến mà sinh ra hư vọng tưởng, rơi vào
trong bè đảng nhị kiến có không, trong nhóm phi pháp, tăng
trưởng thành tựu sự huân tập dị kiến hư vọng của ngoại
đạo. Này Ðại Tuệ ! Do thủ lấy những nghĩa hí luận bên
ngoài nên khởi lên tâm hư vọng và pháp số của tâm giống
như bó cỏ, phân biệt pháp ngã và ngã sở. Này Ðại Tuệ
! Do nghĩa này nên sinh ra vọng tưởng chẳng thật.
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Thưa đức Thế Tôn ! Nếu các chúng sinh chấp trước hư vọng
tưởng chẳng thật thì từ kiến, đủ thứ pháp hư vọng
sinh ra chấp trước tất cả cảnh giới hư vọng năng thủ
khả thủ, vào tự tâm kiến sinh ra hư vọng tưởng, rơi vào
trong bè đảng nhị kiến có không, trong nhóm phân biệt, tăng
trưởng thành tựu sự huân tập dị kiến hư vọng của ngoại
đạo. Do thủ lấy nghĩa hí luận của ngoại đạo, vọng tưởng
chẳng thật mà khởi lên tâm hư vọng và pháp số của tâm,
giống như bó cỏ, thủ lấy ngã và ngã sở... thì thưa đức
Thế Tôn ! Như những chúng sinh đó nương vào đủ thứ cảnh
giới, đủ thứ tướng bên ngoài, rơi vào trong tướng có
bè đảng, rơi vào trong tướng không bè đảng, lìa khỏi tướng
thấy có không.
Thưa
đức Thế Tôn ! Ðệ nhất nghĩa đế cũng nên như vậy, xa
lìa A hàm lời nói pháp của Thánh, xa lìa các căn, xa lìa sự
kiến lập ba thứ pháp, tướng nhân duyên của thí dụ.
Thưa
đức Thế Tôn ! Sao gọi là một chỗ đủ thứ phân biệt
chấp trước ? Ðủ thứ hư vọng tưởng sinh ra ? Vì sao chẳng
chấp trước Ðệ nhất nghĩa đế ? Hư vọng phân biệt mà
sinh ra phân biệt ? Ðức Thế Tôn nói pháp như vậy chẳng
phải nói bình đẳng mà nói không nhân duyên. Vì sao vậy ?
Vì một chỗ sinh, một chỗ chẳng sinh vậy. Nếu đức Thế
Tôn nói như vậy thì rơi vào hai bè đảng. Do thấy chấp trước
hư vọng phân biệt mà sinh ra phân biệt, do đức Thế Tôn
nói, như nhà huyễn thuật nương vào đủ thứ nhân duyên sinh
ra đủ thứ sắc tượng, do đức Thế Tôn tự tâm hư vọng
phân biệt, do đức Thế Tôn nói đủ thứ hư vọng, hoặc
có hoặc không, chẳng thể ngôn thuyết... là lìa khỏi phân
biệt. Như vây đức Như Lai rơi vào thế gian luận, vào trong
nhóm bè đảng tà kiến tâm !
Ðức
Phật dạy rằng :
Này
Ðại Tuệ ! Theo ta phân biệt hư vọng chẳng sih chẳng diệt.
Vì sao vậy ? Vì chẳng sinh ra tướng phân biệt có không, chẳng
thấy tất cả có không ở bên ngoài. Này Ðại Tuệ ! Do thấy
tự tâm như thật kiến nên hư vọng phân biệt chẳng sinh
chẳng diệt. Này Ðại Tuệ ! Lời nói này của ta chỉ vì
kẻ phàm phu ngu si mà nói tự tâm phân biệt, phân biệt đủ
thứ tùy theo tâm trước sinh ra, phân biệt đủ thứ hữu tướng
chấp trước. Vì sao vậy ? Vì nếu chẳng nói thì phàm phu
ngu si chẳng lìa khỏi sự giác tri hư vọng của tự tâm, chẳng
lìa khỏi chấp trước sự thấy của ngã và ngã sở, chẳng
lìa khỏi những lỗi nhân duyên của nhân quả, hiểu biết
như thật hai thứ tâm, giỏi biết hành tướng của tất cả
các Ðịa, giỏi biết cảnh giới nội chứng sở hạnh tự
thân của chư Phật, chuyển năm pháp thể, thấy phân biệt
tưởng, vào Như Lai địa. Này Ðại Tuệ ! Nhân việc này nên
ta nói, tất cả các chúng sinh.v.v... chấp trước hư vọng
chẳng thật sinh ra tâm, tự tâm phân biệt đủ thứ các nghĩa.
Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh biết nghĩa như thật mà
được giải thoát.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Các
nhân và cùng duyên
Từ
đây sinh thế gian
Vọng
tưởng bốn câu chấp (trước)
Lời
ta, đó chẳng thông (biết)
Ðời
chẳng sinh, không, có
Lìa
chẳng sinh, có, không
Sao
ngu si phân biệt
Sinh
pháp nương nhân duyên
Nếu
hay thấy thế gian
Hữu
vô, phi vô hữu
Chuyển
biến hư vọng tâm
Ðược
pháp chân vô ngã.
Các
pháp vốn chẳng sinh
Mà
nương nhân duyên sinh
Các
duyên tức là quả
Từ
quả chẳng sinh có.
Từ
quả, quả chẳng sinh
Nếu
vậy có hai quả
Nếu
có hai quả thì
Khó
được quả trong quả.
Niệm,
sở niệm lìa rồi
Quán
các hữu vi pháp
Thấy
chẳng duy tâm
Nên
ta nói duy tâm
Lượng
thể và hình tướng
Lìa
các pháp và duyên
Cứu
cánh có tịnh chân
Ta
nói lượng như vậy.
Thế
đế tu giả danh
Ðó
thì không thật sự
Các
ấm, ấm giả danh
Giả
danh phi thật pháp.
Có
bốn bình đẳng là
Tướng,
nhân, sinh, vô ngã
Bốn
bình đẳng như thế
Là
pháp người tu hành,
Chuyển
tất cả các kiến
Lìa
phân biệt phân biệt
Chẳng
thấy và chẳng sinh
Nên
ta nói duy tâm !
Pháp
phi vô, phi hữu
Lìa
các pháp có không
Như
vậy lìa tâm pháp
Nên
ta nói duy tâm !
Phân
biệt nương huân phược (huân tập, trói buộc)
Tâm
nương các cảnh sinh
Chúng
sinh thấy ngoại cảnh
Nên
ta nói duy tâm
Ðược
thấy ngoại pháp không (có)
Tâm
thấy hết như vậy
Trụ
xứ, của cải thân
Nên
ta nói duy tâm.
Bấy
giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát bạch đức Phật rằng
:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai nói rằng, như lời nói
của ta, ông và các Bồ tát chớ chấp trước nghĩa của âm
thanh ngôn ngữ. Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao Bồ tát chẳng
chấp trước vào nghĩa của ngôn ngữ ? Thưa đức Thế Tôn
! Ngôn ngữ là gì ? Nghĩa là gì ?
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay ! Này Ðại Tuệ ! Ta sẽ vì ông nói
!
Ngài
Ðại Tuệ bạch rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Thưa vâng, con xin thọ giáo !
Ðức
Phật bảo rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Thanh (tiếng) là gì ? Thanh nghĩa là nương
vào sự huân tập ngôn ngữ, danh tự hòa hợp phân biệt từ
vô thỉ; nhân vào yết hầu, mũi, răng, má, môi, lưỡi hòa
hợp chuyển động mà phát ra ngôn ngữ đó để phân biệt
các pháp. Ðó gọi là Thanh.
Này
Ðại Tuệ ! Nghĩa là gì ? Là Ðại Bồ tát nương vào văn,
tư, tu lực trí tuệ thánh, ở chỗ không nhàn, ngồi một mình
suy nghĩ.
Sao
gọi là Niết Bàn đi theo đạo Niết Bàn ? Là quan sát cảnh
giới tu hành nội thân, từng Ðịa từng Ðịa, từng chỗ
từng chỗ tu hành thẳng tướng làm chuyển biến nhân huân
tập từ vô thỉ đó. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là Bồ tát
khéo lý giải tướng của nghĩa.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Sao gọi là Ðại Bồ tát khéo giải
nghĩa của ngôn ngữ ? Này Ðại Tuệ ! Bồ tát thấy ngôn ngữ
thanh nghĩa chẳng một chẳng khác. Thấy nghĩa ngôn ngữ thanh
chẳng một chẳng khác. Này Ðại Tuệ ! Nếu nói rằng, ngôn
ngữ lìa khỏi nghĩa thì chẳng nên nhân tiếng ngôn ngữ đó
mà có được nghĩa, mà nghĩa nương vào ngôn ngữ đó tỏ
rõ riêng biệt.
Này
Ðại Tuệ ! Như nương vào ngọn đèn tỏ rõ phân biệt mọi
hình sắc. Này Ðại Tuệ ! Ví như có người thắp đèn lên
quan sát đủ thứ trân bảo, chỗ này như vầy... như vầy....
chỗ kia như vầy... như vầy... Này Ðại Tuệ ! Bồ tát y vào
âm thanh ngôn ngữ mà chứng lìa khỏi ngôn ngữ, vào được
nghĩa tự nội thân tu hành.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Tất cả các pháp chẳng sinh chẳng diệt,
bản lai tự tính vào với Niết Bàn ! Ba thừa, một thừa,
năm tâm pháp, các pháp thể đều đồng. Ngôn ngữ thanh nghĩa
y vào mọi duyên chọn lấy tướng, rơi vào hữu kiến, vô
kiến chắc chắn đối với các pháp, thấy thể của các pháp
đều trụ ở tướng khác mà phân biệt tướng khác. Phân
biệt như vậy rồi thì thấy đủ thứ pháp tướng như huyễn,
thấy đủ thứ phân biệt. Này Ðại Tuệ ! Ví như huyễn có
đủ thứ khác, phân biệt khác, chẳng phải là thấy Thánh
nhân mà là thấy của phàm phu.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Phân
biệt ngôn ngữ thanh
Kiến
lập nên các pháp
Do
kiến lập đó nên
Rơi
vào con đường ác.
Ngã
trong năm ấm không
Không
năm ấm trong ngã
Chẳng
như vọng tưởng đó
Cũng
chẳng phải là không.
Phàm
phu vọng phân biệt
Thấy
các pháp có thật
Nếu
sở kiến như trên
Tất
cả nên thấy chân.
Nếu
không, tất cả pháp
Nhiễm,
tịnh cũng nên không
Kiến
đó không như vậy
Chẳng
phải sở hữu không.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Ta nay vì ông nói tướng của trí thức
! Ông và các Ðại Bồ tát nên giỏi biết tướng của trí
thức đó và như thật tu hành tướng trí thức để mau chóng
được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Này
Ðại Tuệ ! Có ba thứ trí. Những gì là ba ? Một là, Thế
gian trí. Hai là, Xuất thế gian trí. Ba là, Xuất thế gian thượng
thượng trí. Này Ðại Tuệ ! Thức là tướng sanh diệt; Trí
là tướng chẳng sinh diệt.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Thức là rơi vào tướng có tướng không,
rơi vào đủ thứ nhân của tướng có không đó.
Này
Ðại Tuệ ! Tướng Trí là xa lìa tướng có, tướng không,
tướng không nhân gọi là tướng Trí.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Tập (gom) các pháp thì gọi là tướng
của Thức, chẳng tập các pháp thì gọi là tướng của trí.
Này
Ðại Tuệ ! Trí có ba thứ. Những gì là ba ? Một là, quan
sát tự tướng đồng tướng. Hai là, quan sát sanh tướng,
diệt tướng. Ba là, quan sát tướng chẳng sinh chẳng diệt.
Này
Ðại Tuệ ! Thế gian trí là gì ? Là những ngoại đạo, người
phàm phu.v.v... chấp trước tất cả các pháp có không. Ðó
gọi là tướng của Thế gian trí.
Này
Ðại Tuệ ! Xuất thế gian trí là gì ? Là tất cả những
Thanh Văn, Duyên Giác hư vọng phân biệt tự tướng, đồng
tướng. Ðó gọi là Xuất thế gian trí.
Này
Ðại Tuệ ! Xuất thế gian thượng thượng trí là gì ? Là
Phật Như Lai, Ðại Bồ tát quan sát tất cả các pháp tịch
tịnh, chẳng sinh, chẳng diệt, được Như Lai địa vô ngã
chứng pháp, lìa khỏi hai kiến bè đảng có không kia. Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Sở dĩ nói trí là không tướng chướng
ngại. Thức là nhận biết những tướng cảnh giới đó.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Thức là nhận biết những tướng cảnh
giới đó. Lại nữa, này Ðại Tuệ ! Thức là hòa hợp
khởi làm việc làm, gọi là tướng của Thức, không chướng
ngại pháp tướng ứng thì gọi là tướng của Trí. Lại nữa,
này Ðại Tuệ ! Tướng không sở đắc, gọi là Trí, do cảnh
giới tu hành tự nội thân chứng được Thánh trí, vào ra
các pháp như trăng trong nước. Ðó gọi là Trí tướng.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Thức
hay gom các nghiệp
Trí
phân biệt rõ ràng
Tuệ
hay được vô tướng
Và
cảnh diệu trang nghiêm.
Thức
bị cảnh giới buộc
Các
cảnh, trí tỏ tường
Vô
tướng và thắng cảnh
Là
trú xứ Tuệ thông.
Tâm
ý và ý thức
Xa
lìa các tướng luôn
Thanh
Văn phân biệt pháp
Chẳng
phải là em con (đệ tử)
Tịch
tịnh thắng tấn, nhẫn (tinh tấn, nhẫn nhục)
Trí
Như Lai sạch trong
Sinh
ra Thiện thắng trí
Xa
lìa các sở hành.
Ta
có ba thứ tuệ
Nương
đó được Thánh danh
Với
tưởng kia phân biệt
Có
thể nghe có, không
Hạnh
Nhị thừa lìa khỏi
Tuệ
lìa khỏi cảnh giới
Thủ
lấy tưởng có, không
Từ
các Thanh Văn sinh
Chỉ
vào tâm như vậy
Tướng
trí tuệ sạch trong (vô cấu).
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Các ngoại đạo có chín thứ chuyển
biến kiến (thấy). Những gì là chín ? Một là, hình tướng
chuyển biến. Hai là, tướng chuyển biến. Ba là, nhân chuyển
biến. Bốn là, tương ứng chuyển biến. Năm là, kiến (thấy)
chuyển biến. Sáu là, vật chuyển biến. Bảy là, duyên liễu
biệt chuyển biến. Tám là, tác pháp liễu biệt chuyển biến.
Chín là, sinh chuyển biến. Này Ðại Tuệ ! Ðó gọi là chín
thứ chuyển biến kiến. Nương theo chín thứ chuyển biến
kiến, tất cả ngoại đạo nói đến chuyển biến từ có,
không sinh ra.
Này
Ðại Tuệ ! Hình tướng chuyển biến của ngoại đạo là
gì ? Này Ðại Tuệ ! Ví như dùng vàng chế tác đồ trang nghiêm
như vòng, xuyến, chuỗi ngọc... đủ thứ đều khác. Hình
tướng tuy khác nhưng thể của vàng chẳng biến đổi. Tất
cả ngoại đạo phân biệt sự chuyển biến hình tướng của
các pháp cũng lại như vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Lại có ngoại đạo phân biệt các pháp nương
vào nhân chuyển biến. Này Ðại Tuệ ! Mà các pháp kia cũng
chẳng phải như vậy, chẳng phải chẳng như vậy do y vào
phân biệt. Này Ðại Tuệ ! Như vậy tất cả chuyển biến
cũng vậy. Ông nên biết ví như sữa, cao sữa, rượu, trái
cây.v.v... chín rồi thì từng thứ một chuyển biến. Tất
cả ngoại đạo phiền não chuyển biến cũng lại như vậy
mà pháp không thật có thể do chuyển biến cũng lại như vậy
mà pháp không thật có thể do chuyển biến mà do tự tâm thấy
có không khả thủ (có thể lấy), phân biệt có không vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Tất cả phàm phu cũng lại như vậy, do y vào tự
tâm phân biệt mà sinh ta tất cả các pháp. Này Ðại Tuệ
! Không có pháp sinh ra, không có pháp chuyển biến, như huyễn,
như trong mơ thấy các hình sắc, sự việc. Này Ðại Tuệ
! Ví như trong mơ thấy tất cả việc, con của thạch nữ sinh
ra và chết đi.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Khi
chuyển biến hình tướng
Bốn
đại gieo các căn
Trung
ấm và các thủ
Như
vậy thủ (lấy) phi trí.
Nhân
duyên sinh thế gian
Phật
chẳng nói như vậy
Nhân
duyên tức thế gian
Như
thành Càn thát bà.
Bấy
giờ, Ðại Bồ tát Ðại Tuệ lại bạch đức Phật rằng
:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Nguyện xin đức Như Lai Ứng Chánh Biến
Tri khéo nói tướng của tất cả các pháp tương tục (nối
tiép nhau), chẳng tương tục! Nguyện xin đấng Thiện Thệ
nói, tướng của tất cả pháp tương tục, chẳng tương tục
! Con và tất cả các chúng Bồ tát giỏi giải tướng của
các pháp tương tục, chẳng tương tục, phương tiện khéo
léo biết rồi, chẳng rơi vào sự chấp trước tướng của
các pháp tương tục, chẳng tương tục, lìa khỏi lời nói,
văn tự, vọng tưởng của tất cả pháp tương tục, chẳng
tương tục rồi thì được lực tự tại thần thông mà du
hóa trong đại chúng của tất cả đất nước chư Phật ở
mười phương, Ðà la ni môn thiện ấn đã in, mười tận cú
thiện chuyển đã chuyển, đủ thứ ánh sáng biến hóa chiếu
sáng, ví như bốn mặt trời, mặt trăng lớn, ma ni tự nhiên
mà đi. Chúng sinh thọ dụng xa lìa các cõi, chỉ tự tâm thấy
tướng phân biệt, bày ra tất cả các pháp như huyễn, như
mộng, bày vào y chỉ đất của chư Phật. Ðối với cõi chúng
sinh thì tùy theo sở ứng của họ mà vì họ nói pháp, nhiếp
lấy họ khiến cho họ trụ ở tất cả các pháp như huyễn
như mộng, lìa khỏi tất cả bè đảng có, không, sinh diệt
vọng tưởng, khác lời mà nói nghĩa, chuyển thân tự tại,
sinh đến nơi thắng xứ.
Ðức
Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát rằng :
-
Hay thay ! Hay thay ! Hay thay ! Này Ðại Tuệ ! Ông hãy lắng nghe
! Lắng nghe ! Ta sẽ vì ông giải nói !
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Hay thay ! Thưa đức Thế Tôn ! Thưa vâng, con xin thọ giáo !
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Tướng tương tục, chẳng tương tục của
tất cả các pháp nghĩa là như Thanh Văn chấp trước nghĩa
tương tục, tướng chấp trước tương tục, duyên chấp trước
tương tục, có không chấp trước tương tục, phân biệt sinh
chẳng sinh chấp trước tương tục, phân biệt diệt chẳng
diệt chấp trước tương tục, phân biệt Thừa chẳng phải
Thừa chấp trước tương tục, phân biệt hữu vi vô vi
chấp trước tương tục, phân biệt Ðịa tướng của Ðịa
chấp trước tương tục, phân biệt tự phân biệt chấp trước
tương tục, phân biệt có không vào bè đảng ngoại đạo
chấp trước tương tục...
Này
Ðại Tuệ ! Như vậy phàm phu ngu si với vô lượng dị tâm
phân biệt tương tục, rồi nương vào sự tương tục mà ngu
si phân biệt như con tằm làm kén. Họ nương vào cái thấy
của lòng mình mà phân biệt tương tục mãi, ưa hòa hợp tự
ràng buộc và ràng buộc người khác, chấp trước có không
hòa hợp tương tục.
Này
Ðại Tuệ ! Nhưng không có tương tục, không tướng tương
tục do thấy các pháp tịch tịnh vậy. Này Ðại Tuệ ! Do
các vị Bồ tát thấy tất cả pháp không có tướng phân biệt
nên gọi là thấy pháp môn tịch tịnh của tất cả Bồ tát.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Như thật có thể biết tất cả pháp
bên ngoài lìa khỏi có không, hiểu biết như thật tự tâm
thấy tướng, do vào được tướng tự tâm vô tướng.
Này
Ðại Tuệ ! Do thấy mà phân biệt pháp có, không nên gọi
là tương tục. Do thấy các pháp tịch tịnh nên gọi là không
tương tục, không tương tục các pháp tướng. Này Ðại Tuệ
! Không trói, không mở, rơi vào nhị kiến, tự tâm phân biệt
có trói có mở. Vì sao vậy ? Vì do chẳng thể biết các pháp
có, không vậy.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Kẻ phàm phu ngu si có ba thứ tương tục.
Những gì là ba ? Là tham, sân, si và ưa thích sinh. Do những
tương tục này nên có đời sống sau. Này Ðại Tuệ ! Tương
tục là chúng sinh nối tiếp nhau sinh ra ở năm đường. Này
Ðại Tuệ ! Cắt đứt sự tương tục thì không nối tiếp
nhau, không có tướng tương tục.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Chấp trước nhân duyên tương tục nên
sinh ra ba hữu (cõi). Do các thức đắp đổi nối tiếp nhau
chẳng cắt đứt, nhưng thấy ba cửa giải thoát mà chuyển
biến diệt trừ nhân thức chấp trước ba hữu. Ðó gọi là
đoạn tương tục.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Chẳng
thật, vọng phân biệt
Gọi
là tướng tương tục
Biết
như thật đó thì
Cắt
đứt lưới tương tục
Nếu
lấy thanh (tiếng) là thật
Tự
buộc như kén tằm
Tự
tâm vọng tưởng buộc
Phàm
phu chẳng thể biết.
Bồ
tát Ðại Tuệ lại bạch đức Phật rằng :
-
Như đức Thế Tôn nói thì dùng những gì, những gì phân biệt
tâm ? Phân biệt những pháp gì, những pháp gì ? Mà những
pháp đó không có thể tướng như vậy, như vậy đó, chỉ
là tự tâm phân biệt ? Thưa đức Thế Tôn ! Nếu chỉ tự
tâm phân biệt chẳng phải tướng pháp đó thì như đức Thế
Tôn nói, tất cả các pháp nên không có nhiễm hay tịnh. Vì
sao vậy ? Vì như đức Như Lai nói rằng, tất cả các pháp
vọng phân biệt mà thấy, không có thật thể.
Ðức
Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng :
-
Ðúng vậy ! Ðúng vậy ! Ðúng như lời ông nói ! Này Ðại
Tuệ ! Nhưng mà tất cả những phàm phu ngu si phân biệt các
pháp mà các pháp đó không có tướng như vậy, chỉ hư vọng
phân biệt lấy làm thật có. Này Ðại Tuệ ! Ðó chính là
phàm phu hư vọng phân biệt thể tướng các pháp, hư vọng
giác tri chẳng phải thấy như thật. Này Ðại Tuệ ! Như Thánh
nhân biết tính tướng tự thể của tất cả các pháp. Y vào
trí thánh nhân, y vào thấy của Thánh nhân, y vào tuệ nhãn
của Thánh nhân mà biết đúng như thật tự thể của các
pháp.
Bồ
tát Ðại Tuệ bạch rằng :
-
Thưa đức Thế Tôn ! Thưa Thế Tôn như các Thánh nhân.v.v...
y vào Thánh trí, y vào Thánh kiến, y vào Thánh tuệ nhãn, chẳng
phải nhục nhãn, thiên nhãn mà giác tri thể tướng của tất
cả các pháp không có tướng như vậy, chẳng phải như phàm
phu hư vọng phân biệt. Thưa đức Thế Tôn ! Làm sao phàm phu
ngu si chuyển tướng hư vọng ?
Ðức
Phật dạy :
-
Này Ðại Tuệ ! Có thể như thật giác tri cảnh giới Thánh
nhân mà chuyển sự nhận thức hư vọng.
-
Thưa đức Thế Tôn ! Phàm phu ngu si đó chẳng phải điên đảo
kiến !
-
Chẳng phải chẳng điên đảo kiến ! Vì sao vậy ? Vì do chẳng
thể thấy pháp thể như thật của cảnh giới Thánh nhân,
do thấy tướng chuyển biến có, không vậy.
Ngài
Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng :
-
Thưa đức Thế Tôn ! Tất cả Thánh nhân cũng có phân biệt,
tất cả đủ thứ những việc không tướng như vậy, do tự
tâm thấy tướng cảnh giới. Thưa đức Thế Tôn ! Những Thánh
nhân đó thấy có pháp thể phân biệt pháp tướng, do đức
Thế Tôn chẳng nói có nhân, chẳng nói không nhân. Vì sao vậy
? Vì rơi vào có pháp tướng, con người khác thấy cảnh chẳng
thấy như vậy.
Thưa
đức Thế Tôn ! Nói như vậy thì có lỗi vô cùng. Vì sao vậy
? Vì do chẳng giác tri pháp tướng sở hữu không có tự thể
tướng.
Thưa
đức Thế Tôn ! Chẳng phải nhân phân biệt có tướng pháp
thể mà có các pháp.
Thưa
đức Thế Tôn ! Cái đó làm sao phân biệt ? Chẳng như phân
biệt đó hay nên như phân biệt đó ? Thưa đức Thế Tôn !
Tướng phân biệt khác tướng, tướng tự thể khác tướng.
Thưa đức Thế Tôn ! Mà hai thứ nhân đó chẳng tương tợ,
phân biệt đó... đó... thể tướng của pháp khác thì làm
sao phàm phu như phân biệt này mà nhân này chẳng thành đúng
như điều thấy đó ? Ðức Thế Tôn nói rằng, ta vì muốn
cắt đứt tâm hư vọng phân biệt của tất cả các chúng
sinh. Nói lời như vậy thì như phàm phu kia hư vọng phân biệt
không có pháp như vậy.
Thưa
đức Thế Tôn ! Vì sao ngăn sự thấy có, không của các chúng
sinh mà chấp trước cảnh giới Thật pháp Thánh trí ? Thưa
đức Thế Tôn ! Lại khiến cho tất cả chúng sinh rơi vào
chỗ Vô kiến. Vì sao vậy ? Vì nói các pháp tịch tịnh không
tướng. Như vậy pháp thể Thánh trí là vô tướng.
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Ta chẳng nói rằng, tất cả các pháp tịch
tịnh vô tướng, cũng chẳng nói rằng, các pháp đều không,
cũng chẳng khiến cho họ rơi vào Vô kiến, cũng khiến cho
họ chấp trước cảnh giới của tất cả Thánh nhân như vậy.
Vì sao vậy ? Vì ta làm cho chúng sinh lìa khỏi chỗ kinh sợ,
do các chúng sinh từ đời vô thỉ đến nay chấp trước thể
tướng các pháp thật có. Vậy nên ta nói, Thánh nhân biết
thể tướng của Pháp thật có, lại nói, các pháp tịch tịnh
vô tướng.
Này
Ðại Tuệ ! Ta chẳng nói rằng, pháp thể có hay không ! Ta
nói, tự thân như thật chứng pháp. Do nghe pháp của ta mà
tu hành các pháp tịch tịnh vô tướng mà được thấy cảnh
giới Chân như vô tướng, vào tự tâm thấy pháp, xa lìa sự
thấy có, không của pháp ngoại đạo, được ba cửa giải
thoát, được rồi dùng ấn như thật khéo in vào các pháp,
trí tuệ tự thân nội chứng quan sát, lìa khỏi sự thấy
có không.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Bồ tát chẳng nên kiến lập các pháp
chẳng sinh. Vì sao vậy ? Vì do kiến lập pháp thì đồng với
các pháp có. Nếu chẳng vậy thì đồng với các pháp không.
Lại
nữa, này Ðại Tuệ ! Nhân kiến lập các pháp có nên nói,
tất cả pháp ở trong pháp kiến lập đồng. Vì sao vậy ?
Vì do sự kiến lập đó chẳng đồng với tất cả pháp chẳng
sinh. Vậy nên nói, kiến lập tất cả pháp là lời nói tự
phá. Vì sao vậy ? Vì do trong kiến lập không có sự kiến
lập đó. Nếu chẳng vậy thì kiến lập đó cũng chẳng sinh,
do đồng với tướng không sai biệt của các pháp. Vậy
nên kiến lập các pháp chẳng sinh gọi là tự phá. Do kiến
lập ba pháp năm pháp đó hòa hợp có nên lìa khỏi kiến lập
thì có không chẳng sinh ra. Này Ðại Tuệ ! Kiến lập đó
vào trong các pháp chẳng thấy pháp có, không. Này Ðại Tuệ
! Nếu kiến lập đó các pháp chẳng sinh mà nói lời này,
tất cả pháp chẳng sinh. Này Ðại Tuệ ! Nói như vậy thì
kiến lập tức là phá. Vì sao vậy ? Vì lìa khỏi kiến lập
thì tướng có không chẳng thể được.
Này
Ðại Tuệ ! Vậy nên chẳng nên kiến lập các pháp chẳng
sinh.
Này
Ðại Tuệ ! Do kiến lập đó đồng với tất cả pháp thể
chẳng sinh kia. Vậy nên chẳng nên kiến lập các pháp chẳng
sinh do có nhiều lỗi vậy.
Này
Ðại Tuệ ! Lại có, chẳng nên kiến lập các pháp chẳng
sinh. Vì sao vậy ? Vì do ba pháp, năm pháp nhân của chúng chẳng
đồng.
Này
Ðại Tuệ ! Lại có, chẳng nên kiến lập các pháp chẳng
sinh. Vì sao vậy ? Vì do ba pháp, năm pháp đó tạo tác hữu
vi vô thường. Vậy nên chẳng nên kiến lập tất cả các
pháp chẳng sinh.
Này
Ðại Tuệ ! Như vậy, chẳng nên kiến lập tất cả pháp trống
không. Thể tướng của tất cả các pháp không thật, này
Ðại Tuệ ! Mà các Bồ tát vì chúng sinh nói tất cả các
pháp như huyễn như mộng, do thấy tướng chẳng thấy, do tướng
các pháp mê hoặc trí thấy. Vậy nên, nên nói như huyễn như
mộng để ngăn trừ tất cả phàm phu ngu si lìa khỏi chỗ
kinh sợ.
Này
Ðại Tuệ ! Do các phàm phu rơi vào tại trong tà kiến có không,
do phàm phu nghe như huyễn như mộng sinh ra kinh sợ. Các phàm
phu nghe, sinh ra kinh sợ rồi xa lìa Ðại Thừa.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng :
Không
tự thể, không thức
Không
A lê gia thức
Ngu
si vọng biệt phân
Tà
kiến như thây chết.
Tất
cả pháp chẳng sinh
Kiến
(thấy) khác nói chẳng thành
Các
pháp chẳng sinh hết Nhân duyên chẳng thể thành.
Tất
cả pháp chẳng sinh
Chớ
kiến pháp như vậy
Ðồng,
bất đồng chẳng thành
Vậy
nên kiến lập hoại.
Ví
như mắt có màn (che)
Hư
vọng thấy mao luân (vừng lông)
Phân
biệt ở có không
Phàm
phu hư vọng thấy
Ba
cõi chỉ giả danh
Không
có pháp thể thật
Chấp
thật cái giả danh
Phàm
phu khởi phân biệt
Sự
tướng và giả danh
Tâm
ý đã thọ dụng
Phật
tử xa lìa nhanh
Trụ
hành cảnh giới tịch.
Không
nước thủ tướng nước
Các
thú, tâm vọng si
Phàm
phu thấy pháp vậy
Thánh
nhân thì chẳng vậy.
Thánh
nhân thấy sạch trong
Ba
thoát, tam muội sinh
Xa
lìa khỏi sinh diệt
Ðược vô chướng tịch tịnh
Không
sở hữu tu hành
Cũng
lại chẳng thấy không
Pháp
có, không bình đẳng
Vậy
nên quả Thánh sinh.
Sao
gọi pháp có không
Làm
sao thành bình đẳng
Chẳng
thể thấy do lòng
Pháp
trong ngoài vô thường
Nếu
hay diệt pháp đó
Thấy
lòng bình đẳng thành.
Lúc
bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát bạch đức Phật rằng
:
-
Thưa đức Thế Tôn ! Như đức Thế Tôn nói, trí tuệ quan
sát chẳng thể thấy cảnh giới trước. Biết được cảnh
giới bấy giờ chỉ là nội tâm. Tâm ý, ý thức hiểu biết
như thật không có pháp khả thủ, cũng không có pháp năng
thủ. Vậy nên trí cũng chẳng thể phân biệt mà thủ lấy.
Thưa
đức Thế Tôn ! Nếu nói rằng, trí tuệ chẳng thể thủ lấy
thì vì thấy tự tướng, đồng tướng của các pháp khác
với pháp tướng khác. Ðủ thứ pháp thể khác chẳng đồng
nên trí chẳng thể biết. Vì thấy đủ thứ thể tướng của
các pháp chẳng thể khác nên trí chẳng thể biết. Vì chính
sự chướng ngại của núi non, vách đá, tường vách, rừng
rậm, cây cối... đất nước, lửa, gió nên trí chẳng thể
biết, vì chính là chỗ rất xa rất gần nên trí chẳng thể
biết. Vì chính là già, trẻ, vì chính là mù tối, các căn
chẳng đủ nên trí chẳng thể biết.
Thưa
đức Thế Tôn ! Nếu tất cả pháp khác khác, pháp tướng
khác khác, pháp thể tự tướng đồng tướng đủ thứ chẳng
đồng mà trí chẳng thể biết thì, thưa đức Thế Tôn ! Nếu
vậy, trí đó chẳng phải là trí. Vì sao vậy ? Vì chẳng thể
biết cảnh giới thật trước.
Thưa
đức Thế Tôn ! Nếu đủ thứ thể tướng, tự tướng đồng
của tất cả pháp chẳng thấy khác mà trí chẳng thể biết
thì nếu vậy trí kia chẳng được nói rằng trí. Vì sao vậy
? Vì thật có cảnh giới chẳng thể biết. Thưa đức Thế
Tôn ! Có cảnh giới trước như thật có thể thấy gọi đó
là trí. Nếu vì núi non vách đá, tường ngăn, rừng cây, cây
cỏ, đất nước, lửa, gió, rất xa, rất gần, già trẻ, mù
tối, các căn chẳng đủ... mà chẳng thể thấy biết thì
trí đó không trí, cảnh giới có thật mà chẳng biết.
Ðức
Phật dạy rằng :
-
Này Ðại Tuệ ! Như lời ông nói về vô trí thì nghĩa này
chẳng vậy ! Vì sao vậy ? Vì có thật trí. Này Ðại Tuệ
! Ta chẳng y vào lời nói như vậy của ông, cảnh giới là
không có, chỉ là tự tâm thấy m