Giới
thiệu
Chương
01 - Tập Một Pháp
Phẩm
I, Phẩm II, Phẩm III
Chương
02- Tập Hai Pháp
Phẩm
I, Phẩm II
Chương
03- Tập Ba Pháp
Phẩm
I, Phẩm II, Phẩm III, Phẩm IV
Phẩm
V
Chương
04 - Tập Bốn Pháp
Phẩm
I
Giới
thiệu Tập Kinh Phật Thuyết Như Vậy
(Itivuttaka)
Tỳ
kheo Thanissaro
Tập
kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), thuộc Tiểu Bộ Kinh
(Khudaka Nikaya), là một tập hợp 112 bài kinh ngắn, có tựa
đề bắt nguồn từ câu "Ðức Thế Tôn thuyết giảng như
vầy" (Itivuttam). Tập kinh chia thành bốn chương: chương một
pháp, chương hai pháp, chương ba pháp, và chương bốn pháp.
Tập
kinh nầy do một vị nữ cư sĩ tên là Khujjuttara kết hợp
sau khi thuật lại các lời giảng của Ðức Phật, cho Hoàng
hậu Samavati và các cung nữ khác của Vua Udena, xứ Kosambi.
Hoàng hậu không thể rời hoàng cung để đến nơi Phật ngụ
nghe Phật thuyết giảng, cho nên Hoàng hậu sai bà Khujjuttara
đi nghe thuyết giảng, ghi nhớ, rồi trở về hoàng cung để
thuật lại cho bà và 500 vị cung phi khác nghe. Bà Khujjuttara
có trí nhớ lạ thường và rất thông minh, khéo giảng pháp,
nên Ðức Phật đã từng khen ngợi rằng bà là vị Ðệ Nhất
Thanh Văn trong hàng nữ đệ tử cư sĩ (Tăng Chi Bộ I.14). Bà
cũng là một vị thầy tài giỏi để hướng dẫn hoàng hậu
và các cung phi khác trong việc hành trì Chánh Pháp. Khi nội
cung bị hỏa hoạn làm thiệt mạng hoàng hậu và tất cả
các cung phi, Ðức Phật cho biết rằng tất cả các vị đó
đã đắc quả giải thoát, tối thiểu là quả Nhập Lưu (Tu
Ðà Hoàn) - như đã ghi lại trong kinh Phật Tự Thuyết (Ud VII.10).
Tên
gọi "Itivuttaka" cũng được dùng trong bảng phân loại đầu
tiên về 9 thể tài kinh điển Phật Giáo (*), một bảng phân
loại có mặt trước khi có sự sắp đặt Tam Tạng Pali như
chúng ta biết hiện nay. Thật khó mà biết chắc chắn rằng
bản Itivuttaka Pali ngày nay có phải hoàn toàn là bản Itivuttaka
nêu ra trong bảng phân loại đó hay không. Kinh tạng Hán văn
có chứa bản dịch của Itivuttaka, thường cho rằng do ngài
Huyền Trang dịch. Bản dịch nầy có rất nhiều đoạn giống
như bản Itivuttaka Pali. Sự khác biệt chính yếu là bản dịch
của ngài Huyền Trang không có nhiều bài kinh trong Chương III
và hoàn toàn không có Chương IV. Có thể là những phần nầy
đã được kết tập về sau trong tạng Pali, nhưng không được
kết tập vào tạng Sanskrit để dịch ra Hán văn. Cũng có thể
là ngài Huyền Trang không hoàn tất bản dịch vì nó được
dịch trong những tháng cuối trong đời của ngài.
Lịch
sử nguyên thủy của kinh Phật Thuyết Như Vậy có nhiều vấn
đề phức tạp vì khởi thủy, kinh chỉ được truyền khẫu
qua nhiều thế kỷ rồi mới được viết xuống giấy. Tuy
nhiên đây là một trong những bộ kinh trong tạng Pali rất
được nhiều người quý chuộng vì tập kinh bao gồm các bài
giảng của Ðức Phật với nhiều đề tài giáo lý căn bản
- từ giản dị đến sâu sắc - trong một hình thức rõ ràng,
ngắn gọn và trực tiếp.
(*)
9 thể tài: kinh (sutta), ứng tụng (gaya), kệ tụng (gatha), như
thị ngữ (itivuttaka), bổn sanh (jataka), vị tằng hữu (adbhutahdarma),
cảm hứng ngữ (udana), phương quảng (valpulya), và giải thuyết
(upadisa).
Tỳ
kheo Thanissaro
(Bình
Anson lược dịch)
[^]
Giới
Thiệu Kinh Phật Thuyết Như Vậy
(Itivuttaka)
Hòa
thượng Thích Minh Châu
Tập
Itivuttaka - "Kinh thuyết như vậy", thuộc Bộ Khuddaka Nikàya
(Tiểu Bộ Kinh) gồm có 112 kinh với các bài kệ, chia thành
4 chương, chương một pháp, chương hai pháp, chương ba pháp,
chương bốn pháp. Như vậy là một sự phân loại các đề
tài theo pháp số, như kiểu tập Tăng Chi Bộ Kinh. Sở dĩ được
gọi là "Itivuttaka: Thuyết như vậy", là vì phần lớn các
kinh này đều bắt đầu với câu: "Ðây là điều đã được
Thế Tôn nói đến, đã được bậc A la hán nói đến và tôi
đã được nghe", và được kết luận với câu: "Ý nghĩa này
được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe". Có một
số kinh ở chặng giữa không có các câu mở đầu và câu
kết như thế này, nhưng đến các kinh cuối lại được ghi
trở lại.
Theo
truyền thống, như đã được ghi trong tập sớ được xem
là của tôn giả Dhammapàla, Khujjuttarà một nữ cư sĩ, thường
đi nghe Thế Tôn thuyết pháp cho chúng tỷ kheo, nàng ngồi sau
lưng một bức màn trở thành một bậc đa văn, nghe nhiều,
giỏi về chánh pháp và giỏi về trí tuệ. Nàng được nội
cung của Vua Udena yêu cầu nói lại những điều đã được
nghe và sau khi nghe, học thuộc lòng những điều đã được
nghe. Nàng được Thế Tôn khen và gọi là đa văn đệ nhất.
Theo truyền thống, chính là tập Itivuttaka này, nàng đã được
nghe và truyền tụng lại. Tập sớ có ghi rằng chúng tỷ kheo
cũng học thuộc lòng tập kinh này, và chính tôn giả Ananda
đã đọc lại bộ kinh này, trong kỳ kiết tập thứ nhất
ở Ràjagahà (Vương xá). Các kinh ở chương bốn pháp dài hơn
và không có kinh Hán tạng tương đương và được xem là ghi
chép về sau. Một số kinh trong tập này được tìm thấy trong
tập Tăng Chi Bộ Kinh và Puggala-pannatti. (Theo sự chú giải
của bản dịch Anh văn).
Về
phương diện nội dung tập Itivuttaka không đề cập tới đời
sống đức Phật, đời sống các đại đệ tử của đức
Phật như chúng ta được thấy trong tập Udàna. Tập này chú
trọng nhiều hơn đến phần giáo lý căn bản, định nghĩa
những pháp số, phân loại theo bốn chương một pháp, hai pháp,
ba pháp, bốn pháp. Nói một cách khác, một số đề tài đã
được lựa chọn, định nghĩa, giải thích một cách ngắn
gọn để các đệ tử có thể tìm hiểu, học thuộc lòng
và nắm giữ được phần căn bản trong giáo lý của đức
Phật. Như vậy, giải thích được truyền thống: xem rằng
chính Khujjuttarà, nghe được những lời Thế Tôn dạy, nhớ
lấy rồi thuyết lại cho các đệ tử khác, nhờ vậy tập
nầy được lưu truyền.
Kinh
"Phật thuyết như vậy", xuất xứ từ kinh Tạng Pàli là kinh
thuộc kinh điển Thượng Tọa Bộ, trung thành gìn giữ lời
dạy của đức Phật.
Trước
hết, kinh này không đề cập đến Abhidhamma (Thắng Pháp, Vi
Diệu Pháp), không đề cập đến các chuyện tiền thân (Jàtaka)
và như vậy kinh này không thuộc về văn học Abhidhamma và
văn học Jàtaka -- hai văn học này chỉ được bắt nguồn,
kết thành trong giai đoạn thứ hai là giai đoạn các học phái,
từ khoảng 300 năm đến 100 năm trước kỷ nguyên. Kinh này
không nằm trong giai đoạn phát triển thứ ba là thời hưng
khởi của Ðại thừa (100 năm trước kỷ nguyên đến 100 năm
sau kỷ nguyên). Như vậy, kinh này nằm trong giai đoạn đạo
Phật nguyên thủy khoảng 450 năm đến 350 năm trước kỷ nguyên
khi lời dạy của đức Phật chưa bị pha trộn, xen lẫn bởi
những phát triển về sau. Sự kiện này được phần nội
dung của kinh này chứng minh như chúng ta sẽ rõ sau này, và
cũng được xác định theo truyền thống, vì kinh này được
nữ cư sĩ Khujjuttarà đích thân nghe đức Phật rồi về thuyết
giảng lại để được học hỏi ghi nhớ và truyền lại cho
đến ngày nay.
Nói
về đức Phật hiện tại và rộng hơn nữa, nói về Như Lai
(Tathagata), chúng ta sẽ thấy đức Phật chưa được thần
thánh hóa, chưa dùng thần thông để hóa độ chúng sanh.
Như
Lai được diễn tả như một bực đã giác ngộ thế giới,
"Thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, con đường
đưa đến thế giới đoạn diệt."
"Này
các tỷ kheo, thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác, Như
Lai không hệ lụy đối với đời. Này các tỷ kheo, thế giới
tập khởi được Như Lai Chánh Ðẳng Giác. Thế giới tập
khởi được Như Lai đoạn tận. Này các tỷ kheo, Thế giới
đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các tỷ kheo, con
đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh
đẳng giác; con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được
Như Lai đã tu tập."
"Cái
gì này các tỷ kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới,
Ma giới, Phạm thiên giới cùng với quần chúng Sa môn, Bà
la môn chư Thiên và loài người được thấy, được nghe,
được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được
tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai
Chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Này các tỷ
kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng giác
đến đêm Ngài nhập Niết bàn, không có dư y, trong thời gian
ấy điều gì Ngài nói, tuyên bố nêu rõ lên, tất cả là
như vậy, không có khác được, do vậy được gọi là Như
Lai.
"Này
các tỷ kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy; vì
rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên được gọi Như
Lai.
"Này
các tỷ kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa môn, Bà la môn, chư
Thiên và loài người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị
chiến bại, toàn tri, toàn kiến, được tự tại, do vậy được
gọi là Như Lai (Kinh số 112)."
Hình
ảnh Như Lai là vậy, hình ảnh Thế Tôn không có khác hơn,
ở đây Thế Tôn tượng trưng cho Pháp và những ai thấy pháp,
sống theo Pháp, người ấy mới gần Thế Tôn như kinh số
92 nêu rõ:
"Này
các tỷ kheo, nếu một tỷ kheo nắm lấy viền áo Tăng già
lê đi theo sau lưng Ta, chân bước theo chân, nhưng vị ấy có
tham ái trong các dục, với lòng sắc xảo, với tâm sân hận,
ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định
tỉnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại, vị ấy xa hẳn
Ta và Ta xa vị ấy.
"Vì
cớ sao? Này các tỷ kheo, tỷ kheo ấy không thấy pháp. Do không
thấy pháp nên không thấy Ta. Này các tỷ kheo, nếu tỷ kheo
sống xa đến 100 do tuần và vị ấy không có tham ái trong
các dục, với lòng tham không sắc xảo, tâm không sân hận,
ý tư duy không nhiễm ác, chánh niệm tỉnh giác, định tỉnh
nhất tâm, các căn được chế ngự, vị ấy gần hẳn Ta và
Ta gần vị ấy.
"Vì
cớ sao? Này các tỷ kheo, tỷ kheo ấy thấy pháp. Do thấy pháp
nên thấy Ta".
Trong
kinh số 100, chính Ðức Phật tự tả mình như sau:
"Này
các tỷ kheo, Ta là Bà la môn, người được đến yêu cầu
(yàcayogo), tay luôn luôn thanh tịnh (payatapàni) mang thân cuối
cùng, vô thượng y sĩ chữa trị (bhisakko) y sĩ giải phẫu
(sallakatta). Các ngươi thật là con của Ta (arasà) từ miệng
sanh, từ pháp sanh, từ pháp tạo thành, thừa tự pháp, không
thừa tự tài vật."
Ðức
Phật tự xưng là y sĩ chữa trị (bhisakkà), tự xưng là y
sĩ giải phẫu (sallakatta). Ngài xem các đệ tử như con của
Ngài, từ miệng sanh, từ pháp sanh, là những con cháu thừa
tự pháp. Ðâu đâu cũng thấy vai trò trọng yếu của chánh
pháp, vì đức Phật là tượng trưng cho Pháp, tự miệng mình
thuyết pháp độ chúng sanh. Rõ hơn nữa là xác nhận hai loại
thuyết pháp của đức Phật, như kinh 35 đã nêu rõ:
"Có
hai loại thuyết pháp của Như Lai, bậc A la hán, chánh đẳng
giác, cái này tiếp nối cái kia. Thế nào là hai? Hãy thấy
Ác là ác. Ðây là thuyết pháp thứ nhất. Sau khi thấy ác
là ác, ở đây hãy nhàm chán, hãy từ bỏ, hãy thoát ly! Ðây
là thuyết pháp thứ hai!"
Ðức
Phật đã là đức Phật nguyên thủy, thời mục đích của
sự tu hành, sự cứu cánh của Phạm hạnh và mục tiêu giải
thoát giác ngộ là những mục tiêu trung thành với giáo pháp
chánh thống nguyên thủy.
Mục
đích của đạo Phật là giải quyết vấn đề sanh lão bệnh
tử, tức là chấm dứt sự đau khổ cho con người. Và đoạn
kinh sau này xác chứng rằng sự đau khổ có thể được chấm
dứt và trạng thái đau khổ được chấm dứt là Niết bàn.
Dưới đây là định nghĩa của Niết bàn ấy trong kinh số
44:
"Này
các tỷ kheo, có hai Niết bàn giới này. Thế nào là hai? Niết
bàn giới có dư y và Niết bàn giới không dư y.
"Này
các tỷ kheo, thế nào là Niết bàn giới có dư y? Ở đây,
này các tỷ kheo, tỷ kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã
tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích: hữu kiết sử
đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy, năm
căn còn tồn tại. Ngang qua các căn ấy, vị ấy hưởng thọ
khả ý, không khả ý, vì rằng tự ngã không có thương hại
nên cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt,
si diệt. Này các tỷ kheo, đây gọi là Niết bàn có dư y.
"Này
các tỷ kheo, thế nào là Niết bàn không có dư y? Ở đây,
này các tỷ kheo, tỷ kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã
tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử
đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Ở đây, đối vị
ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỷ ưa thích, sẽ được
lắng dịu".
Một
kinh nữa, kinh số 43 xác nhận sự hiện diện của trạng thái
giải thoát này, ngay trong đời hiện tại, có mặt trên quả
đất này:
"Này
các tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác
thành, không làm ra. Này các tỷ kheo, nếu không có cái không
sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, thời ở
đây không có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện
hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra. Do vì này các tỷ kheo,
có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm
ra, nên có thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi
hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra".
Ở
đây, có hai nhận xét quan trọng. Ðức Phật khi nhập Niết
bàn có dư y ở Kusinàra, không phải là mất hẳn, tiêu diệt
hoàn toàn, vì như vậy là theo thuyết đoạn diệt đạo Phật
không chấp nhận. Ở đây, tham sân si không còn, lạc thọ
khổ thọ không khởi lên, nhưng mọi cảm thọ đều được
lắng dịu, mát lạnh, thanh lương. Nhận xét quan trọng thứ
hai là sự đau khổ có thể đoạn diệt ngay trong đời sống
hiện tại với những vị đã chứng quả A la hán. Và dầu
chưa chứng được quả A la hán, nếu hành trì theo lời Phật
dạy, thời có thể đoạn trừ dần dần các sự khổ đau.
Vấn
đề quan trọng thứ hai, sau mục đích giải thoát và giác
ngộ là những pháp môn giúp người tu hành đạt đến mục
đích đoạn tận khổ đau. Chúng ta sẽ thấy pháp môn tuy nhiều,
nhưng không bao giờ ra ngoài pháp môn Giới-Ðịnh-Tuệ, pháp
môn duy nhất để đưa người hành trì đoạn tận khổ đau.
"Này
các tỷ kheo, một tỷ kheo có giới tốt lành (kalyàmasìlo),
có pháp tốt lành, có tuệ tốt lành, được gọi trong pháp
và luật này là vị toàn hảo.
"Này
các tỷ kheo, một tỷ kheo có giới tốt lành, có pháp tốt
lành, có tuệ tốt lành được gọi trong pháp và luật này
là vị toàn hảo (kevalì). Này các tỷ kheo, thế nào là giới
tốt lành? Ở đây, này các tỷ kheo, tỷ kheo giữ giới, sống
chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha đầy
đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ
nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy
này các tỷ kheo, là tỷ kheo có giới tốt lành. Và thế nào
là có pháp tốt lành? Ở đây, này các tỷ kheo, tỷ kheo sống
chuyên tâm chuyên chú tu tập bảy pháp giác chi. Như vậy này
các tỷ kheo, là tỷ kheo có pháp tốt lành. Và thế nào là
tuệ tốt lành? Ở đây này các tỷ kheo, tỷ kheo do diệt trừ
các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng tri
chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Như vậy, này các tỷ kheo là tỷ kheo có
tuệ tốt lành. Như vậy, một người có giới tốt lành, có
pháp tốt lành, có tuệ tốt lành được gọi trong pháp và
luật này là vị toàn hảo (kevalì) (Kinh số 97)."
Cũng
theo chiều hướng trên, ba hình ảnh được phát họa diễn
tả ba hạng người, tùy theo mức độ đối trị được với
dục và hữu:
"Này
các tỷ kheo, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của dục,
những ai bị trói buộc bởi trói buộc của hữu, là những
bậc đến lại, đi đến lại có mặt ở đây. Những ai chế
ngự được sự trói buộc của dục, này các tỷ kheo, nhưng
còn bị trói buộc bởi trói buộc của hữu, những vị ấy
là hạng bất lai, không trở lui lại có mặt ở đây. Những
ai chế ngự được sự trói buộc của dục, chế ngự được
sự trói buộc của hữu, những vị ấy là những bậc A la
hán, đã đoạn tận các lậu hoặc (Kinh 97)."
Tiếp
theo là một số phương pháp tu học, một nếp sống đưa đến
hai quả Chánh trí hay nếu có dư y thời được quả Bất lai,
những quả cao nhất trong con đường tu hành, nghĩa là đoạn
tận được khổ đau.
"Này
các tỷ kheo, hãy sống ưa muốn ẩn dật, thiền tịnh, thích
thú ẩn dật thiền tịnh, thành tựu quán tri, hành trì hạnh
đi đến các ngôi nhà trống (Kinh số 45)."
"Này
các tỷ kheo, hãy an trú vào lợi ích của học tập, cho trí
tuệ tối thượng, cho lỏi cây giải thoát, cho niệm được
tăng trưởng... (Kinh số 46)."
"Này
các tỷ kheo, tỷ kheo phải sống cảnh giác, chánh niệm tỉnh
giác, thiền tịnh, hoan hỷ, tín thanh và ở đây quán tri đúng
thời trong các pháp thiện... (Kinh số 47)"
Những
vị thực hành theo pháp môn này thời có hy vọng đoạn trừ
được khổ đau.
Ðức
Phật còn dạy tỷ kheo làm thế nào đã đối trị 3 cảm thọ
-- lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ:
"Này
các tỷ kheo, lạc thọ cần phải được xem như là khổ, khổ
thọ cần phải được xem như là vô thường. Vì rằng, này
các tỷ kheo, tỷ kheo đã xem lạc thọ như là khổ, đã xem
khổ thọ như là mũi tên, đã xem bất khổ bất lạc thọ
như là vô thường. Này các tỷ kheo, tỷ kheo này gọi là bậc
Thánh, đã chân chánh thấy, đã chặt đứt ái, đã giải tỏa
kiết sử, đã chân chánh thắng tri mạn, đã đoạn tận khổ
đau." (Kinh số 53)
"Này
các tỷ kheo, cần phải quán sát một cách như thế nào, do
quán sát như vậy, thức của vị ấy đối với ngoại trần
không có tán loạn, không có tản rộng, tâm không trú trước
nội tâm, không chấp thủ không bị khủng bố, sẽ không có
sự sanh, tập khởi của khổ về sanh già chết trong tương
lai (Kinh số 94)."
"Này
các tỷ kheo, những Sa môn hay Bà la môn nào không như thật
quán tri đây là khổ tập, không như thật quán tri đây là
khổ diệt, không như thật quán tri đây là con đường đưa
đến khổ diệt. Những Bà là môn ấy, này các tỷ kheo, không
được Ta chấp nhận là Sa môn trong các hạng Sa môn hay Bà
la môn trong các hạng Bà la môn. Với các vị tôn giả ấy
ngay trong hiện tại cũng không tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa môn hạnh hay mục
đích Bà la môn hạnh. Những Sa môn hay Bà la môn nào, này các
tỷ kheo, như thật quán tri đây là khổ, như thật quán tri
đây là khổ tập, như thật quán tri đây là khổ diệt, như
thật quán tri đây là con đường đưa đến khổ diệt, thời,
này các tỷ kheo, các Sa môn hay Bà la môn ấy được Ta chấp
nhận là Sa môn trong các hạng Sa môn hay Bà la môn trong các
hạng Bà la môn và các vị tôn giả ấy, ngay trong hiện tại
tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trú
mục đích Sa môn hạnh hay mục đích Bà la môn hạnh (Kinh số
103)." (...)
Hòa
thượng Thích Minh Châu
Thiền
viện Vạn Hạnh
Sài
Gòn, 1978 (PL. 2522)
