Khuyên
ai cũng nên xem để phát tâm thọ giới Bồ-tát
I.
KỆ KHAI SUỐI CAM LỒ
Nay
ta Phật Thích Ca
Cũng
như đức Xá Na
Mỗi
nửa tháng hằng tụng
Ba
la đề mộc xoa.
Ta
là Phật đã thành
Các
ngươi, Phật sẽ thành
Thường
tin chắc như vậy
Giới
phẩm đã trọn vẹn.
Những
ai đã có tâm
Nên
dạy thọ trì giới
Chúng
sanh thọ Phật giới
Đích
thật là con Phật.
Bồ-tát
như vi trần
Nhân
giới này thành Phật.
Đại
chúng phải cung kính
Truyền
bá và thọ trì.
II.
TỰA
Có
người cho rằng Bồ-tát giới chỉ căn cứ vào đại thể,
không câu chấp chi tiết. Ý kiến này vô cùng sai lầm. Phải
biết giới Bồ-tát nghiêm cẩn đến mức ngăn cấm ngay từ
mống tâm động niệm khởi tư tưởng phi pháp. Trong khi luật
nghi Thanh-văn chỉ trị phạt hai chi thân và miệng. Phòng hộ
trọn vẹn ba nghiệp, phá trừ các kiến chấp, chứng nhập
chân lý, mới được gọi là chân phạm hạnh.
Nhiêu
ích hữu tình giới lấy sự cứu tế chúng sanh làm gốc. Bồ-tát,
danh phù hợp với thật, chính ở chỗ phải làm thế nào lừa
lọc mò bắt tất cả chúng sanh trong biển khổ sanh tử đem
về cảnh giới Niết-bàn an ổn.
Mành
lưới bảo tràng trong cung Đại Phạm Thiên Vương. Những đường
hồng quang ửng xạ lẫn nhau. Màu sắc bảo châu chói sáng
lẫn nhau, lớp lớp vô tận. Phật dùng để thí dụ vô lượng
pháp môn, sự lý kết chặt.
Có
vâng giữ Kim Cang Quang Minh Bảo Giới, tu tập các pháp lành
tăng trưởng Bồ-đề tâm mới được diệu quả thù thắng.
Bồ
Tát Tâm Địa phẩm, quyển thượng giảng về giai cấp tu chứng,
lý trí quán hạnh của 56 ngôi Bồ-tát. Quyển hạ nói về
tâm địa giới pháp (10 trọng + 48 khinh).
Bồ-tát
: Lợi mình lợi người, mục đích thành Phật.
Tâm
địa : Bổn nguyên của mỗi người. Phật chứng tâm địa
này. Bồ-tát tu tâm địa này. Chúng sanh mê muội tâm địa
này. Phật đã 8000 lần qua lại tam giới, mục đích duy nhất
là phát minh bổn nguyên tâm địa cho chúng sanh. Khuyên tất
cả bẩm thọ bảo giới Phật tánh làm chỗ tu nhân căn bản,
hướng về Phật quả thẳng tiến.
Tạp
nhiễm phiền não chỉ là khách trần. Y tâm địa giới pháp,
từ sơ phát tâm lên đẳng giác, dần dần hoàn mãn muôn pháp
lành, tước bỏ hết ác pháp. Căn bản phiền não : Tham sân
si mạn nghi, ác kiến (biên kiến, thiên kiến, tà kiến, kiến
thủ, giới cấm thủ). Hàng ngày kiểm điểm để khắc phục
: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu,
vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi,
phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Đức
Phật vừa thành đạo, lập tức xuất định nói pháp ở 10
nơi :
1/-
Kim Cang Hoa Quang (gốc Bồ-đề) và Diệu Quang Đường (cung
trời Tứ Thiên Vương) nói về thập Tín.
2/-
Cung trời Đế Thích, nói thập Trụ.
3/-
Cung trời Diệm Ma, nói 10 Hạnh.
4/-
Đâu Suất, nói 10 Hồi Hướng.
5/-
Hóa lạc, nói 10 Định.
6/-
Tha Hóa Tự Tại, nói 10 Địa.
7/-
Sơ thiền, nói 10 Kim Cang.
8/-
Nhị thiền, nói 10 Nhẫn.
9/-
Tam thiền, nói 10 Nguyện.
10/-
Tứ thiền, ở cung Đại Tự Tại Thiên Vương, giảng nói pháp
môn tâm địa mà đức Lư Xá Na đã giảng ở Liên Hoa Đài
Tạng.
Quang
minh : phá u ám. Kim Cang : phá hủy tất cả phiền não. Bảo
: quý trọng. Bảo giới xuất sanh vô lượng công đức, khiến
thiện pháp tăng trưởng.
Quang
minh là trí đức, nhiếp thiện pháp giới (viên mãn báo thân).
Kim cang là đoạn đức, nhiếp luật nghi giới (vô lậu tánh,
chứng thanh tịnh pháp thân). Bảo giới là ân đức, nhiếp
hộ chúng sanh, cứu tế muôn vật, lợi ích khắp hữu tình
(ứng hóa thân).
Giới
pháp này bao hàm nhân quả đại thừa. Rời quang minh kim cang
bảo giới, 30 Tâm (Hiền) và 10 Địa (Thánh) không thể nào
thành tựu. Công đức Phật địa không do đâu phát sanh. Tánh
trọng yếu của tâm địa diệu giới cần được nhận thức
rõ ràng. Phật tánh chúng sanh sẵn có, phải nhờ bảo giới
này mới hiển lộ. Nên nói giới là chủng tử của Phật
tánh. Kinh Pháp Hoa nói : “Phật chủng tòng duyên khởi” là
ý này. Trì tâm địa diệu giới mới chứng đắc tâm địa
pháp môn.
Chánh
văn : Tất cả ý thức, sắc tâm, là tình là tâm, đều vào
trong phạm vi giới pháp Phật tánh.
Tâm
: vọng niệm theo duyên tập khởi. Ý : tư lường, thức 7 chấp
ngã. Thức : thức 6 liễu biệt. Ba thứ này là phần tinh thần.
Sắc : 4 đại vật chất. Ngoài tâm thức không có Phật tánh
riêng biệt. Tất cả hữu tình đều có thể bẩm thọ tâm
địa diệu giới.
Đương
đương thường hữu nhân cố đương đương thường trụ pháp
thân.
Đương
đương : đích thật như vậy.
Nhân
và quả đều không lìa tâm địa diệu giới.
Thường
hữu : lúc nào cũng có chân nhân thành Phật.
Thường
trụ : diệu quả vĩnh viễn thường hằng, không thể do từ
bên ngoài mà có. Chính do Phật tánh sẵn đủ, cực lực trang
nghiêm khai phát mà thành.
Quang
Minh Kim Cang Bảo Giới là chân nhân thành Phật, là pháp thân
diệu quả thường trụ thanh tịnh.
Nương
giới hết vô minh nên ví giới như mặt trời mặt trăng. Nương
giới hết khổ nạn nên ví giới như châu ma ni.
Bổn
tánh không độc ác nên có giới sát sanh. Bổn tánh không tham
nên răn cấm trộm cướp. Bổn tánh chân thật nên không được
nói dối. Sống ngược với tự tánh thì khó trở về. Thuận
với tự tánh mới ngộ nhập.
Giới
pháp Phật tánh là nhân tố duy nhất để thành Phật. Chúng
sanh sẵn đủ nhân thù thắng để chứng quả thù thắng. Chỉ
vì mê hoặc không giác ngộ. Đức Phật xót thương tuyên nói
giới pháp. Chúng sanh y đó giữ gìn, siêu phàm nhập thánh,
hoàn thành Vô-thượng Phật quả.
Do
đâu các Bồ-tát thành Phật ? Xin đáp quả quyết rằng : Vì
giữ đủ 10 giới trọng. Không vâng theo pháp tắc quy luật
này, không thể thành Phật nên kinh văn gọi là giới pháp.
Thọ Bồ-tát giới rồi là vào trường học Bồ-tát. Trong
thì y cứ Phật tánh giới thể mà sống. Ngoài thì giới tướng
nghiêm trì.
Ngộ
Phật tánh chưa đủ, phải chứng được Phật tánh. Nghĩa
là thật sống với Phật tánh, từng niệm xa rời vô minh.
Ngài Xá Lợi Phất chứng A-la-hán mà không dám xưng mình là
Phật tử. Đến hội Pháp Hoa, Phật giải thích. Ngài mới
nhận ra rằng mình có Diệu Pháp Liên Hoa. Nhân đây được
Phật thọ ký.
Kinh
Anh Lạc : Giới pháp lấy tâm làm thể. Tâm vô tận nên gọi
là vô tận giới tạng. Giới tướng có nhiều nhưng tâm địa
diệu giới nhất vị bình đẳng.
Chúng
sanh vọng tưởng chấp trước vào giới tướng mà quên giới
thể bổn hữu, giới pháp Phật tánh sẵn đủ. Nếu không
bẩm thọ giới pháp không thể khôi phục bổn nguyên tự tánh
thanh tịnh. Vì thế đức Phật nói vô tận giới tạng.
III.
XÁ NA TRAO GIỚI
Tỳ
Lư Xá Na : quang minh biến chiếu.
Lư
Xá Na : tịnh mãn : đã đến quả Phật.
Tịnh
: Không còn mẩy tơ hư vọng. Mãn : Công đức thiện pháp viên
tròn. Tịnh là đoạn đức. Mãn là trí đức. Tịnh Mãn là
tự thọ dụng thân. Quang minh biến chiếu là tha thọ dụng
thân, sát trần tướng hảo, trong dùng trí quang chiếu chân
pháp giới, ngoài dùng thân quang chiếu ứng đại cơ (Bồ-tát).
Theo
kinh Hoa Nghiêm, đức Tỳ Lư Xá Na (pháp thân) với đức Lư
Xá Na (báo thân) đồng một thể. Phật nhãn thấy chánh báo
y báo không hai. Thế giới chúng ta ở, tên là Huyền Hoa Tạng,
hình bông sen 1000 cánh.
Đức
Lư Xá Na ngồi trên đài hoa sen nói giới. Đài là nơi cao hiển.
Tâm tánh chúng sanh là bông sen : a) Không dính bùn. b) Nhân quả
đồng thời. Thế giới nương tâm tánh chúng sanh mà hiện
cũng y theo tâm tánh chúng sanh mà trụ.
Kinh
A Di Đà nói : Hoa sen vi diệu hương khiết. Dùng 2 đặc tính
biểu thị giới thể tâm địa trước sau tịnh sạch, không
bị một ác pháp nào huân nhiễm.
Trên
1000 cánh có 1000 ứng thân. Mỗi cánh sen có trăm ức cõi. Mỗi
cõi một Thích Ca (hóa thân).
Nói
theo danh từ hiện nay của nhân gian :
Một
thái dương hệ là 1 tiểu thế giới.
1000
thái dương hệ là 1 tiểu thiên thế giới.
1000
tiểu thiên là 1 trung thiên thế giới.
1000
trung thiên là 1 đại thiên thế giới.
Mỗi
cánh hoa trong kinh là 1 đại thiên thế giới.
Nay
1 ức = 10.000.000
Một
cánh sen 100 ức = 1.000.000.000
1000
cánh sen có = 1.000.000.000.000 Thích Ca.
CAM
LỒ MÔN KHAI
Có
phước gặp diệu dược, tất cả bệnh tật sẽ tiêu trừ.
Dù Phật tánh diệu giới là pháp chúng sanh sẵn đủ nhưng
hoặc-nghiệp từ vô thủy ngăn che như cửa đóng chặt, chúng
sanh không hề biết là mình có vô thượng pháp.
Ba
đặc dụng : a) Nhiếp luật nghi giới, linh đơn trị liệu
tất cả ác bệnh khiến được bình an. b) Nhiếp thiện pháp
giới. Công đức pháp lành sung mãn sanh mạng. c) Nhiêu ích
hữu tình giới. Chúng sanh đang bị khổ não bức ngặt được
thanh lương mát mẻ.
Giới
pháp này không phải lãnh thọ từ bên ngoài mà vốn sẵn có
tại nội tâm. Ơn đức Lư Xá Na phát minh. Tâm địa diệu
giới nơi mỗi chúng sanh được khai hiển.
THÍCH
CA TRUYỀN LẠI
Phước
tuệ viên mãn sẽ thành Phật quả là tánh chất trọng yếu
của trì giới. Bậc tu hành giới đức trang nghiêm. Lòng người
khát ngưỡng như ngửa lên được thấy mặt trời rực rỡ
khiến cả khung cảnh trở thành quang sáng tưng bừng. Trì giới
là nhân. Thành Phật là quả. Lực dụng của giới pháp đã
đưa vi trần Bồ-tát lên lầu vô thượng giác.
Đức
Lư Xá Na đã tụng 10 trọng 48 giới khinh. Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật cũng tụng như thế. Tân học Bồ-tát tất nhiên phải
cung kính thọ trì, ba nghiệp nghiêm cẩn đâu dám xao lãng.
Đức
Bổn Sư ân cần dạy nhắc : Chẳng những bản thân đỉnh
đới phụng trì mà phải tận tình truyền bá khiến cho giới
pháp lưu thông suốt đời vị lai vô tận.
KHUYẾN
TÍN
Lắng
tâm nghe kỹ để mà thâm nhập. 5 giới, 8 giới, 10 giới, 250
giới đều từ tâm địa diệu giới này lưu xuất để thâu
nhiếp chúng sanh trở về bổn nguyên. Tin chắc giới này là
chánh nhân thành Phật. Đúng pháp phụng trì, quyết định
tương lai chứng quả Vô-thượng Bồ-đề. Tin chắc nghĩa là
thật hiểu. Biết có tỏ rõ, lòng tin có xác thật mới niệm
niệm hộ trì giới pháp, không dám mảy may hủy phạm.
Muốn
củng cố tín tâm đại chúng, đức Thích Ca sách tấn : “Chớ
tự khinh là phàm phu, không dám ước mong quả vị Phật. Ta
là Phật đã thành vì đã trì giới. Bảo đảm các ông là
Phật sẽ thành nếu các ông vâng thọ giới pháp”.
Nếu
chỉ hiểu biết qua văn tự lời nói thì tuy có tin mà không
chắc. Người tin chắc thì ý niệm lời nói hành động đều
xứng với Phật tánh, tức là đúng với giới điều. Như
thế giới phẩm hẳn trọn vẹn.
Quan
hệ hoàn toàn ở sự tin chắc. Cũng như thợ lọc vàng sở
dĩ chịu khó ngày đêm vất vả chỉ vì biết chắc chắn trong
quặng có vàng. Nhưng cũng phải rõ phương pháp lọc vàng.
Phương pháp này là Bồ-tát giới.
Cung
biểu thị oai nghi nghiêm chỉnh bên ngoài. Kính là tâm ý kiền
thành bên trong. Trong ngoài đồng khẩn thiết chí tâm thâm
nhập diệu giới.
KẾT
GIỚI TƯỚNG
Nương
thể tánh thanh tịnh, đức Phật vạch đường đi thanh tịnh
cho các Bồ-tát. Khác với Thanh-văn giới, ban đầu không có.
Về sau, căn cứ theo nhân duyên phạm tội của các Tỳ-kheo,
đức Phật mới tuần tự kết giới. Đây là tùy căn cơ,
mỗi thời mỗi xứ khác nhau. Giới Bồ-tát thì ba đời mười
phương như vậy. Vừa mới thành đạo, Phật liền chế định
Bồ-tát đại giới, nêu cương lãnh của giới là Hiếu Thuận.
Không
có cha mẹ, đâu có thân để hành đạo ; không có sư trưởng,
ai người dẫn bước ; không ngôi Tam-bảo, nương tựa vào
đâu ? Bất hiếu với cha mẹ, phản phúc thầy bạn, mất nghiệp
hiếu thuận là không giới tướng, làm sao toàn vẹn giới
thể. Hiếu thuận cha mẹ sư tăng Tam-bảo ngăn tất cả ác
thế gian và xuất thế gian.
Có
hiếu hạnh ắt chân thật giữ gìn giới pháp. Đúng pháp giữ
giới là thành thật thực hiện hiếu đạo. Cho nên học giới,
việc đầu tiên là hiếu thuận với cha mẹ sư tăng Tam-bảo.
Hiếu là nhân thù thắng của muôn lành.
Thế
gian cho xuất gia là đại bất hiếu. Đâu biết đức Thích
Ca nhờ xuất gia mới có phước lên trời Đao Lợi thỉnh đức
Địa Tạng độ cho mẫu hậu. Có xuất gia mới phát minh đạo
lý Tứ Đếá để đưa vua cha Tịnh Phạn và kế mẫu Kiều
Đàm Di lên đường xuất thế.
Vu
Lan Bồn Sớ có câu :
Khể
thủ tam giới chủ
Đại
hiếu Thích Ca tôn
Lịch
kiếp báo thâm ân
Tích
nhân thành chánh giác.
Hiếu
là nhân thành Phật thì bất hiếu hẳn đọa đường ác. Đức
Bổn Sư thành đạo, việc đầu tiên là kết giới cho các
Bồ-tát tu học. Lời trước hết là “Hiếu danh vi giới”.
Bổn
phận làm con phải phụng dưỡng cha mẹ. Làm thế nào cho cha
mẹ biết tin kính Tam-bảo, thọ trì Phật pháp, tiến tới
giải thoát sanh tử.
Trí
tuệ Phật thấy rõ từ vô thủy, trong vòng luân hồi, ta và
chúng sanh đã từng làm cha mẹ lẫn nhau. Kinh Phạm Võng nhấn
mạnh : Tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ
ta. Tất cả bò bay máy cựa đều đã từng cùng chúng ta chia
ngọt xẻ đắng trong những kiếp bổng chìm ở đường sanh
tử. Cho nên văn kinh bàng bạc những khuyến dụ hiếu thuận,
từ bi v.v…
Nhiếp
luật nghi giới cấm tất cả ác mới hoàn thành đại hiếu.
Sách Nho nói : “Giở chân không được quên ơn cha mẹ. Thốt
lời chẳng dám bội nghĩa cù lao”. Thế nên lời ác không
được ra khỏi miệng. Một hành vi xấu không được hình
thành nơi thân. Tránh những phê bình sỉ nhục đến cha mẹ.
Cho nên đối với tất cả chúng sanh không sát sanh, không trộm
cắp v.v…
Đức
Khổng Tử nói : “Lập thân nên danh giá đem vinh hiển cho
cha mẹ”. Muốn thực hành bốn chữ quang tông diệu tổ của
người Trung Hoa chỉ có cách y theo nhiếp thiện pháp giới
của Bồ-tát, tận lực đem hết khả năng lợi ích nhân quần
xã hội, một lòng hy sinh tư lợi vì người.
Tự
chính bản thân để thực hiện hai chữ hiếu thảo còn cần
khổ miệng hết lòng khiển trách răn đe những ai ăn ở ngỗ
nghịch với cha mẹ. Lực dụng tối đại của nhiếp chúng
sanh giới chính là đưa tất cả vào Phật đạo.
Đã
giải thích câu “hiếu danh vi giới”. Nay giải câu “diệc
danh chế chỉ”. Chế : quy định ra, minh định những pháp
lành phải thực hiện. Chỉ : ngăn tất cả ác.
Pháp
chế : tác trì : phóng sanh, bố thí v.v….
Cấm
chỉ : chỉ trì : sát sanh, trộm cắp v.v….
Bài
kệ : “Đừng làm việc ác, vâng làm điều lành. Tự
tịnh tâm ý. Đây lời Phật dạy”. Giải thích rất
đúng hai chữ chế chỉ trong Bồ-tát giới.
Hiếu
đạo nhà Phật siêu vượt và rộng rãi hơn thế gian. Vì hướng
về Vô-thượng Bồ-đề, khiến cho cha mẹ lìa khổ hoàn toàn,
hưởng vui vĩnh viễn, suốt đời vị lai.
SẮP
TUYÊN GIỚI PHÁP
Vô
lượng quang minh biểu hiện điềm lành từ miệng Phật phóng
ra. Có lời nói với các Bồ-tát : “Ngày bố tát vô cùng
trọng yếu”. Để các Bồ-tát tự cảnh giác, không đến
nỗi phạm giới mà không tự biết.
Trong
Luật Thiện Kiến, đức Phật hỏi : Làm thế nào để chánh
pháp cửu trụ ? Đức Phật tự đáp : Không hoại pháp bố
tát.
Chẳng
những sơ phát tâm Bồ-tát mà tam hiền thập thánh, lòng tin
đã kiên cố, giới hạnh đã viên thành, đều phải tụng
giới. Đây là quy luật quyết định cho những ai đã thọ
Bồ-tát giới.
Đức
Phật có viên âm nên gần xa thánh chúng đủ loài đều nghe
hiểu. Tia sáng biểu tượng giới thể bình đẳng thanh tịnh.
Phật đã tự chứng nên miệng phóng quang. Phật tử thọ trì
học kỹ. Mai đây chứng được giới thể này thì cũng được
như thế. Biếng nhác không nghiêm cẩn nghe học là tự thiệt
thòi.
Giới
pháp này là của tất cả chư Phật, không riêng một đức
Thích Ca, mong chúng sanh siêu phàm nhập thánh. Đương nhiên
mỗi người phải y theo quy củ bố tát để tuệ mạng Như
Lai không đoạn tuyệt.
“Vì
thế, giới quang từ miệng ta phóng ra”. Giới có công năng
diệt ác sanh thiện. Quang có lực dụng chiếu sáng phá tối.
“Chẳng
phải không nhân duyên”. Nhân là chúng sanh cơ cảm. Duyên
là Như Lai tuyên thuyết. Phàm phu không liễu đạt giới quang
sẵn có của mình. Một mặt hướng ngoại tìm cầu nên Phật
đặc biệt tổng phá :
“Không
phải xanh vàng…” : Không sa vào ảnh tượng biến kế chấp
của phàm phu.
“Không
phải lục nhập sắc tâm…” : Không sa vào vọng tưởng,
tình cảnh nhân thiên.
“Không
phải hữu vô…” : Không sa vào tà chấp đoạn thường của
ngoại đạo.
“Cũng
không phải nhân quả…” : Sự tướng có tu có chứng của
tiểu thừa. Đã siêu vượt tình trần, ly khai kiến chấp,
tức là chân nhân thành Phật. Đương nhiên sẽ chứng nhập
pháp thân diệu quả.
Tâm
địa giới quang là bổn nguyên chánh biến tri hải vô tận
của chư Phật. Bồ-tát không có tâm địa giới pháp này,
không thể tu học lục độ vạn hạnh. Chúng sanh đã chịu
sanh tử từ vô thủy. Nếu sau này thành Phật, chính nhờ tâm
địa giới pháp. Nên các Phật tử phải thọ trì, đọc tụng
và khéo học.
Khéo
học nghĩa là gắng sức thực hành. Không thọ trì không có
nhân để thành Phật. Không đọc tụng không thể tăng trưởng.
Đọc tụng suông không thể chứng đắc diệu quả. Phải như
pháp hành trì mới được hưởng công dụng của giới pháp.
PHỔ
NHIẾP QUẦN CƠ
Tỳ-kheo
Tăng là thành phần trụ trì Tam-bảo, là phước điền trong
thế gian, là sư phạm của nhân thiên, cần bậc pháp khí thanh
tịnh nên thọ giới phải nhiều điều kiện. Bồ-tát giới
chỉ cần phát Bồ-đề tâm và hiểu lời nói của giới sư.
Vì bổn nguyên tâm địa ai cũng sẵn nên chúng sanh nào cũng
được thọ.
IV.
GIỚI TƯỚNG
10
giới trọng là bổn nghiệp của Bồ-tát. Không như pháp, nửa
tháng tụng một lần, khó mà bảo tồn bổn nghiệp để lợi
ích chúng sanh. Mất tư cách Bồ-tát, hẳn không có Phật quả
tương lai. Tụng giới là dùng nước pháp tưới chủng tử
Phật, khiến luôn tươi nhuận, không bị héo khô.
A- MƯỜI
GIỚI TRỌNG
1/.
GIỚI SÁT SANH
Lý
duyên khởi tánh không của Phật pháp dùng để đối trị
bệnh chấp có của phàm phu. Người thông đạt lý “tánh
sát vốn không”, chẳng bao giờ sát sanh. Nếu sát sanh tội
cực nặng.
Giới
Thanh-văn đứng đầu cấm dâm dục vì mục đích duy nhất
của Thanh-văn là thoát ly sanh tử. Bồ-tát lấy từ bi lợi
tế chúng sanh làm cơ bản nên giới sát đứng đầu.
a)
Chúng sanh là ân nhân thành tựu đại hạnh cho Bồ-tát. Từng
giờ phút phải lo báo ân, đâu có thể trở lại giết hại.
b)
Chúng sanh là cha mẹ quá khứ.
c)
Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, đều là Phật vị
lai. Có thể họ thành Phật trước mình, sẽ tế độ cho mình
(Trí Độ Luận).
d)
Chúng sanh sợ nhất là mất mạng nên không sát sanh là thí
vô úy. Phóng sanh là kết thiện duyên thâm hậu.
đ)
Mình sợ chết sợ khổ, không nên làm ai đau khổ sợ hãi.
e)
Yếu vụ tối đại của Bồ-tát là tiếp cận với chúng sanh,
để dẫn dắt tất cả vào Phật pháp. Nếu trong lòng Bồ-tát
ôm niệm giết hại thì chúng sanh cảm sợ mà xa lìa.
f)
Chúng sanh bị những cực hình thống khổ như cắt cổ, nhổ
lông, lột da, cạo vẩy, giẫy giụa trên thớt dưới dao, chịu
luộc nướng thiêu đốt v.v… Phương tiện cứu hộ là chỗ
tu học tối yếu của Bồ-tát.
2/.
GIỚI ĂN TRỘM
Giới
trên bảo vệ nội sanh mạng. Giới này bảo vệ ngoại sanh
mạng. Người ta bận rộn sớm chiều chỉ để lo có cơm ăn
áo mặc nên yêu quý tiền của vật dụng như mạng sống.
Việt Nam ta có câu “đồng tiền liền khúc ruột”. Đại
thừa Phật giáo gánh trách nhiệm hóa độ chúng sanh, bắt
buộc Bồ-tát phải hết sức nghiêm cẩn, không một chút vi
phạm giới này, trong mọi hoàn cảnh, dưới mọi hình thức.
Kinh
Lăng Nghiêm : Không diệt tâm trộm cắp không thể ra khỏi
trần lao. Dù đa trí hiện tiền mà còn trộm cắp quyết lạc
tà đạo.
Trộm
cướp đem khổ não cho người, phạm nhiếp luật nghi giới.
Không giúp người được phước được vui, phạm nhiếp thiện
pháp giới. Khiến chúng sanh chán xa Phật pháp, phạm nhiếp
chúng sanh giới.
Kinh
Đại Tập : Một long nữ mù đỉnh lễ Phật bạch rằng :
“Đời trước con đã lén hái trộm của chùa 10 trái xoài
để ăn. Xả thân đọa địa ngục. Nay dư báo làm súc sanh
đói khát mù lòa. Trong vẩy hằng bị mạt cắn núc máu. Nay
con quy y Phật, mong cầu thoát khổ”. Phật dạy : Vật bốn
phương Tăng, thường trụ Tăng hay hiện tiền Tăng, đều là
của thí chủ thành kính cúng dường, mong cầu phước báu.
Hoa trái trong vườn chùa, cơm cháo thuốc thang giường nệm,
tất cả vật dụng của chúng Tăng, tự lén lấy xài dùng
hoặc đem cho bạch y, tội đọa địa ngục A tỳ.
Thà
nuốt hòn sắt nóng cháy đỏ, không nên tự lấy riêng thọ
dụng những đồ ăn uống của chúng Tăng. Thà dùng dao bén
tự cắt lóc da thịt để ăn, xuất gia tại gia không được
trộm lấy vật dụng của chúng Tăng. Vị tri sự đem vật
của chúng cho bạch y tương lai đồng với kẻ kia sanh về
chỗ khổ.
Phước
Tăng Tỳ-kheo thấy nơi đồng vắng một cây thịt bị vô số
trùng bu cắn. Phật dạy : Cây ấy là một vị sư thời quá
khứ. Trùng bu cắn là những người tại gia đã được sư
cho ăn dùng của chúng Tăng.
Kinh
Quán Phật Tam Muội : Dùng tài vật của chúng Tăng, tội nặng
hơn giết hại 84.000 cha mẹ.
Địa
ngục vô gián chịu 5 khổ : quả báo không gián đoạn, thọ
khổ không gián đoạn, thời gian không gián đoạn, mạng sống
không gián đoạn, thân hình không gián đoạn (kinh Địa Tạng
nói : Một người cũng mãn đầy. Nhiều người cũng mãn đầy).
3/.
GIỚI DÂM DỤC
Những
ai không muốn lặn ngụp trong biển sanh tử, đoạn dục là
công phu đứng đầu.
Trí
Độ Luận : Vì sức trói cột mạnh nên tội ác lớn, ái dục
vô hình mà xiềng trói chúng sanh trong lao ngục tam giới chặt
chẽ hơn gông cùm.
Như
tất cả các giới, dâm dục cần 4 điều kiện :
a)
Nhân : Tập khí chủng tử sẵn có từ vô thủy.
b)
Duyên : Tiếp xúc 6 trần khả ái, tâm tư nối tiếp.
c)
Pháp : Phương pháp để giải quyết vấn đề.
d)
Nghiệp : Việc làm thành tựu.
Như
tất cả các giới, dâm dục đủ 3 chướng : a) Phiền não
chướng : Tâm niệm ham muốn. b) Nghiệp chướng : Thành tựu
sự việc. c) Báo chướng : Chánh báo đọa ba đường ác. Nặng
thì cột đồng giường sắt trong địa ngục. Nhẹ thì chịu
thân ma quỷ hay bàng sanh. Dư báo về nhân gian, gia đình xào
xáo, quyến thuộc bất hòa. Quả khổ luân hồi tiếp nối
không cùng tận.
Bồ-tát
cứu độ chúng sanh không những cho thọ phước báo an vui mà
phải dạy xa lìa gốc chướng đạo, tát cạn nguồn khổ đau.
Đem pháp thanh tịnh khuyên dạy là chỉ cách quán bất tịnh,
vô thường, vô ngã, khổ và không, đưa dần vào trí tuệ
Bát Nhã.
Bồ-tát
lấy việc độ sanh làm trách nhiệm. Đưa người ra khỏi biển
ái sông mê mới thật là diệu dụng giáo hóa. Đức Phật
đại bi nói pháp môn ly dục tịch tĩnh Niết-bàn. Nếu vi phạm
giới này thuộc về tánh tội.
Nơi
chúng sanh đã chết, thân chưa rã nát, ở 3 đường (miệng,
đại tiện, tiểu tiện) mà hành dâm cũng phạm căn bản trọng
tội.
Giới
này đủ 3 tụ : a/. Cấm cố tâm dâm dục thuộc về nhiếp
luật nghi giới. b/. Đem pháp thanh tịnh khuyên dạy người
là nhiếp thiện pháp giới. c/. Cứu độ chúng sanh là nhiếp
chúng sanh giới.
Bồ-tát
cần nghiêm cẩn phụng hành.
4.
VỌNG NGỮ
Phật
có ở chùa. Cư sĩ đến hỏi. Cậu bé La Hầu La nói Phật
đi vắng. Như thế nhiều lần. Người ta bạch lên Phật. Một
hôm, rửa chân xong, Phật hỏi La Hầu La : Nước đã rửa chân
có nấu cơm được không ? – Thưa không vì đã nhơ bẩn.
– Đúng thế. Người nói dối là người nhơ xấu, không ai
tin dùng.
La
Hầu La đem chậu úp về chỗ cũ. Phật đổ nước vào chậu
úp. Nước trôi tuột đi. Phật hỏi làm sao nước không đọng
ở chậu ? – Vì chậu đã úp, làm sao nước đọng lại được.
–
Cũng thế đấy, người không hổ thẹn, thân miệng đã sống
trái với giáo pháp thì thánh đạo làm sao thấm vào tâm ?
Từ
đó bé La Hầu La không bao giờ còn dám nói dối.
Loài
người chung sống cần yếu phải tin nhau, chân thành là yếu
tố để thành tựu lòng tin ấy. Chân thành rất quý giá vì
là suối nguồn đạo đức, là điều kiện tiên quyết của
sự tu hành. Cũng là cơ bản để cảm hóa lòng người.
Thân
tâm không vọng ngữ là nhiếp luật nghi giới. Thường sanh
chánh ngữ chánh kiến là nhiếp thiện pháp giới. Khiến chúng
sanh chánh ngữ chánh kiến là nhiếp chúng sanh giới. Bồ-tát
vọng ngữ liền mất cả tam tụ tịnh giới.
Quán
sổ tức, quán bất tịnh là 2 cửa cam lồ vào thánh vị. Vọng
nói đã chứng đắc cũng phạm đại vọng ngữ. Khoe thiên
long quỷ thần cúng dường, vĩnh ly tam đồ, hết sạch phiền
não, đều phạm đại vọng ngữ. Nếu người nghe không tin,
người nói chỉ bị khinh cấu tội. Người nghe lúc ấy chưa
tin. Về sau nghĩ lại mới tin, người nói phạm trọng tội.
Người chính nghe không tin, người đứng ngoài lại tin. Người
nói phạm 2 khinh cấu.
Người
hỏi : Anh đã chứng A-la-hán rồi phải không ? Gật đầu (trọng
tội). Im lặng để người hiểu lầm (khinh cấu tội).
Các
tiểu vọng ngữ, khinh cấu tội. Nhưng nếu thường xuyên phạm
hoặc thích thú nói cũng mất giới thể mà thành tội trọng.
Nói
dối để cứu mạng người thì không tội.
Bị
vu khống, bị dối gạt là dư báo của vọng ngữ.
Thành
thật có 5 lợi ích : mọi người tin kính, thuyết pháp được
chúng sanh nhận lãnh phụng hành, chư thiên quỷ thần ủng
hộ, hơi miệng thơm, ít tật bệnh ở miệng. Sau này thành
Phật.
5/.
BÁN RƯỢU
Buôn
bán rượu phạm tội trọng. Uống rượu chỉ phạm tội khinh.
Người xưa nói : Mở một tiệm rượu tội bằng lập 10 dâm
xá.
Tại
gia xuất gia đều nghiêm cấm. Bồ-tát phát nguyện khai mở
trí tuệ, khuyên người hướng thiện, tiến về con đường
quang minh vô thượng Bồ-đề. Sanh khởi trí tuệ minh đạt
là biện biệt được phải quấy thiện ác chánh tà để tiến
về chánh giác.
Nay
đem hôn mê tán loạn, ngu muội, đần độn, điên cuồng, hung
bạo cho chúng sanh nên phạm căn bản trọng tội.
Uống
rượu tai hại nghiêm trọng nhưng chỉ bản thân cá nhân chịu
nạn nên kết tội khinh cấu. Bán rượu tổn hại nhiều người
nên chế thành giới trọng. Giới cấm bán rượu thuộc về
giá nghiệp, ngăn ngừa cội nguồn tất cả ác hạnh, họa
hại vô tận cho thế gian. Người tại gia bán rượu thuốc
không phạm.
Vua
Võ Đế nhà Hạ được nước Trung Hoa suy tôn là đấng minh
quân chỉ vì đã có khả năng bỏ rượu ngay khi thấm thía
hương vị ngọt say. Ngài liền sắc lệnh cấm cả nước không
được pha chế nấu rượu, để tránh sau này sẽ có kẻ vì
rượu mà khuynh gia bại sản. Lịch sử khắp thế giới suốt
xưa nay đã chứng minh sự thật này.
Làm
rượu, bán rượu, uống rượu đều đọa địa ngục. Chuyển
sanh lên dương thế làm kẻ điên khùng. Bồ-tát cần suy ngẫm
kỹ về tội ác thâm trọng và quả báo thống khổ của rượu
để răn dạy chúng sanh.
6/.
RAO NÓI LỖI LẦM BỐN CHÚNG
Người
phát tâm Bồ-đề, tu Bồ-tát đạo rất hiếm có. Đã không
tán thán còn bới lông tìm vết, khiến chánh giáo Như Lai bị
chướng lưu hành.
Phàm
làm người trong thế gian, dù là bậc đã có hàm dưỡng giáo
dục học vấn đầy đủ cũng không tránh khỏi ít nhiều lỗi
lầm. Chưa phải thánh hiền, ai đã hoàn toàn không sai quấy
? Cho nên Phật giáo chủ trương từ bi hỷ xả để cùng nhau
xây dựng dần dần.
Bốn
chúng tại gia xuất gia cùng là thiện hữu núp bóng Tam-bảo.
Đồng một giới pháp để phòng hộ thân tâm. Pháp lữ một
đường lối tu học để tăng tấn công đức, hoàn thành mục
đích xuất thế. Chúng ta cần đem hết năng lực hộ trì Tam-bảo,
giữ gìn chánh pháp, khiến giáo lý Phật đà cửu trụ nơi
thế gian, lợi ích khắp muôn loài. Muốn được như thế cần
gây tín tâm cho nhân loại. Đức Phật đặt ra điều luật
này, cấm tiệt sự rao nói lỗi lầm của bốn chúng. Tránh
những vạch áo cho người xem lưng. Để đừng có cảnh trùng
trong thân sư tử làm hại sư tử.
Lời
nói là công cụ diễn đạt tư tưởng và tình ý, khiến loài
người hiểu nhau, hợp tác với nhau làm chúa tể hoàn cầu.
Nếu thuận hòa thì biển đông cũng tát cạn. Nay lại có những
phát ngôn viên truyền bá tin tức, chuyên môn bới bèo ra bọ,
vạch lá tìm sâu, thêm ớt thêm muối, chuyển việc nhỏ thành
trọng đại. Rồi còn đi đến chỉ không ra có, chỉ có thành
không. Vui miệng vọt lời, thương tổn lòng tự ái. Như kim
đâm vào tai làm sao bảo tồn hảo cảm. Vết thương dao cắt
dễ lành, lời nói đau, hận khó tiêu. Thế là ngôi nhà Phật
pháp nứt rạn. Tình bạn hữu biến thành thù địch.
Kẻ
rao nói tội lỗi bốn chúng là một nhân vật nguy hiểm. Kẻ
nhiều miệng lưỡi, bất luận ở giai cấp nào cũng đáng
sợ. Chẳng những người bị rêu rao chịu hậu quả mà còn
làm nhục danh dự tông môn, khiến thánh đạo đang lưu hành
bị mang vết. Luận Tát Bà Đa : Rao nói tội lỗi người xuất
gia tức là phá hoại pháp thân Phật. Vì hộ trì cửa đạo,
vì ái tiếc danh dự bốn chúng, đức Phật đặc biệt chế
giới điều này để hàng Phật tử xuất gia tại gia nghiêm
cẩn giữ gìn.
Người
xuất gia dù phá giới vẫn còn hơn ngoại đạo. Các tân Tỳ-kheo
bên Nhật Bản công khai có vợ con mà hàng Phật tử tại gia
cầu an cầu siêu cho đến cầu học Phật pháp vẫn nương
cậy. Trong khi ngoại đạo dù tài cao đức trọng vẫn không
có chánh pháp độ đời. Kinh Đại Bi nói : “Người xuất
gia tay phải bồng con trai, tay trái dắt con gái, từ quán rượu
này qua quán rượu khác. Vì đã có sự huân đào trong Phật
pháp, đã gieo trồng thiện căn xuất thế thì không ngoài hiền
kiếp này sẽ nhập Niết-bàn”. Dĩ nhiên là không chùa nào
chấp nhận cho Tỳ-kheo vào quán rượu. Ý kinh muốn nhắc chúng
ta rằng : Chỉ cần một chút cống hiến cho Phật pháp cũng
là nhân duyên giải thoát ngày mai.
Căn
cứ vào đối tượng rao nói mà thành tội nặng nhẹ. Đối
các vị lãnh đạo quốc gia, tội thật nặng. Những vị này
hy vọng ở các tôn giáo góp sức cải hóa nhân dân. Nay nghe
bản thân người trong tôn giáo đạo đức chẳng kiện toàn.
Vậy tôn giáo này vô ích. Trong lịch sử, những sự phá diệt
Phật pháp đa số đều do động niệm này.
Đối
ngoại đạo và những người ác cảm với Phật giáo mà rao
nói lỗi lầm của bốn chúng, tội cũng không nhẹ. Vì họ
đang tìm tài liệu để bài báng Phật pháp. Nay được chính
người trong đạo Phật mạnh mẽ giúp sức, hỏi còn gì may
mắn hơn ?
Đối
Phật tử tại gia rao nói. Thật tội nghiệp cho người này.
Từ đây thoái thất lòng tin. Trong đồng đạo, vui miệng kể
lỗi người này, kể quấy người kia. Tội không nặng vì
không định tâm ác nhưng cũng không phải là tướng mạo thánh
hiền. Động chạm đến danh dự đương sự hẳn cũng tự
chuốc lấy những thù hận khó gỡ.
Căn
cứ vào động cơ thúc đẩy bên trong và lời nói bên ngoài
mà phán đoán tội nặng nhẹ : Nói người để danh lợi về
mình ; vì cừu hận dùng lời ác độc ; vì ngu si không biết
hậu quả của lời nói ; tâm vô ký, nhẹ dạ nhẹ miệng,
bạ đâu nói đấy.
Bảo
người rao nói : a) Vì ném đá giấu tay, nhờ miệng người
làm tổn thất danh giá kẻ cừu địch của mình. b) Biết hai
người có oán hờn nhau. Giúp cho người này một mồi lửa
để đốt nhà người kia. Bồ-tát dĩ nhiên phải biết sợ
những thứ tâm niệm này.
Xét
4 việc mà kết tội :
a-
Nhân : 3 độc tham, sân, si.
b-
Duyên : Tìm lỗi lầm của đối phương làm tài liệu.
c-
Cách thức : Lời nói hay viết văn.
d-
Nghiệp : Mình nói rành rẽ, người nghe minh bạch.
Rao
nói tội trọng thành tội trọng. Rao nói tội khinh thành tội
khinh. Dù tội có thật, kẻ nói cũng ác khẩu. Nếu trước
mặt ngọt ngào sau lưng chê bai, phạm thêm tội hai lưỡi.
Nếu tội không có, chồng thêm tội vu khống.
Chúng
sanh nạn nhân có 5 phẩm :
1-
Thượng phẩm : Bồ-tát Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Người nói phạm
trọng tội.
2-
Trung phẩm : Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Người nói cũng phạm trọng
tội.
3-
Hạ phẩm : Bồ-tát tại gia. Người nói cũng phạm trọng tội
nhưng không nhất định mất giới thể.
4-
Nói tội chúng nhỏ, khinh cấu.
5-
Người bị rêu rao phạm trọng tội đã mất giới thể, người
nói khinh cấu tội. Nếu người này giới thể không mất hoặc
đã đúng pháp sám hối hay đã được thọ giới lại. Người
nói phạm trọng tội.
Quả
báo : Địa ngục rút lưỡi hoặc bị kéo lưỡi ra cho trâu
cày. Sanh về dương gian nhiều đời không lưỡi. Các thứ
bất hòa gây gổ.
Luật
Sadi dạy : Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra. Lưỡi con
người là cái búa tự chém chặt mình.
Bồ-tát
nghe rao nói tội lỗi bốn chúng rất đau lòng buốt dạ. Huống
chi tự miệng đi rao nói. Bổn phận Bồ-tát phải giáo hóa
kẻ ác sanh tín tâm lành đối với đại thừa. Kinh này gọi
ngoại đạo và nhị thừa là kẻ ác. Vì ngoại đạo không
tự tin tâm mình là Phật, đem tâm hướng bên ngoài cầu an
vui hết khổ nên đa số bác lý nhân quả. Khác với đường
lối của Phật nên gọi là ngoại đạo.
Nhị
thừa là đạo lý thánh nhân vượt thoát luân hồi sanh tử.
Sở dĩ kinh đây gọi là ác vì các hành giả không phát tâm
cứu độ chúng sanh, không tin diệu dụng đại thừa. Vì không
tin nên dễ sanh báng, cho rằng Bồ-tát phá hoại Phật pháp.
Để
khỏi chướng ngại việc hoằng dương Phật pháp và các Phật
tử không tán thất tánh đức bản thân, đức Thích Ca Mâu
Ni cấm tiệt sự rao nói. Nhưng ngài vẫn nghiêm khắc bảo
tồn nếp sống thanh tịnh của Tăng đoàn. Không thanh tịnh,
không có hòa hợp an vui. Mỗi nửa tháng toàn chúng phải kiểm
điểm, sám hối những lỗi lầm. Ai không tự thấy lỗi, không
chịu sửa lỗi sẽ bị trục xuất. Trong Tăng đoàn, trước
giờ bố tát, Tỳ-kheo nào cũng có quyền công khai cử tội
những phi pháp sai luật. Cực lực quở trách để xây dựng
được coi là đại công đức.
Ngoài
ra, nếu biết rõ mười mươi sự không tốt đẹp, ta nên thành
thật thẳng thắn nói chuyện ngay với đương sự. Nếu không
kết quả, ta đem thiện ý nói với sư phụ vị ấy, hy vọng
sẽ có sự cải hối, để hạt ngọc châu trở về không vết.
Chẳng
những trong khi tức giận phải cẩn thận mà hàng ngày thuận
miệng hả dạ cũng nên đề phòng. Khinh bạc đàm tiếu chuyện
thị phi, khoái rao nói lỗi lầm của người khác, đâu có
ngờ đang tự tạo cho mình một vực thẳm.
Đức
khiêm nhường cung kính là một loại hoa thơm. Lời nói là
bạc, im lặng là vàng.
7/.
KHEN MÌNH CHÊ NGƯỜI
Tâm
lý khen mình chê người, phàm phu nào cũng có. Rất hiếm được
nghe một người tự phô bày khuyết điểm và tán dương mỹ
đức kẻ khác. Cho nên hòa khí chân thành là một thứ vô
cùng quý giá. Bồ-tát từng giờ từng phút phản tỉnh, đề
phòng những tập khí vô minh.
Con
người ở trong xã hội có đứng vững hay không chính do khả
năng của mình. Khen chê chỉ là những ảnh hưởng bên ngoài.
Tật đố phỉ báng tác dụng ngược lại thường làm hại
chính chủ nhân nó.
Bồ-tát
hóa độ chúng sanh phải làm gương mẫu. Nhất cử nhất động,
lời nói việc làm cần hợp pháp tắc. Ganh ghét người hiền,
hãm hại tài năng thì thiện pháp công đức mỗi ngày một
tổn giảm. Ác pháp tội lỗi mỗi ngày sẽ gia tăng. Bồ-tát
dẫn dắt chúng sanh đi đường lối này thật là nguy hiểm
cho Phật pháp. Như người chuyên học giáo lý sẵn sàng chê
các bậc chuyên tu là tu mù luyện quáng. Bậc tĩnh tọa được
chút công phu chê người chuyên học là ăn bánh vẽ, đếm
tiền hộ trưởng giả. Bổn phận duy trì Phật pháp mà hóa
thành bè đảng ma vương.
Những
lời nói khiến kẻ kia không chỗ đứng, không thể ngóc đầu
lên, bị mọi người xa lánh. Sự nghiệp khó thành công vì
chẳng được ai hưởng ứng. Nói với người chưa thọ Bồ-tát
giới thì căn bản trọng tội. Nói với người đã thọ Bồ-tát
giới thì khinh cấu tội. Cũng có nơi cho rằng bất luận nói
với ai, hễ cứ dụng tâm ác đều phạm trọng tội.
Khen
mình là do tham danh lợi. Chê người từ tật đố sân giận
mà ra. Động cơ chính yếu vẫn là ngu si. Chê người để
hiển lộ cái hay của mình là dụng tâm đê hèn. Xúi người
tự tán hủy tha, bất luận hoàn cảnh nào, hễ người thọ
sai hoàn thành sứ mạng thì Bồ-tát phạm căn bản trọng tội.
Thanh-văn
thừa coi tội khen mình chỉ là ác thuyết. Chê người tội
đọa, tức là hàng thứ 3 trong các tội nặng. Bồ-tát thừa
cho việc tùy vọng tình làm tổn thất chúng sanh, là tội rất
nặng.
Giới
này gồm cả 2 nghiệp. Là tánh tội vì tranh danh đoạt lợi
gây đau khổ sâu xa. Là giá giới vì Phật đề phòng những
tai hại có thể đưa người đến táng thân bại sản.
Hủy
báng người thường, tội đã nặng. Hủy báng pháp sư hoằng
dương chánh giáo, tội càng trọng đại. Kinh Báng Phật kể
chuyện : Pháp sư Biện Tích, một cao Tăng hoằng truyền chánh
giáo. Thính chúng thông thường kể số ngàn muôn. Vì bị một
bọn liên kết hủy báng, ngài mất hẳn tín chúng, phải rời
chùa đi cư trú nơi khác. Những kẻ hủy báng xả thân chịu
quả vô cùng bi thảm. Vô lượng kiếp trong địa ngục rút
lưỡi. Chuyển thân lên dương gian, thân này thân khác cứ
bị sanh manh. Cho đến đức Phật Thích Ca xuất thế, dù được
xuất gia tu học mà thân tâm cứ đủ thứ tác dụng chướng
nạn, đến nỗi hết đời lại trở về địa ngục.
Kinh
Vị Tằng Hữu kể một chuyện khen mình : Có 5 Tỳ-kheo, hàng
ngày luân phiên, 4 người ngồi thiền trong rừng. Một người
đi các nơi rao nói : “Có thánh Tăng giáng đức tại rừng
kia. Ai phát tâm lễ bái cúng dường công đức vô lượng”.
Năm người nhờ vậy hưởng thọ sung mãn. Mạng chung đọa
địa ngục. Lên dương thế làm súc sanh trả nợ thí chủ.
Đến khi làm người bị dư báo. Nếu không làm nghề khiêng
kiệu thì cũng đi đổ phân thuê cho đàn na xưa. Xem thế thì
biết, lợi dưỡng đúng pháp còn nên xa lánh huống chi dùng
thủ đoạn không chánh đáng mà tìm cầu.
Bồ-tát
tuyệt đối phải có 4 pháp :
a)
Biết gia đình là lao ngục.
b)
Biết danh lợi là xiềng xích.
c)
Không đắm nhiễm các vui thế gian.
d)
Không ái tiếc thân mạng bốn đại.
Bồ-tát
cần đề phòng 4 việc đọa lạc :
a.
Khinh mạn người kém mình.
b.
Giả hiện hiền đức.
c.
Cư trú ở nơi có nhiều danh lợi như cung vua thành thị.
d.
Bội ân, dua nịnh (đối với các bậc có ân đức phải trực
tâm, thành tâm, cung kính tâm).
Đức
Phật cấm khen mình chê người là nói về phương diện phân
biệt nhân ngã, tranh giành hơn thua, mưu cầu danh lợi, bất
chấp sự tổn hại của người. Còn các Bồ-tát đại từ
bi vì thương xót chúng sanh, vì đại nguyện nêu cao pháp tràng
mà lớn tiếng phân biệt chánh tà thì công đức không thể
nghĩ bàn. Chẳng thể đem so sánh với ngã kiến phàm phu. Vì
mong cho chúng sanh thoát khổ trầm luân, Bồ-tát nêu lợi ích
của Phật pháp, vạch tỏ tà thuyết của ngoại đạo. Như
đức Phật tự đặt ra giáo lý nhị thừa rồi trở lại bài
xích để đưa các đệ tử tiến lên nhất thừa.
HỎI
: Bồ-tát giới bắt buộc bao nhiêu hay tốt nhường cho người.
Bao nhiêu nhơ xấu đem về phần mình. Nếu bản thân Bồ-tát
không xấu, nếu chúng sanh vốn thật không tốt thì lời nói
này trở thành hư dối ?
ĐÁP
: Ta nên hiểu ý luật dạy thế này : Bồ-tát phải
có tầm tri kiến rộng rãi. Thí dụ chúng sanh đến hủy nhục.
Bồ-tát tự nghĩ : Vì có thân mới có cái đích để cho thiên
hạ bêu xấu. Như các hiền thánh chứng quả vô sanh thì đâu
có duyên để cho thiên hạ ác khẩu. Lại vì kiếp trước
có tạo nghiệp hủy báng nên nay mới có quả báo xấu. Mỗi
lời hủy báng là một quét sạch túc nghiệp. Bồ-tát trở
lại cám ơn chúng sanh.
Đức
Khổng Tử dạy thầy Tử Cống : Những gì mình không thích
chớ đem cho người. Những gì mình ưa thích nên làm cho người.
Phật
cấm các Bồ-tát tuyên dương lỗi xấu của người mà dạy
hằng phô hiển chỗ tốt đẹp của người.
Du
Già Bồ-tát Giới Bổn : “Bồ-tát phải tận lực xưng dương
tán thán người có thiện pháp khiến những ai nghe được
vui mừng, gia tăng tín tâm thanh tịnh”. Lửa tự tán hủy
tha thiêu đốt thiện căn đại thừa tánh giới, khiến Bồ-tát
mất tâm từ bi. Chẳng những khen mình chê người, Bồ-tát
giới kết tội nặng mà Bồ-tát hạnh còn phải tùy hỷ công
đức thiện căn của mọi người.
Đức
Phật dạy : Đã vào rừng chiên đàn, phải lấy gỗ trầm
hương. Không nên chỉ vơ một nắm lá. Phật tử phải cầu
cho bằng được sự an vui giải thoát. Nếu cầu danh lợi là
tự thiêu đốt hết thiện căn lại còn tạo nghiệp đọa
lạc.
Bất
cứ trường hợp nào, tâm tật đố khen mình chê người cũng
đáng trách. Hậu quả không lành cả hiện tại và vị lai.
Bồ-tát hàng ngày tự xét. Không để cho loại vi trùng nguy
hiểm này xâm nhập vào tâm. Huống chi còn dung túng cho nó
làm thống soái điều khiển thân miệng ý mình.
8/.
BỎN SẺN THÊM MẮNG NHIẾC
Yêu
tiếc cất chứa lợi dưỡng, không muốn bố thí. Tham : ham
muốn không chán. Xan : bỏn sẻn bất luận về tiền của,
năng lực hay trí thức.
Lòng
người là như vậy. Được thì hoan hỷ mà cho ra thì luyến
tiếc. Phát tâm Bồ-đề là phát nguyện từ nay xả thí nội
thân ngoại tài. Đem vật thế gian hư huyễn đổi lấy thanh
tịnh pháp thân.
Bỏn
sẻn : tham. Mắng nhiếc : sân. Nếu chỉ mắng nhiếc mà không
bỏn sẻn hoặc chỉ bỏn sẻn mà không mắng nhiếc thì tội
khinh cấu. Mục đích bố thí chẳng những khiến chúng sanh
an vui mà cần yếu là được lợi ích. Nếu chúng sanh yêu
sách những thứ vô lý hoặc quá khả năng thì Bồ-tát cứ
thành thật từ chối. Bỏn sẻn tiền của đời đời nghèo
thiếu. Bỏn sẻn Phật pháp đời đời ngu si nên Bồ-tát rất
mong bố thí.
9/.
SÂN GIẬN KHÔNG THỌ HỐI
Đối
với Bồ-tát tội sân nặng hơn tham vì chướng ngại hạnh
nhẫn nhục và phá hoại đức từ bi. Bổn phận Bồ-tát phải
chữa bệnh sân cho chúng sanh, đâu lại tự mình giận họ.
Bồ-tát phát nguyện vào địa ngục chịu khổ thay cho chúng
sanh, huống chi lại không chịu đựng nổi những mê lầm của
họ. Không nhẫn được tức là mình chưa tự điều phục
được mình còn mong dạy ai ?
Chúng
sanh gây chuyện phi lý cho Bồ-tát :
1-
Vì tiền ác nghiệp của Bồ-tát cảm ra.
2-
Vì ma phiền não ám ảnh, chúng sanh ngu mê không tự biết.
Ngũ trược ác thế toàn những bất như ý. Như người lỡ
vào rừng gai. Chỉ nên một lòng cầu ra thoát, đâu có thời
giờ giận trách bọn gai.
Bồ-tát
một lòng xuất thế. Vì đã giác tỉnh nên từ bi thương xót
chúng sanh mê khổ trong kiếp sống vô thường vô ngã. Bồ-tát
tu lục độ lấy chúng sanh độc ác làm ân nhân. Ngày đêm
chỉ mong đền ân. Về Cực Lạc rồi, đâu còn ai cần đến
Bồ-tát hạnh của mình.
Thân
ta, thân người cho đến dao gậy đều là đất nước gió
lửa, tuần nghiệp cảm hiện. Các pháp sanh diệt không ngừng.
Trong đây không người mạ nhục, không người cung kính.
Ba
cách tư duy để nhẫn não :
1-
Nghiệp lực chiêu cảm tai ương.
2-
Sanh mạng là hành khổ, ta người đều vậy.
3-
Còn chấp bốn tướng ta, người, chúng sanh, thọ giả thì
chưa phải là Bồ-tát. Bồ-tát có trí tuệ Bát Nhã, dù thân
bị lóc thịt, tâm vẫn không động. Bồ-tát đã biết đạo
lý, đâu còn như thế gian, làm chuyện xúc não.
Nhị
thừa chỉ mong giải thoát còn tu bốn vô lượng tâm Từ Bi
Hỷ Xả. Nhà nho lập hạnh quân tử một đời, còn biết dùng
đức báo oán. Người phá vườn ta, ta đem nước tưới vườn
cho người. Huống chi Bồ-tát đại thừa, lấy lợi tha làm
bổn nghiệp, lấy cứu khổ làm nhiệm vụ, đâu có phiền
hận ai ?
Người
đem bất hạnh đến. Bồ-tát nghĩ đây là nợ, ta nên vui vẻ
trả. Thái độ thân thiết, sắc diện vui hòa, tư cách thiện
cảm, Bồ-tát bao giờ cũng cởi mở trong những quan hệ giao
tiếp.
Kẻ
sân giận bị gọi là Dược-xoa La-sát, nào có ai ưa. Sân giận
nổi lên, cả ba nghiệp trở thành xấu ác, mở đường trầm
luân. Bồ-tát thận trọng, triệt để vâng Phật, làm cho chúng
sanh được căn lành không tranh chấp, tu tập hiếu thuận từ
bi.
Xúc
người nổi sân rất dễ, chỉ cần vài lời kích thích. Khuyên
nhẫn nhịn rất khó vì lòng tự ái không dễ hàng phục. Người
đời cho khiêm nhường là hèn nhát nhu nhược.
Lúc
đầu chỉ một tranh cãi không đâu. Tiến đến ẩu đả. Rồi
thì thịt nát máu rơi. Cho nên vô tranh là căn bản an lành.
Tạo được không khí hòa vui thì ngay thế gian là Tịnh-độ.
Bồ-tát biết tất cả chúng sanh đều đã từng là cha mẹ
lẫn nhau nên tu tâm hiếu thuận.
Thần
Kim Cương mắt phẫn nộ mà lòng Bồ-tát. Ngoài sừng sộ nhưng
tâm hiền từ. Miệng quở trách vì lòng thương xót. Bồ-tát
thị hiện tướng sân để hàng phục cang cường chúng sanh,
không nên so sánh với những hạng người còn tẩm ba độc.
Trường
hợp cần quở trách, trị phạt, tẩn xuất mà Bồ-tát dung
túng, để họ quá đà, đi đến đọa lạc thì Bồ-tát phạm
giới không dạy sám hối. Trừ những trường hợp thực sự
không kết quả, không phải lúc, thì Bồ-tát đành bỏ qua.
Câu
Xá Luận tụng rằng : Thượng nhị bất hành sân (cõi trời
sắc và vô sắc không còn sân).
9/.
HỦY BÁNG TAM-BẢO
Tà
kiến thượng phẩm báng không nhân quả, không tin Tam-bảo.
Trung phẩm không thừa nhận Tam-bảo hơn ngoại đạo. Hạ phẩm
bỏ đại thừa theo tiểu thừa hoặc ngược lại chấp đại
thừa báng tiểu thừa, nói Bồ-tát không cần học tiểu thừa.
Riêng chê bai một kinh nào cũng khinh cấu tội.
Sợ
hãi sanh tử, đoạn trừ phiền não, Thanh-văn không sánh kịp
Bồ-tát. Vì Thanh-văn chỉ tự độ. Bồ-tát nguyện độ tất
cả chúng sanh. Đặc điểm của Bồ-tát là một lòng xa lìa
sanh tử tuy vẫn ở trong sanh tử. Giải thoát phiền não mà
vẫn lăn lộn đối đầu với chúng sanh đầy phiền não.
Hủy
báng Tam-bảo là thiêu đốt hết thiện căn công đức của
mình, phá hoại tín tâm chúng sanh, tiêu diệt pháp nhãn của
người. Đại ác tri thức này đưa mình và người vào địa
ngục A tỳ.
Riêng
báng Phật, riêng báng Pháp, riêng báng Tăng cũng là báng Tam-bảo.
Nói trên đời này chỉ có Bồ-tát tương tợ và Thanh-văn
giả mà thôi. Đó là báng Tăng.
Quả
báo đời sau không gặp được Tam-bảo. Phá hoại tuệ mạng
của chúng sanh, đoạn tuyệt Phật chủng của chúng sanh nên
đọa ác đạo, chịu các bệnh khổ. Hủy báng chánh pháp khiến
chúng sanh mất nơi nương tựa tức là mất tất cả quả vui,
sẽ chịu tất cả khổ.
Thời
quá khứ, pháp sư Oai Nghi chuyên học tiểu thừa, báng đại
thừa không phải lời Phật, chết đọa địa ngục. Lên làm
người đui mù, sanh nhà bần tiện tà kiến, không được gần
Tam-bảo, không được nghe chánh pháp.
Giới
này đủ cả 2 tánh và giá tội.
TỔNG
KẾT : Tâm địa đại giới mà hư tổn thì dù Phật chủng
sẵn có cũng không thể mọc mầm. Nên Bồ-tát cần nghiêm
cẩn dù một mảy nhỏ cũng không dám vi phạm.
B- 48 GIỚI
KHINH
Khinh
: nhẹ. Cấu : nhiễm ô bổn nguyên tâm địa. Nếu không mau
sám hối thì chướng đạo quả. Khinh cấu tội cũng gọi là
ác tác, ác thuyết, thất ý, đột cát la. 10 giới trọng không
đủ duyên thành nghiệp gọi là khinh cấu tòng sanh.
Kinh
Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi : Nếu thầy Samôn nói không thèm
nghe, hỏi không như thật đáp, phạm tội trọng cấu. Nếu
không tâm khinh mạn giận ghét mà chỉ vì xao lãng biếng lười
thời khinh cấu tội.
1/.
KHÔNG CUNG KÍNH THẦY BẠN
Tâm
hiếu thuận : ý nghiệp kiền thành. Đứng dậy tiếp rước
lạy chào : thân nghiệp kiền thành. Hỏi thăm : khẩu nghiệp
kiền thành. Bồ-tát từ trong tâm tưởng đến ngoài thái độ
đều phải y lời Phật dạy.
Tôn
kính thầy bạn là việc khẩn yếu trong Bồ-tát giới để
hoàn mãn Bồ-tát hạnh. Trừ những trường hợp như đang nghe
pháp, không dám động niệm pháp sư và đại chúng thì không
phạm.
Cung
kính thầy bạn sẽ thường xuyên được gặp duyên lành để
thành tựu Phật pháp.
2/.
UỐNG RƯỢU
Trưởng
lão Sa Dà Đà hàng phục độc long danh tiếng lừng lẫy. Bị
rượu say, nằm bẹp một chỗ. Đức Phật hỏi : Lúc này có
bắt cua được không ?
Vua
Hoàn Công nước Tề đưa cho Quản Trọng một chén rượu.
Quản Trọng nhận rồi lén đổ đi. Vua hạch tội. Quản Trọng
thưa : Uống rượu say nói những lời lỗi lầm sẽ mất mạng.
Nên thà bỏ rượu để giữ thân mạng.
Trừ
trường hợp trọng bệnh, cần rượu làm thuốc thì khai cho
Bồ-tát được uống.
3/.
ĂN THỊT
Một
con chim bồ câu bị diều hâu đuổi, chạy tới ngài Xá Lợi
Phất vẫn run. Chạy đến bên Phật nó mới an. Phật dạy
vì tập khí sát nghiệp của ngài Xá Lợi Phất hãy còn.
Nhúng
tay vào nước sôi, toàn thân ta đau nhức như muốn nứt. Một
cây kim đâm vào thịt, khắp thân ta rùng mình. Cá kia phải
mổ, ôm mối hận. Gà kia sắp chết, khóc dưới dao. Bao nhiêu
đau khổ chúng sanh phải chịu để cung cấp cho ta một miếng
ăn. Trong khi chờ đợi Diêm Vương xét xử, ta hãy suy nghĩ,
đoái tâm để ý. Có nên gieo thêm thống khổ cho những loài
bạc phước ấy chăng ?
Tất
cả chúng sanh không sát nghiệp, thế giới nào có động đao
binh. Hãy xét xem, chỉ một bát canh, oán sâu tợ biển, hận
như non. Muốn biết nguyên do kiếp đao binh, hãy nghe tiếng
kêu trong nhà đồ tể.
4/.
ĂN NĂM MÓN RAU CAY
Tỏi,
hành, hẹ, nén, hưng cừ.
Kinh
Lăng Nghiêm dạy : “Ăn chín sanh dâm, ăn sống sanh sân”.
Sanh dâm vì có tác dụng vượng can hỏa. Ăn sống tăng trưởng
sân hận vì làm động can khí. Người ăn bị 2 thứ dâm và
sân che đậy tâm tánh nên ngũ tân cũng liệt vào loại khiến
cho tâm thần bị hôn mê.
Kinh
Tỳ Ni Mẫu : Ngài Xá Lợi Phất bệnh nặng. Y sĩ bảo phải
ăn tỏi. Tôn giả bạch Phật. Phật đáp : Vì bệnh cho phép
ăn nhưng phải riêng ở một nơi vắng vẻ. Không được vào
phòng Phật nhà Tăng. Không được sử dụng nhà tắm nhà vệ
sinh công cộng. Không được nằm trên đơn nệm chiếu của
chúng. Lành bệnh rồi, 7 ngày sau khi không dùng tỏi nữa, tắm
gội giặt giũ, y áo sạch sẽ, thân không còn mùi tỏi mới
được trở về trong chúng.
Bộ
Tây Vức Ký : Ở Ấn Độ, ai ăn ngũ tân liền bị đuổi ra
khỏi thành.
Giới
này cả tiểu thừa đại thừa xuất gia tại gia đều thọ
trì.
5/.
KHÔNG DẠY SÁM HỐI
Chánh
pháp cửu trụ là do người phụng trì có đúng hay không. Người
thanh tịnh làm gương cho đại chúng noi theo. Nên thân tâm thanh
tịnh vô cùng quan trọng. Chưa đạt ngôi thánh, chưa ai tránh
khỏi lỗi lầm. Vấn đề cần yếu là tự biết lỗi và hết
lòng cải hối. Giáo bất nghiêm thầy bị đọa. Bồ-tát thấy
người giỡn cười phi pháp, không dạy sám hối, là phạm
giới.
Kinh
Ưu Bà Tắc Giới : Thà một ngày đoạn vô lượng sanh mạng,
quyết không dung dưỡng những đệ tử ác mình không thể
điều phục.
Kinh
Bồ Tát Thiện Giới : Làm thầy không răn dạy đệ tử để
phá hoại Phật pháp, quyết đọa địa ngục.
Kinh
Niết Bàn : Tỳ-kheo hiền thiện thấy người phá hoại Phật
pháp mà bỏ qua, không cử tội, không trị phạt, không tẩn
xuất. Tỳ-kheo này là giặc trong Phật pháp. Tuyệt đối không
được thuận nhân tình. Mặc người buông lung, không nhắc
nhở, chính mình sẽ bị tội, ngôi Tam-bảo không dung thứ.
Kinh
Thiện Sanh : Thấy người phạm giới, khởi tâm khinh mạn,
phạm tội thất ý. Cử tội phải chân thật, phải thời,
đúng lý, vì lợi ích cho người, với tâm từ bi, thái độ
nhu hòa. Không nên trước đại chúng mà ở trước một đại
đức có thể chứng minh cho người kia sám hối.
Du
Già Bồ Tát Giới : Cử tội cốt cho người cải hối và đại
chúng được thanh tịnh an hòa. Nếu đã không cải hối lại
còn khiến chúng bất an thì không quở trách, không phạm.
Luật
Ma Ha Tăng Kỳ : Nếu có nạn đến tánh mạng hoặc phạm hạnh
thì không nên tự rước lấy phiền phức. Ai nấy hãy tự
lo cứu lửa đang cháy đầu mình.
6/.
KHÔNG CÚNG DƯỜNG THỈNH PHÁP
Vua
Đế Thích hiện thân La-sát, đến trước Bồ-tát đọc kệ
: “Chư hành vô thường là pháp sanh diệt…”. Bồ-tát khẩn
thiết thỉnh La-sát nói tiếp. La-sát không nói được vì đói
quá. Bồ-tát năn nỉ : “Xin ngài cố gắng nói nốt. Tôi xin
xả thân cúng dường”. La-sát nói : “Sanh diệt diệt rồi
tịch diệt mới an”. Bồ-tát vội viết bài kệ trên đá,
trên cây. Xong rồi tình nguyện nộp mình cho La-sát ăn thịt.
La-sát liền hiện nguyên hình là trời Đế Thích, đỉnh lễ
sám hối và tán thán.
Dù
giới hạnh khuyết điểm mà có thể thuyết pháp độ sanh,
truyền bá lời Phật. Ta phải cúng dường như cúng Phật.
Tiền
thân đức Thích Ca Mâu Ni Phật làm đại quốc vương. Khoét
trên thân 1000 lỗ đổ dầu đốt đèn cúng dường bà-la-môn
Lao Độ Sai, để nghe một bài kệ : “Lâu dài sẽ chấm dứt,
quá cao ắt đổ sụp, sum họp sẽ chia ly. Có sanh thì phải
tử”.
Biết
con đường Phật Nhiên Đăng sắp đi qua có đoạn bùn nhơ,
Bồ-tát liền cởi chiếc áo da nai, trải lên mặt bùn. Vì
chưa được khắp, Bồ-tát nằm bẹp xuống, mở búi xõa tóc
trải lên bùn, thỉnh Phật đi qua.
Kinh
Viên Giác : Tu hành phải nguyện trọn đời cúng dường thiện
tri thức.
7/.
KHÔNG ĐI NGHE PHÁP
Tiểu
thừa coi trọng chánh kiến. Đại thừa coi trọng Bát Nhã.
Vì người hướng dẫn không trí tuệ, vô cùng nguy hiểm. Các
thiện hạnh cần trí tuệ như thuyền cần mái chèo. Trăm ngàn
kẻ mù lạc đường chỉ cần một con mắt sáng là được
sống.
Nhưng
kinh Hoa Nghiêm kệ rằng : “Ví như kẻ nghèo cùng, ngày đêm
đếm báu cho người. Tự mình không nửa tiền. Kẻ đa văn
cũng vậy”. Đây ý khuyên học rồi cần tu. Đa văn là mới
có văn tuệ còn phải thêm tư tuệ và tu tuệ.
Giả
sử thế giới toàn lửa đỏ vì nghe Phật pháp cũng nên qua.
Cầu thành Phật đạo độ chúng sanh vượt biển lửa sanh
tử.
Các
học xứ có công năng điều hòa ba nghiệp thân miệng ý, hàng
phục tất cả bất thiện. Đa văn biết các pháp, lìa mọi
ác, xả vô nghĩa, được Niết-bàn.
8/.
BỎ ĐẠI HƯỚNG TIỂU
Kinh
Hoa Nghiêm : Thà đọa trong ác thú mà được nghe Phật danh,
không muốn sanh thiện đạo mà chẳng biết Phật pháp.
Kinh
Niết Bàn : Bồ-tát sợ đạo pháp nhị thừa như người yêu
tiếc thân mạng sợ phải xả bỏ thân. Bởi vì phát Bồ-đề
tâm là việc hiếm có khó được.
Đại
Trí Độ Luận, Tổ Long Thọ cũng nhấn mạnh : Thà khởi tâm
dã can (chồn) không sanh nhị thừa ý.
Giới
kinh này cũng chê Thanh-văn pháp là tà. Đây là vì sợ hành
giả Bồ-tát thừa đi vào đường tịch diệt của tiểu thừa,
trái bỏ chánh nhân tâm địa diệu giới của mình, thành mất
quả vị Phật. Chớ không phải khinh thường giới pháp Thanh-văn.
Cũng không phải nói Bồ-tát không cần giữ giới pháp Thanh-văn.
Thật ra đặc biệt Bồ-tát cần hết sức nghiêm cẩn giữ
gìn thanh tịnh nhiếp luật nghi giới của Thanh-văn để trang
nghiêm thân tâm và giáo hóa nhân quần tu học theo Phật pháp.
Kinh
Địa Tạng Thập Luận : Bồ-tát cần phải tu học tam thừa,
không được kiêu mạn vọng xưng đại thừa mà hủy báng
pháp Thanh-văn Duyên-giác.
Đã
xuất gia phải giữ giới Thanh-văn thanh tịnh, dù là người
học pháp đại thừa. Nếu không thì bị gọi là Tỳ-kheo tặc
trụ (giặc trong Phật pháp). Tội này rất nặng. Thanh-văn
là trụ trì Tăng bảo trong thế gian. Giới hạnh thanh tịnh
của Tăng chúng quan hệ đến sự mất còn của tiền đồ
Phật pháp. Làm sao dám xem thường.
Không
giới luật, Tăng bảo đã mất thì Phật bảo và Pháp bảo
cũng không thể tồn tại. Nhân thiên không nơi nương tựa.
Cho nên Bồ-tát phải trọng cả tam tụ giới.
Du
Già Bồ-tát Giới Bổn :
a)
Bồ-tát chưa nghiên cứu tinh tường Bồ-tát tạng mà chuyên
học tập Thanh-văn tạng. Thế là trái nghịch.
b)
Bồ-tát chưa tinh thông Phật giáo không được học tập ngoại
đạo cùng những sách vở thế gian.
Kinh
Bồ Tát Thiện Giới : Nếu vì muốn phá tà kiến, hiển dương
chánh pháp thì cho một ngày hai thời học Phật pháp, một
thời học ngoại điển. Nếu mê theo ngoại học liền phạm
giới.
9/.
KHÔNG TRÔNG NOM NGƯỜI BỆNH
Bồ-tát
lấy đại bi làm tự thể, lấy cứu khổ làm bổn phận, thấy
tật bệnh phải lo săn sóc cứu chữa. Công đức khán bệnh
vô cùng quan trọng, Bồ-tát chẳng thể lơ là. Phật dạy trong
8 phước điền, bệnh nhân là đệ nhất. Phải cúng dường
như cúng dường Phật.
Bệnh
là do bốn đại không an hòa nhưng cũng có nhiều nguyên nhân
khác nên kinh Phạm Võng dạy phải giảng Bồ-tát giới để
cứu hộ các tai nạn và bệnh tật. Tôn giả Xá Lợi Phất
nhiều bệnh nhất trong hàng đệ tử. Phật dạy đó là do
trong nhiều kiếp quá khứ ông thường có tâm khinh mạn sư
trưởng cha mẹ.
Triều
nhà Đường bên Tàu, Tứ Nham thiền sư ở thành Thạch Đầu
(Nam Kinh bây giờ), lập một bệnh xá. Ngoài giờ chăm sóc
tắm rửa giặt giũ quét phòng bệnh nhân, ngài còn giảng pháp
an ủi, khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tây phương. Gặp những
người đau nhức rên la vì máu mủ không lưu xuất được,
ngài dùng miệng hút, lưỡi liếm. Đến niên hiệu Vĩnh Huy,
thiền sư viên tịch ngay tại bệnh xá. Thi hài để hơn 10
ngày mà dung mạo vẫn tươi đẹp, không chút thay đổi. Hương
thơm ngào ngạt tỏa ra khiến ai cũng tán thán.
10/.
CHỨA KHÍ CỤ SÁT SANH
Phòng
ngừa manh nha khởi niệm sát sanh. Kinh Niết Bàn : Thời mạt
pháp, Ưu-bà-tắc tay cầm đao trượng hộ trì Tam-bảo. Vị
này không phạm giới mà công đức lớn. Quốc vương các quan
có trách nhiệm duy trì an ninh trong nước, bảo hộ sanh mạng
và tài sản nhân dân. Vì kiến thiết quốc phòng, phải cất
chứa võ khí. Chỉ những hoàn cảnh thật cần thiết như thế,
Phật mới cho phép.
11/.
QUỐC SỨ
Bồ-tát
không được tới lui qua lại trong quân trận huống chi còn
làm môi giới chiến tranh. Danh lợi như kiếm chém đầu người.
Kẻ ngu ưa thích nên tự hoại hết pháp lành. Bồ-tát hễ
mưu tính việc bất chánh là tà mạng.
Bồ-tát
xuất gia được thỉnh đến quân đội thuyết pháp, an ủi
thương phế binh hoặc cầu siêu cho các tử nạn, thì được
phép qua lại trong quân trận. Bồ-tát tại gia lợi dụng hoàn
cảnh làm chức vụ ngoại giao, thuyết phục giới lãnh đạo
của hai nước, bãi bỏ binh đao, chấm dứt chiến tranh, lập
mối giao hảo, từ nay thực hiện chính sách hòa bình. Vị
quốc sứ này là sứ giả của Như Lai.
12/.
BUÔN BÁN
Cả
đại thừa tiểu thừa đều có chế định không được buôn
bán. Chúng ta chớ xem thường. Bồ-tát sợ buôn bán như tránh
hầm lửa huống chi còn buôn bán sanh mạng lục súc. Ở đây
Phật chỉ cấm những buôn bán phi pháp. Bồ-tát tại gia buôn
bán lương thiện thì dĩ nhiên không thành vấn đề.
Kinh
Di Giáo : “Buôn bán, trồng tỉa, các thứ báu… phải tránh
xa như hầm lửa”. Hầm lửa thì ai cũng biết là nguy hiểm
nên vội xa tránh. Còn của báu thì số đông ai cũng thích
lăn vào.
Tát
Bà Đa Luận : “Thà làm đồ tể, không nên sinh sống bằng
nghề buôn bán”. Vì lòng tham dễ đi đến đủ thứ xảo
quyệt. Dối gạt và trộm cắp hàng ngày được trá hình.
Phật
không cho buôn bán vật đựng thây chết. Vì hễ mong được
buôn may bán đắt tức là mong có nhiều người chết. Tùy
hỷ việc chết của người phạm khinh cấu tội trong giới
sát sanh. Giới tướng tỉ mỉ, các Phật tử cố gắng phụng
hành. Đừng phụ lòng từ bi của đức Phật.
13/.
BÁNG HỦY
Phật
pháp lưu hành ở thế gian để cứu khổ. Cần tôn nghiêm phong
cách Tăng Ni mong xã hội kính phụng. Chớ buông lung miệng
lưỡi mà gánh chịu quả báo đáng sợ về sau.
Pháp
Thanh-văn hủy báng người có lỗi thật, tội nhẹ hơn vu khống.
Pháp Bồ-tát trái lại. Vì pháp Thanh-văn nhằm giữ gìn cho
chính mình. Còn bản hoài của Bồ-tát là từ bi. Chỉ thú
của Bồ-tát là tránh tổn hại cho người. Nếu lỗi lầm
có thật mà bị bới móc rao nói thì người này không còn
cơ hội ngóc đầu lên. Còn lỗi lầm không thật, người bị
nói hành không tự ti mặc cảm, dễ tiến tu thánh hạnh.
Chê
bai hủy báng phát xuất từ ba độc tham, sân, si. Rao nói cho
tín đồ biết kẻ kia ngập đầy tội ác. Như thế đồ chúng
sẽ ly khai người ấy mà đến với mình. Mình sẽ thâu tóm
toàn bộ danh và lợi. Ngay những bậc ở địa vi cao tột đỉnh
mà vẫn tự thấy cần cực lực hủy báng các đối thủ.
Ngôi
Tam-bảo được vững chắc ở thế gian. Trong nhờ có Tăng
Ni đầy đủ giới đức giáo hóa dẫn dắt. Ngoài nhờ có
quốc vương đại thần hộ trì. Nay hủy báng các ngài thì
ngôi Tam-bảo làm sao sáng tỏ. Liệt vị Tăng Ni sẽ bị thế
gian coi như ác ma.
Điều
tối trọng yếu của giới này là báng hủy minh sư thiện
hữu. Phật dạy : Có hẳn một địa ngục chùy phát để dành
cho bọn đại tặc này. Tội nhân một thân tự mọc ra 4 đầu.
Vô số độc trùng bu cắn miệng lưỡi. Toàn thân như đống
lửa cháy mãi không ngừng. Hết báo địa ngục lên dương
gian làm bàng sanh ăn phân uống nước tiểu. Mãn báo súc sanh,
tái phục thân người, sanh nơi biên địa hoang dã, không gặp
Phật pháp. Trọn đời ngu si, chịu sự khinh rẻ. Cứ thế
mà đi mãi con đường đọa lạc với những thống khổ vô
biên. Đức Phật ân cần khuyên dạy : “Hủy báng Phật tội
còn nhẹ. Hủy báng pháp sư tội thật nặng. Cho nên Bồ-tát
đạo khẩn yếu là hiếu hạnh đối với sư trưởng”.
Trong
kinh Thần Biến, Phật dạy Bồ-tát Văn Thù : “Ác tâm hủy
phá hằng hà sa tháp miếu Phật, tội còn nhẹ. Sân tâm hủy
báng pháp sư, tội nặng gấp bội vô lượng a tăng kỳ”.
Luận
Bồ Tát Học : Khinh miệt mạ nhục Bồ-tát, đọa địa ngục
thọ khổ không hẹn ngày ra.
Một
bé gái mới 7 tuổi bảo với mẹ : Mẹ ơi, ông thầy kia giống
con quạ mù ! Đức Phật dạy : “Sau này bé phải chịu 500
đời làm quạ mù”. Bà mẹ cầu Phật tha thứ. Đây là vì
nhỏ dại bạ đâu nói đấy chớ không hề có ác tâm. Phật
đáp : Nếu ác tâm thì đọa địa ngục. Như Lai nói như thế
vì mắt Phật thấy rõ quả báo của ác khẩu.
Hủy
báng thuộc về tánh tội. Không luận có thọ giới hay không,
cứ hủy báng là tự chiêu cảm ác báo.
Kinh
Báo Ân : Lửa dữ chỉ đốt một xác thân, ác khẩu thiêu
đốt vô lượng đời. Lửa thiêu tài vật, ác khẩu thiêu
đốt bảy thánh tài.
Vĩnh
Gia đại sư huấn từ : Mặc cho người hủy báng, tha hồ cho
họ chê bai. Cầm lửa đốt trời chỉ tự chuốc mệt nhọc.
Ta nên coi như được uống cam lồ để cho tiêu nghiệp.
14/.
PHÓNG HỎA
Tỳ-kheo
không được cố tâm giẫm đạp cỏ tươi. Huống chi Bồ-tát
lại dùng lửa thiêu đốt cả núi rừng đồng nội. Vừa sát
sanh, vừa hoại quỷ thần thôn, vừa thương tổn tài vật
kẻ khác.
Sát
sanh còn có chọn lựa, sanh mạng bị giết có hạn lượng
chớ phóng hỏa thì làm sao tính lường.
Kinh
nói từ tháng 4 đến tháng 9 là mùa mưa, sâu kiến trùng dế
sanh sản rất nhiều. Những xứ lạnh, mùa đông, côn trùng
nhỏ chui sâu vào lòng đất ngủ yên, đợi đến mùa ấm mới
trồi lên mặt đất sinh hoạt. Những quốc gia thuộc vùng
nhiệt đới phải dè dặt thận trọng quanh năm vì các sinh
vật không có đông miên.
Pháp
sư Diễn Bồi kể chuyện : Một tiều phu thấy một khu rừng
có đốm lửa liền vội vàng dập tắt để tránh hỏa hoạn.
Cảm phước báo lên trời làm Đại Phạm Thiên Vương. Cứu
hỏa công đức như vậy thì phóng hỏa đương nhiên tội không
thể nhẹ. Bồ-tát cẩn thận !
15/.
KHÔNG HOẰNG DƯƠNG ĐẠI THỪA
Chánh
tín đại thừa : Ác nào cũng dứt được. Lành nào cũng làm
được. Loài nào cũng độ được. Chư Phật là Phật đã
thành. Mình là Phật sẽ thành. Vì tâm mình đồng tâm Phật
nên trên cầu Phật quả. Vì tâm mình đồng thể với mười
phương chúng sanh nên nguyện độ tận chúng sanh. Sự giác
tỉnh này không được giây phút xao lãng. Hễ quên liền lạc
về nhị thừa. Nhân tu gọi là tâm Bồ-đề. Quả đức gọi
là chánh giác. Từ sơ Địa đến Địa 10 đều lấy đại
bi làm gốc.
Trước
tiên dạy hàng tân học đọc tụng kinh luật đại thừa. Kế
giảng cho hiểu rõ nghĩa lý, giúp cho họ phát tâm Vô-thượng
Bồ-đề.
Nếu
chỉ hiểu rõ giáo lý đại thừa mà không phát tâm đại Bồ-đề
là cuồng tuệ. Nếu chỉ phát tâm Bồ-đề mà không thông
đạt giáo lý đại thừa, chỉ thêm vô minh. Nên hai việc này
trợ giúp cho nhau.
Kinh
Vô Úy Thượng Thọ Vấn : “Phát tâm Bồ-đề phước lớn
như hư không. Dùng châu báu đầy hằng sa cõi Phật đem cúng
dường Tam-bảo, được phước vô biên. Người chí thành một
phen phát tâm Bồ-đề, phước đức hơn nhiều không thể tính
kể”. Phát tâm rồi phải tu tập hạnh Bồ-đề là các pháp
quán để viên mãn 10 Tín, tiến lên 10 Trụ, 10 Hồi Hướng.
Bồ-tát dạy người tu 30 ngôi Hiền mới gọi là tự lợi
lợi tha. Bậc thầy phải cặn kẽ chỉ thứ lớp lên quả
vị Phật để người học khỏi lạc đường (xem kinh Hoa Nghiêm).
Giới
kinh dạy : “Bồ-tát phải thuyết giảng đúng chánh pháp.
Phật tử phải tận tâm học kinh luật oai nghi đại thừa,
thông hiểu nghĩa lý. Hàng tân Bồ-tát từ xa trăm ngàn dặm
đến cầu học nên dạy các khổ hạnh. Rồi sau tuần tự
theo căn cơ mỗi người mà giảng chánh pháp cho họ mở thông
tâm ý. Phật tử vì danh lợi, đáng dạy mà không dạy. Hoặc
giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn, không
đúng thứ lớp trước sau. Thuyết pháp với tánh cách hủy
báng Tam-bảo, khinh cấu tội”.
16/.
VÌ LỢI ĐẢO THUYẾT
Bồ-tát
phải học tập đầy đủ để thành tựu tri kiến. Khi đã
có khả năng phải tận tình giáo hóa để cho ai nấy đều
được hưởng thọ sự lợi ích của chánh pháp. Việc truyền
đăng không thể đoạn tuyệt. Vì hộ trì chánh pháp, Bồ-tát
hoan hỷ sốt sắng khoái lạc giảng nói, không mỏi nhọc,
không chán nản. Cầu cho chúng sanh tiến tới Vô-thượng Bồ-đề.
Đã
thọ Bồ-tát giới, ai cũng phải học kinh luật đại thừa,
thông hiểu nghĩa lý. Sơ tâm phải biết tôn trọng chánh pháp
đến mức hy sinh thân mạng. Có ý chí quyết liệt như Tổ
Huệ Khả cầu pháp với Tổ Đạt Ma mới dũng cảm thắng
tiến. Không bị hoàn cảnh khó khăn làm thoái thất tâm Bồ-đề.
Xả
thân, cánh tay, ngón tay để cúng dường Phật là tâm thượng
cầu Phật đạo đến tuyệt đỉnh. Xả thân mạng tay chân
bố thí cho cọp sói các loài quỷ đói rồi giảng nói đại
thừa cho hàng tân học ấy mở thông tâm ý. Đây là nói về
tâm hạ hóa chúng sanh đến mức tuyệt đỉnh.
Nên
biết chúng ta từ vô thủy chìm đắm trong sanh tử luân hồi.
Nguyên nhân là do đời đời kiếp kiếp đã huân tập vô minh,
chấp thủ thân mạng. Nay dạy hy sinh để thực hiện tinh thần
vị tha của đại thừa (Ma-ha tát-đỏa Vương Tử đem thân
nuôi 5 mẹ con nhà cọp). Tại sao lại khuyên Bồ-tát nên làm
như thế ngay buổi vỡ lòng học Phật ? Mục đích chủ yếu
là phá trừ chấp ngã. Thân mạng còn coi như giẻ rách huống
chi tài vật. Nội thí ngoại thí hiển tỏ một tâm chí vững
chắc kiên cố.
Tuyên
thuyết chánh pháp không phải dễ dàng. Trước nói những sự
tướng dễ hiểu rồi sau dần dần giảng nói thâm áo. Chúng
sanh tiếp thọ từ thô vào tế, từ cạn đến sâu, dễ nắm
được đường lối. Ba môn vô lậu học cũng trước học
giới, sau vào định rồi tuệ giải. Ngôi vị tu tiến cũng
tuần tự từ 10 Tín lên dần 10 Địa. Người học nhờ văn
tuệ mở tỏ, tư tuệ khai sáng mới không bị trệ ngại trong
khi tu tập liễu ngộ bổn nguyên tâm địa. Ý hiểu rõ, biết
được nghĩa vị xác thật. Tâm trí đã khai thông thì sự
chứng quả đăng vị sẽ không khó khăn.
Tóm
lại, quên mình vì người là bổn hoài của đại sĩ. Tuyên
dương thuận theo chánh giáo là bổn phận của Bồ-tát. Theo
kinh Phạm Võng, trước tiên vì hàng sơ học nói khổ hạnh,
trì giới. Kế nói chánh pháp nghĩa là lý KHÔNG. Phải làm
sao cho tâm chí người học kiên cố vững bền.
Khi
nào thì không phạm ? Biết người kia tà kiến nên pháp sư
không dạy khổ hạnh mà cực lực bài xích khổ hạnh. Hoặc
để phá trừ ngu si vọng chấp nên vị thầy chuyên giảng
LÝ mà chưa nói đến SỰ.
Theo
Du Già Giới Bổn, có nhiều nhân duyên Bồ-tát từ chối giảng
dạy thuyết pháp mà không phạm giới. Thí dụ : Người cầu
không thật lòng, Bồ-tát đang bệnh v.v…
17/.
Ỷ THẾ KHẤT CẦU
Kinh
Ngũ Bách Vấn : Một Tỳ-kheo tham tiền của, khất cầu quá
nhiều mà không đúng pháp sử dụng. Mệnh chung thọ ác báo
làm một trái núi toàn thịt rộng vài mươi dặm. Gặp năm
mất mùa, dân chúng xúm nhau đến cắt thịt, mang về cả nhà
ăn. Thịt lại mọc ra như cũ. Thiên hạ tha hồ ăn.
Phật
dạy : Ai đã thọ Bồ-tát giới, làm việc gì cũng vì đại
chúng hay vì Phật pháp. Nếu vì hộ trì Phật pháp, muốn Phật
pháp được truyền bá khắp thế gian mà thân cận các quốc
vương thì nào có lỗi như Nam Dương Trung làm quốc sư luôn
3 triều vua nhà Đường, Trừng Quán Thanh Lương làm thầy cho
7 vị quốc vương. Quan hệ là phải có khả năng đừng mắc
bả lợi danh.
18/.
KHÔNG BIẾT MÀ LÀM THẦY
Thầy
thuốc không rõ căn bệnh cùng phương thuốc mà đi trị bệnh
thì làm sao bệnh nhân bình an ? Người mù lãnh trách nhiệm
dẫn đường hẳn đưa nhau xuống hố. Bồ-tát tự không tuệ
giải, không thông đạt tánh tướng các pháp, không rành rẽ
văn nghĩa kinh luật mà làm thầy thì lấy gì dạy đệ tử
? Đã không biết đến chánh nhân tâm địa, làm sao thành Phật
cực quả ?
Điều
tối trọng của Bồ-tát là thành thật, không giả dối. Thế
gian có cái họa lớn là ai cũng thích làm thầy. Có người
nương danh từ hóa độ chúng sanh, kiến lập môn đình cao
rộng, tướng ngã mạn lẫy lừng. Có người tự cho mình là
thông tông giáo, xem rẻ luật học, lạm thâu đồ chúng thật
đông. Thọ giới mà không học không tụng, không biết khai
giá trì phạm thì chẳng những hiện đời mất tên Bồ-tát,
mai sau không quả vị mà còn tự chuốc tội báo vào thân.
Thích
làm thầy là công đức hay tội lỗi ? Là hộ trì hay hủy
diệt Phật pháp ? Điều này chỉ ở trí tuệ, đạo đức
và tài năng của đương sự.
Trí
Độ Luận : Tỳ-kheo phải thông tam tạng, đủ 10 hạ mới
được làm thầy. Theo Phạm Võng kinh thì phải trì Bồ-tát
giới ngày đêm sáu thời. Hiểu rõ ý nghĩa lý tánh của giới.
Trí tuệ thông đạt kinh luận dĩ nhiên là cơ bản để truyền
pháp lợi sanh. Thân tâm thanh tịnh, giới hạnh lại càng là
cơ bản của đại sĩ nhập thế. Không thể biếng nhác tụng
trì giới luật.
Chỗ
chỉ quy của sự trì giới là giải thoát và thành Phật. Cho
nên cần phải hiểu rõ lý tánh của giới. Kinh Thành Thật
: “Hết thảy các pháp môn tu chỉ cốt tỏ ngộ vạn pháp
vô sanh, thật tướng như như tịch tĩnh. Trụ tâm chân thật
này không thoái. Hễ vọng khởi liền biết, không theo vọng.
Tâm muôn đức liền đủ, diệu dụng không cùng. Được tâm
này rồi, chuyển pháp luân. Ta người đồng lợi”. Tâm tánh
này làm sở y cho vô tác giới thể. Đồng thời nương vô
tác giới thể làm chủng tử thành Phật. Giới thể gồm 2
loại :
1.
Tác giới : Tại giới đàn, ba nghiệp thân miệng ý đúng pháp
đúng luật tạo nên. Nghiệp này có thể thấy và nghe. Khi
động tác của thân miệng diệt rồi, nó cũng diệt theo.
2.
Vô tác giới : Nương duyên tác giới mà phát sanh. Một khi
đã phát sanh thì tương tục còn mãi. Trọn đời ngăn ngừa
sai quấy lỗi lầm, diệt các tội ác, giữ gìn ba nghiệp thanh
tịnh.
Nhiều
bậc thầy như Tổ Huệ Năng không thông hiểu văn tự nhưng
chân thật giải ngộ. Xưa kia Hòa-thượng Giải Thoát được
nghe một bài kệ, liền tỏ ngộ chân lý như đã liễu đạt
ba tạng kinh Phật :
Pháp
tịch diệt thậm thâm
Của
mười phương chư Phật
Phương
tiện trí làm đèn
Chiếu
thấy tâm cảnh giới.
–
Ngài Châu Lợi Bàn Đặc Ca được Phật dạy có một bài kệ
mà chứng A-la-hán :
Thấy
được lỗi lầm nên hoan hỷ.
Trên
đời không sân, thật hạnh phúc !
Đừng
làm tổn hại các chúng sanh
Sáu
trần thế gian đừng ham muốn.
Thoát
ly ái dục và ngã mạn
Mới
có thể nếm được an vui.
Vào
cảnh tịch diệt là vui nhất.
Đã
không hiểu biết kinh luật, lẽ ra phải đi học. Nay lại dám
đứng làm thầy. Nếu không phải thánh nhân đã tỏ ngộ chân
lý như các Tổ nói trên thì điều trọng yếu trong các điều
trọng yếu, pháp sư phải thông hiểu kinh luật, giới hạnh
trang nghiêm.
19/.
LƯỠI ĐÔI CHIỀU
Đối
với các bậc đức hạnh sanh tâm khinh báng. Đối với các
Bồ-tát đáng lý phải cực lực nghĩ tán hạnh nguyện, tuyên
dương công đức để mười phương chúng sanh hướng về học
tập Phật pháp. Giới hủy báng số 13 đã răn cấm việc hãm
hại khiến cho người mất danh giá. Giới này ngăn sự ly gián
sanh nghi kỵ đấu tranh. Trong các bạn đồng học phải tạo
một không khí phấn khởi hy vọng. Nếu thấy phát sanh những
ý kiến trái nhau, cần vận dụng hết sức khéo léo của mình
để khôi phục hòa khí.
Cần
lựa chọn lời nói. Thiếu thận trọng sẽ mất hòa vui.
Lời
phụ của pháp sư Diễn Bồi : Số thiện lai Tỳ-kheo có đến
mấy chục ngàn mà thiện lai Tỳ-kheo-ni không đầy 10 vị.
Ni giới tự biết nghiệp chướng nặng nề nên vâng theo lời
đức Bổn Sư Thích Ca, quán bất tịnh :