Nội dung
Lời
giới thiệu bởi Radhika Herzberger
Varanasi
Thảo
luận cùng Phật tử: 7 tháng 11 năm 1985
Thảo
luận cùng Phật tử: 9 tháng 11 năm 1985
Thảo
luận cùng phật tử: 11 tháng 11 năm 1985
Nói
chuyện: 18 tháng 11 năm 1985
Nói
chuyện: 19 tháng 11 năm 1985
Bàn
luận cùng những người cắm trại: 21 tháng 11 năm 1985
Nói
chuyện: 22 tháng 11 năm 1985
Rishi
Valley
Đối
thoại lần thứ nhất cùng học sinh: 5 tháng 12 năm 1985
Thảo
luận cùng giáo viên: 7 tháng 12 năm 1985
Thảo
luận cùng giáo viên: 9 tháng 12 năm 1985
Đối
thoại lần thứ hai cùng học sinh: 12 tháng 12 năm 1985
Thảo
luận cùng giáo viên: 17 tháng 12 năm 1985
Madras
Nói
chuyện 26 tháng 12 năm 1985
Nói
chuyện: 1 tháng 1 năm 1986
Nói
chuyện: 4 tháng 1 năm 1986
LỜI
GIỚI THIỆU [1]
Đó
là chuyến đi cuối cùng đến Ấn độ của Krishnamurti. Ông
đã nói tại Saanen, Thụy sĩ, rằng sẽ không có cuộc nói
chuyện nào nữa ở đó; và ông viết cho một người bạn:
Chúng
tôi đã trải qua bốn ngày thời tiết tuyệt vời nhất, mọi
ngày đều có nắng và thung lũng đang chào từ biệt chúng
tôi.
Trong
buổi nói chuyện cuối tại Saanen ông kể lại câu chuyện
của Nachiketa, cậu trai đã được đưa đến ngôi nhà của
Thần Chết vì đưa ra quá nhiều câu hỏi. Nó là một
câu chuyện cổ của Ấn độ từ quyển Kathopanishad, nhưng
lời kể lại của Krishnamurti khác biệt – lãng mạn hơn,
sắp đặt trong một thời điểm lý tưởng khi con người yên
lặng và tạm thời quên đi những gì họ đã tích lũy. Những
chi tiết này không có trong câu chuyện gốc, mà thiếu đi âm
điệu lãng mạn.
Nachiketa
của Krishnamurti đầy những câu hỏi không trả lời được;
cậu trai thật ngây thơ, nhưng đủ thông minh để khước từ
những cám dỗ mà Thần Chết trao tặng bằng một quan sát
đơn giản, “Bạn sẽ ở đoạn kết của nó. Bạn sẽ luôn
luôn ở đoạn kết của mọi thứ.”
Ngoại
trừ một điểm rằng ông gần 91 tuổi. Krishnamurti không khác
biệt gì lắm với cậu Nachiketa mà ông diễn tả. Ông có tài
năng của Nachiketa khi biến mọi cơ hội thành một câu hỏi,
ngay cả một việc gây lợi ích cho ông; ông có cách nhìn thoải
mái với cái chết của Nachiketa; và ông có tánh quảng đại
hồn nhiên của Nachiketa.
Trong
những câu chuyện nhớ lại của người cha Krishnamurti, được
ghi chép ngày Krishnamurti được đưa vào nuôi nấng trong tổ
chức Theosophical Society, đã diễn tả một tánh quảng đại
hồn nhiên mà người con trai không bao giờ đánh mất:
Vào
buổi sáng khi những người ăn mày đến nhà, phong tục của
chúng tôi là biếu họ một tách hay một tô gạo, và chúng
tôi phân phát nó luân phiên cho những bàn tay dơ ra, đến khi
hết gạo. Vợ tôi thường sai Krishna ra ngoài để cho của
bố thí, và cậu bé thường quay vào xin thêm nữa, nói rằng
cậu đã trút hết vào bị của một người. Sau đó người
mẹ thường theo ra cùng cậu con và chỉ cho cậu cách chia cho
từng người.
Vào
cuối đời, người đàn ông hồn nhiên và bậc hiền nhân
sống chung cùng nhau. Người đàn ông đã đến Ấn độ vào
tháng 10 năm 1985 sau khi nói chuyện tại Saanen và tại Brockwood
Park, nước Anh, để chào từ biệt vùng đất thân yêu, những
người ông quen biết và những nơi ông gây dựng để phát
triển. Ông cũng đến để xếp đặt ngôi nhà của ông trong
trật tự.
Những
học viện giáo dục rộng lớn đã được mở rộng tại Rishi
Valley và Rajghat trên mảnh đất mua cho ông sử dụng bởi bà
Annie Besant vào những năm 1920. Có những trường học ở Bangalore,
Madras và Bombay, được hiến dâng cho công việc tìm hiểu những
lời giáo huấn của ông trong ngữ cảnh giáo dục. Tất cả
những học viện giáo dục này là bộ phận của Krishnamurti
Foundation, Ấn độ, một tổ chức có đăng ký do ông là chủ
tịch. Vasanta Vihar, một ngôi nhà tại Adyar ở Madra, là cơ
quan chính của Foundation và địa chỉ ông dùng trong giấy thông
hành tại cột “địa chỉ nơi ở”. Có những tổ chức
ở Anh và Mỹ với những học viện giáo dục được công
nhận chính thức.
Krishnamurti
cũng là người vào năm 1929 đã giải tán Order thuộc tổ chức
giàu có đã được mở mang vì ông từ năm 1909, khi ông được
“phát hiện” bởi những nhà Thần học. Sau đó ông tuyên
bố “Chân lý không thể được tổ chức” và từ bỏ những
tài sản của tổ chức này.
Sự
mâu thuẫn giả tạo giữa con người phủ nhận những tổ
chức tinh thần và con người vào cuối đời lại đứng đầu
nhiều tổ chức đã được giải quyết từ tận năm 1929,
khi ông chấm dứt bài diễn văn nổi tiếng để giải tán
Order:
Chỉ
những người muốn hiểu rõ, đang có ý định tìm được
sự vĩnh hằng, không khởi đầu và kết thúc, sẽ đi cùng
nhau bằng mọi mãnh liệt, sẽ là một hiểm họa cho mọi sự
việc không phải cốt lõi, cho những tưởng tượng, cho những
ảo tưởng. Và họ sẽ chú tâm, họ sẽ trở thành ngọn đuốc,
bởi vì họ hiểu rõ. Chúng ta phải tạo ra một tổ chức
như thế, và đó là mục đích của tôi. Bởi vì, tình bằng
hữu trung thực đó … sẽ có sự cộng tác thực sự của
mỗi người. Và điều này không xuất phát từ uy quyền.
Điều
rất quan tâm của Krishnamurti, đặc biệt khi ông lớn tuổi
và lo ngại về sự hưng thịnh của những tổ chức do chính
ông thành lập, là tạo ra một tổ chức của những người
bạn như thế. Theo thời gian những tiêu chuẩn cho tình bằng
hữu của ông vẫn còn y nguyên: tình bằng hữu không thể
hưng thịnh nơi nào còn có ganh ghét, so sánh, sở hữu. Ông
tin rằng chỉ có sự tốt lành vĩnh cửu mới có thể giữ
chặt con người lại cùng nhau. Và quả ngọt của sự tốt
lành rất kỳ diệu.
Đang
ngồi ở bàn điểm tâm vào một buổi sáng tại Rishi Valley
mùa đông năm 1984, khoảng giữa một cuộc nói chuyện thông
thường, ông hỏi chúng tôi, “Nếu một thiên thần bảo các
bạn rằng các bạn có thể có được mọi thứ ao ước cho
nơi này, các bạn sẽ xin cái gì?”
Chúng
tôi đề cập nhiều thứ – nước, một nền văn hóa mới,
một cái trí mới – không hăm hở gì lắm, vì biết rằng
những câu trả lời của chúng tôi thường nhì nhằng và lặp
lại để gây hài lòng cho giây phút đó, và biết rằng chúng
thường bị gạt đi. Ông đã làm thế và tiếp tục, “Khi
chúng ta đến đây năm 1926, ý định của chúng ta là thành
lập những nơi dành cho sự khai sáng con người. Điều này
có xảy ra ở đây không?”
Lại
nữa đó là một câu hỏi khó; chúng tôi thú nhận rằng nó
không xảy ra.
“Vậy
thì Rishi Valley giống hệt thế giới bên ngoài phải không?”
Chúng tôi trả lời rằng nó là một thế giới thu nhỏ –
chúng tôi cùng có những vấn đề trên một kích cỡ nhỏ
hơn.
Ông
nói, “Hãy trả lời cẩn thận. Thế giới bên ngoài là chiến
tranh, phẫn nộ, xung đột, ganh ghét sâu thẳm. Các bạn có
những sự việc này ở đây không? Trong các bạn không?”
Chúng
tôi trả lời rằng mặc dù những sự việc này không đang
hoạt động trong chúng tôi, hạt giống của nó vẫn còn đó,
và “được trao cho tình huống, chúng tôi có thể cũng
như vậy.”
Ông
hỏi liệu rằng chúng tôi có thể xóa sạch tất cả việc
đó không.
“Nếu
chúng tôi xóa sạch, thiên thần sẽ cho chúng tôi những gì
chúng tôi muốn chứ?”
Ông
trả lời đơn giản, “Vâng”.
Krishnamurti
từ Luân đôn đến New Delhi ngày 25 tháng 10 và sau đó đến
Varanasi (tên cũ của Benares). Aravindan, người quay phim nổi
tiếng từ Kerala, đang hoàn thành cuốn phim “Người Thầy
Rảo Bước Cô Đơn”, được dựa vào cuộc đời Krishnamurti.
Vào đầu tháng 11, khi mùa đông vừa đến, Rajgahat ở Varanasi,
làm bối cảnh cho cuốn phim của ông, bằng cảnh quay người
đánh cá cô đơn đang quăng lưới trên một dòng sông êm đềm;
một con chim đang bay theo vòng cung rộng phủ cả bầu trời
lẫn con sóng; và mặt trời hoàng hôn đang trở thành một
vầng hào quang cho bậc thánh nhân mà đã nói rằng: “Con người
không là tổng thể của anh ấy.”
Krishnamurti
dạo bộ cùng Aravindan dọc theo con đường của những người
hành hương ngày xưa, bây giờ đã được trải nhựa và bị
hư hại nhiều bởi những chiếc xe tải, vì nó dẫn đến
hai bờ của con sông Varuna. Ông đi qua cây cầu tre tạm để
qua bờ bên kia nơi con đường của người hành hương, bây
giờ chật hẹp và đầy bụi, được vây quanh bởi cây lúa
mì mùa đông; ở đây ông quan sát rõ ràng quang cảnh của
sông Ganga rồi tiếp tục đi đến Sarnath. Tại nơi này, Buddha
đã thuyết pháp lần đầu tiên cách đây 2.500 năm. Ống kính
của Aravinda quay cảnh chuyến đi về nhà của Krishnamurti băng
qua cây cầu cùng người lái đò đưa người và thú vật qua
bờ sông bên kia trong mùa mưa khi cây cầu chìm dưới nước.
Có
một con đường khác ông dạo bộ mỗi ngày, ngay cả khi hai
chân đã run rẩy – dọc theo con đường ngoằn ngoèo của
khuôn viên trường, qua giảng đường nơi sinh viên của Vasanta
College mới đây đã trình diễn một vở kịch về cuộc đời
của Phật. Con đường ngừng lại tại những bậc thềm dốc
đứng mà ở dưới là một sân chơi vòng tròn và được tách
riêng một phía bằng hàng rào kẽm gai, một thánh đường
với người chăm sóc nhàn rỗi. Dọc theo một một con dốc
tại cuối những bậc thềm là một con đường hẹp dẫn đến
nghĩa trang sĩ quan (Rajghat trước kia là một tiền đồn của
người Anh), không được sử dụng từ lâu, và bây giờ là
khu nhà khách cho một trung tâm mới sẽ được dựng lên để
dành cho những người có quan tâm nghiêm túc trong sự học
hỏi những lời giáo huấn của Krishnamurti.
Krishnamurti
đi quanh sân chơi nhiều lần cùng những người bạn, nói về
nhiều việc, nhưng căn bản về những câu hỏi có tầm quan
trọng sống còn với ông vào lúc này: Chuyện gì sẽ xảy
ra cho nhiều học viện mà ông đã thành lập? Chúng sẽ mau
chóng bị tách rời mà không có người nào liên kết lại
phải không? Tương lai của Foundations là gì? Và mỗi lần ông
hoàn tất một vòng tròn, ông luôn chào hỏi người chăm sóc
thánh đường, không muốn ông ấy cảm thấy cô lập, bị
cách biệt.
Chuyến
đi quay trở lại, thẳng lên những bậc thềm dốc đứng đó,
chứa đầy lo lắng cho những người bạn của ông – họ
không bao giờ chắc chắn rằng ông có thể leo lên bậc thềm
cao nhất mà không bị ngã. Có một lần người nào đó, một
phụ nữ, chìa tay giúp ông. Và với tánh lịch sự thông thường
của ông, ông nắm tay bà ấy trong chốc lát, giải thích rằng
ông muốn nắm tay của bà nhưng “tôi luôn luôn không muốn
lệ thuộc, vào bất cứ người nào”. Những lời cuối được
nhấn mạnh kèm theo một cái nhìn tạo cho bà ấy một gợi
ý của sự tĩnh lặng không dò thấu được.
Không
phải trong suốt những chuyến đi dạo này nhưng ở trên lầu
trong phòng ngủ ông mới nói về những nơi thiêng liêng như
những nơi dành cho học hỏi, và do đó, theo chính xác định
nghĩa, vượt giới hạn của lễ nghi, của nhà thờ, đền
chùa và thánh đường. Ông nói rằng một nơi gọi là thiêng
liêng, nếu nó được thể hiện bởi ba đặc điểm – bởi
tánh tôn giáo của những người sống ở đó, bởi những
người hành hương đến đó vì chân lý, và bởi khả năng
duy trì cuộc sống của nó.
Bà
Besant ở trong tâm trí của Krishnamurti rất nhiều vào mùa đông
đó tại Rajghat. Vào ngày 6 tháng 11, ông được mời đến
Theolophical Lodge tại Kamaccha, một lời mời ông chấp thuận.
Ông đi đến “Shantikunj”, ngôi nhà cũ của Bà Besant. Ông
ngồi trên chowki to lớn nơi Bà Besant làm việc và nghỉ ngơi
trong ngày. Đối với những người đã biết Bà Besant và Krishnamurti
trong suốt những ngày đầu tiên đó, nó là một giây phút
đầy cảm xúc . Đối với người đã sống qua thời gian đó,
nó là một ngày của phước lành vô biên: “Người con trai
viếng thăm ngôi nhà của mẹ, sau khoảng thời gian 45 năm.
Có lẽ để chào từ biệt.” Nhưng khi một người hỏi Krishnamurti
là ông có nhớ nơi này không, lời đáp lại của ông thật
đơn giản: “Nó thuộc quá khứ lâu lắm rồi – nhưng dường
như tôi đã sống ở đây.”
Lễ
hội Diwali diễn ra vào ngày 16 tháng 11 và Krishnamurti trải
qua một buổi tối cùng bạn bè quan sát màn trình diễn pháo
bông ở bên kia sông, từ hàng hiên có lát đá tại ngôi nhà
của ông cao hơn sông Ganges. Khi những tia sáng và kotis vung
vẩy nhiều bông hoa đầy màu sắc vào bầu trời không trăng,
thành phố Varanasi rực sáng xa xa. Sau đó Krishnamurti leo lên
bao lơn của ngôi nhà để thắp sáng những ngọn đèn bị
tắt và thưởng ngoạn quang cảnh. Nó là một buổi tối thanh
bình khi sự thiêng liêng phảng phất giống một bức màn trải
trên Rajghat.
Đã
có nhiều giải trí nữa – một buổi tối ngân nga Vada bởi
những người Brahmin địa phương cùng những trường học
của ngôi đền và gia đình Maharaji tại Varanasi, âm nhạc trên
Shanhanai Santoor và một tiếng đồng hồ của Kathak được
nhảy múa bởi Aditi Mangaldas.
Vào
ngày 7 tháng 11, Krishnamurti bắt đầu một loạt những cuộc
thảo luận cùng một nhóm những học giả Phật giáo – những
học giả tiếng Phạn và Tây tạng – mà đã quây quần quanh
ông từ đầu những năm 1970. Họ là thành phần của nhóm
học giả có truyền thống cổ xưa đã giữ gìn một truyền
thống tôn giáo trong hàng ngàn năm qua những hoạt động giáo
dục, những cuộc tranh luận sôi nổi về triết lý và sự
tìm hiểu nội tâm.
Trong
số họ có Pandit Jagannath Upadhyaya. Panditji, như chúng tôi gọi
ông ấy, đã tham gia xuất bản một ấn phẩm quan trọng của
Kalachakratantra, một bản gốc Mahayana nói về lời giáo huấn
của Bodhisattva Maitreya. Được hoàn thành trong thời gian nào
đó giữa thế kỷ 9 và 11, bản gốc này đại diện một truyền
thống cổ xưa hơn nhiều của sự thông thái, mà Panditji có
lần đã mô tả là “tổ tiên của nhân loại”. Mô tả của
Panditji đã bất ngờ khơi dậy sự đồng cảm trong Krishnamurti
và đã bổ sung cụm từ đó bằng cách nói rằng, “tổ tiên
của thấu triệt”.
Ripoche
Sandong của Tibetan Institute tại Sannath, giáo sư Krishnanath và
Ram Shankar Tripathi, cả hai từ những học viện giáo dục địa
phương, cũng có mặt vào dịp này.
Trước
mặt nhóm học giả, Krishnamurti đưa ra hai câu hỏi: “Có một
điều gì đó thiêng liêng, một điều gì đó thường hằng
… ở Ấn độ, trong phần đất này của thế giới hay không?”
và, “Nếu nó ở đó, tại sao phần đất này của thế giới
lại tha hóa như vậy?”
Krishnamurti
trả lời cả hai câu hỏi ông đã đưa ra. Ông trả lời câu
hỏi thứ nhất vào cuối buổi thảo luận khi nhiều vấn đề
đã được đưa ra và bị bác bỏ, và hội đồng ngồi im
lặng. Ông trả lời câu hỏi thứ hai dựa vào nền tảng của
một sự quan sát tổng thể: “Tánh tư lợi là cánh cửa chặn
đứng cái khác.” Khái niệm về tánh tư lợi đối với Krishnamurti
vừa rất phổ quát lẫn rất thích ứng; trong mạng lưới
của nó bao gồm cả sự thôi thúc tiềm ẩn đằng sau tôn
giáo có tổ chức.
Vào
ngày 11, Krishnamurti đưa ra câu hỏi thứ ba: “Nơi nào tánh
tư lợi kết thúc và cái khác bắt đầu?” Và mặc dù ông
quay trở lại câu hỏi ít nhất hai lần trong suốt buổi thảo
luận, ông đã không trả lời nó. Ông bỏ lại nó như một
nghi vấn vĩnh cửu, một công án tại ngay tâm điểm của sự
tìm hiểu nghiêm túc về tôn giáo.
Krishnamurti
đã hỏi khán giả vào ngày 9 tháng 11, “Có điều gì đã
tồn tại ở đây rồi mà, nếu có, người ta phải trao toàn
cái trí và tâm hồn vào nó hay không?” Ông đang nói như một
con người đã thực hiện chính xác điều đó – “trao
cái trí và tâm hồn” và trọn vẹn cuộc sống thật dài
của ông để “giữ gìn cái thiêng liêng”. Chúng ta phải
nhắc nhở cho mình rằng Krishnamurti đang tiến gần đến sự
chấm dứt của cuộc sống thật dài đó, và rằng ông đang
nói chuyện với một nhóm người đã dành trọn cuộc đời
của họ giữ gìn một truyền thống tôn giáo cổ xưa, nhưng
trong một cách hoàn toàn khác hẳn. Đối với Krishnamurti cái
ý thức giữ gìn đó không đủ tốt lành. Ông đã chối bỏ
toàn thể những thứ linh tinh của tôn giáo có tổ chức –
giáo lý, những nhà thờ, những vị thánh, những nghi lễ,
những quyển sách thiêng liêng và những đạo sư của nó –
từ năm 1929 khi ông viết:
Khi
Krishnamurti chết, mà là điều không tránh khỏi, các bạn sẽ
bắt đầu hình thành những luật lệ trong đầu óc, bởi vì
cá thể, Krishnamurti, đã đại diện cho các bạn về Chân lý.
Vì vậy, các bạn sẽ xây dựng một đền thờ, sau đó các
bạn sẽ bắt đầu có những nghi lễ, sáng chế những câu
kinh, giáo điều, hệ thống của những niềm tin, phương châm
và tạo ra những triết lý. Nếu các bạn xây dựng những
nền móng to lớn dựa vào tôi, cá thể, các bạn sẽ bị trói
buộc trong ngôi nhà đó, trong đền thờ đó và thế là các
bạn sẽ phải có một người Thầy khác xuất hiện và giải
thoát các bạn khỏi đền thờ đó. Nhưng đầu óc con người
là cái vật mà các bạn sẽ xây dựng một đền thờ khác
quanh Ông ta, và thế là nó sẽ tiếp tục và tiếp tục.
Hai
buổi nói chuyện trước công chúng lần thứ nhất tại Rajghat
vào ngày 18 và 19 tháng 11. Krishnamurti hỏi khán giả tại sao
họ lại hiện diện ở đó, và sau đó bảo họ rằng ông
không có ý định đưa ra những câu hỏi lý thuyết, trừu
tượng hoặc giúp đỡ họ như một đạo sư, nhưng rằng họ
nên nghĩ về ông như một người bạn mà họ đang nói chuyện
cùng nhau về những vấn đề của cuộc sống hàng ngày.
Trong
suốt phần câu hỏi và trả lời trước công chúng, một người
trong khán giả đã hỏi làm cách nào lời giáo huấn có thể
được giữ gìn nguyên vẹn mà không bị biến dạng. Krishnamurti
hiểu rõ nghi ngờ này và nói rằng câu hỏi liệu rằng lời
giáo huấn của ông có bị mai một và sửa đổi hay không
“tùy thuộc vào các bạn, không tùy thuộc vào ai khác”.
Nếu nó không có ý nghĩa gì cả ngoại trừ những từ ngữ,
vậy thì nó sẽ theo cùng con đường của phần còn lại. Nếu
nó có nghĩa điều gì đó rất sâu đậm cho các bạn, cho các
bạn theo từng cá thể, vậy thì nó sẽ không bị mai một.
Kiên định và không nhượng bộ, cho đến cuối đời, Krishnamurti
đặt niềm tin của ông trong con người, trong năng lực của
họ để duy trì lời giáo huấn trong một cái trí và tâm hồn
hiểu rõ.
Vào
ngày 22, khi chấm dứt buổi nói chuyện cuối cùng, ông bảo
khán giả rằng họ không nên gục xuống bàn chân của ông
nhưng họ có thể đến và nắm tay ông. Và ông giữ tư thế
ngồi lặng yên như thế trong một thời gian lâu. Đối với
chúng tôi điều đó giống như một điềm báo, một dấu hiệu
chỉ rằng ông sẽ không bao giờ quay trở lại.
Khi
Krishnamurti đến Rishi Valley vào tháng 11, chúng tôi biết rằng
ông đang ở tình trạng suy sụp sức khỏe. Chúng tôi hy vọng
rằng Rishi Valley sẽ giúp ông hồi phục như nó đã thường
xuyên làm ở quá khứ, nhưng việc này đã không xảy ra. Ngày
thứ nhất chúng tôi quyết định dạo bộ về hướng ngôi
đền thờ nữ thần cổ Gangamma nằm trên con đường mòn chạy
qua vườn rau của chúng tôi và lòng suối cạn khô. Nhưng ông
không thể đi qua lòng suối cạn đó để đến cánh rừng
me. Xa xa, khỏi cánh rừng me đó thung lũng mở toang mọi hướng
đến tận những quả đồi vây quanh đang biến thành màu đỏ
tía bởi ánh hoàng hôn. Đó là quang cảnh thường tạo ra cho
ông cảm giác tôn kính.
Sau
đó, chúng tôi dùng những chuyến dạo bộ dễ dàng hơn dọc
theo con đường chính dẫn đến miệng thung lũng. Từ một
trong những chuyến dạo bộ này ông lấy lại sự rạng rỡ
và nói về sự thiêng liêng của nơi này.
Những
chuyến dạo bộ hàng ngày của ông mỗi lúc một ngắn lại
khi thời gian trôi đi và ông tiếp tục giảm cân ở mức độ
đáng kể. Nhưng ông vui vẻ trong phòng của ông, ở trên lầu
trong Old guest house, được phụ giúp bởi Gopalu[2] và Parameshwaran[3]
, mời mọi người ăn trưa và nói chuyện với con chim Hoopoe
mà ông đã kết bạn. Nhiều lần, đứng ngoài cửa phòng,
chúng tôi nghe ông nói nho nhỏ với một ai đó, “Bạn và
con cái bạn chắc chắn được nghinh đón để vào đây. Nhưng
tôi chắc rằng bạn sẽ không thích nó. Trong một ít ngày
nữa tôi sẽ ra đi, căn phòng sẽ được khóa kín, cửa sổ
đóng lại, và các bạn sẽ không thể bay ra ngoài.”
Khi
chúng tôi vào phòng, chúng tôi trông thấy con chim, cột bên
khung cửa sổ rộng, đậu trên cành cây Spathonia, mào của
nó xòe ra, đang lắng nghe Krishnamurti nằm trên giường lên
tiếng trong âm điệu nhịp nhàng. Krishnamurti giải thích rằng
con chim đã quen với giọng nói của ông và thích đậu một
chỗ lắng nghe. Rất thường xuyên khi nhóm ít người chúng
tôi ngồi trên tấm thảm trong phòng, con chim luôn quặp xuống,
mổ vào khung cửa sổ và náo động ầm ĩ. Và Krishnamurti sẽ
nói, “Người bạn của tôi đây rồi,” hay “Không phải
lúc này, người bạn của tôi.”
Một
lần khác, khi chúng tôi đang đi vào phòng chúng tôi nghe ông
nói, “Vậy là tên của con gái bạn là Sujata. Đó không phải
là vợ của Sujata Buddha hay sao?” Tôi nghĩ rằng chắc ông
đang đùa giỡn với Hoopoe, nhưng ông lại đang nói với Gopalu
mà đã kể cho ông về việc sinh ra cô con gái nhỏ tên là
Sujata[4] .
Mặc
dù suy sụp sức khỏe, Krishnamurti vẫn nói chuyện với những
học sinh và giáo viên của trường học. Với các em bé ông
nói về sự sợ hãi và được tự do khỏi sợ hãi là vấn
đề rất quan trọng. Với những giáo viên ông nói về tốt
lành và liên quan của nó với tổng thể. Khi tốt lành được
gắn kết với tổng thể, nó không còn là thành phần của
quá khứ, của ý kiến đã được thâu nhận; nó không là
một kết luận nhưng là một khám phá.
Một
cuộc hội nghị quốc tế của những giáo viên từ những
trường khác nhau của Krishnamurti ở Ấn độ và nước ngoài
đã được tổ chức trùng hợp chuyến viếng thăm này. Có
những giáo viên từ Brockwood Park ở nước Anh và từ Oak Grove
School ở Ojai, California. Đó là cuộc hội nghị đầu tiên
thuộc loại này, và thoạt đầu Krishnamurti có vẻ miễn cưỡng
tham dự. Nhưng ngay khi chúng tôi bắt đầu, ông đã đến thường
xuyên và bất ngờ, đặt câu hỏi, khuyến khích và nói đùa
để đưa vào những vấn đề nghiêm túc.
Cuộc
nói chuyện cuối cùng của ông tại Rishi Valley (ông đã gọi
nó là “buổi trình diễn cuối cùng của tôi”) là một chuyến
viếng thăm không sắp xếp trước, được gợi ý bởi những
câu hỏi đặt ra cho ông của một trong những giáo viên. Vào
cuối đời, ông tiếp tục đưa ra những câu hỏi mà ông luôn
luôn dùng: Tốt lành là gì? Nở hoa trong tốt lành là gì? Ông
cũng hỏi: Khởi đầu của sự sống là gì? Sáng tạo là gì?
Krishnamurti
rời Rishi Valley để đi đến Madras vào ngày 22 tháng 12. Ông
nghỉ ngơi vài ngày và sau đó có cuộc nói chuyện thứ nhất
trong những cuộc nói chuyện trước công chúng ở Madras vào
thứ bảy, ngày 28 tháng 12. Rõ ràng nó là một sự chịu đựng
khủng khiếp; ông hoàn toàn không chắc chắn có thể tiếp
tục hết buổi nói chuyện. Bài giảng của ông thiếu sự
rõ ràng thông thường, nhưng ông hồi sức lại sau đó. Thấy
được năng lượng được hồi phục trong mình, ông háo hức
tiếp tục “buổi gặp gỡ câu hỏi và trả lời” theo lịch
trình. Nhưng buổi gặp gỡ bị hủy bỏ, để giữ gìn sức
khỏe của ông, và một cuộc nói chuyện trước công chúng
bổ sung được tuyên bố cho ngày mai thứ tư.
Nhiệt
độ của ông tăng lên và những bác sĩ được mời đến.
Không tìm được nguyên nhân ngay lập tức cho cơn sốt của
ông, họ đề nghị thực hiện thí nghiệm chẩn đoán. Krishnamurti
quyết định trải qua những thí nghiệm ở California dưới
sự giám sát của một bác sĩ ông biết và tin cậy. Những
cuộc nói chuyện ở Bombay được hủy bỏ, và ngày quay lại
Ojai của ông được ấn định sớm hơn.
Với
toàn năng lượng đang yếu dần đi của ông vì bị tiêu hao
bởi những cuộc nói chuyện ở Madras, Krishnamurti trải qua
nhiều tiếng đồng hồ dài trong phòng. Sau đó ông cố gắng
kết bạn với vài con chim Hoopoe mới, lần này không thành
công. Ông thường ngân nga, ngâm thơ ngân nga một mình. Khi
chúng tôi lắng nghe từ bao lơn ngoài phòng, chúng tôi bị cuốn
hút vào âm điệu của giọng ông. Ông sử dụng cách ngân
nga của tiếng Phạn, tách rời ý nghĩa từ ngữ và tập trung
hoàn toàn vào âm thanh. Nhưng những từ ngữ từ bài thơ cuối
cùng của Tennyson, “Băng qua Rào chắn”. Chỉ sau đó, phản
hồi ý nghĩa về điều gì chúng tôi đã nghe, những từ ngữ
kia bắt đầu phơi bầy.
Hoàng
hôn rồi sao hôm,
Một
tiếng gọi rõ ràng cho tôi!
Và
cầu mong không còn tiếng than van của rào chắn,
Khi
tôi khởi hành ra biển khơi.
Nhưng
thủy triều đó như chuyển động lại đứng yên
Đầy
âm thanh và bọt nước,
Khi
cái đó từ biển xa vời vợi
Quay
về nhà.
Sau
khi hoàn thành cuộc nói chuyện cuối cùng trong những cuộc
nói chuyện trước công chúng của ông vào Chủ nhật, ngày
4 tháng 1, Krishnamurti hướng toàn bộ sự chú ý vào số phận
của Foundations đã được thành lập trên danh nghĩa của ông.
Ông hiểu tiến trình qua đó những tôn giáo phát triển khi
những vị lãnh đạo tôn giáo chết: công việc tôn sùng vị
thầy; tu sửa những lời giáo huấn của ông, huyên náo vì
vinh quang giả tạo của sự kế thừa. Tất cả việc này khiến
ông lo lắng vô cùng. Đã khước từ tôn giáo có tổ chức,
lúc này ông đối diện lần cuối cùng với một tổ chức
mang tên ông. Nên làm gì đây? Foundations có nên giải tán hay
không? Có bất kỳ cách nào để ngăn ngừa những cá thể
coi chính họ như những uy quyền về những lời giáo huấn
của ông và vị thầy hay không? Ông đưa ra những câu hỏi
này cho những thành viên Foundaitons có mặt ở đó.
Một
số người hiện diện ủng hộ sự giải tán Foundations. Những
người khác đưa ra những phức tạp về luật pháp khi làm
như vậy. Suốt cuộc đời, Krishnamurti đã làm việc cho sự
tự do của con người. Và lần này trong suốt nhiều năm ròng,
những câu hỏi của ông quay ngược lại cho ông. Ngày hôm
sau, để tôn trọng những mong muốn của ông đoạn văn dưới
được thêm vào cho luật lệ và quy định:
Dù
ở mọi hoàn cảnh nào, Foundations hoặc bất kỳ học viện
nào dưới sự bảo trợ của nó, hoặc bất kỳ thành viên
nào của nó đều không có quyền khẳng định họ như những
uy quyền trên những lời giáo huấn của Krishnamurti. Điều
này theo đúng lời tuyên bố của Krishnamurti, rằng không một
ai ở bất kỳ nơi nào có quyền khẳng định họ như một
uy quyền về ông hoặc lời giáo huấn của ông.
Trước
khi những cuộc gặp mặt chấm dứt, Krishnamurti diễn thuyết
trước Foundation lần cuối cùng, một bài diễn thuyết mà
ông hướng dẫn như một đối thoại với Pandit Jagannath Upadhyaya.
Ông
không có bao nhiêu vật sở hữu, mà sau đó ông đã phân phát
– một ít quần áo; cái tủ đôi bà Besant đã tặng ông và
người em trai Nitya; vài thứ linh tinh; một quyển tự điển
cỡ nhỏ.
Ngày
cuối cùng được dành riêng cho nghỉ ngơi để chuẩn bị
cho chuyến quay trở lại vất vả băng qua Thái Bình Dương.
Krishnamurti rút lui vào trong phòng của ông và chúng tôi lắng
nghe khi Pandit Updhyaya kể lại câu chuyện vào những khoảnh
khắc cuối cùng của Phật: tại vùng phụ cận thị trấn
Kuhinara, Phật nằm giữa hai cây Sala, bao quanh bởi đệ tử
và một đám đông người thị trấn. Khi sự kết thúc dường
như đến gần, những đệ tử yêu cầu đám đông lùi lại
để cho Phật có thể nhìn thấy bầu trời bao la một lần
nữa. Vào ngay khoảnh khắc khi sự trống không của bầu trời
hòa nhập sự trống không của niết bàn, Phật qua đời.
Panditji,
đắm chìm trong những truyền thống bằng lời nói của tiếng
Pali và tiếng Sanskrit, đã chấm dứt cuộc nói chuyện bằng
cách ngâm thơ, đầy xúc động, một bài thơ dài về Krishnamurti.
Khi ngâm xong, Panditji dắt một thành viên qua một bên và hướng
dẫn bà ấy: “Bảo ông đừng mời Thần Chết. Hãy đọc
cho ông những từ ngữ này ba lần: Vẫn còn có những đau
khổ không kể xiết trong thế giới này. Có những người
cần sự giúp đỡ của ông. Công việc của ông chưa làm xong.”
Bà
ấy đi thẳng lên phòng của Krishnamurti, nhưng những lời nói
vấp váp trong cổ họng của bà đến độ bà không thể thốt
ra lời. Thấy được khó khăn đó, ông nhờ bà đem thuốc
uống để giúp đỡ khoảnh khắc đó trôi qua. Ông không thể
đổ thuốc ra khỏi cái chai bởi vì bàn tay run lẩy bẩy mỗi
lúc một tăng thêm. Hai bàn tay của bà ấy cũng run. Giống
như ngày nào đó trước đây của Sujata, bà ấy có sự tin
tưởng loáng thoáng rằng thuốc sẽ hồi phục được sinh
lực của Krishnamurti nếu ông cầm lấy mà không bị đổ giọt
nào. Đó là một khoảnh khắc căng thẳng khác, nhưng một
khoảnh khắc khai sáng; và cũng vậy nó trôi qua đầy thành
công.
Với
chút tự tin có lại được, bà ấy chuyển tải chính xác
câu nói của Panditji theo những hướng dẫn. Krishnamurti trả
lời rằng ông không muốn mời Thần Chết, nhưng ông không
chắc chắn cơ thể sẽ kéo dài được bao lâu nữa; ông đã
mất đi 15 pound rồi. “Bạn có biết việc gì sẽ xảy ra
nếu tôi mất cân nữa hay không?” Ông giải thích,” Tôi
sẽ không đi được nữa. Nếu điều đó xảy ra và tôi không
thể có thêm những cuộc nói chuyện vậy thì cơ thể sẽ
chết – nó chỉ có ý nghĩa cho mục đích đó mà thôi.”
Ngày
hôm đó, nhiều người đến thăm Krishnamurti, vì những lời
nói đã được lan truyền rằng ông bị bệnh và có lẽ không
quay lại. Ông rất mệt khi phải gặp mọi người, từng cá
thể, nhưng nhiều người đã đến từ xa để bày tỏ lòng
kính trọng.
Vào
chiều tối, ông đi dạo lần cuối cùng trên bãi biển Adyar
nơi ông được “phát hiện” trước đây lâu lắm rồi.
Tại cuối chuyến đi ông bày tỏ lời chào giã từ thật lâu
đến bốn hướng, quay đủ một hình vuông – về hướng
Đông, về hướng Nam, về hướng Tây, về hướng Bắc –
trong lời chào giã từ trang trọng đó được hiểu như là
“vòng quay của con voi” của thời cổ xưa.
Radhika
Herzberger.
[1]
Lấy từ: The Future Is Now – London Victor Gollancz 1988.
[2]
Một trong những người phục vụ tại Rishi Valley.
[3]
Người nấu ăn của Krishnamurti tại Rishi Valley.
[4]
Theo kinh Phật, Sujata là tên của người con gái giai cấp thấp
mà Phật lần đầu tiên nhận thức ăn cúng dường sau khi
hiểu rõ rằng-nhịn ăn phần thân thể không dẫn đến Khai
Sáng.
Lời
Ban Biên Tập TVHS
Các
Nhà xuất bản tại Việt Nam cũng như ở hải ngoại có nhu
cầu in cuốn sách này vì mục đích kinh doanh, xin vui lòng liên
lạc với Dịch gỉa hoặc nhờ Thư Viện Hoa Sen chuyển.
09-06-2008
04:23:33