Đó
là lời dạy của Ôn Linh Mụ (HT Thích Đôn Hậu) mà thầy
của chúng tôi lấy làm phương châm và dẫn dắt chúng tôi
từ những ngày chập chững học Đạo ở chốn Thiền môn.
Hơn hai thập niên học Phật, tôi không những chưa hề thấy
lời dạy ấy là giáo lý dành riêng cho hàng sơ cơ, mà còn
nhận ra nó là lời dạy từ kinh nghiệm tâm linh, là hành trang
thiết yếu cho tiến trình giác ngộ và giải thoát. Với vai
trò như thế, lời dạy ấy có thể được xem là kết tinh
của giáo lý đạo Phật, là cam lồ cho mọi cõi lòng. Tôi
xin trình bày một vài quan điểm truyền thống và ứng dụng
của lời dạy mà tưởng chừng như mộc mạc nhưng thật thâm
sâu và thiết thực đối với đời sống tu tập của người
đệ tử Phật xuất gia lẫn tại gia này.
“Làm
việc hết lòng là người trọn Đạo” là câu nói
rất Việt Nam, mang một ý nghĩa trọn vẹn và hoàn hảo mà
ai cũng có thể hiểu và ứng dụng được. Nó có thể được
bao gồm trong những khái niệm quan trọng như ‘Bồ-đề tâm’,
‘Chánh kiến’, ‘Ngọn đèn lòng’, ‘Tự làm hòn đảo
cho chính mình’, vv. Nhưng người ta có thể hỏi ‘Bồ-đề
tâm là gì?’ ‘Chánh kiến là gì?’ v.v. mà chẳng ai hỏi
‘Làm việc hết lòng là người trọn Đạo là gì?’, trừ
phi họ muốn tìm hiểu sâu hơn về lời dạy này.
‘Lòng’
là từ thuần Việt tương đương chữ ‘tâm’ (Hán-Việt)
nhưng nó không ôm lấy nhiều ý nghĩa trừu tượng và triết
học như chữ ‘tâm’ trong kinh điển Phật giáo. Đơn giản,
chữ ‘lòng’ hàm nghĩa khát vọng của con tim. ‘Làm việc
hết lòng’ là trải hết lòng mình ra, không vì mình mà chỉ
vì công việc mình làm. ‘Hết lòng’ hiển thị một tinh
thần vô ngã theo đúng giáo lý truyền thống của Phật giáo.
Những ý tưởng về ‘tôi’, ‘của tôi’, ‘tự ngã của
tôi’ tuyệt nhiên không có chân đứng trong khi hết lòng vì
một công việc gì. Những ý tưởng này luôn luôn tỷ lệ
nghịch với ‘hết lòng’. Do đó, hết lòng được gọi là
‘trọn đạo’ vì nó là vô ngã.
Hai
chữ ‘hết lòng’ mang nội dung Bồ-đề tâm nhưng chứa đựng
một ý nghĩa gần gũi với tâm tư người Phật tử ngay trong
lối sống thường nhật ở đời này. Nó có thể được gọi
là hết lòng khi giúp đỡ người khác, là chuyên chú khi làm
việc, là nhứt tâm khi tu tập, là tôn kính khi cúng dường,
là từ ái khi bố thí, vân vân. Nói chung, tác dụng của nó
là giúp ta ý thức chu đáo và tập trung hoàn toàn vào hành
động mình đang làm. Tuy nhiên, những người duy lý có thể
phản bác quan điểm ấy với kiến giải rằng làm việc mà
chỉ bằng tấm lòng không thôi thì không đủ vì thiếu lý
trí sẽ dẫn đến làm sai. Quan điểm ấy chỉ đúng trên các
hiện tượng thực dụng và tổ chức xã hội, nhưng không
thể đúng trên bình diện tâm người mà đạo Phật đặc
biệt nhắm tới. Những người như thế ắt đã mắc phải
sai lầm vì họ thiếu tính nhân bản, đã đòi hỏi quá khả
năng căn cơ mà người khác có thể có. Họ không thấy rằng
khi một người đã hết lòng làm việc gì thì có nghĩa người
ấy dốc hết tất cả khả năng và tâm tư của mình, như
trí tuệ, công sức và tiền của, để làm công việc đó!
Trong Phật giáo, người hết lòng như vậy luôn luôn được
người trí tán thán, bất kể kết quả việc làm đó như
thế nào.
Đối
với phần lớn Phật tử, giáo lý Phật giáo quá nhiều nên
việc hiểu để tu hành đúng pháp là một vấn đề khó khăn.
“Pháp là gì?” hay “Đạo –con đường giải thoát– là
gì?” có lẽ là những câu hỏi thường được đặt ra trong
giới Phật tử. Thật ra, Pháp của đức Phật chỉ tùy theo
tâm của chúng sanh mà diễn thuyết. Giáo pháp của Ngài đa
dạng là vì tâm tư của chúng sanh quá đa dạng.[1] Cũng
trên tinh thần ấy nhưng hợp với mọi căn cơ, lời dạy ‘làm
việc hết lòng’ rọi thẳng vào tâm tư của mỗi chúng ta.
Nó mang nội dung đơn giản dễ hiểu, giúp chúng ta tự nhận
ra pháp môn tu tập ngay trong các sinh hoạt của mình.
Bất
kể là hàng sơ tâm hay thượng trí, làm việc hết lòng luôn
luôn là cần thiết vì nó mang ý nghĩa ‘hộ trì tâm’ và
‘chánh niệm tỉnh giác’. (Còn làm việc không hết lòng
thì gọi là phóng dật.) Đức Phật cũng được biết là bậc
đã làm việc hết lòng khi thuyết giảng Chánh pháp. Trong Kinh
Tăng Chi (A. iii, 121), Ngài nói: “Nếu Như Lai thuyết pháp cho
các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho hàng nam cư sĩ, nữ cư sĩ,
cho các hàng phàm phu, các người bắt chim hay ăn xin, Như Lai
thuyết pháp hết sức cẩn thận chu đáo, không phải không
cẩn thận chu đáo.” Và Ngài nói thêm rằng Ngài làm vậy
vì Ngài là bậc tôn trọng Pháp, là bậc tôn kính Pháp. Như
vậy, người đệ tử Phật có thể hiểu ‘làm việc hết
lòng’ là tôn trọng Pháp và cũng là trọn Đạo.
‘Trọn
Đạo’ ý nói không cần phải làm gì khác nữa. Nó khích
lệ người Phật tử chủ động và chuyên chú hoàn toàn vào
công việc của mình. Điều duy nhất cần quan tâm ở đây
là hãy xem mình đã làm việc hết lòng chưa. Chẳng hạn, Kinh
Trường Bộ (D. ii, 357) hướng dẫn cách thức bố thí thế
này: “Hãy bố thí một cách hoàn bị, hãy bố thí với tự
tay mình làm, hãy bố thí một cách có suy tư, hãy bố thí
với đồ không phế thải”. Như vậy, thái độ bố thí được
xem là quan trọng hơn vật thí. Đức Phật trong Kinh Bổn Sanh
(Jātaka, số 346) nói: “Thức ăn tốt nhất là thức ăn được
cho với tình yêu thương”. Cũng vậy, để sống đúng, người
Phật tử khi làm gì cũng cần phải chú ý đến thái độ
của mình. Ví dụ, chúng ta hằng ngày làm việc trong công sở
là vì yêu thích công việc hay là vì đồng lương để cứ
trông chờ ngày giờ qua mau? Hoặc khi chăm sóc một người
bệnh, chúng ta có hết lòng chăm sóc với ước mong người
ấy được bớt bệnh khổ mà bất kể người đó đã từng
không tốt với mình, hay vì người đó không phải là Phật
tử? Hoặc khi làm công tác từ thiện, chúng ta làm với lòng
từ bi và đồng cảm để xoa dịu những nỗi khổ đau của
người khác hay là vì những lý do nào khác như danh lợi? Thái
độ thật sự tác động rất lớn đến hiệu quả của công
việc. Và theo Phật giáo, nó là yếu tố chính xác định một
người là hạnh phúc hay khổ đau ở đời mà không phải là
vấn đề giàu hay nghèo, giỏi hay dốt. Ở đây, làm việc
hết lòng là một thái độ tích cực trọn vẹn đối với
công việc nên nó được xem là trọn đạo vậy!
Thái
độ thật ra chính là tâm, là trạng thái tâm lý. Với tâm
như thế nào, người ta sẽ có thái độ như thế ấy và thường
biểu hiện ra ngoài qua lời nói và việc làm. Mối liên hệ
giữa tâm, lời nói và việc làm là ba yếu tố quan trọng
trong giáo lý đạo Phật mà chúng ta quen gọi là ba nghiệp
(thân, khẩu, ý). Tuy nhiên, tâm là động cơ chính dẫn đến
các hành vi của lời nói và việc làm. Hành vi tốt hay xấu
thế nào, thiện hay ác ra sao đều dựa trên mức độ thiện
hay ác của tâm để xác định. Hai bài kệ đầu tiên của
Kinh Pháp Cú nói tâm là chủ nhân của mọi nghiệp thiện,
ác. Hoặc chúng ta thường nghe: “Ngoài tâm không có Phật!”
Và nhiều học giả Phật giáo cho rằng “Điểm xuất phát
của đạo Phật là tâm người” (The starting point of Buddhism
is the human heart). Đó là những chứng cứ xác định lập trường
của Phật giáo lấy tâm làm gốc.
Do
đó, Phật giáo chỉ dựa vào tâm để đánh giá một người
là đúng hay sai, thiện hay ác, tốt hay xấu. Người Phật tử
không thể hời hợt nhìn vào sự thiệt hại vật chất do
người nào đó gây ra mà không xem xét cái tâm như thế nào
mà người ấy đã đặt vào đó. Chẳng hạn, chúng ta không
thể nguyền rủa một người vì vô tâm hay sơ ý làm vỡ cái
bình trà, thậm chí những món đồ quý giá hơn, mà ở đây
chỉ nên khuyên người ấy cố gắng cẩn thận mà thôi. Một
Phật tử dễ dàng ứng xử như thế nếu vị ấy nhận thấy
rằng mọi sự vật ở đời đều là vô thường, dã hợp,
do duyên sinh và có tánh hoại diệt. Câu tục ngữ mà hầu
hết người Việt Nam thuộc nằm lòng là “Người đời, của
tạm!” chứa đầy ý nghĩa sống của Phật giáo như thế.
Đánh mất đi tình người chỉ vì các thứ vật chất thì
thật là điều đáng tiếc! Trong khi đó, sự thiệt hại vật
chất do vô tâm gây ra (vô ký nghiệp) chỉ được xem là do
thất niệm hay thiếu chánh niệm tỉnh giác mà không phải
là do ác nghiệp, tức không cố ý làm sai, làm ác. Ai với
tâm cố ý làm sai, làm ác thì người đó mới là kẻ bất
trị và được liệt vào hàng ác đạo vì không có thuốc
chữa bằng thiện pháp; còn người tạo nghiệp do thất niệm
thì không phải như vậy! Để khắc phục thất niệm, người
Phật tử chỉ cần thường xuyên chuyên chú vào hành động
thân, khẩu, ý của mình và huấn luyện tâm bằng chánh niệm
tỉnh giác. Trong trường hợp này, ‘làm việc hết lòng’
là lời dạy không chỉ đặt ra ngoài tâm xấu ác mà còn hàm
ý khuyên chánh niệm tỉnh giác nữa.
Ý
thức mình cần phải làm gì cho phải lẽ và đúng pháp là
điều tối quan trọng mà không thể để cho các thứ tình
cảm hay dư luận xung quanh tác động. Đây là định hướng
đúng đắn đối với bổn phận của mình. Trong thực tế,
chúng ta dường như thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt cho
công việc chung và làm đổ vỡ tình người vì những lý do
ngoại lai như thiên kiến cá nhân hay các quan niệm và dư luận
xã hội. Càng bị phan duyên bên ngoài, chúng ta càng khó ý
thức được những gì cần phải làm. Thấy như vậy là chánh
kiến trong Phật giáo và chánh niệm tỉnh giác là công cụ
tốt nhất cho sự thực hành!
Hết
lòng không phải chỉ bằng lòng tin mà đúng ra là bằng lý
trí đối với việc mình đang làm, như xem nó đã tốt chưa,
có gì sơ suất không, v.v. Học hỏi từ những người có kinh
nghiệm cũng là giới vức của hết lòng. Người đã hết
lòng thì không thể nhận lãnh công việc trái với lòng mình,
chẳng hạn những công việc tự biết là ngoài khả năng của
mình hoặc phi đạo đức. Đây là vấn đề trách nhiệm không
thể thiếu trong các tổ chức xã hội. Việc sắp đặt đúng
người đúng việc do đó cũng là vấn đề hết sức quan trọng
và là trọng trách của người lãnh đạo. Vai trò người lãnh
đạo như thế đòi hỏi có cả tài lẫn đức mà ở đây
chúng ta có thể gọi là người lãnh đạo trọn đạo, vì
họ có khả năng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo và luôn luôn
đặt trách nhiệm cao hơn mọi tư lợi cá nhân. Và người
lãnh đạo như thế sẵn sàng sửa sai và có thể từ chức
nếu tự thấy mình không còn khả năng lãnh đạo được nữa.
Nhật Bản là một đất nước có nhiều tấm gương như thế.
Theo tôi, đây là yếu tố chính khiến đất nước này trở
thành một cường quốc mà thế giới phải khâm phục. Nói
chung, nếu trong một tổ chức, càng nhiều người ý thức
làm việc hết lòng thì tổ chức ấy càng tự điều tiết
tốt đẹp và trở thành hưng thịnh.
Trong
cuộc sống, đời cũng như đạo, làm việc hết lòng như thế
là nền tảng của mọi sự thăng hoa đúng pháp. Người làm
việc hết lòng có lối sống tự tin vì không có hối tiếc
với lòng mình và đối với công việc thì hoàn tất một
cách có ý thức. Người làm việc hết lòng thường được
nhiều người mến thương và tin tưởng để giao phó công
việc. Người làm việc hết lòng thường đón nhận nhiều
niềm vui nhờ đã làm lợi lạc nhiều cho cộng đồng và xã
hội. Người làm việc hết lòng dễ dàng được sự thông
cảm từ người khác nếu làm sai (cũng như pháp luật các
quốc gia đều ứng xử trên nguyên lý đạo đức này). Người
làm việc hết lòng thường sống tận tụy với bổn phận
của mình nên tâm tư đạt được nhiều nội trú và an lạc.
Tùy theo mức độ hết lòng mà mỗi người có được sự
thăng hoa khác nhau. Trên bản chất, tham ái và chấp thủ –những
tâm lý chấp ngã– là cội nguồn làm chướng ngại cho sự
hết lòng, vì khi còn nghĩ đến mình (cái ‘ngã’) người
ta khó đạt được sự hết lòng trọn vẹn. Và ngược lại,
làm việc hết lòng là để quên mình; và càng quên mình thì
càng nhẹ cái ‘tôi’ của tham ái và chấp thủ. Nguyên lý
‘đẹp đời – trọn đạo’ không hai là vậy!
Hầu
hết giáo lý Phật giáo đều nhằm gột tẩy lòng trần: tham,
sân, chấp ngã. Cũng vậy, làm việc hết lòng là nỗ lực
không chỉ vì mục đích công việc mà quan trọng hơn, là một
tiến trình khai sáng tuệ giác từ chính khả năng của mỗi
người. Hiểu lòng mình và cất bước chân từ năng lực của
chính mình là những bước đi vững chãi đúng với con đường
giải thoát mà đức Phật dẫn dắt.
Kinh
Niết Bàn nói: “Người có lòng sẽ đạt được Vô thượng
Bồ-đề.”[2] Hành trang giải thoát như thế nằm
sẵn trong mỗi chúng ta và dường như đang hiển thị đâu
đây và âm thầm đâu đó trong cõi lòng người con Phật có
chánh tín!
Thích
Tâm Hạnh
[1]
Kinh điển Nguyên thủy cho chúng ta thấy rằng đức Phật là
một nhà hùng biện vô song đối với hàng ngoại đạo nhưng
Ngài lại là một bậc Đạo sư đầy từ mẫn đối với các
chúng đệ tử của Ngài. Nói cách khác, đối với những ai
chưa tin, Ngài làm cho tin; còn đối với những ai đã tin, Ngài
mở ra con đường thực hành cho sự giác ngộ và giải thoát.
Như vậy, Ngài không thể sử dụng cùng một bài pháp cho những
thính chúng khác nhau được!
[2]
Taisho 12, 524c8-9: Phàm hữu tâm giả định đương đắc thành
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
02-02-2008
04:34:12