Chương
I:
GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN
Lược
sử về Nguồn gốc Văn học Sanskrit Phật giáo:
Khoảng
thiên niên kỷ thứ 2 trước CN., bấy giờ có những bộ lạc
Indo-European đã chiếm giữ những vùng rộng lớn ở Iran, Asia
Minor, và Tây-Bắc Ấn, họ đã làm thay đổi hoàn toàn cục
diện xã hội ở những lãnh địa này. Trong những bộ lạc
Indo-European ấy, có giống dân Aryan xâm lăng lãnh thổ Ấn
Độ, phương ngữ của họ có thể được xem như là tổ tiên
của những phương ngữ của Ấn-độ và Iran. Kể từ đây,
Thánh thư Ṛgveda (Vệ-đà) của người Ấn ra đời. Từ ngôn
ngữ của Ṛgveda, chúng ta có thể tìm thấy dấu vết phát
triển vững vàng của Sanskrit cổ điển trong Saṁhitā và Brāhmaṇa
(Bà-la-môn).
Ấn
Độ, như chúng ta đã biết, là một nước đa thần giáo.
Nó nặng về sự “phân biệt chủng tộc và giai cấp, những
dữ kiện về ngôn ngữ càng nổi bật, quan trọng hơn thì
càng trở nên phức tạp. Những gì Saṅskrit trình bày bằng
ngôn ngữ của chính nó thì rõ ràng nền văn minh của Bà-la-môn
giáo và sự mở rộng nền văn minh đó trên đà gia tăng, dù
Bà-la-môn giáo đã phải đương đầu với sự cạnh tranh của
những đức tin mới đặc biệt trong đạo Phật và đạo Jain
từ thế kỷ thứ 5 tr. CN”.
Sau
khi đức Phật diệt độ chừng hơn 2 thế kỷ, những tác
phẩm văn học của Phật giáo trong thời kỳ đầu được
viết một phần bằng tiếng Phạn và một phần bằng phương
ngữ của vùng Trung Ấn, rồi sau đó đồng hoá thành Sanskrit
mà nó được mệnh danh là “Sanskrit pha trộn” (Mixed Sanskrit).
Vì nó được pha trộn bằng tiếng Prākrit chứ chưa phải
Sanskrit thuần tuý, mà có lẽ nó được tìm thấy trong việc
ứng dụng ở hai trung tâm học thuật tại đại học Nālanda
và Takkasilā (Taxila) thuộc vùng phía Bắc và Tây Bắc Ấn.
Khoảng
đầu thế kỷ thứ 2 tr. CN, Văn chương Sanskrit Phật giáo thuần
tuý bắt đầu xuất hiện mà rõ nét nhất là trong sự ly giáo
của Giáo đoàn Phật giáo. Trừ 3 Đại hội kiết tập Tam
tạng giáo điển đầu, có lẽ phải kể đến Đại hội kết
tập lần thứ 4 được tổ chức tại Kāśmīra (Kế Tân, tức
Pakistan ngày nay) chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN
dưới sự chủ trì của ngài Vasumitra (Thế Hữu) dưới sự
ủng hộ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca), mà nó không được
đề cập trong biên niên sử của Ceylon; vì Theravādins (những
người theo Thượng Toạ Bộ) đã không tham dự và không chấp
nhận Đại hội này. Tiếc rằng Luận Tạng của những trường
phái khác đã bị thất lạc, ngoại trừ những bài văn bản
hiện còn được duy trì ở Tích Lan, Trung Hoa và Tây Tạng
là những Luận Tạng của phái Theravāda (Thượng Toạ Bộ)
và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ).
Những
trường phái từ Tiểu thừa dần dần phát triển thành Mahāsaṅghikā
(Đại Chúng Bộ) và từ đây nó được đánh dấu bằng mốc
lịch sử của sự manh nha và xuất hiện của Phật giáo Đại
thừa chừng thế kỷ thứ I trước CN và thế kỷ thứ I sau
CN. Trong thời kỳ đầu vì sự phát triển mạnh của những
đoàn truyền giáo từ Ấn đến các nước lân cận khác nhau,
cho nên Sanskrit được dịch ra thành một vài thứ tiếng khác
nhau, như: Tây Tạng và Trung Hoa.
Tầm
quan trọng và giá trị chung của Saṅskrit được trình bày
qua đoạn văn như sau: “Ngôn ngữ Sanskrit này, khuynh loát cả
bất kỳ ngôn ngữ nào cổ xưa, nó có cấu trúc tuyệt vời;
hoàn hảo hơn cả Hy Lạp; hơn những bản sao chép của Latin,
và cũng đã thanh lọc tinh tế hơn; mà đang đem lại cho cả
hai của chúng một mối quan hệ mạnh mẽ hơn cả hai trong
động từ căn và những hình thức văn phạm, có lẽ đã có
thể được sản sinh ra bằng sự ngẫu nhiên; quả thật quá
mạnh đến nổi không một nhà ngữ âm học nào đã có thể
xem xét tất cả chúng mà không tin tưởng rằng chúng đã sinh
ra một số nguồn gốc chung, mà có lẽ tồn tại chẳng bao
lâu.” Tính đa dạng của nó được diễn tả như vầy:
“Saṅskrit là ngôn ngữ của khoa học, không những về văn
phạm, thi pháp hoạ, vũ trụ luận, ngữ nghĩa học, từ nguyên
luận, mà cũng không còn nghi ngờ gì về nghệ thuật thần
thông, như là thuật xem tướng và khoa nghiên cứu về quỷ
thần được ghi chép trong những văn bản của Phật giáo...”.
Thế
nhưng, sự xuất hiện của Saṅskrit Phật giáo tại Ấn Độ
chính là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử phát
triển của Phật giáo Đại thừa; vì nó đáp ứng được
nhu cầu của thời đại mới, chuyển mình và thoát xác ra
khỏi khung sườn cứng nhắc của những gì được xem như
là “khuynh hướng bảo thủ và cực đoan”. Hơn thế nữa,
Saṅskrit thuộc ngôn ngữ của giới thượng lưu, quý tộc;
trong khi đó Pali chỉ là phương ngữ phổ biến của hạng
thường dân. Giá trị của Saṅskrit được mô tả qua đoạn
văn như vầy:
“So
sánh chuẩn mức của Latin trong thời Trung đại thì vài điều
gì đó chưa thoả mãn; trong thời kỳ sớm hơn về việc sử
dụng Saṅskrit thì rõ ràng nó lại gần gũi nhiều hơn so với
phương ngữ của những tầng lớp thấp trong vô số sự đổi
thay của nó hơn là Latin ở Châu Âu trong thời Trung đại.
Sự tỉ giảo về Saṅskrit với những phương ngôn của những
mẫu tự của Aśoka (A-dục) thì đối với điều này có ý
nghĩa quan trọng; những khác nhau của chúng thì không mấy
thiết yếu ... Hơn thế nữa, những kết luận đạt được
như vậy là được hỗ trợ trực tiếp bằng chứng cứ của
drama (thuật diễn kịch, hay sự việc có kịch tính) này, trong
đó những Bà-la-môn và những vị vua, những người ở địa
vị cao và ngành giáo dục sử dụng Saṅskrit, trong khi những
cá tính thấp kém hơn sử dụng một số của Prākrit. Người
ta cố gắng để tranh luận chống lại quan điểm này bằng
cốt lõi mà drama là nguồn gốc trong Prākrit, còn Saṅskrit
chỉ được giới thiệu khi nó chính thức trở thành ngôn
ngữ chung của văn hoá”.
Văn
chương Sanskrit của Phật giáo Đại thừa thật sự đã manh
nha từ Đại hội kiết tập lần thứ 2, hình thành và
phát triển trong Đại hội 4, như sáu vấn đề đã nói trên.
Thêm vào đó, một số tác phẩm Sanskrit Phật giáo đã thật
sự xuất hiện trong thế kỷ thứ 2 tr. CN, khiến Pali trở
nên mờ nhạt và suy yếu. Diễn biến về sự thăng trầm của
lịch sử Prākrit mà nó gồm cả Pali trong đó cùng với sự
ảnh hưởng lớn của nền văn chương Sanskrit Phật giáo như
sau. Chúng ta đọc:
“Trong
thế kỷ thứ 2 tr. CN, những dấu vết về sự ảnh hưởng
của Sanskrit xuất hiện; trong thế kỷ kế đó bằng một sự
quan sát được tìm thấy mẫu tự đầu tiên mà có lẽ toàn
bộ được mệnh danh là Sanskrit, và những học thuyết Sanskrit
đang trên đà gia tăng. Trong thế kỷ thứ nhất sau CN, Prākrit
vẫn còn thịnh hành, nhưng, dù nó cũng nổi bật trong những
thế kỷ kế tiếp, chúng ta cũng tìm thấy mẫu tự Sanskrit
vĩ đại của Rudradāman mà nó biểu lộ rõ ràng sự có mặt
của nền văn chương Sanskrit kỹ xão. Trong thế kỷ kế tiếp,
Sanskrit và Prākrit hài hoà. Trong thế kỷ thứ 4, Prākrit trở
nên khan hiếm với sự phục hưng của Bà-la-môn giáo dưới
triều đại Gupta, và từ thế kỷ thứ 5 nó hầu như biến
mất ở Bắc Ấn. Một sự tiến triển song hành đã đang tiếp
tục bằng nền văn chương; trong những tác phẩm của Phật
giáo như là Lalitavistara (Kinh Đại Trang Nghiêm) và Mahāvastu
(Đại Sự), chúng ta nhận thấy rằng những kết quả của
một sự nỗ lực để chuyển hoá Prākrit vào Sanskrit, và những
kết quả tương tợ là được tìm thấy trong những lãnh vực
khác, như những luận thuyết về dược liệu trong bản thảo
của Bower. Từ điều này, giới Phật tử chẳng bao lâu đã
làm thăng hoa đến giai đoạn mà trong đó Sanskrit đã được
sử dụng một cách thích đáng, như trong Divyāvadāna (Thiên
Thí Dụ), có lẽ thuộc thế kỷ thứ 2 sau CN”.
Tuy
trong hai Đại hội kiết tập đã có một số tranh luận
về Luật và Luận rồi, nhưng nó chưa phát triển mạnh. Mãi
đến thế kỷ thứ 2 tr. CN, nền văn chương Sanskrit Phật giáo
mới bắt đầu ảnh hưởng mạnh và được phổ biến; từ
đó cho đến thế kỷ thứ 4 sau CN ngày càng phát triển và
gây ảnh hưởng rất lớn trên toàn lãnh thổ Ấn Độ và
thậm chí kéo dài cho đến thê kỷ thứ 12.
Sau
khi đức Thế Tôn diệt độ, những quan điểm mâu thuẫn về
giáo lý cũng như sự giải thích khác nhau về những giới
điều và nhiều nguyên nhân nội tại và ngoại tại khác đã
khiến cho Giáo đoàn Phật giáo chia ra thành nhiều bộ phái.
Thừa cơ hội này, ngoại đạo đã tìm cách trà trộn vào
hàng ngũ Tăng sĩ với mưu đồ gây mất uy tín và thanh danh
của Giáo đoàn, mặt khác tìm cách đồng hoá rất vi tế tín
đồ Phật giáo thành Ấn giáo.
Để
ghi chép lại những lời dạy của đức Thế Tôn, Tam tạng
Pali (P_Tipiṭaka; S_Tripiṭaka) đã được kiết tập trong ba
Đại hội đầu tiên. Từ đó, nó được truyền bá và trở
nên phổ biến khắp nơi. Tam tạng Pali là nền tảng quan trọng
để đối chiếu hoặc nghiên cứu khi bàn luận về, hoặc
so sánh với giáo điển của Phật giáo Đại thừa và cũng
đã cung cấp nhiều phương thức tu tập, thiết thực và phổ
biến nhất. Đây là để nói, sự ly giáo của Giáo đoàn
đã có mầm móng manh nha trong Đại hội kiết tập lần II,
bấy giờ hai bộ Luật bằng tiếng Saṅskrit của Mahāsaṅghika
(Đại Chúng Bộ) và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ) đã
được biên soạn rồi nhưng chưa công bố trong Đại hội
lần này.
Ngoài
ra, bộ Mahāvastu (Đại Sự) bằng tiếng Saṅskrit và Prākrit
(phương ngữ Ấn) của Lokottaravāda (Thuyết Xuất Thế Bộ),
con đẻ của Mahāsaṅghika, đã được hình thành chừng thế
kỷ thứ 2 tr. CN. Trong Đại hội III, Kathāvatthu (Những Điểm
Tranh Luận) được biên soạn bằng Pali, nhưng chỉ liên quan
đến Theravāda. Riêng Đại hội IV tổ chức tại Kāśmīra,
chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN, do Vasumitra (Thế
Hữu) chủ trì, dưới sự hỗ trợ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca),
nhưng Theravāda không tham dự và không có trong Biên niên sử
của Ceylon (Tích Lan). Có rất nhiều lý do và nguyên nhân vì
sao Theravāda không tham dự ở Đại hội lần thứ IV, mà chúng
đã xãy ra trước đó bao quát cả sự bất đồng quan điểm
và sự giải thích những giới điều khác nhau cũng như sự
xuất hiện của một số tác phẩm thuộc về văn chương Saṅskrit
của Phật giáo Đại thừa.
Tóm
lại, lịch sử văn học Saṅskrit là pháp bảo vô giá của
Phật giáo đại thừa nói riêng và thế giới nói chung. Tiếc
rằng Phạn bản đã bị thất lạc quá nhiều; do đó, Hán
tạng đã phải đóng vai trò rất quan trọng trong tập sách
nhỏ này. Nếu khi nếm một giọt nước biển mà biết được
vị mặn của đại dương, thì khi để tâm chuyên chú đọc
một phần nhỏ trong Tam Tạng Phật giáo, âu đó có lẽ cũng
giúp ta hiểu thấu được một phần pháp vị thuần giải
thoát.
Chương
II:
VĂN HỌC
SAṄSKRIT PHẬT GIÁO
TRONG TAM TẠNG
(TRIPIṬAKA)
VĂN HỌC SANSKRIT
TRONG LUẬT TẠNG
Khái
quát về Luật Tạng Saṅskrit Phật giáo:
Lịch
sử Văn học Luật Tạng Saṅskrit có lẽ được cứ vào thời
điểm ly giáo của Giáo đoàn Phật giáo. Không những về tư
tưởng văn học mà còn về quá trình phát triển Luật Tạng
của những trường phái nổi bật như Sarvāstivāda, Lokottaravāda
làm cơ sở chuyển tiếp từ Hīnayāna đến Mahāyāna xuyên
qua cửa ngỏ và nhịp cầu của Mahāsaṅghikā. Phạn bản (có
pha trộn phương ngữ Ấn_Prākrit) quan trọng nhất và hoàn
hảo nhất trong những bộ Luật của các trường phái khác
là Mahāvastu. Ngoài ra, bộ Mūlasarvāstivāda của phái Sarvāstivāda
cũng sẽ được đề cập khái quát về một vài nét chính
trong nội dung của nó.
Theo
sự thống kê mang tính ước lệ chung của các sử gia, có
đến 20 trường phái Phật giáo. Dĩ nhiên mỗi một đều có
Luật Tạng riêng để duy trì và chỉnh đốn hội chúng của
trường phái mình, nhưng chẳng may Luật Tạng về Saṅskrit
của những trường phái này phần lớn đã bị thất lạc.
Trong quá trình góp nhặt, những mảng về Prātimokṣa-Sūtra
(Giới Kinh) của Sarvāstivādins (những người theo Nhất Thiết
Hữu Bộ) cũng như những văn bản khác thuộc Luật Tạng Saṅskrit
đã được phát hiện ở Central Asia (Trung Á) và Eastern Turkestan
(Đông Thổ Nhĩ Kỳ) và một số ít ở Nepal, mà chúng ta có
thể tìm thấy trong những bản dịch của Trung Hoa và Tây Tạng.
1.
Mahāvastu (Đại Sự_the Book of the Great Events):
Quan
trọng nhất là bộ Mahāvastu của Lokottaravādins (những người
theo Xuất Thế Bộ) cũng được gọi là Caityakas, con đẻ của
Mahāsaṅghikas. Nó cho chúng ta biết về những chuyện tiền
thân của đức Phật cũng như nhiều vấn đề pha tạp khác,
đặc biệt về lịch sử của Ngài, mà nó được cân nhắc
như là chủ đề chính đã đóng góp khá nhiều đến sự phát
triển của Đại thừa sau này. Trong phần nội dung chính,
nó tương đồng với Nidānakathā trong Pali, ghi lại tiểu sử
của đức Phật, mà cuộc đời của Ngài có lẽ được phân
ra làm ba thời kỳ.
a)
Cuộc đời của một vị Bồ-tát ở vào thời đức Phật
Dīpaṅkara (Nhiên Đăng), và kể lại sự xuất hiện của Ngài
trong thời quá khứ.
b)
Giới thiệu cho chúng ta biết rằng Bồ-tát đang trú ở cung
trời Tuṣita (Đâu Suất), và xác định sự tái sanh vào thai
tạng của Hoàng Hậu Ma-gia. Nó kể lại những điều phi thường
từ khi Thái Tứ được sinh ra, sự xuất gia, sự hàng phục
ma quân và cuối cùng Ngài đã chứng ngộ tại cội Bồ đề.
c)
Giống như những đặc trưng chính trong Mahāvagga (Đại Phẩm)
của Nam Tạng, Mahāvastu liên quan đến sự chuyển hoá và những
cuộc tọa đàm đầu tiên của Giáo đoàn cũng như lịch sử
của sự hình thành cộng đồng tu viện. Đây là tại sao nó
thuộc về Luật Tạng.
Ngoài
ra, nó là một tác phẩm định rõ về văn chương nghệ thuật,
song không kém phần phức tạp; vì thiếu tính lôgic và những
dụ về chuyện tiền thân của đức Phật còn mang tính giáo
điều. Thêm vào đó, cùng một câu chuyện tiền thân, mà nó
thường lập lại đến vài ba lần, ban đầu theo thể văn
xuôi nhưng sau bằng những vần kệ; còn về ngôn ngữ của
nó thì chưa mấy thống nhất, thậm chí cả kệ tụng đã
quá lỗi thời vì ít thông dụng. Tựu trung, có thể nói
rằng toàn bộ tác phẩm này_văn xuôi cũng như bằng kệ_được
viết bằng ‘Saṅskrit pha trộn’ (Mixed Saṅskrit).
Về
phương diện giáo lý, nó duy trì nhiều truyền thống cổ và
giáo lý của đức Phật, như: tất cả các pháp thế gian là
không thật, còn tất cả các pháp xuất thế là thật,
chứ không phải đơn thuần là những giáo lý đặc thù của
riêng Lokottaravādins (những người theo Xuất Thế Bộ), như:
Catvāri-ārya-satyāni (Bốn chân lý), Aṣṭa-āryā-mārga (Bát
chánh đạo), Pratītyasamūtpada (Duyên sinh), Anitya (Vô thường)
về sự hình thành của một chúng sanh (các uẩn), không hiện
hữu của linh hồn (ātman) ...
Hơn
thế nữa, nó còn hàm tàng nhiều hương vị của Đại thừa
với những điểm nổi bật về khái niệm thân Phật, như:
Sắc thân (rūpakāya hay nirmāṇakāya), mà ngài Paramārtha (Chân
Đế) giải thích là vô hạn. Vô hạn ở đây có nghĩa là
“bất khả tư nghì” và “bất khả lượng” mà bấy
giờ đã thịnh hành giữa Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ) và
Lokottaravādins (những người theo Xuất Thế Bộ) với tư tưởng
chuyển tiếp đến Đại thừa. Bên cạnh đó, nó mô tả một
quan điểm mới bằng sự giải thích về Thập Địa mà xuyên
qua đó một vị Bồ-tát phải trải qua mới có thể chứng
được Phật quả.
Ngoài
ra những đặc trưng về Đại thừa cũng như một số đoạn
văn của nó có ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật điêu
khắc ở Gandhāra , mà nó thuộc về những thế kỷ đầu sau
Công Nguyên. Nhìn chung, tác phẩm này chuyên tải một nội
dung khá cổ, cho nên niên đại thuộc nguồn gốc của nó có
lẽ lui xa về thế kỷ thứ 2 tr. CN, mà thậm chí nó còn mở
rộng và kéo dài đến thế kỷ thứ 4 sau CN; vì có những
sự kiện được thêm vào ở những thời gian sau đó nữa.
Đến
thế kỷ thứ tư sau CN, khi trường phái Yogācāra (Du-già) xuất
hiện, Mahāvastu chỉ được xem như là sự pha trộn của giáo
lý đại thừa chứ không phải là thần thoại của đại thừa,
và từ đó Yogācāra có lẽ cũng đã có vay mượn từ Mahāvastu
này, mà tựa đề đầy đủ của nó là Mahāvastu-avadāna (Mahāvastovadāna).
Ngoài Mahā-vastu như đã đề cập, lịch sử của đức Phật
có thể được tìm thấy trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ: những
chuyện thí dụ về chư Thiên).
2.
Mūlasarvāstivādavinaya: (Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ
Tỳ-nại-gia):
Bộ
Luật Mūlasarvāstivādavinaya của Phái Nhất Thiết Hữu Bộ
bao gồm nhiều truyền thuyết của Phật giáo liên quan đến
Hội nghị ở Kashmir và Tây Bắc Ấn. Mūla-sarvāstivāda này,
theo Nalinaksha Dutt, được phát hiện ở Gilgit, có thể đối
chiếu với bản dịch của Tây Tạng , song chúng ta chỉ dựa
vào bản dịch của Trung Hoa thuộc nền văn chương Luật Tạng
của Sarvāstivāda. Nó nói rằng những bản dịch về Luật
của Sarvāstivāda và bộ Mūlasarvāstivāda dường như không
có khác nhau.
Nếu
dựa vào Thư Mục của Nanjio, thì chúng ta có thể thấy được
thư mục thuộc Văn chương kinh điển của Trung Hoa, mà Vinaya
(Luật_Tỳ-nại-gia) của Sarvāstivāda gồm có 7 Bộ:
1)
Sarvāstivāda-vinaya-mātṛkā (Tát-bà-đa-bộ Tỳ-ni Ma-đắc-lặc-già),
Saṅghavarman (Tăng-già-bạt-man) dịch năm 445 sau CN, Đại Chính
[ĐC] 23, 1441.
2)
Sarvāstivāda-vinaya-vibhāṣā (Tát-bà-đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa), chưa
rõ người dịch, phát hiện năm 350-431 sau CN, ĐC, 23, 1440.
3)
Sarvāstivāda-vinaya-saṅgraha (Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-gia
Nhiếp Tụng?), Jinamitra (Thắng Hữu) soạn, ngài Nghĩa Tịnh
dịch năm 700 sau CN.
4)
Daśādhyāya-vinaya-nidāna (Thập Tụng Tỳ-nại-gia Ni-đà-na),
ngài Vimalākṣa (Tỳ-ma-la-xoa) dịch.
5)
Daśādhyāya-vinaya-bhikṣu-prātimokṣa (Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa
Giới Bổn), ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) dịch năm 404 sau
CN, ĐC 23, 1436.
6)
Daśādhyāya-vinaya-bhikṣuṇī-prātimokṣa (Thập Tụng Tỳ-kheo-ni
Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bổn), Fayin soạn năm 420-479 sau CN,
ĐC 23, 1437.
7)
Daśādhyāya-vinaya (Thập Tụng Luật) hay Sarvāstivāda Vinaya,
Puṇyatara (Phất-nhã-đa-la) cùng với Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập)
dịch năm 404 sau CN, ĐC 23, 1435.
Trong
7 Bộ này, bộ thứ 7 được xem là quan trọng nhất.
Giống
như Mahāvastu của Lokottaravādins, Mūla-sarvāstivāda giới thiệu
nhiều tình huống liên quan đến những đời sống của đức
Phật. Mūlasarvāstivāda này bao gồm 15 chương thuộc về
Luật Tạng. Trên cơ sở của Bộ Luật Mūlasarvāstivāda
này, một số truyền thuyết trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ)
phần lớn cũng đều được vay mượn từ nó.
Chương
III:
VĂN HỌC SANSKRIT
TRONG KINH TẠNG
Khái quát về Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo:
Trong
lịch sử Văn học Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo, nhiều tác
phẩm đã có mặt từ thế kỷ thứ I tr. CN; nếu không nói
là sớm hơn. Còn những tác phẩm khác lần lượt xuất hiện
từ thế kỷ thứ I sau CN cho đến những thế kỷ kế tiếp
sau đó.
Xấp
xỉ chừng 5 thế kỷ sau khi đức Thế Tôn diệt độ, Phật
giáo Đại thừa đã bắt đầu xuất hiện và phát triển.
Song song với sự phát triển này, những tác phẩm của Đại
thừa cũng lần lượt xuất hiện, mà chúng đã đóng góp rất
lớn cho sự truyền bá chánh pháp, lợi lạc nhân thiên đúng
như những lời huấn thị và hạnh nguyện lợi sanh của đức
Thế Tôn cách đây hơn 26 thế kỷ.
Bí
tạng của Như Lai, như chúng ta đã biết, là một nền văn
chương khổng lồ và vĩ đại, bao la và rộng lớn, mà những
ai một khi đã thấy danh mục Phạn bản của Nanjio, thì chắc
hẳn không ít người ngán ngẫm và choáng ngợp, dù vẫn biết
toàn bộ Văn chương Sanskrit Phật giáo được cân nhắc như
là nhịp cầu chuyển tiếp từ Hīnayāna đến Mahāyāna nhằm
mở toang những nếp gấp vô minh trong tiềm thức của loài
hữu tình, những cửa ngõ giao thoa cho sự tiến triển tâm
linh vượt ngoài tầm vĩ mô và vi mô của khoa học ngày nay.
Để
nhấn mạnh đến tầm quan trọng về nền văn chương kinh tạng
vĩ đại này và để nêu bật lên giá trị bất biến trong
thời-không gian xuyên qua những dòng chuyển biến tâm linh siêu
thế của Như Lai đã đang và sẽ giúp cho con người giải
thoát khổ đau, nó hàm súc nhưng siêu hình thù thắng, thiết
thực nhưng mầu nhiệm huyền vi. Phật giáo đặc biệt lấy
con người làm trung tâm trên tinh thần bình đẳng và vô ngã
vị tha, nhằm thể hiện tính nhân bản và thực thi Bồ-tát
hạnh. Vậy thử nhìn lại những tác phẩm nào mà chúng nghiễm
nhiên quyết định cho những cố hương của Phật giáo Đại
thừa nói chung và nền văn chương Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo
nói riêng.
Theo
ý kiến của nhiều học giả cho rằng Đại thừa không có
một kinh nào sở hữu của riêng nó bởi lý do đơn giản vì
Đại thừa không tiểu biểu cho một trường phái thống nhất
nào cả. Ngược dòng thời gian, quả thật có một sự giải
thích về Đại hội kiết tập kinh điển lần thứ IV được
tổ chức tại Kāśmīra, do ngài Vasumitra (Thế Hữu) chủ trì,
dưới sự ủng hộ của vua Kaniṣka vào thế kỷ thứ I sau
CN, nhưng nó vẫn còn nhiều nghi ngờ; vì không biết có kinh
điển nào được thành lập ở Đại hội này hay không, nếu
có, chúng bằng ngôn ngữ gì và thuộc về trường phái nào.
Trong
khi đó, một văn bản Trung Hoa do ngài Huyền Trang dịch liên
quan đến Bodhisattva-piṭaka (Bồ-tát Tạng) bao gồm một danh
mục dài của những bản dịch Đại thừa, một Tạng Luật
và một Tạng Luận và tương tự cũng có một lốc danh mục
với vô số kinh điển Đại thừa. Thế nhưng, qua sự cố
gắng để phân loại về kinh điển Đại thừa hiện còn bằng
Sanskrit, theo Nepál, thì chỉ còn chín kinh, mà chúng được
mệnh danh là Vaipulya-sūtras (những kinh Phương Đẳng/Quảng).
Chín
kinh này là: Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā (Tiểu Phẩm Bát
Nhã), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), Lalitavistara-sūtra
(Kinh Đại Trang Nghiêm), Laṅkāvatāra hay Saddharmalaṅkāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng Già), Suvarṇa-prabhāsa-sūtra (Kinh Kim Quang Minh), Gaṇḍavyūhasūtra
(Kinh Hoa Nghiêm), Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata-guṇajñāna-sūtra
(Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh Thiền-định
Vương) và Daśabhūmīśvara-sūtra (Kinh Thập Địa).
Theo
dòng diễn biến của lịch sử, sau thời đại của vua Aśoka
(A-dục), một vị vua hộ pháp đắc lực và nổi tiếng nhất
của Phật giáo, Ấn Độ đã phải trải qua những triều đại
khác nhau... Về sau đáng chú ý nhất là triều đại của vua
Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca_tiền bán của thế kỷ thứ 2 tr. CN)
với một đế quốc lớn nhất Nam Á, nó trải dài từ Trung
Á đến Afghanistan và bao quát cả Tây Bắc và những lãnh địa
ở Bắc Ấn.
Ở
Trung Hoa, có thể nói rằng sớm nhất trong lịch sử Văn
học Phật giáo Trung Hoa là Kinh Tứ Thập Nhị Chương do Kāśyapa
Mātaṅga (Ca-diếp Ma-đằng) Dharmaranya (Trúc-pháp-lan), thời
Hán Minh Đế, ĐC 17_784. Một thế kỷ sau, Kinh An-ban-thủ-ý,
một của 34 tác phẩm Hīnayāna trong số 40 tập do ngài An Thế
Cao, Tỳ-kheo Parthian (thuộc nước Pa-thia xưa ở Tây Á) đến
Trung Hoa, dịch, ĐC 15_602. Sau đó có nhiều Kinh điển Saṅskrit
Đại thừa Phật giáo được biên tập sớm nhất trong thời
đại Kuṣāna (Nguyệt Thị), như Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā-sūtra
(Kinh Đạo Hành Bát Nhã), một của 14 tác phẩm trong số 27
tập, ĐC 8 _224, do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm), một Tỳ-kheo
của thời Kuṣāṇa đến Trung Hoa, dịch. Đạo Hành Bát
Nhã với Nội dung của nó đều tương đồng với bản dịch
Tiều Phẩm Bát Nhã Ba-la-mật Kinh của ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập)
vào thời Hậu Tần, ĐC 8_227. Ngoài ra, còn nhiều kinh khá phổ
biến khác như Śūraṅgamasamādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng-nghiêm
Tam-muội) do ngài Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch. Tiếc rằng
nó đã bị thất lạc, nhưng nội dung của nó có thể được
suy luận từ bản của ngài Kumārajīva, thời Tầng, ĐC 15_642;
Mahāratnakūṭasūtra (Kinh Đại Bảo Tích) Vimalakīrti-nideśa
(Kinh Duy Ma Cật), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa),
Avataṃsaka-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Bhadrapālasūtra (Kinh Ban Châu
Tam Muội), Sukhāvatīvyūha-sūtra (Kinh A Di Đà)...phần lớn chúng
có mặt từ thế kỷ thứ I tr. CN.
Nếu
dựa vào truyền thuyết, thì người ta cho rằng đức Phật
thuyết Avataṁsaka sūtra (Kinh Hoa Nghiêm) đầu tiên, song vì
nghĩa lý quá cao siêu vi diệu, cả hội chúng lúc bấy giờ
đều ngơ ngác, chỉ một số ít Bồ-tát thượng căn thượng
trí mới có thể lãnh hội; vì lý do này, sau khi quán sát lại
căn cơ của tất cả chúng sinh, Ngài bắt đầu thuyết kinh
Āgama (A-hàm) , Prajñā (Bát Nhã), Vaipulya (Phương Đẳng), Saddharmapuṇḍarīka
(Pháp Hoa) và Mahānirvāṇa (Niết-bàn).
Trong
9 kinh vừa nêu trên, phần này chỉ trình bày khái quát 7 kinh.
Ngoại trừ hai kinh: Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata-guṇajñāna-sūtra
(Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh Thiền-định
Vương) còn nhiều nghi ngờ, cho nên chưa đề cập và sẽ được
bổ khuyết sau.
Nhìn
chung, tại Ấn Độ phần lớn những kinh điển Phật giáo
Đại thừa đều xuất hiện tại vùng Nam Ấn. Sớm nhất là
Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát-nhã, hay Bát
Thiên Tụng Bát-nhã).
Kinh
Tạng Sanskrit Phật giáo:
Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā
(Tiểu Phẩm Bát Nhã):
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Bản
kinh cổ nhất và sớm nhất trong nền văn chương kinh tạng
Sanskrit Phật giáo là Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā. Kinh
này có mặt vào thế kỷ thứ I tr. CN, trong thời Kuṣāṇa,
do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch, 10 quyển, ĐC 8_224, với
đề kinh là Đạo Hành Bát Nhã Kinh, cũng là bản dịch từ
Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā, và được dịch ra tiếng
Trung Hoa vào năm 179 sau CN. Nội dung của nó cũng giống như
Tiểu Phẩm Bát-nhã Kinh, do ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập),
dịch vào năm 408 sau CN, 10 quyển, ĐC 8_227. Tuy nhiên, việc
biên soạn bản kinh này là một quá trình phức tạp; vì trải
qua nhiều giai đoạn, và thậm chí mở rộng đến cả 1.000
năm.
Nguồn
gốc của nó, theo ngài Huyền Trang, bắt đầu từ Nam Ấn hoặc
Đông Nam, sau đó được truyền đến phía Đông rồi phía
Bắc. Nó là chủ đề của một vài sự tranh luận. Ban đầu
nó có lẽ phát triển giữa Mahāsāṅghikas ở Nam Ấn, tại
nước Andhra trên sông Kistnā. Bấy giờ phái này có hai tu viện
nổi tiếng, mà tên gọi của chúng cũng là danh xưng của hai
phái: Pūrvaśailas (Đông Sơn Bộ) và Aparaśailas (Tây Sơn Trụ
Bộ). Hai phái này có ý nghĩa quan trọng vì ba lý do: a) họ
có một bản bằng Prākrit; b) nói về Dharmadhātu (Pháp giới)
trong cùng ý nghĩa như Bát Nhã Ba-la-mật; và c) việc tu tập
của họ đã thực sự chuẩn bị lát đường cho việc tu tập
Bát Nhã.
b.
Phân loại:
Tuy
đồng một loại Kinh văn Bát-nhã, nhưng có lẽ do quan điểm
và tư tưởng đặc thù của những dịch giả khác nhau, ở
những thời đại khác nhau, cho nên khi phiên dịch có những
tựa đề khác nhau. Tuy nhiên, về tư tương cốt lõi trong nội
dung của nó vẫn là một, nhưng Kinh này được mang nhiều
tên khác nhau, như sau:
- Kinh
Đạo Hành Bát-nhã do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch (10 quyển,
đời Hậu Hán, ĐC 8_224), khi được phân loại, thuộc về
cùng nhóm với Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm
Bát-nhã) do ngài Kumārajīva dịch (10 quyển, đời Hậu Tần,
ĐC 8_227). Nó được xếp vào cùng nhóm với bản Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā
do ngài Kumārajīva dịch, tương xứng với quyển thứ 4 và
thứ 5 trong Mahāprajñā-pāramitā-sūtra (Kinh Đại Bát Nhã Ba-la-mật-đa),
do ngài Huyền Trang dịch, 600 quyển, đời Đường, ĐC 5_220.
-
Kinh Quang Tán (hay Kinh Quang Tán Bát-nhã), do Dharmarakṣa (Trúc
Pháp Hộ) dịch (10 quyển, đời Tây Tấn (265-316), ĐC 8_222)
tương đương với Phóng Quang Bát-nhã Kinh, thuộc Prākrit (phương
ngữ Ấn), do Vô-la-xoa dịch (20 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 8_221),
tương đương với Đại Phẩm Bát-nhã Kinh hay (Kinh Đại Bát-nhã
Ba-la-mật-đa), do ngài Kumārajīva dịch, (207 quyển, đời Hậu
Tần, ĐC 8_223), và Pañcaviṃśati-sāhasrikā-prajñāpāramitā
(Kinh Nhị Thập Ngũ Thiên Tụng Bát-nhã Ba-la-mật) và quyển
thứ 2 trong Mahāprajñā-pāramitā (Đại Bát-nhã Ba-la-mật).
Những Kinh Bát-nhã khác thuộc hệ Saṅskrit hiện còn, là:
-
Śatasāhasrikāprajñā-pāramitā (Bách Thiên Tụng Bát-nhã), 1
quyển, ĐC 5_220.
-
Suvikrāntavikrāmiparipṛcchā (Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa)
ĐC 5_220, quyển 16.
-
Vajracchedikā (Kim-cang), ĐC 5_220, quyển thứ 9, và ĐC 8_230, 235
tới 239.
-
Adhyardhaśatikā, ĐC 5_220, quyển thứ 10, và ĐC 8_240 tới 244.
-
Prajñāpāramitāhṛdyasūtra (Tâm Kinh Bát-nhã Ba-la-mật), ĐC
5_ 249 tới 256.
Những
bản Saṅskrit vừa nêu trên đều hiện còn và được
dịch sang tiếng Tây Tạng và Trung Hoa, phần lớn những bản
dịch này đều là đa đồng tiểu dị.
c.
Khái lược về Nội dung:
Đa
số những Kinh văn Đại thừa ban đầu thường xuất hiện
trong hai hình thức: kệ tụng và thể văn xuôi; cũng vậy kinh
văn Bát-nhã không ngoài thể thức ấy. Tác phẩm này bắt
đầu bằng những vần kệ giới thiệu, trong đó sự hiện
thân trí tuệ Bát-nhã được tán dương như là “nguồn phát
sinh ra trí tuệ tối thượng, đấng mẫu từ đáng yêu của
tất cả những bậc siêu vĩ nhân. Ngài với tâm của mình
an trụ kiên cố nơi đích tối thượng”, “như đức Phật
Bà từ ái của tất cả chúng sanh”. Ngay từ chương đầu,
một biện chứng pháp chuẩn mực mà nó được thẩm định
bằng trí tuệ Bát-nhã đã nhắc nhở chúng ta đừng vấp phải
phương thức tranh luận ngụy biện của những kẻ ngoại đạo
và những triết gia ngụy biện của Hy Lạp cổ đại. Toàn
bộ bản dịch về Văn học Bát Nhã được viết theo thể
văn xuôi, trừ kệ tụng giới thiệu. Bản cổ nhất Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā
(Tiểu Phẩm Bát Nhã) có nghĩa là 8.000 dòng Bát-nhã Ba-la-mật,
được trình bày trong 32 chương. Bản này được ngài Lokakṣema
đặt tên là Đạo Hành Bát-nhã Kinh, 10 quyển, 30 Phẩm; còn
ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) đặt tên là Tiểu Phẩm Bát-nhã,
10 quyển, 29 Phẩm.
Theo
Phật pháp đại hệ, Kinh này thuộc về pháp giới không huệ
học, hay pháp tướng không huệ tông. Nó kể lại cuộc vấn
đáp giữa đức Phật với tôn giả Subhūti (Tu-bồ-đề). Trước
hết nó đề cập đến những vị Bồ-tát thành tựu được
Prajñā-pāramitā (Trí tuệ Ba-la-mật), hay sự chứng ngộ dharmalakṣāṇa
(Pháp tướng), và cùng với pháp tướng bất tương ly.
Điều này ngụ ý rằng ‘khi được nói về Bồ-tát, thì
phải thấy rằng không có một pháp nào được gọi là Bồ-tát,
và cũng không có một pháp nào được gọi là trí tuệ Ba-la-mật’.
Bởi vì vị ấy không thể nhận ra, cũng không thể hiểu,
cũng không thể thấy một pháp nào được gọi là Bồ-tát,
cũng không thấy một pháp nào được gọi là trí tuệ Ba-la-mật’.
Nếu khi được chỉ ra như thế mà tâm Bồ-tát vẫn không
kinh hãi, không dao động và không bị thối thất; nếu vị
ấy không chán nản, không dao động và không kinh hãi, thì
vị ấy mới thật sự là Bồ-tát chơn chánh, là bậc siêu
vĩ nhân, xứng đáng xiển dương Bát-nhã Ba-la-mật’. Điều
này phải được hiểu đúng bằng trí tuệ của một vị Bồ-tát,
và cũng là sự giáo hoá bằng trí tuệ Ba-la-mật. Khi chính
vị ấy xiển dương như vậy, với giáo lý như vậy, thì sự
xiển dương của vị ấy bao quát cả trí tuệ Ba-la-mật’.
Xa
hơn nữa, khi một vị Bồ-tát hay thực hành Bát-nhã Ba-la-mật
và phát triến nó, thì vị ấy không hề móng niệm tự hào
về tâm giác ngộ; bởi cái được gọi là tâm ấy thật sự
không phải là tâm, vì cội nguồn cốt lõi của tâm là sự
chói sáng của tuệ giác trong ngần. Chớ tư niệm rằng tâm
hiện hữu, hoặc một người có thể hiểu bằng trạng thái
về sự vắng bóng của tâm, hoặc tâm có mặt, hoặc tâm không
có mặt, vì tâm không có sinh cũng chẳng có diệt.... Nếu
một Bồ-tát tự nghĩ rằng ‘vô số chúng sanh được đức
Như Lai dẫn đến Niết-bàn’, thật ra ‘không có chúng sanh
nào được dẫn đến Niết-bàn, cũng không có chúng sanh nào
chứng đắc Niết-bàn’. Vì sao? Vì tất cả chỉ là hiện
tượng’.... Vậy những gì được mệnh danh đều không cố
định ở bất kỳ nơi đâu, hoặc không cố định; không phải
không cố định, cũng không phải không không cố định. Vì
sao? Vì nó không có tồn tại; đó là tại sao nó không cố
định ở bất kỳ nơi đâu, cũng không phải là không cố
định; không phải không cố định, cũng không phải là không
không cố định. Đây là sự huỷ diệt ngã chấp. Sự
huỷ diệt pháp chấp là không móng tâm, không khởi niệm đối
với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Trong
32 Chương, ngoài Chương 1 như đã vừa đề cập ở trên, nó
còn nhấn mạnh đến sự huỷ diệt ngã chấp, như đã đề
cập, trình bày về nghĩa lý của Bồ-tát và sự chứng đắc.
Chương
2 giới thiệu về Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn), làm thế nào
để an trú nơi tánh không hoặc Bát-nhã Ba-la-mật. Nó cũng
tán dương những bậc Thánh với tiêu đích chói sáng của
họ bằng sự thực nghiệm Bát-nhã Ba-la-mật cùng với tính
bất diệt siêu việt thời-không của nó.
Từ
Chương 3 đến Chương 7, nó nhấn mạnh đến sự tôn kính
Bát-nhã Ba-la-mật; vì nó là nguồn thiện pháp bất khả tư
nghì, là nguồn công đức vĩ đại hơn bất kỳ món quà tâm
linh nào khác, là sự linh nghiệm của đại thần chú vì nó
rất vĩ đại và siêu việt, và những diệu dụng khác bới
giá trị tối thượng của Bát-nhã Ba-la-mật cũng như sự
hỷ lạc cúng dường những công đức tối thượng, và cần
phải tránh những quan điểm đối lập về những vấn đề
siêu hình.
Chương
8 đề cao sự thẩm thấu trí tuệ Bát-nhã một cách rốt ráo
là vô thượng tuệ, bẻ gãy mọi ý niệm chấp thủ và chấp
thủ tưởng, vì tất cả được ví như tiếng vang, như hư
không.
Chương
9 và 10 tán dương sự chuyển pháp luân với diệu dụng của
Bát-nhã Ba-la-mật, sự mầu nhiệm và công năng hành trì Bát-nhã
Ba-la-mật của hàng Bồ-tát được chư Phật khen ngợi.
Chương
11, 12 và 13 nói đến những hành động của chúng ma, hiển
thị cõi Ta- bà, và làm thế nào Như Lai có thể biết được
cõi này và tâm của tất cả chúng sanh, hết thảy đều là
giả danh, là không thật, mà đáng chú ý là năm thuộc tính
(bất khả tư, b/k nghị, b/k lượng, b/k kế và tất cả đều
bình đẳng) của nó. Hai Chương kế tiếp nói về sự tái
sinh trong quá khứ và tương lai, những chướng ngại về nghiệp
quá khứ của hàng Bồ-tát, và công hạnh mà một Bồ-tát
làm thế nào để giáo hóa bằng trí tuệ Ba-la-mật.
Chương
16, 17 và 18 cho thấy các pháp là “như thị” cùng với những
thuộc tính, những biểu hiện và những dấu hiệu bất biến
khác nhau và nêu bật lên tánh không trong Bát-nhã Ba-la-mật.
Chương
19 đến 27 bàn về những nữ thần của sông Hằng, phương
tiện thiện xão, ma lực/nghiệp, tình pháp lữ, những vị
trí cao thượng của Bồ-tát trong chúng Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn),
sự lừa gạt của ma quân, sự trau dưỡng Bát-nhã Ba-la-mật
của hàng Bồ-tát, chỉ ra tất cả các pháp đều là ảo giác;
và cốt lõi của Bát-nhã Ba-la-mật xuyên qua sự giác ngộ
cũng như sự an trụ không tánh.
Ba
Chương tiếp theo là chuyện kể về Avakīrṇakusuma, Śadaprarudita
và con gái của thương nhân cũng như chuyện kể về Gandhavatī
và cuộc đời của Dharmodgātā. Đặc biệt là nó nêu lên
tầm quan trọng của thiền-định. Chương 31 trình bày về
vô trú xứ của Như Lai, sự cúng dường của Śadaprarudita
và sự biểu hiện về giáo pháp của Dharmodgātā; và cuối
cùng là sự phó chúc Bát-nhã Ba-la-mật đến tôn giả Ānanda.
Tóm
lại, những điểm dưới đây là sự khác biệt giữa Hīnayāna
(Tiểu thừa) và nội dung cốt lõi của Văn học Bát-nhã. Có
thể nói rằng lý tưởng, mục đích và hạnh nguyện độ
sanh của một vị Bồ-tát trong Văn học Bát-nhã hoàn toàn
đối lập với lý tưởng hay sự nghiệp của những vị Arhat
(A-la-hán) và Pratyekabuddha (Bích-chi-phật).
1.
Rải rác trong các Kinh văn, đức Phật đã nhấn mạnh rất
nhiều về vấn đề thực nghiệm, ít chuộng về lý thuyết
suông; do đó, trí tuệ Bát-nhã mà một hành giả muốn đạt
được, điều tất yếu là phải nỗ lực thực nghiệm xuyên
qua samādhi (thiền-định). Việc hành thiền-định đã được
đề cập rất nhiều trong những Kinh văn Đại thừa, nhưng
quan trọng nhất là Śuraṅgama-samādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng
Nghiêm Tam-muội), mà nó đã giúp cho những hành giả có đủ
nghị lực kiên cố, năng lực thiền-định tối thượng, để
huỷ diệt tất cả phiền não. Trên nền tảng của thiền-định
như đã được đề cập trong Śuraṅgama-samādhi, một hành
giả có thể có khả năng đạt được Dharmameghā-bhūmi (Pháp
Vân Địa), tức là Địa thứ mười trong Thập Địa của
Bồ-tát.
Văn
học Bát-nhã không những có mối liên quan mật thiết với
Śuraṅgama-samādhi-sūtra và Daśa-bhūmika-sūtra (Kinh Thập Địa),
mà còn với Akṣobhya-tathāgatasyavyūha (Kinh A Súc Phật Quốc
[đời Hậu Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch, 2 quyển, ĐC 11_313]
). A Súc Phật Quốc Kinh này cũng có thể thấy trong Phẩm thứ
12 (Phẩm Thấy Phật A Súc hoặc Nhìn Phật Bất Động) của
Vimalakīrtinideśa (Kinh Duy Ma Cật).
2.
Trí tuệ Bát-nhã của Bồ-tát đều là những bậc thượng
căn thượng trí đã và đang chứng ngộ Thập Địa. Đơn giản
vì những Bồ-tát này đều có chủng tánh của Đại thừa,
mà nó cao thâm hơn trí tuệ của những trường phái còn trong
thời kỳ ban đầu.
3.
Những vị Đại Luận Sư của Đại thừa đều có khả năng
nhận thức và biết rõ các pháp như thật xuyên qua sự quán
chiếu cả ngã và pháp, đặc biệt là sự tự ý thức với
những công hạnh mà họ đang làm.
4.
Vì thấy rõ sự sinh khởi và đoạn diệt của các pháp, từ
đây họ chủ trương rằng không có một pháp nào sinh diệt
như vậy cả; vì tất cả các pháp là bất sinh diệt, bất
tăng giảm.
5.
Vô số của những pháp riêng biệt đều được cân nhắc
cho sự hình thành thật tại tính rốt ráo. Vì sao? Vì không
có vô số các pháp như thế, vì tất cả chỉ là một; cũng
chẳng có những pháp nào riêng biệt hay đơn điệu, nhưng
những gì chúng xuất hiện chỉ là sự ước lệ hoặc chỉ
là sự cấu trúc của danh ngôn (hoặc tướng trạng).
6.
Tánh không được đề cập trong Văn học Bát-nhã là sự tối
thượng bằng tính “tuyệt đối”, mà nó đã dẫn dắt cho
chúng ta đi đến khái niệm về thuật ngữ “như thị”,
và dường như gợi nhắc cho chúng ta liên tưởng đến “thập
như thị” trong Pháp Hoa sau này.
7.
Khái niệm mới về Phương tiện thiện xão_có thể thấy trong
Kinh Pháp Hoa và Duy Ma_mà xuyên qua đó bằng sự chuyển hoá
của những giai tầng tâm linh thù thắng, mọi thao tác hoạt
dụng và những tư duy trên nền tảng Bát-nhã, thảy đều
trở nên những công cụ để phụng sự cho lòng từ phổ quát,
trí bình đẳng vô phân biệt.
8.
Khái niệm về sự cống hiến và hồi hướng hết thảy các
công đức đã dập tắt mọi tâm niệm chấp thủ về những
công đức đã đang và sẽ đạt được, thực thi tinh thần
bình đẳng, vô thủ và vô thủ tưỏng công đức, vô ngã
vị tha, đã bẻ gãy và đập nát vụn những ý thức chấp
thủ về ngã và pháp. Đặc biệt tinh thần phụng sự chúng
sanh bằng sự hồi hướng và chuyển tiếp mọi công đức
ấy nhằm giúp cho họ đầy đủ khả năng đạt được sự
giác ngộ.
9.
Khái niệm về giáo dục đánh thức trong Văn học Bát-nhã
đã giúp cho chúng ta thêm một khái niệm mới của khuynh hướng
Đại thừa. Nó giống như tiếng gọi thôi thúc của bậc làm
cha mẹ đánh thức những đứa con đang còn mê ngủ, phải
mau mau tỉnh giấc để làm cho tròn bổn nhiệm của chúng.
Nó cũng giống như ánh đèn pha, soi vào màn đêm để chúng
ta có thấy được hướng đi và tránh rơi vào những đầm
sâu, hố thẳm ... Tương tự, đức Phật cũng gọi Subhūti
(Tu-bồ-đề), hoặc gọi Sāriputra (Xá-lợi-phất) để đánh
thức dòng tâm linh đang ngủ vùi trong tiềm thức, vực dậy
hay khiến cho nó được giao cảm với thế giới thanh tịnh
của chư Phật với một đích duy nhất là dắt dẫn hàm linh
thoát khỏi vòng sinh-diệt-và-tái sinh.
10.
Tinh thần siêu việt nhị biên, không rơi vào có và không,
đoạn và thường, sinh và diệt, sinh tử và Niết-bàn, năng
chứng và sở chứng... vì tất cả đều là ảo giác, là huyễn
hóa.
11.
Thần chú trong Bát-nhã là thần chú lớn, ẩn tàng sự linh
nghiệm và mầu nhiệm, siêu phóng và vi diệu, có đủ công
năng giúp cho hành giả vượt qua mọi khổ ách, đến bờ giải
thoát an lạc. Thần chú này đều được chư Phật hộ niệm;
vì chư Phật ba đời ở trong mười phương đều dụng thần
chú này mà có được công năng bất khả tư nghì.
Tóm
lại, toàn bộ Văn học Bát-nhã có thể tóm lược trong hai
vấn đề cũng hàm tàng đủ nghĩa lý của nó. Đó là nó nhắc
chúng ta rằng một người phải trở thành một vị Bồ-tát
chơn chánh nhưng không nên hài lòng hay mãn nguyện về tất
cả trí tuệ đã đạt được; vì trí tuệ là phương tiện
thiện xão để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Và nó
nhắc rằng không có một pháp nào, cũng không có một Bồ-tát
như thế, trí tuệ như thế hoặc sự chứng ngộ như thế,
nghĩa là trong tâm tưởng không một ý niệm gì về Bồ-tát
hay những trí tuệ đã chứng đắc, thậm chí cũng không có
một Bồ-tát chứng đắc như thế. Vì với văn học Bát-nhã
xuyên qua nội dung cốt lõi của nó là tất cả các pháp đều
là không, song nó thể hiện sự linh hoạt và diệu dụng của
“chơn không diệu hữu”, của “tánh không”.
Về
sau Văn học Bát-nhã cũng đã được những vị Đại Luận
Sư của Phật giáo Đại thừa như: Aśvaghoṣa (Mã Minh) Nāgārjuna
(Long Thọ), Asaṅga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân)
diễn dịch và xiển dương đến tột đỉnh của nó bằng
những lời bình của mình. Chẳng may những bộ luận này,
khi được truyền đến chúng ta chỉ là những bản dịch của
Trung Hoa và Tây Tạng. Nổi tiếng nhất trong số này là Mahāprajñāpāramitopadeśa
śāstra (Luận Đại Trí Độ) của ngài Nagārjuna (Long Thọ).
*
*
*
Chương IV:
Saddharmapuṇḍarīka-sūtra
(Kinh Pháp Hoa)
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit quan trọng nhất và được xem như
tác phẩm văn chương có giá trị nhất của Phật giáo là
Saddharmapuṇḍarīka sūtra. Niên đại xuất hiện của nó chừng
khoảng thế kỷ thứ I sau CN, tức thời kỳ Phật giáo Đại
thừa đã phát triển mạnh tại các nước ở Châu Á. Tuy nhiên,
trong thời gian này Kinh văn Pháp Hoa vẫn chưa hoàn toàn đầy
đủ, mà chừng khoảng bốn hoặc năm thế kỷ sau đó nó phải
được bổ sung thêm vào. Phổ biến nhất là bản kinh của
ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập); vì nó đã được bổ sung
thêm một chương và những kệ tụng trong những phẩm khác
liên quan đến Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) và Avalokiteśvara
(Quán-thế-âm) cũng như một nửa Phẩm Auṣadhasyarāja Bodhisattva
(Dược Vương Bồ-tát) khi so với sự khiếm khuyết từ bản
dịch ban đầu của ngài.
Saddharmapuṇḍarīka-sūtra,
theo Maurice Winternitz, được phiên dịch đầu tiên sang tiếng
Trung Hoa vào năm 223; vì nó cũng đã được ngài Nāgārjuna
trích dẫn, tiếc rằng bản dịch này cũng đã bị thất lạc.
Bản hiện còn do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch sang tiếng
Trung Hoa vào năm 286, với nhan đề là Chánh Pháp Hoa Kinh, 27
chương, 10 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 9_263. Có một bản dịch
khác gọi là Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh, 1 quyển, ĐC
9_265, nhưng không rõ dịch giả, đã đề cập đến những
Phẩm “Devadatta” (Đề-bà-đạt-đa) và “Hiện Bảo Tháp”,
mà nó được hoàn tất trong khoảng thời gian của ngài Dharmarakṣa
(Trúc Pháp Hộ). Vẫn biết, bản dịch của ngài Dharmarakṣa
gồm 27 chương là tương đối hoàn chỉnh, song ở vào một
niên đại sớm hơn, nhiều mảng của những chương này dường
như đã được lưu hành có tính độc lập. Chẳng hạn, Phẩm
Upāyakauśalya (Phương Tiện) đã xuất hiện trước thế kỷ
thứ 2 sau CN; vì những sự mô tả sinh động về hình tượng
của đức Phật được đề cập trong chương này, niên đại
của nó có lẽ không sớm hơn hạ bán thế kỷ thứ I sau CN.
Lại
nữa, bản tương đối hoàn chỉnh do ngài Kumārajīva dịch
vào năm 405 hoặc 406, được gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh,
7 quyển, đời Diêu Tần, ĐC 9_262. Tuy nhiên, bản dịch này
không có những Phẩm đề cập đến “Devadatta” và những
bài kệ của Phẩm Avalokiteśvara cũng như một nửa của Phẩm
Auṣadhasyarāja Bodhisattva (Dược Vương Bồ-tát). May thay, ngài
Pháp Hiền đã phát hiện được một mảng Saṅskrit liên quan
đến Phẩm Devadatta ở Turfan vào năm 490, sau đó nó được
dịch ra Hoa ngữ. Thế nhưng trên thực tế, bản này ngài Pháp
Vân không sử dụng trong lời bình của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký,
8 quyển, đời Lương, Pháp Vân soạn, ĐC 33_1715, và Pháp Hoa
Nghĩa Sớ, Shōtoku Taishi (574-622), 4 quyển, ĐC 56_2187. Điều
này cho thấy Phẩm Devadatta chỉ được thêm vào trong Kinh Pháp
Hoa sau thời của họ. Ngài Trí Khải (538_597) bình luận về
Phẩm Devadatta trong Pháp Hoa Văn Cú (hay Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh Văn Cú), 20 quyển, đời Tuỳ, ĐC 34_1718, 114c) của
mình, mà trước đây nó không có trong bản dịch của ngài
Kumārajīva.
Năm
601, những phần khiếm khuyết trong bản dịch của Kumārajīva
(Cưu-ma-la-thập) đã được Jñānagupta (Xà-na-quật-đa_523-600)
cùng với những dịch giả khác bổ sung và thêm vào sau này
thành một bản hoàn hảo với nhan đề là Thiêm Phẩm Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, Jñānagupta và Kumāragupta dịch, 7 quyển,
đời Tuỳ, ĐC 9_264. Do đó, có sự khác nhau giữa bản dịch
của Kumārajīva với Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) và Kumāragupta
(Khố-mã-lạp-cấp-đa); còn mảng Kinh được tìm thấy ở
Đông Thổ Nhĩ Kỳ (Earstern Turketan) cũng có phần hơi khác
với bản dịch của Nepalese (người Nepál).
Ngoài
ra, còn nhiều bản dịch thuật, trước tác, biên soạn và
chú giải khác, như: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa, 20
quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết, ĐC 33_1716 và Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh Văn Cú, 20 quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết,
ĐC 34_1718. Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Sám, 20 quyển, đời Đường,
Trạm Nhiên thuật, ĐC 33_1717. Pháp Hoa Huyền Luận, 10 quyển,
đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1720; Pháp Hoa Nghĩa Sớ, 12
quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1721; và Pháp Hoa Du
Ý, 1 quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng tạo, ĐC 34_1722. Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh Huyền Tán, 20 quyển, đời Đường, Khuy Cơ soạn,
ĐC 34_1723. Pháp Hoa Huyền Tán Nghĩa Quyết, 1 quyển, đời Đường,
Tuệ Chiếu soạn, ĐC 34_1724. Và Pháp Hoa Tông Yếu, 1 quyển,
Tân La, Nguyên Hiểu soạn, ĐC 34_1725.
Một
bản dịch của Tây Tạng hoàn toàn về Saddharma-puṇḍarīka
sūtra hiện còn, và bản thảo Saṅskrit của nó đã được
tìm thấy trong những vùng khác nhau của Châu Á. Đặc biệt
quan trọng là bản thảo Saṅskrit ở Nepal, Gilgit ở Bắc Ấn,
cũng như ở Kashgar và Khādalik ở Trung Á. Từ khi bản thảo
Saṅskrit của Nepal được H. Kern và B. Nanjio cho xuất bản,
kế tiếp đó, những bản khác về kinh này cũng lần lượt
được xuất bản. Những bản dịch Anh Ngữ và Nhật Bản
cũng đã xuất hiện.
b.
Khái lược về Nội dung:
Toàn
bộ Saddharmapuṇḍarīka-sūtra này được viết bằng văn hệ
Saṅskrit và Prākrit theo thể văn xuôi và kệ tụng, song nó
vẫn tiêu biểu cho một sự phát triển cao về lãnh vực văn
chương của Phật giáo Đại thừa. Nó vốn hàm súc những
tư tưởng độc đáo, nghĩa lý thâm áo lại mầu nhiệm mà
đã được kết tinh bằng những chất liệu từ bi và trí
tuệ của đức Như Lai suốt 45 năm thuyết pháp; đó là từ
lúc Giáo đoàn Phật giáo được hình thành cho đến khi Ngài
nhập Niết-bàn. Dĩ nhiên, trong suốt thời sinh tiền của Như
Lai, nếu cứ vào sự dòng tư tưởng chuyển biến và phát
triển, hệ thống và lôgic, thì có vẻ đường đột; vì suốt
quãng thời gian chừng năm thế kỷ sau khi đức Thế Tôn diệt
độ, rất nhiều kinh điển Đại thừa khác xuất hiện với
những giai tầng tư tưởng khác nhau.
Đối
với Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), bất luận tầng
lớp nào trong xã hội, một khi đã tiếp cận và kiên nhẫn
trì tụng, nó cũng đều ban cho họ những món quà vô giá,
những thức ăn đầy nhựa sống cho tinh thần, có lẽ vì thế
mà nó được phổ biến khắp nơi trên thế giới, không luận
là những nước có truyền thống Phật giáo Hīnayāna (Tiểu
thừa) hay Mahāyāna (Đại thừa). Nó làm sống lại những tâm
hồn đau khổ và sầu muộn, tưới mát lại những dòng chảy
tâm linh khô héo đã ngủ vùi từ bấy lâu nay trong thế giới
huyễn ảo và giả tạm, và đánh thức lại nguồn tâm hay
Phật tánh mà con người hững hờ quên lãng, đó là “khai,
thị, ngộ, nhập Phật chi tri kiến”. Những phương tiện
vô cùng thiện xão, như: “khai tích, hiển bổn”, “khai quyền,
hiển thật”, “khai cận, hiển viễn” và “khai tam, hiển
nhất” đã nhấn mạnh một cách triệt để rằng chỉ có
một Phật thừa duy nhất mà hoàn toàn không có thừa thứ
hai hay thứ ba nào khác, cốt để nêu bật lên tư tưởng thù
thắng: “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, với
mục đích giúp cho chúng sanh thể nhập Phật tánh thanh tịnh
nhằm xiển dương tinh thần “tuỳ duyên bất biến”, “bất
biến tuỳ duyên” trong thế giới hiện sinh này.
Đặc
biệt, giáo lý Ekayāna (Nhất thừa) của Kinh Pháp Hoa này đã
hình thành một hệ thống giáo lý uyên bác và bình đằng,
thâm áo và uyển chuyển, với một mục đích duy nhất là
phá tan mọi quan niệm cố chấp cứng nhắc về quả vị chứng
ngộ của hàng Nhị thừa (Śrāvakayāna_Thanh-văn, Pratyekabuddhayāna_Bích-chi-phật)
còn hạn cuộc trong Tứ Thánh quả cũng như hàng Bodhisattvayāna
(Bồ-tát thừa).
Những
đoạn văn xuôi ngắn bằng Saṅskrit và những kệ tụng bằng
Saṅskrit pha trộn của bản kinh này, theo Nariman, không thể
xuất hiện cùng thời; vì những đoạn văn xuôi cũng như những
kệ tụng của văn kinh này thường được nói về một sự
biên soạn kỹ xão có vận luật. Hơn nữa, nguồn gốc của
văn kinh chỉ là những đoạn văn ngắn gọn được giải thích
bằng phương thức giới thiệu và nối liền giữa những vần
kệ. Thế nhưng, những đoạn văn xuôi ngắn gọn này lại
được mở rộng như là phương ngữ của những vần kệ và
dần dần trở nên thuần tuý hoàn toàn.
Ngoài
những thể loại văn xuôi ở đầu của mỗi phẩm và phần
lớn được kết thúc bằng thể loại kể tụng ở cuối phẩm,
nó còn chỉ cho thấy một kỷ nguyên thịnh hành cao độ về
nghệ thuật thiết kế và kiến lập những bảo tháp uy nghiêm
và vĩ đại của Phật giáo thời bấy giờ. Những Thánh tích
của đức Phật được tôn trí bên trong của vô số tu viện
Phật giáo với những quy mô lớn và đặc thù, với những
tôn tượng đức Phật bằng đá quý, những hình tượng của
đức Phật được chạm khắc lên những loại gỗ quý và
kim loại đặc biệt cũng như những tranh tượng được chạm
khắc trên tường vô cùng sống động.
Saddharmapuṇḍarīka
sūtra với 28 Phẩm của nó có lẽ được chia ra thành hai phần
chính. Cả 14 Phẩm đầu của Kinh đề cập đến những phương
tiện thiện xão, còn được gọi là “Tích Môn”; còn 14
Phẩm sau xiển dương triệt để giáo lý nền tảng, cũng được
gọi là “Bản Môn”. Vậy Tích Môn và Bản Môn là hình
ảnh thu nhỏ của toàn bộ 28 Phẩm của Kinh Pháp Hoa.
Phẩm
Tựa giới thiệu tổng quan toàn bộ kinh này. Nó mô tả cảnh
đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong núi Kỳ-xà-quật
cùng với 2.000 Tỳ-kheo, 2.000 vị Hữu học và Vô học,
6.000 Tỳ-kheo-ni cùng với quyến thuộc, 80.000 Bồ-tát,
Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với 20.000 Thiên tử quyến thuộc,
Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà...và có cả vua A-xà-thế cùng
với vô số quần thần đều đến tập hội. Mỗi vị trong
số chúng ấy đến lễ nơi chân Phật, rồi lui ngồi một
bên. Lúc giữa tứ chúng vây quanh cung kính cúng dường tán
thán, đức Thế Tôn vì chư Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa
Vô lượng nghĩa, thuyết xong, Ngài ngồi kiết già an nhiên,
nhập vào vô lượng nghĩa xứ tam-muội, thân tâm bất động.
Bấy giờ chư Thiên, rải hoa trời cúng dường, tán thán, lục
chủng chấn động. Hết thảy hội chúng đều rất hoan
hỷ, thấy điềm lành chưa từng có, bèn chắp tay nhất tâm
chiêm ngưỡng đức Phật. Lúc ấy đức Thế Tôn phóng ánh
sáng từ tướng chân mày trắng, chiếu soi tới 8.000 cõi về
phương đông, trên thấu tận trời Hữu Đảnh, dưới tới
tận ngục A-tỳ. Trong ánh sáng đó hiện đủ cảnh giới khác
nhau. Đại diện chúng đương cơ, ngài Di-lặc, tiêu biểu cho
lòng từ, hỏi ngài Văn-thù_tiêu biểu cho trí tuệ_vì nhân
duyên gì điềm lành ấy xuất hiện; người sau đáp rằng
đó là vì đức Thế Tôn muốn thuyết kinh Đại thừa vô lượng
nghĩa và muốn khiến cho đại chúng được nghe pháp cao sâu
và rất khó tin của thế gian. Ngài tuỳ cơ thuyết pháp, như:
nói pháp Tứ đế cho người cầu Thanh-văn; pháp Thập nhị
nhân duyên, Duyên-giác; Lục độ Ba-la-mật, Bồ-tát. Với một
mục đích duy nhất là mong muốn cho tất cả họ phát tâm
cầu đạo và chứng đắc được quả Vô thượng Bồ-đề,
thành nhất thiết chủng trí.
Kế
đó ngài Văn-thù kể lại chuyện xảy ra trong quá khứ: cũng
có đức Phật phóng quang, thuyết kinh đại thừa vô lượng
nghĩa cho vô số Bồ-tát, mà trong số ấy có Bồ-tát Diệu
Quang cùng 800 vị đệ tử nghe Phật thuyết pháp trải qua 60
tiểu kiếp mà vẫn an toạ một chỗ, thân tâm an lạc, không
biết mệt mỏi; đặc biệt có Bồ-tát Đức Tạng được
Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật hiệu là Dīpaṇkara (Nhiên
Đăng). Trái lại, cũng có Bồ-tát tên là Cầu Danh, tham trước
lợi dưỡng, tuy có đọc tụng kinh điển nhưng không nhớ
nghĩa lý; sau nhờ hành thiện nghiệp, tu tập đầy đủ lục
độ Ba-la-mật, thấy được chư Phật, hết lòng cung kính
cúng dường chư Phật; nhờ tích tập vô lượng công đức,
cho nên sẽ được thành Phật hiệu Maitreya (Di-lặc), rộng
độ và cứu giúp vô số chúng sanh.
Phẩm
Phương Tiện thứ 2 là phần Chánh Tông. Nó nhấn mạnh đến
sự vận dụng phương tiện thiện xão để khai thị cho chúng
sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Nó mô tả lại đức Phật từ
tam-muội khởi, rồi bảo tôn giả Xá-lợi-phất rằng ‘trí
tuệ của chư Phật sâu xa vô lượng, rất khó giải khó nhập
đến nổi tất cả hàng Thanh-văn và Bích-chi-Phật không thể
hiểu thấu. Vì từ khi thành Phật cho đến nay, Ngài đã dùng
vô số nhân duyên, vô số thí dụ, rộng diễn giáo hoá, dùng
vô số phương tiện để dắt dẫn chúng sanh, khiến họ lìa
khổ được an lạc. Hơn nữa, Như Lai khi vận dụng phương
tiện, đều đã thấy biết rõ các pháp như thật và đầy
đủ Ba-la-mật rồi; tri kiến sâu xa rộng lớn của Như Lai
đầy đủ Thập lực, Tứ vô sở uý, thiền-định giải thoát
tam-muội vô lượng vô ngại, thâm nhập không bờ mé, thành
tựu tất cả pháp xưa nay chưa từng có. Như Lai có khả năng
phân biệt các pháp khéo léo, thuyết các pháp bằng những
ngôn từ nhu nhuyến khiến tâm của chúng sanh vui thích’.
Khi
Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng thỉnh Phật giải nghi, Ngài
dạy:
“Này
Xá-lợi-phất, vô số ngôn từ bí yếu, vô lượng vô biên
pháp xưa nay chưa từng có, chư Phật thảy đều thành tựu.
Thôi! Xá-lợi-phất, không nên nói nữa. Vì sao? Vì Phật đã
thành tựu pháp đệ nhất rất khó giải, xưa nay chưa từng
có. Duy chỉ có Phật cùng với Phật mới có đủ khả năng
thẩm thấu cùng tột thật tướng của các pháp. Đó là: như
thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như
thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như
thị báo, như thị bản mạt cứu cánh bình đẳng”.
Điều
này cho thấy “chư pháp thật tướng” chính là nội dung
cốt lõi của phần Tích môn trong kinh Pháp hoa.
Pháp
mà Phật chứng đắc rất sâu xa khó giải, ý hướng ngôn
thuyết rất khó biết, đến nổi tất cả Thanh-văn và Bích-chi-Phật
không thể hiểu thấu... Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng
ba lần cầu thỉnh đức Phật giải bày. Đức Phật cũng ba
lần dạy rằng “Thôi thôi Xá-lợi-phất, chớ nên nói nữa!
Dẫu có nói chăng nữa thì tất cả thế gian chư Thiên và
loài người càng thêm nghi ngờ kinh sợ”. Khi nghe nói lời
như thế, trong hội chúng có 5.000 Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc
và Ưu-bà-di, v.v... rời chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật rồi
lui ra. Khi quán xét thấy hội chúng thanh tịnh, Ngài bảo: “Xá-lợi-phất,
những kẻ tăng thượng mạn như thế, lui ra cũng tốt!”.
Rồi căn dặn Xá-lợi-phất khéo lắng lòng nghe kỹ rằng vì
giáo pháp cao sâu vi diệu, cho nên chư Phật Như Lai lúc đúng
thời mới nói; cũng như hoa Udumbara (Ưu-đàm-bát) đúng thời
mới xuất hiện mà thôi.
Ngài
lại cân nhắc và khuyên tứ chúng muốn phát tâm cầu đạo
vô thượng Bồ-đề phải hết lòng giữ tín tâm cho kiên cố
mới có thể hiểu nổi giáo nghĩa thâm áo vi diệu của chư
Phật. Ngài dạy:
“Ta
dùng vô số phương tiện, vố số nhân duyên thí dụ ngôn
từ để diễn thuyết các pháp. Pháp ấy chẳng phải tư lường
phân biệt mà có thể hiểu được, mà chỉ có chư Phật cùng
với Phật mới có khả năng thẩm thấu. Vì sao? Vì chư Phật
Thế Tôn, chỉ vì một nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện
ở đời... Đó là vì muốn chỉ bày tri kiến Phật cho chúng
sanh, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến cho chúng sanh
ngộ được tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời; muốn
khiến cho chúng sanh thể nhập vào tri kiến Phật, cho nên xuất
hiện ở đời. Xá-lợi-phất, đó là chư Phật chỉ vì một
nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện ở đời”.
Xa
hơn nữa, đức Phật bảo Sāriputra (Xá-lợi-phất) rằng chư
Như Lai luôn giáo hoá Bồ-tát: chỉ dùng tri kiến Phật để
chỉ bày cho chúng sanh chứng ngộ. Như Lai chỉ dùng Eka-buddha-yāna
(nhất Phật thừa) mà vì chúng sanh thuyết pháp, chứ không
có thừa thứ hai hoặc thừa thứ ba nào khác cả; vì hết
thảy pháp của chư Phật trong mười phương cũng như vậy.
Ngài lại dạy Xá-lợi-phất rằng mười phương chư Phật
trong quá khứ hiện tại và vị lai đã đang và sẽ dùng vô
lượng vô số phương tiện, vô số nhân duyên, thí dụ, ngôn
từ mà vì chúng sanh diễn thuyết các pháp; pháp ấy chính
là nhất Phật thừa. Các chúng sanh theo chư Phật nghe pháp,
rốt ráo đều đắc được Nhất thế chủng trí. Ngài bảo:
“Ta
nay cũng như vậy, biết các chúng sanh có tâm tham đắm dục
vọng sâu xa, nuông chìu theo bản tánh của mình, cho nên phải
dùng vô số nhân duyên thí dụ ngôn từ, phương tiện lực
mà vì họ thuyết pháp. Xá-lợi-phất, như hội chúng này đều
đắc được nhất Phật thừa, nhất thiết chủng trí. Xá-lợi-phất,
mười phương trong thế giới hai thừa mà còn không có huống
gì là có ba! Xá-lợi-phất, chư Phật xuất hiện ở đời
ác năm trược, đó là: kiếp trược, phiền não trược, chúng
sanh trược, kiến trược và mạng trược. Như vậy, Xá-lợi-phất,
thời kiếp trược loạn lạc, chúng sanh cấu nhiễm nặng nề;
vì xan tham tật đố tạo nên những căn bất thiện. Chư Phật
nơi nhất Phật thừa dùng phương tiện lực nói có ba. Xá-lợi-phất,
nếu đệ tử của Ta, tự xưng là A-la-hán hay Bích-chi-phật
mà không nghe không biết việc chư Phật Như Lai chỉ giáo hoá
Bồ-tát, thì những người ấy chẳng phải là đệ tử của
Phật,
chẳng phải là A-la-hán, chẳng phải là Bích-chi-phật. Lại
nữa, này Xá-lợi-phất, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tự xưng
đã đắc A-la-hán rồi, là thân cuối cùng, rốt rào vào Niết-bàn,
mà không cần cầu quả vô thượng Bồ-đề, nên biết những
hạng này đều là những kẻ tăng thượng mạn”.
Đây
nhấn mạnh đến “nhất Phật thừa” là cái đích duy nhất
của phương tiện, chứ không có thừa thứ hai hoặc thừa
thứ ba nào khác.
Phẩm
Thí Dụ 3 kể lại việc đức Phật thuyết kinh Đại thừa
vô lượng nghĩa và nhắc lại bổn nguyện hành đạo mà Xá-lợi-phất
và hội chúng đã được nghe trước đó nhưng vì họ quên
mất, nay nhớ lại và tự biết rõ họ là đệ tử của Phật.
Đây là đức Phật giáo hoá cho hàng Trung căn. Kế đó Phật
thọ ký cho Xá-lợi-phất sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang
Như Lai. Đối với hạng căn cơ thấp, Ngài lại đưa ra ví
dụ “ngôi nhà lửa” để chỉ bày cho họ.
Chuyện
kể về một Đại Trưởng giả vô cùng giàu có ở một nước
nọ, tuổi đã già, tiền tài của cải nhiều vô lượng, đất
đai, nhà cửa, ruộng vườn, tôi tớ, lại đông con. Nhà tuy
rộng lớn nhưng chỉ có một cửa ra vào rất hẹp, trong đó
có nhiều người cùng sống chung. Song nó đã quá cũ, tường
vách lung lay, cột kèo ruỗng mục, mái và những đòn tay nghiêng
vẹo. Ngày nọ, đột nhiên nó bốc lửa, cháy lan tứ bề;
thấy vậy Trưởng giả vội nghĩ, ta có thể ra khỏi nhà này
an toàn, nhưng còn những đứa trẻ thì đang hăng say đùa giỡn
chẳng hay biết gì lửa đang cháy. Thế rồi, ông gọi chúng
hãy nhanh chóng ra khỏi nhà lửa, nhưng vì quá ham chơi, cho
nên chúng không nghe. Thoáng suy nghĩ tìm phương kế, ông liền
bảo chúng rằng ngoài ngã tư đường có ba loại xe trang hoàng
những đồ quí giá rất đẹp và hiếm thấy, như là: xe dê,
xe nai và xe trâu. Nghe thế chúng chạy ùa ra khỏi ngôi nhà
ấy và hỏi cha của chúng xe để đâu; sau một lát phân bua
với chúng, ông ta cho chúng một chiếc xe trâu trắng. Đây
gọi là dụ “tam xa, hoả trạch”. Tam xa chỉ cho Tam thừa:
Śrāvaka (Thanh-văn), Pratyekabuddha (Duyên-giác hoặc Bích-chi-phật)
và Bodhisattva (Bồ-tát); còn hoả trạch chỉ cho ba cõi bất
an; và trâu trắng chỉ cho Đại thừa thuần tuý. Dụ về ngôi
nhà lửa nhằm gợi lên đức tin cho hàng trung căn.
Phẩm
Tín Giải thứ 4 dụ về “trưởng giả và người cùng tử”
để nhân cách hoá đức tin. Nó nói về sự thất lạc giữa
cha và con, ngụ ý trỏ sự lãng quên tâm Đại thừa trong khoảng
thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng trở về trước.
Phẩm
Dược Thảo Dụ thứ 5 nhấn mạnh đến pháp bình đẳng vô
phân biệt, tức là pháp nhất tướng nhất vị bình đẳng
mà đức Thế Tôn vận dụng để giáo hoá, có công năng đem
lại lợi ích và an lạc cho tất cả chúng sanh; ví như trận
mưa lớn không phân biệt, mọi thảo mộc đều được thấm
nhuần.
Trong
Phẩm Thọ Ký thứ 6, đức Phật thọ ký cho bốn vị Thanh-văn,
đó là: ngài Đại Ca-diếp thành Phật hiệu là Quang Minh Như
Lai; Tu-bồ-đề, Danh Tướng Như Lai; Ca-chiên-diên, Kim Quang
Như Lai; và Mục-kiền-liên, Chiên-đàn Hương Như Lai. Điều
đáng lưu ý rằng thông thường đức Phật chỉ thọ ký cho
hàng Bồ-tát, nhưng ở Kinh này bốn vị Thanh-văn cũng đã
được thọ ký; đây là điểm đặc thù của kinh Pháp Hoa.
Phẩm
Hoá Thành Dụ thứ 7 kể lại sự xuất hiện của đức Phật
Đại Thông Trí Thắng trong quá khứ mà Ngài đã diệt độ
cách đây vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ
kiếp nhưng tri kiến của Ngài hoàn toàn không khác với tri
kiến của chư Phật đương thời; rồi mô tả lại thời hiện
tại sự thành đạo của đức Đại Thông Trí Thắng, Ngài
dạy rằng “Ta dùng năng lực tri kiến của Như Lai để quán
xem năng lực tri kiến lâu xa của đức Phật kia thì cũng (giống)
như ngày nay”. Đức Phật ấy lúc chưa xuất gia có 16
vương tử. 16 vị này khi nghe vua cha xuất gia và thành đạo
Vô thượng Bồ-đề, tất cả họ cũng như Thích-đề-hoàn-nhơn
cùng với trăm ngàn đại thần và trăm ngàn vạn ức Phạm
thiên đều đến chỗ Phật Đại Thông Trí Thắng đảnh lễ
cúng dường và thỉnh Phật thuyết pháp. Sau khi quán căn cơ
của họ, Ngài đã giảng rộng nghĩa về pháp Tứ đế và
Thập nhị Nhân duyên theo Tam chuyển thập nhị hành pháp luân.
Nhưng khi 16 vị này xin xuất gia làm Sa-di, đức Phật ấy sau
khi xét thấy căn tánh của họ thông lợi, lại tinh tấn tu
hành, nghiêm trì tịnh giới, bèn thuyết Kinh Pháp hoa và giáo
Bồ-tát pháp Phật sở hộ niệm, xong Ngài vào thất nhập
định.
Còn
16 vị này, sau khi được nghe giảng, đã thọ trì và lãnh
hội được nghĩa lý cao sâu và nhận biết rõ được bản
hoài của chư Phật. Khi biết đức Phật đã nhập định,
họ thăng toà giảng kinh này trải qua 84.000 kiếp, độ vô
số chúng sanh và giúp họ phát tâm cầu đạo Vô thượng.
Xuất định sau 84.000 kiếp, đức Phật ấy đã tán thán 16
vị Sa-di Bồ-tát trước hội chúng và khuyến họ cúng dường
cũng như nói rõ về sự chứng quả Vô thượng Bồ-đề của
16 vị ấy tính đến nay đã lâu xa. Mỗi một của 16 vị này
đều thành Phật, vị đầu tiên thành Phật hiệu là A-sơ
cho đến vị thứ 16, Thích-ca Mâu-ni hiện trị vì cõi Ta-bà
này. Đức Phật lại dạy:
“Khi
chư Phật còn là Sa-di, mỗi người đều giáo hoá vô lượng
trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chúng sanh. (Họ) theo Ta nghe pháp,
sẽ được quả Vô thượng Bồ-đề, nhưng chúng sanh này đến
nay vẫn còn ở trong hàng Thanh-văn. Ta thường giáo hoá họ
chứng Vô thượng Bồ-đề. Những người này phải hành đúng
theo chánh pháp, dần dần mới có thể nhập vào đạo. Vì
sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, mà bấy giờ
vô lượng hằng hà sa chúng sanh được giáo hoá. Các ông,
những Tỳ-kheo, sau khi Ta diệt độ, trong đời vị lai là những
đệ tử Thanh-văn...; lại có đệ tử không được nghe kinh
này, không biết không hiểu Bồ-tát hạnh, tự mãn với công
đức đã đạt được, sinh ý tưởng diệt độ, sẽ nhập
Niết-bàn. Ta hành Phật sự ở nước khác, có tên khác, có
người tuy sanh ý tưởng diệt độ, nhập vào Niết-bàn mà
ở cõi kia, cầu trí tuệ Phật, được nghe kinh này, thời
chỉ dụng Phật thừa mà được diệt độ, chứ không có
thừa nào khác; trừ các đức Như Lai phương tiện thuyết
pháp. Này các Tỳ-kheo, nếu Như Lai tự biết đến thời nhập
Niết-bàn, liền triệu tập chúng Bồ-tát và Thanh-văn vì họ
thuyết Kinh này. Thế gian không hề có hai thừa mà được
diệt độ, chỉ có nhất Phật thừa mới được diệt độ
mà thôi”.
Sau
cùng, Ngài minh hoạ bằng “Hoá Thành Dụ”. Có bậc Đạo
sư thông tuệ, biết chỗ có kho báu; chúng sanh muốn đến
chỗ lấy châu báu phải đi qua con đường hiểm. Giữa đường
gặp nhiều chướng ngại và nguy hiểm họ bèn thối tâm trở
lui; thấy họ đáng thương, vị Đạo sư ấy biến hoá ra một
cái thành để cho họ tạm an nghỉ và khích lệ họ đừng
thối tâm. Sau khi thấy họ được an ổn, liền diệt hoá thành
ấy. Đạo sư dụ cho đức Phật; châu báu, quả Phật; hoá
thành, phương tiện dắt dẫn Tam thừa; mục đích là để
dắt họ vào trí tuệ Phật. Nói chung, Tam thừa là phương
tiện, chỉ có nhất Phật thừa là chơn thật mà thôi.
Cũng
như Phẩm Hoá Thành Dụ thứ 7, cả Phẩm thứ 8 và 9 đều
nói về việc đức Phật thọ ký cho hàng hạ căn.
Phẩm
Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Ký thứ 8 nói về Phú-lâu-na là bậc
thuyết pháp đệ nhất. Ông theo Phật được nghe về trí tuệ,
phương tiện, tuỳ nghi thuyết pháp, việc thọ ký, những nhân
duyên đời trước và lực thần thông đại tự tại của
chư Phật, thảy đều là những điều chưa từng có trước
đây. Vị ấy đã tán thán đức Phật là bậc tôn quý lạ
thường, hiếm có; vì chúng sanh mà Ngài đã dùng vô số phương
tiện để chỉ bày tri kiến và tuỳ cơ thuyết pháp giúp họ
được an lạc và phát tâm cần cầu Vô thượng Bồ-đề,
cho nên công đức ấy không gì sánh nổi. Kế tiếp là việc
đức Phật tán thán Phú-lâu-na là vị thuyết pháp đệ nhất
trong hàng đệ tử của Ngài. Ông thông suốt các pháp ‘không’
như chư Phật đã thuyết và đắc tứ vô ngại trí, đủ pháp
thần thông, thường tu phạm hạnh, và được Phật thọ ký
sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai.
Tiếp
theo là việc thọ ký cho 1.200 vị A-la-hán; và cuối cùng là
500 A-la-hán được Phật thọ ký và họ đã bày tỏ lòng tôn
kính đối với Phật bằng cách kể lại chuyện bạn bè thân
quen đã tặng viên ngọc quý trong chéo áo, nhưng vị ấy không
biết. Sau thời gian cách biệt, gặp lại anh ta ở một nước
khác mà vẫn thấy còn trong tình cảnh nghèo khổ, bèn nhắc
lại viên ngọc quý mà mình đã tặng cho anh ta. Lấy ngọc
đem bán và anh ta trở thành người giàu có. Dụ này ngụ
ý họ đã tự trách chính họ vì tự mãn với quả vị A-la-hán
và ý tưởng diệt độ, nay mới biết chính họ thực sự
là những Bồ-tát được thọ ký và chứng đắc Vô thượng
Bồ-đề. Rồi họ sanh tâm hoan hỷ mà trước đây chưa từng
có.
Phẩm
Thọ Học Vô Học Nhân Ký thứ 9 mô tả chuyện Phật thọ
ký cho A-nan và La-hầu-la được thành Phật hiệu là Sơn Hải
Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai và Đạo Thất Bảo Hoa Như
Lai cũng như 2.000 vị Hữu học và Vô học được thọ ký
cùng danh hiệu Bảo Tướng Như Lai.
Phẩm
Pháp Sư thứ 10 nhấn mạnh đến công năng mầu nhiệm của
Kinh và khuyến hoá phổ truyền trong nhân gian để chúng sanh
có được lợi ích, an lạc và phát tâm cầu Vô thượng Bồ-đề.
Nó kể lại chuyện Bồ-tát Dược Vương nói về 80.000 đại
sĩ, trong đó có người cầu Thanh-văn, có người cầu Bích-chi-phật,
cũng có người cầu Bồ-tát đạo hoặc Phật đạo. Nhân việc
này, đức Phật bảo những người như thế hễ khi được
nghe một câu kinh hay một bài kệ, hoặc chỉ một niệm tuỳ
hỷ, thì Ngài đều thọ ký Vô thượng Bồ-đề. Đức Phật
bảo Dược Vương:
“Nếu
có người thọ trì, đọc tụng, giải thích, viết chép Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa cho đến một kệ; đối với quyển kinh
này cung kính như thấy Phật, cúng dường những thứ hương,
hoa, anh lạc..., cho đến chắp tay cung kính, Dược Vương nên
biết, những người đó đã từng cúng dường 10 vạn ức
Phật, nơi các cảnh giới Phật, thành tựu đại nguyện; vì
thương xót chúng sanh, cho nên sanh ở cõi này”.
Ở
một đoạn khác, Ngài dạy:
“Này
Dược Vương, nếu có người thiện nam, thiện nữ nào, sau
khi Như Lai diệt độ, muốn vì tứ chúng thuyết kinh Pháp Hoa,
phải nên nói thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải
vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi toà Như Lai, như thế
mới nên vì tứ chúng rộng thuyết kinh ấy. Thất Như Lai ấy
là tâm đại từ bi trong hết thảy chúng sanh. Áo Như Lai là
tâm nhu hoà nhẫn nhục. Toà Như Lai, tất cả pháp không. Trong
sự an trú như thế, về sau dụng tâm không biếng nhác mà
vì các Bồ-tát và tứ chúng rộng thuyết Kinh Pháp Hoa này”.
Phẩm
Hiện Bảo Tháp thứ 11 mô tả về tháp Đa Bảo từ đất vọt
lên để tán thán đức Thích-ca và chứng minh cho lời đức
Phật Thích-ca thuyết pháp từ trước đến nay là chơn thật
cũng như lời tán dương của Phật Đa Bảo đối với đức
Thích-ca. Trong tháp ấy cả đức Đa Bảo và đức Phật Thích-ca
cùng ngồi chung một toà; còn đại chúng nương vào sức thần
của Như Lai đều được dự hội trên hư không. Những ai
thấy bảo tháp ấy đều sanh lòng hoan hỷ, phát tâm cầu đạo
vô thượng và cho đó là điều hy hữu. Đức Thích-ca tập
hợp những vị đại sĩ lại và khuyến khích họ rộng lưu
truyền kinh này cũng như sau khi Phật diệt độ và nói rõ
về việc phó chúc. Đặc biệt là sự tán thán việc hoằng
truyền kinh Pháp Hoa và nhấn mạnh rằng nơi đâu có người
trì tụng kinh này, đức Đa Bảo đều hiện bảo tháp nơi
đó. Nó ngụ ý chỉ cho Phật tánh (tức ngụ ý chỉ Bảo Tháp)
khi gặp kinh này thì hiển lộ.
Phẩm
Đề-bà-đạt-đa thứ 12 nói đến việc đức Phật Thích-ca
thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa_dù ông là một người phá hoại
Phật pháp, tạo nhiều trọng tội: xuất Phật thân huyết,
phá hoà hiệp Tăng_sẽ được thành Phật hiệu Thiên Vương
Như Lai và “Long Nữ của Diêm hải Long vương mới 8 tuổi,
trí tuệ lợi căn, khéo biết các hành nghiệp của chúng sanh,
đắc đại Đà-la-ni. Chư Phật thuyết bí tạng rất sâu xa
thảy đều có khả năng thọ trì, thâm nhập thiền-định,
liễu đạt các pháp, nơi khoảnh khắc sát-na, phát tâm
Bồ-đề, đắc bất thối chuyển, biện tài vô ngại...”
Điều này cho thấy rằng ngay cả những hạng Nhất-xiển-đề
và kẻ độc ác nhất như Devadatta cũng được đức Phật
thọ ký; vì Phật tánh đã có sẵn trong loài hữu tình, mà
chuyện Long Nữ thành Phật đã là một trong những minh hoạ
vô cùng độc đáo.
Phẩm
Khuyến Trì thứ 13 nhấn mạnh đến lời giáo huấn khẩn thiết
của đức Thế Tôn, cho nên lúc ban đầu trong hội chúng có
vô số Bồ-tát và A-la-hán cũng như những Tỳ-kheo-ni, như:
Kiều-đàm-di, Da-du-đà-la đều phát tâm hoằng truyền kinh
Pháp Hoa này ở những cõi khác. Sau đó cũng có “tám vạn
ức na-do-tha Bồ-tát, chứng bất thối chuyển, đắc Đà-la-ni,
đối trước đức Phật, phát nguyện hành trì và hoằng truyền
kinh này trong đời mạt pháp, không tiếc thân mạng, khiến
cho chúng sanh viết chép, thọ trì, đọc tụng, giảng giải,
diễn thuyết ý nghĩa của kinh này, nhằm nhớ nghĩ chơn chánh,
như pháp tu hành...”
Phẩm
An Lạc Hạnh thứ 14 kể lại do sự thỉnh cầu của Bồ-tát
Văn-thù đức Phật đã thuyết về 4 pháp an lạc hạnh. Bốn
pháp này là: thân an lạc hạnh, khẩu an lạc hạnh, ý an lạc
hạnh
và nguyện an lạc hạnh. Đối với thân an lạc hạnh gồm
có hành xứ và thân cận xứ. Hành xứ là nhấn mạnh đến
sự nhiếp tâm chánh niệm, nghiêm trì tịnh giới, đối ngoại
cảnh tâm không phan duyên, nơi nội tâm luôn tự soi xét. Thân
cận xứ ở đây ngụ ý chỉ thật tướng của các pháp. Như
đức Phật dạy:
“Bồ-tát
quán chiểu tất cả các pháp đều là không, như thật tướng,
không có điên đảo, không động, không thối, không chuyển,
như hư không vốn không có tánh, hết thảy đường ngôn ngữ
đoạn tận, không sanh, không xuất, không khởi, không tên,
không tướng, vốn không thật có, vô lượng vô biên, vô ngại,
vô chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ nơi điên đảo mà
sanh, nói thường vui thích quán chiếu pháp tướng như vậy”.
Phẩm
Tùng Địa Dõng Xuất thứ 15 là sự phụng mệnh, nhận lãnh
yếu chỉ, bảo trì và phát đại nguyện diễn giảng và phổ
biến rộng kinh Pháp Hoa trong đời ác ngũ trược để những
người khác khi được nghe hoặc hành trì biên tụng sao chép
hay giảng giải kinh này tránh khỏi những tai ách và đạt
được sự an lạc cũng như có thể đạt được những công
năng thù thắng và đặc biệt là được thần lực vi diệu
mầu nhiệm của chư Bồ-tát từ đại địa xuất hiện thường
hỗ trợ và gia trì cho người lưu hành kinh này.
Kế
tiếp là Phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 tán thán sự thọ
mạng vô lượng của đức Như Lai; vì để củng cố đức
tin cho tứ chúng, đức Phật Thích-ca dạy: “Ta thật sự đã
thành Phật, vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha
kiếp lâu xa về trước” mà điều này Bồ-tát Di-lặc
đã bảo rằng không thể nào dùng toán số thí dụ để so
sánh mà có thể biết được. Cũng ý tương tợ này, ở một
đoạn khác như vầy:
“Ta
khi còn nhỏ xuất gia đã chứng đắc quả vô thượng Bồ-tát,
song Ta thật sự thành Phật đã lâu xa ngần ấy, chỉ là vì
dùng phương tiện để giáo hoá chúng sanh, khiến họ nhập
vào Phật đạo, nói lời như vậy, các thiện nam tử, Như
Lai diễn giảng kinh điển đều vì độ thoát chúng sanh, hoặc
nói về thân mình, hoặc nói về thân khác, hoặc thị hiện
thân mình, hoặc thị hiện thân khác, hoặc chỉ bày việc
mình, hoặc chỉ bày việc người. Những lời nói như vậy
đều thật sự không hề hư dối. Vì sao? Vì Như Lai thật
sự thấy tướng của tam giới, không có sanh tử hoặc thoái
hoặc tiến, cũng không phải tại thế cũng không phải diệt
độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như,
chẳng phải khác, cũng không như tam giới thấy tam giới, những
việc như thế, Như Lai thấy rõ không có sai lầm; vì các chúng
sanh có nhiều thứ tánh, nhiều thứ dục, nhiều thứ hành,
nhiều thứ nhớ tưởng phân biệt, muốn khiến cho họ sanh
các thiện căn”.
Giống
như thầy thuốc giỏi, tuỳ bịnh cho thuốc; bịnh không thuyên
giảm là do không uống thuốc, hoặc dùng thuốc không đúng
như lời dạy của lương y. Vậy lỗi không do nơi thuốc mà
do nơi người bịnh. Cũng như người cha đương là một thấy
thuốc giỏi, biết những đứa con của mình đang mắc bịnh,
dỗ dành và khuyên răn chúng uống thuốc để trừ bịnh, nhưng
có lẽ vì thuốc quá đắng hoặc vì biếng nhác không nghe
lời cha dạy; do đó, người cha bèn tìm cách đi nơi xa, rồi
để thuốc lại và căn dặn chúng nhớ uống cho khỏi bệnh.
Lúc người cha vắng nhà, chúng quên lời cha dặn uống nhầm
thuốc độc, ngã lăn trên đất rên xiết quằn quại; người
cha về thấy vậy liền lấy thuốc cho chúng uống, uống xong
bịnh lành. Người cha đang là vị lương y dụ cho đức Phật;
còn những người con ấy chính là chúng sanh; và thuốc hay
chính là giáo pháp của Ngài vậy. Phẩm này cho thấy việc
thành Phật của đức Như Lai đã từ vô lượng kiếp về
trước nhờ thành tựu vô lượng công đức nhằm khuyến hoá
chư Bồ-tát tinh tấn tu tập không sanh tâm mệt mỏi đối
với việc phụng sự chúng sanh một cách tuỳ hỷ mới có
thể đạt được những công đức thù thắng như thế.
Phẩm
phân biệt công đức thứ 17, tức là phần chánh tông, đã
kể lại chuyện đức Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
“Nếu
có người nào nghe được sự thọ mạng lâu dài của chư
Phật như thế, cho đến có khả năng sanh một niệm tin hiểu,
thì sẽ đạt được công đức vô hạn lượng. Nếu có người
thiện nam thiện nữ nào vì cầu Vô thượng Bồ-đề, nơi
80.000 ức na-do-tha kiếp, hành năm Ba-la-mật, trừ bát-nhã Ba-la-mật,
thì công đức trước kia so với công đức này không bằng
một của trăm phần cả trăm ngàn vạn phần, cho đến dùng
toán số thí dụ cũng không thể biết được".
Ở
một đoạn khác, Ngài dạy:
“Nếu
như có người được nghe nói về sự thọ mạng lâu dài mà
hiểu được ý hướng của việc nói về sự thọ mạng lâu
dài ấy, thì người này đạt được công đức vô hạn, có
khả năng phát sinh được trí tuệ vô thượng của Như Lai,
huống gì được rộng nghe kinh này; hoặc giáo hoá người
nghe, hoặc tự mình thọ trì, hoặc giáo hoá người thọ trì,
hoặc tự mình viết, hoặc giáo hoá người viết; hoặc dùng
hoa hương, anh lạc, tràng phan bảo cái... mà hiến cúng quyển
kinh ấy, thì công đức người này vô lượng vô biên, có
khả năng phát sinh nhất thiết chủng trí.”.
Phẩm
này nhấn mạnh đến công đức thù thắng có thể đạt được,
tuỳ theo cấp độ tu tập để cho những vị Bồ-tát mở rộng
trí giác nhằm phân biệt công đức vô lượng ấy.
Phẩm
Tuỳ Hỷ Công Đức thứ 18 kể lại chuyện đức Phật dạy
Bồ-tát Di-lặc rằng sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai trong
tứ chúng và những người có trí dù lớn hay nhỏ, khi được
nghe Kinh này xong tuỳ hỷ, rồi đến nơi khác nói lại pháp
ấy cho cha mẹ, họ hàng, thiện hữu tri thức, những người
này nghe xong tuỳ hỷ, rồi họ nói lại pháp ấy cho người
khác nữa, người khác nghe xong cũng tuỳ hỷ, tương tự như
thế, cho đến người thứ 50 được nghe kinh này rồi tuỳ
hỷ, thì công đức tuỳ hỷ của người thứ 50 còn hơn cả
công đức của người cầu phước mà vị này đã đem những
thứ vui thú để cúng dường cho vô số vô lượng chúng sanh
trong tứ sinh lục đạo cho đến những người này chứng được
quả A-la-hán.
Phẩm
Pháp Sư Công Đức thứ 19 ca ngợi công đức của người hoằng
truyền kinh này. Như đức Phật dạy:
“Nếu
có người thiện nam, người thiện nữ nào thọ trì kinh Pháp
Hoa này, hoặc đọc tụng, hoặc giải thích, hoặc viết chép,
thì người ấy sẽ được 800 công đức của mắt, 1200 công
đức của tai, 800 công đức của mũi, 1200 công đức của
lưỡi, 800 công đức của thân và 1200 công đức của ý. Chính
nhờ công đức trang nghiêm, mà sáu căn đều được thanh tịnh”.
Kế
tiếp là Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát thứ 20. Nó đề cao
đức tánh khiêm cung luôn tôn trọng và quí kính người khác,
một trong những hạnh Bồ-tát mà rất hiếm người làm nổi.
Được mệnh danh là Thường Bất Khinh là vì “có một Tỳ-kheo,
hễ khi nào thấy Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di
thảy đều lễ bái tán thán, thưa rằng “Tôi kính trọng
quí ngài, chứ không dám khinh mạn. Vì sao? Vì quí ngài đều
hành Bồ-tát đạo, sẽ được thành Phật”.
Phẩm
Như Lai Thần Lực thứ 21 tán thán công hạnh và tinh thần
vô ngã của Bồ-tát xuyên qua sự hỗ trợ và năng lực thần
diệu của Như Lai.
Phẩm
Chúc Luỵ thứ 22 nói về sự giao phó việc hoằng truyền kinh
này cho các vị Bồ-tát. Khi đức Phật Thích-ca dùng tay phải
xoa đảnh những vị Bồ-tát rồi dạy:
“Ta
trải qua vô lượng trăm ngàn A-tăng-kỳ kiếp, tu tập khó
khăn lắm mới có thể chứng được pháp vô thượng Bồ-đề
này. Nay Ta đem giao phó cho các ông, các ông phải nên hết
lòng lưu truyền rộng rãi khiến cho hết thảy chúng sanh đều
được lợi ích”.
Sau
ba lần xoa đảnh những vị Bồ-tát như vậy, rồi Ngài lại
dạy:
“Ta
trải qua vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, tu tập khó khăn lắm
mới có thể chứng được pháp vô thượng Bồ-đề này. Nay
Ta đem giao phó cho các ông, các ông phải nên thọ trì đọc
tụng diễn giải rộng rãi pháp này, khiến cho hết thảy chúng
sanh đều được nghe biết. Vì sao? Vì Như Lai có lòng từ
bi lớn, không tiếc lẫn cũng không sợ hãi, hay ban cho chúng
sanh trí tuệ của Phật, trí tuệ của Như Lai, trí tuệ tự
nhiên. Như Lai là bậc Đại thí chủ của hết thảy chúng
sanh, các ông cũng nên tuỳ thuận học theo pháp của Như Lai,
chớ nên sanh lòng tiếc lẫn. Trong đời vị lai, nếu có người
thiện nam kẻ thiện nữ nào tin tưởng trí tuệ của Như Lai,
thì các ông phải nên vì người ấy mà diễn thuyết pháp
kinh Pháp Hoa này khiến được nghe biết, khiến cho người
tin trí tuệ của Như Lai có thể chứng đắc trí tuệ của
Như Lai. Nếu có chúng sanh nào không tin tưởng thọ trì, các
ông phải vận dụng trong giáo pháp sâu xa khác của Như Lai
để chỉ bày giáo hoá, khiến họ được lợi ích hoan hỷ.
Các ông nếu làm được như thế, tức là đã báo đáp được
ân đức của chư Phật”.
Sau
cùng, những vị Bồ-tát được đức Phật xoa đảnh thọ
ký đã phát nguyện làm đúng theo hoài bảo và lời huấn thị
của Như Lai.
Phẩm
Dược Vương Bồ-tát thứ 23 kể lại chuyện của Tú Vương
Hoa Bồ-tát hỏi đức Phật Thích-ca vì nhân duyên gì mà Bồ-tát
Dược Vương du hành trong cõi ta-bà; do đó, đức Phật mới
bảo rằng Bồ-tát ấy có được cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha
khổ hạnh khó hành. Rồi ngài kể lại sự tích xưa kia của
Bồ-tát ấy có tên là Hỷ Kiến Bồ-tát ở trong thời Phật
Tịnh Minh Đức, đức Phật này đã thuyết kinh Pháp Hoa cho
vị ấy và những vị Bồ-tát khác. Hỷ Kiến Bồ-tát tinh
tấn tu hành, xả thân bố thí, nguyện cầu quả Phật... Khi
đức Phật diệt độ, vị Bồ-tát ấy không những đã tạo
84.000 bảo bình và dựng 84.000 bảo tháp, mà còn đốt cả
hai cánh tay cúng dường cho đức Phật Tịnh Minh Đức ấy.
Do tâm thành của Bồ-tát Hỷ Kiến đốt cả hai tay cúng dường,
đã khiến mười phương thế giới chấn động, chư Thiên
cũng đã mưa hoa cúng dường Bồ-tát Hỷ Kiến ấy.
Đoạn
cuối của Phẩm này tán thán việc cúng dường kinh Pháp Hoa
và nêu lên 10 giá trị cao thượng của kinh này, như sau:
1)
Trong các dòng sông, biển lớn nhất; cũng vậy, trong các kinh,
Kinh Pháp Hoa này là sâu và lớn nhất.
2)
Trong các ngọn núi, núi Tu-di cao nhất; cũng vậy, trong các
kinh, Kinh này cao hơn hết.
3)
Trong các vì sao, mặt trăng là sáng nhất; cũng vậy, trong các
kinh, Kinh này chói sáng nhất.
4)
Như mặt trời có công năng trừ mọi tối tăm; Kinh này cũng
vậy có công năng phá trừ hết thảy tối tăm, bất thiện.
5)
Trong các vị Tiểu Vương, Chuyển luân Thánh vương là lớn
nhất; cũng vậy trong các kinh, Kinh này được tôn kính nhất.
6)
Như Đế-thích là vua ở cõi trời thứ 33; kinh này cũng vậy,
vua trong các kinh.
7)
Như Đại phạm Thiên vương là cha của tất cả chúng sanh;
kinh này cũng vậy, cha của tất cả những bậc Thánh hiền,
Hữu học, Vô học và người phát tâm Bồ-tát.
8)
Trong tất cả người phàm phu, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm
và A-la-hán, Bích-chi-phật là trên hết; cũng vậy trong các
kinh, Kinh này là trên hết.
9)
Trong hạng Thanh-văn và Bích-chi-phật, Bồ-tát là thứ nhất;
cũng vậy, trong các kinh, Kinh này là thứ nhất.
10)
Như Phật là vua các pháp; cũng vậy Kinh này là vua các kinh.
Cuối
cùng, đức Phật đã khẳng định, sự chói sáng và vi diệu,
sự cao sâu và mầu nhiệm, sự tối thắng và linh nghiệm của
kinh này đã giúp vô số chúng sanh diệt trừ mọi thống khổ
và đạt được sự an lạc cũng như tầm giá trị vô
cùng quan trọng của kinh này; đặc biệt Ngài đã khuyến hoá
những vị Bồ-tát phải tinh tấn thọ trì và hoằng truyền
rộng rãi kinh này.
Phẩm
Diệu Âm Bồ-tát thứ 24 trình bày về Diệu Âm Bồ-tát cùng
với 84.000 Bồ-tát khác từ cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm nơi
ấy có đức Phật hiệu là Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai
nương vào thần thông du hý, trí tuệ trang nghiêm và công đức
vô tận của đức Như Lai đến cõi ta-bà để nghe đức Phật
Thích-ca thuyết kinh Pháp Hoa và cứu giúp chúng sanh. Tại núi
Linh-thứu, trong khi tất cả chúng hội đang nghe giảng kinh
Pháp Hoa, Bồ-tát Văn-thù thấy điểm lạ xuất hiện bèn hỏi
đức Phật Thích-ca vì nhân duyên gì có điềm lạ như thế
và nhờ gieo trồng công đức gì mà Bồ-tát Diệu Âm có được
thân sắc vàng cùng với 84.000 Bồ-tát khác có được thần
thông tam-muội du hý như vậy. Đức Thích-ca đáp rằng họ
đến cõi này để cúng dường, lễ bái và nghe Ngài thuyết
kinh này. Rồi Bồ-tát Diệu Âm đem trăm ngàn chuỗi anh lạc
vô giá đến dâng cúng đức Thế Tôn và kính chuyển lời
vấn an của đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai đến
đức Phật Thích-ca. Ngay lúc ấy, đức Phật Đa Bảo đang
ở trong tháp bảy báu, khi nghe đức Thích-ca vặn hỏi rằng
Ngài có nghe pháp và thấy điềm lành gì hay không; do đó,
bấy giờ đức Đa Bảo hết lời tán thán Bồ-tát Diệu Âm.
Vì nhân duyên này, Bồ-tát Hoa Đức cũng thỉnh vấn đức
Phật rằng Bồ-tát Diệu Âm do nhân duyên gì và gieo trồng
những công đức gì mà có được thần lực vi diệu như thế.
Rồi
đức Phật Thích-ca mới kể lại sự tích của Bồ-tát Diệu
Âm trong quá khứ ở cõi nước Hiện Nhất Thiết Thế Gian
có Phật hiệu là Vân Lôi Âm Vương cách đây hai vạn ngàn
năm đã từng đem mười vạn thứ kỹ nhạc và 84.000 bát thất
bảo cúng dường đức Phật ấy. Nhờ công đức như thế,
cho nên Bồ-tát Diệu Âm có được thần lực như vậy. Rồi
Bồ-tát Hoa Đức hỏi đức Phật Thích-ca rằng Bồ-tát ấy
trụ vào tam-muội gì mà lại có được công năng biến hoá
tự tại vô ngại như vậy. Đức Phật dạy rằng tam-muội
đó gọi là “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân”, nhờ tam-muội
này mà Bồ-tát Diệu Âm đã độ vô lượng vô số chúng sanh
từ kiếp lâu xa đến nay. Khi Bồ-tát Diệu Âm cúng dường
và vấn an xong, trở về bổn quốc và trình bày lại những
gì đã xãy ra tại cõi ta-bà này. Đây là nhấn mạnh đến
phép mầu vi diệu và công năng tuỳ duyên hiện thân để nhiếp
hoá cứu giúp loài hữu tình trong đời ác ngũ trược này.
Kế
tiếp là Phẩm Quán-thế-âm Bồ-tát thứ 25. Sự hoá thân cứu
độ vô số chúng sanh ở cõi ta-bà càng rõ hơn là Bồ-tát
Quán Thế Âm. Phẩm này rất phổ biến và chắc hẳn có sự
linh nghiệm thiết thực và rất gần gũi với tất cả chúng
sanh. Thậm chí danh hiệu ngài đã trở thành tên của nhiều
đạo tràng và chùa tháp cũng như hình tượng của ngài được
tôn thờ khắp nơi trong nhân gian. Đặc biệt phẩm này thường
được tụng vào 3 ngày lễ vía của ngài trong một năm. Phẩm
này kể lại rằng do Vô Tận Ý Bồ-tát thỉnh vấn đức Thế
Tôn giải đáp vì nhân duyên gì mà Bồ-tát ấy lấy danh hiệu
là Quán-thế-âm như thế. Ngài dạy:
“Này
thiện nam tử, nếu có vô lượng trăm nghìn vạn ức chúng
sanh chịu những khổ não, nghe đến danh hiệu của Quán-thế-âm
Bồ-tát, hết lòng xưng tụng danh hiệu Quán-thế-âm Bồ-tát.
Tức thời ngài quán xét âm thanh đó, liền đến cứu độ
cho họ được giải thoát”.
Ngoài
ra, những khổ não của chúng sanh được tóm thâu trong 7 nạn
khác nhau, như sau: 1. Nạn hoả hoạn lớn; 2. Nạn La-sát; 3.
Nạn dao gậy; 4. Nạn quỉ lớn; 5. Nạn gông cùm; 6. Nạn oán
tặc; và 7. Nạn oán tặc. Nếu hết lòng xưng tán danh hiệu
và nhất tâm cầu nguyện Quán-thế-âm Bồ-tát đến giúp,
thì Ngài sẽ tuỳ phương hướng và tuỳ vào tiếng kêu cứu
nơi đầu liền hiện thân đến nơi đó để cứu giúp. Nếu
người có nhiều dâm dục, nhiều sân hận và nhiều ngu si,
thường niệm cung kính Quán-thế-âm Bồ-tát, liền lìa được
dâm dục, sân hận và ngu si. Thậm chí nếu có người muốn
cầu con trai hay con gái, thường niệm cung kính danh hiệu của
Ngài, liền được như sở cầu. Do sức oai thần của Quán-thế-âm
Bồ-tát linh nghiệm và nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng
sanh cần phải thường niệm danh hiệu và cung kính Ngài. Để
thể hiện lòng cung kính, Vô Tận Ý Bồ-tát đã đem chuỗi
anh lạc bằng báu có giá trị trăm ngàn lạng vàng dâng cúng
cho Bồ-tát Quán-thế-âm. Lúc đầu Ngài từ chối nhưng vì
tấm lòng tha thiết cúng dường, cuối cùng Ngài đã nhận
chuối anh lạc ấy, rồi chia ra hai phần, một phần dâng cúng
cho đức Thích-ca, phần còn lại dâng cúng cho Tháp Phật Đa
Bảo.
Phẩm
Đà-la-ni thứ 26 trình bày về những thần chú linh nghiệm
và năng lực của chư Phật hộ trì cho Pháp sư thuyết kinh,
người trì kinh và bảo vệ kinh này; năng lực ngăn chặn kẻ
xấu làm hại Pháp sư, làm hại người trì kinh và phá hoại
kinh này. Ngoài ra, còn có những vị như là: Dược Vương Bồ-tát,
Dõng Thí Bồ-tát, Tỳ-sa-môn Thiên Vương Hộ Thế, Trì Quốc
Thiên Vương, v.v... cũng đều phát tâm tuyên thuyết thần chú
để hộ trì cho những vị Pháp sư giảng kinh Pháp Hoa này
và những người đọc tụng kinh này.
Phẩm
kế tiếp là Diệu Trang Nghiêm Vương thứ 27 kể lại chuyện
trong thời quá khứ của vua Diệu Trang Nghiêm lúc đầu vốn
không tin Phật, sau được Tịnh Đức phu nhân của vua, cùng
với hai người con: Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn khuyến hoá hành
thiện và cải tà quy chánh, xuất gia đầu Phật, thường tinh
tấn tu hành kinh Pháp Hoa, nhờ vậy mà chứng được Nhất
Thiết Tịnh Công Đức Trang Nghiêm Tam-muội. Diệu Trang Nghiêm
Vương chính là Hoa Đức Bồ-tát; Tịnh Đức phu nhân của
vua chính là Trang Nghiêm Tướng Bồ-tát; Tịnh Tạng và Tịnh
Nhãn con của vua Diệu Trang Nghiêm chính là Dược Vương Bồ-tát
và Dược Thượng Bồ-tát. Sau cùng có vô số người xa lìa
trần cấu, chứng đắc được pháp nhãn thanh tịnh.
Cuối
cùng là Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyến Phát. Phẩm này nhấn
mạnh đến tín tâm kiên cố, tinh tấn thực hành và trì tụng
kinh Pháp Hoa sẽ được Phổ Hiền Bồ-tát hộ trì; và đây
cũng là phẩm tổng kết toàn bộ Kinh này. Từ cõi nước của
đức Phật Bảo Oai Đức Vương đến cõi Ta-bà tại núi Linh-thứu
lễ Phật và xin được nghe giảng kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền
Bồ-tát cùng với vô số chúng Bồ-tát, sau khi nghe xong, liền
phát tâm hộ trì và thỉnh vấn đức Phật Thích-ca rằng,
sau khi đức Thế Tôn diệt độ, làm thế nào để duy trì
và lưu hành phổ biến kinh này. Vì lý do này, đức Phật khuyến
hoá các vị Bồ-tát cần phải thành tựu 4 pháp như sau: 1)
Được chư Phật trợ giúp bảo trì; 2) Gieo trồng các cội
gốc công đức; 3) Nhập chánh định tụ; và 4) Phát tâm cứu
giúp tất cả chúng sanh.
Rồi
Bồ-tát Phổ Hiền đã phát nguyện rằng 500 năm sau khi đức
Thế Tôn diệt độ, trong đời ác năm trược, nếu có người
thọ trì kinh này, ngài sẽ hộ trì và khiến cho người đó
được an ổn, không để cho ác ma quấy nhiễu và làm hại;
hoặc ngài sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà, cùng với chúng đại
Bồ-tát đều đến chỗ người trì tụng và diễn giảng kinh
này bằng cách hiện thân, cúng dường và bảo vệ khiến cho
người ấy được an ổn. Ngoài ra, người trì tụng kinh này
sẽ được tôn kính. Khi đức Phật thuyết phẩm này xong vô
số Bồ-tát Thánh chúng, Thiên nhơn và các chúng khác đều
phát tâm hộ trì chánh pháp, hộ trì chân lý và khuyến thỉnh
tất cả chúng hội tu tập đúng theo hạnh nguyện của Bồ-tát
Phổ Hiền.
Trên
đây chỉ là sự tóm lược những ý chính và những vấn đề
quan trọng của từng phẩm. Tuy không nói hết những chi tiết
nhưng có lẽ cũng toát lên những điều cốt yếu của toàn
bộ nội dung của mỗi phẩm trong kinh này.
Nói
về Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), nó được tông
Thiên Thai ở Trung Hoa, nổi bậc nhất là ngài Thiên Thai Trí
Khải Đại Sư, xiển dương nghĩa lý thâm áo của nó đến
tột đỉnh xuyên qua tư tưởng thù thắng về “nhất tâm
tam quán” , “nhất niệm tam thiên”. Những giáo pháp mà
suốt những thập niên thuyết pháp trong thời sinh tiền của
đức Thế Tôn cũng đã được tỉ giảo bằng chủ trương
“ngũ thời bát giáo”. Xuyên qua ngũ thời bát giáo của Tông
Thiên Thai, ngài Trí Khải đã giúp cho chúng ta có một cái
nhìn tổng quan về toàn bộ hệ thống của giáo pháp mà đức
Thế Tôn đã dạy bằng bốn cấp độ: Đốn, Tiệm, Mật và
Bất định, cũng như phương pháp giáo hoá của Ngài là: Tạng,
Thông, Biệt và Viên. Ngoài ra, khuynh hướng “ngũ trùng huyền
nghĩa” tức là: Danh, Thể, Tông, Dụng và Giáo của Kinh Pháp
Hoa cũng đã được xiển dương. Danh đề cập đến đề kinh
Diệu Pháp Liên Hoa; Tông nói rõ nghĩa lý thiết thực của
kinh; Thể biện minh đến triết lý của kinh; Dụng bàn về
hiệu quả thực tế của kinh; và Giáo thẩm định giá trị
của kinh này với những kinh điển khác.
Tóm
lại, Vốn dĩ được tôn phong là “chúng kinh chi vương”,
cho nên kinh này có giá trị rất cao về văn chương và nghệ
thuật điêu khắc cũng như về tư tưởng thâm áo mà khó có
thể thấy trong những kinh điển Đại thừa trước đó. Giáo
nghĩa của Pháp Hoa đã khơi dậy nguồn tâm thanh tịnh và Phật
tánh thường minh trong tất cả loài hữu tình. Điều đáng
lưu ý là đạo Phật lấy con người làm trung tâm, nhưng đến
kinh Pháp Hoa này, nó đã nhấn mạnh đến Phật tánh vốn sẵn
có trong vạn loại chúng sanh_có thể tìm thấy tinh thần này
trong kinh Phạm Võng_mà khác với khuynh hướng của những kinh
trước đây. Chẳng hạn nó đã đập nát mọi khái niệm cứng
nhắc của hàng Nhị thừa, Tân học và Sơ học Bồ-tát, nó
dựa trên nền tảng Phật tánh và nhấn mạnh đến quả vị
tu chứng đều bình đẳng, không những hạng cực ác như Devadatta
(Đề-bà-đạt-đa) và hạng Icchantika (Nhất-xiển-để-ca) mà
còn cả đến Long Nữ cũng đều có khả năng thành Phật.
Quả thật đây là một khuynh hướng rất đặc thù, một tư
tưởng rất táo bạo. Và càng táo bạo hơn nữa đó là đối
với những hạng người bị tâm tán loạn, khi vào chùa hay
tháp có thờ tôn tượng Phật, chỉ cần nhất tâm xưng tụng
danh hiệu Ngài cùng đều được thành Phật, mà nó đã
gợi nhắc cho chúng ta đến kinh Di-đà liên quan đến sự nhất
tâm bất loạn từ một cho đến bảy niệm cũng đều được
vãng sanh về thế giới Tịnh độ.
Trên
tất cả, nó giúp cho chúng ta có được tư tưởng thâm áo
xuyên qua khái niệm về thật tướng của các pháp, dù sự
hiện hữu của các pháp là do duyên sinh, nhưng thật tướng
của các pháp chính là các pháp thường trú, là thật tại
tánh bình đẳng của chúng. Ở cấp độ cao hơn, có lẽ
nói rằng siêu việt nhất là tư tưởng thâm áo về thật
tướng của các pháp, hay thật tại tánh chỉ đều là danh
ngôn tạm bịa đặt ra mà đấng Đạo Sư đã vận dụng phương
tiện vô cùng thiện xão để dắt dẫn tất cả chúng sanh
thoát khỏi vòng luân hồi sanh diệt và tái sanh trong tam giới.
Vì sao? Vì các pháp là do duyên sanh, không sanh cũng chắng diệt,
cũng giống như đức Như Lai, “vô sở tùng lai diệc vô sở
khứ”; cũng vậy, đức Như Lai đã thấy và biết rõ như
thật rằng tất cả các pháp thảy đều là vô tánh.
Chương
V:
Lalitavistara
sūtra (Đại Trang Nghiêm Kinh) 
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Một
trong Vaipulya Sūtras (những Kinh Phương Đẳng/Quảng) thuộc
hệ Saṅskrit thiêng liêng nhất của Phật giáo Đại thừa
là Lalitavistara sūtra (Kinh Đại trang Nghiêm). Sự xuất hiện
của bản kinh này khi nào, cho đến nay vẫn chưa được xác
định; vì nó là một tác phẩm hơi đặc thù so với những
kinh Đại thừa khác. Nó trình bày đầy đủ và khá chi tiết
về cuộc đời của đấng Đạo Sư, mà nguồn gốc của nó
bắt đầu từ bản kinh khá cổ của Sarvāstivādins (những
người theo Nhất Thiết Hữu Bộ) thuộc Hīnayāna (Tiểu thừa),
và được phiên dịch ra tiếng Trung Hoa chừng khoảng đầu
thế kỷ thứ I sau CN. Về sau, Lalitavistara được mở
rộng và được thêm vào nội dung của nó trong ý nghĩa phát
triển của Phật giáo Đại thừa.
Giống
như Mahāvastu (Đại Sự) và Suttanipāta (Kinh Tập trong Pali),
tiểu sử của đức Phật có thể được tìm thấy trong Lalitavistara
sūtra. Thậm chí cho đến vài ba thế kỷ sau CN, nhiều sử
gia và học giả dường như đã bất lực bởi không có một
chứng cớ khả quan nào để xác minh cho bản kinh này. Vì M.
Winternitz và J.K. Nariman đã tự hỏi rằng phải chăng
Lalitavistara có tên là Phổ Diệu Kinh hay không, mà nó có liên
quan đến tiểu sử của đức Phật và đã được Dharmarakṣa
(Trúc Pháp Hộ, đời Tây Tấn) dịch năm 300 (theo Nariman), hoặc
308 (theo Winternitz) hay không. Nếu đúng như vậy, thì nó được
đề nghị là bản dịch thứ hai của Lalitavistara. Nhưng
thực tế, Phổ Diệu Kinh không có trong phạn bản của Nanjo
cũng như không có trong danh mục kinh điển. Do đó, sự nghi
ngờ của hai học giả trên là xác thực. Chính vì lý do này
A. B. Keith đã phớt lờ chẳng đề cập.
Xấp
xỉ sáu thế kỷ sau CN, Lalitavistara mới chính thức được
công nhận là một trong những kinh Phương Đẳng/Quảng quan
trọng và thiêng liêng nhất của Phật giáo Đại thừa. Với
bản Saṅskrit mang tựa đề là Lalitavistaro nāma mahāpurāṇaṃ,
Tàu dịch là Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh, cũng được
gọi là Thần Thông Du Hý Kinh, do Divākara (Địa-bà-ha-la) dịch,
đời Đường, 12 quyển, ĐC 3, 187. Về sau, một bản dịch
khác của Tây Tạng, theo Winternitz, M., cũng được xem như là
kinh văn có nguồn gốc từ bản Saṅskrit, nhưng nó chỉ xuất
hiện vào khoảng thế kỷ thứ 9 sau này, chứ không phải
thế kỷ thứ 5 như Nariman đã đề cập. Nói chung, Lalitavistara
sūtra được Tàu dịch vào đầu thế kỷ thứ I nhưng không
có một chứng cứ xác thực nào; đây cũng là một nghi vấn
lớn liên quan đến nguồn gốc của nó, mà chúng ta cần phải
lưu tâm đến.
b.
Khái lược về Nội dung:
Như
những kinh văn cổ thuộc hệ Saṅskrit của Phật giáo, kinh
này được trình bày theo hai thể loại: văn xuôi và kệ tụng.
Nó được viết bằng Saṅskrit thuần tuý và Saṅskrit pha trộn
với Prākrit (phương ngữ Ấn). Việc hình thành tác phẩm này
không phải là một tác giả, mà là một sự biên soạn gồm
nhiều tác giả vô danh khác nhau; vì nó gồm những đoạn Saṅskrit
rất cổ và những đoạn Prākrit được đặt gần nhau. Vả
lại một chuyện kể liên tục bằng thể văn xuôi Saṅskrit
cũng như vô số chuyện kể khác, thường được mở rộng
bằng những đoạn văn có vận luật bằng Saṅskrit pha trộn.
Theo phương thức vận luật, nó tóm tắt lại những chuyện
kể bằng văn xuôi rất ngắn gọn và đơn giản, đôi khi cũng
có ít nhiều sự bất đồng về thể loại. Có nhiều đoạn
văn được vận luật là những truyện kể rất cổ và hay,
mà có lẽ được tìm thấy cùng nguồn gốc ngôn ngữ cổ
như những truyện thơ đề cập trong Suttanipāta (Kinh Tập)
của tạng Pali. Có thế nói rằng Kinh này trình bày những
điều phi thường với đặc trưng của một kinh Đại thừa,
kể lại những chuyện sinh tiền của thời đức Phật, dù
trên danh nghĩa của Sarvāstivādins thuộc Hīnayāna.
Lalita
(the sport) có nghĩa là sự tiêu khiển hay sự du hí; vistara
(Full or Detailed Description) có nghĩa là sự mô tả chi tiết
hoặc đầy đủ. Lalitavistara có nghĩa là “Những chuyện kể
chi tiết về thần thông du hí của đức Phật” (The Detailed
Narration of the Sport [of the Buddha]). Nếu cứ vào bản dịch của
Tàu, nó cho thấy ý tưởng của Phật giáo Đại thừa quả
thật rất hợp với tựa đề của kinh trên. Trong phần nội
dung chính, nó kể lại cuộc đời giáo hoá trong thời sinh
tiền của đức Phật, Ngài được định rõ như bậc Siêu
vĩ nhân, được cả nhân thiên tán dương và tôn kính.
Ngoài
ra, trong thế giới nghệ thuật và điêu khắc của Phật giáo,
những danh gia hoạ sĩ và điêu khắc thời cổ đã thêm vào
những nét chạm trổ độc đáo liên quan đến những công
trình điêu khắc vĩ đại của Phật giáo-Hy lạp ở vùng Bắc
Ấn (Gandhara) với những mô hình đầy sống động, những
cảnh tượng thần diệu đang diễn tả lại cuộc đời của
đấng Đạo Sư mà hầu như tất cả chúng đã khá quen thuộc
với truyền thuyết của đức Phật khi liên quan đến Lalitavistara
này. Không phải là Lalitavistara đã cho chúng ta những tin tức
về Phật giáo phổ biến trong những thời kỳ đầu, nhưng
nó cung cấp những tin tức giúp cho chúng ta thấy được sự
phát triển về truyền thuyết Phật giáo ở thời điểm sớm
nhất với những dữ kiện chính trong nếp sống của bậc
Đại giác. Đó là vì lòng từ bi thương tưởng tất cả loài
hữu tình đã được biểu hiện bằng sự nghiệp hoằng pháp
lợi sanh suốt những thập niên trong thời sinh tiền của Ngài,
từ khi Giáo đoàn vừa mới được thành lập đến lúc nhập
Niết-bàn. Chính vì những dữ kiện lịch sử ấy, cho nên
Ngài đã được tôn kính và nghiễm nhiên trở thành bậc Thánh
tối tôn nhất trong tất cả bậc Thánh, bậc Đạo Sư vĩ đại
và siêu phàm nhất của tất cả những bậc Đạo sư.
Nhìn
chung, có lẽ văn chương ảnh hưởng đến nghệ thuật và
nghệ thuật tác động vào văn chương, cả hai lãnh vực đã
hoà quyện và giao thoa, hỗ tương và ảnh hưởng lẫn nhau.
Nghệ thuật Phật giáo trong thời kỳ này có phần đặc thù
hơn nghệ thuật trong thời kỳ Aśoka ở Bharut hoặc Sānchi
bởi rất hiếm hình tượng biểu trưng của đức Phật mà
có lẽ phổ biến nhất là biểu tượng “pháp luân” được
đặt vào chỗ của đấng Đạo Sư; còn Lalitavistara này làm
nổi bậc hình tượng của đức Thế Tôn, và Ngài là một
trong những chủ đề chính của nghệ thuật ở vùng Gandhāra
(Kiền-đà-ra).
Trong
Phẩm Giới Thiệu, đức Phật xuất hiện như một bậc Thánh
được tán dương, dù đầu Chương này nó cũng giống như
những kinh Pali cổ, mà khi đối chiếu với Hán Tạng thường
bắt đầu bằng những dòng: “Như thị ngã văn, nhất thời
Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ-thọ Cấp-cô-độc viên”. Ngay
sau đoạn văn này, Lalitavistara cũng giống như những Vaipulyas
(Kinh Phương Đẳng) khác, giới thiệu cho chúng ta biết về
“hình ảnh chói sáng của đức Thế Tôn giữa những vị
Thánh đệ tử gồm 12.000 Tỳ-kheo và gần 32.000 Bồ-tát chung
quanh. Tất cả họ chỉ còn một đời là được tái sanh,
và tất cả được sinh ra với sự hoàn hảo, có trí tuệ
của một vị Bồ-tát, và có năng lực quán chiếu thiền-định
sâu xa, v.v...”
Chuyện
kể lại rằng bấy giờ vào lúc giữa đêm, đang trong đại
định, Ngài phóng một luồng hào quang chiếu sáng cả thiên
giới, trong thoáng chốc chư thiên trỗi nhạc trời tán thán
đức Phật, rồi lập tức xuất hiện và đảnh lễ đức
Thế Tôn và cầu thỉnh Ngài thuyết pháp vì lợi ích và an
lạc cho tất cả chư Thiên và loài người, lúc ấy đức Thế
Tôn hoan hỷ hứa khả. Tuy chỉ giới thiệu cảnh quang đặc
biệt này, nó đã chiếm hết một chương dài, mà những câu
chuyện tiền thân cũng như tiểu sử của đức Phật đã hình
thành nội dung của tác phẩm này.
Từ
Phẩm thứ 2 đến 6, nó kể lại chuyện đức Thế Tôn đang
ngự tại Thiên cung Tuṣita (Đâu-suất), và với âm thanh của
80.000 tiếng trống đã thôi thúc thỉnh Ngài hạ sanh vào cõi
Ta-bà để bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh; rồi
kể lại chuyện hạ sanh vào vương cung của vua Śuddhodana (Tịnh
Phạn), trong thai tạng của hoàng hậu Māyā (Ma-gia-phu-nhân),
người đầy đủ đức hạnh và phẩm chất, sức mạnh và
nghị lực của thân mẫu đức Thế Tôn... Khi cơn đau quấy
rầy được cứu chữa, hoàng hậu đặt tay lên đầu của
mình, và bất cứ khi nào nhìn về bên phải đều thấy diện
mạo và hình ảnh của vị Bồ-tát chưa sanh rõ ràng như người
đang soi gương. Trong vườn Lumbini (Lâm-tỳ-ni), khi Bồ-tát
được sanh ra, bảy bước đi của Ngài đều có bảy đoá
sen rộ nở đón chào... cùng với lời tuyên bố về sự xuất
hiện ư thế vĩ đại của Ngài.
Trong
Phẩm thứ 7 câu chuyện bị ngắt quãng và chuyển sang một
tình huống khác bằng cách nhấn mạnh đến đức tin rằng
Ngài là đấng Thiện thệ, những ai tin và quy y nương tựa
Ngài, thì họ đều là những thiện tri thức của Như Lai,
Như Lai có rất nhiều thiện tri thức, nhưng những vị ấy
chỉ nói đúng sự thật, chứ không nói sai sự thật...
Từ
Phẩm thứ 8 đến 10 kể lại những kinh nghiệm và sự thông
minh xuất chúng của Bồ-tát ở trường. Hai Phẩm kế tiếp
kể lại những câu chuyện liên quan đến tiểu sử của Bồ-tát
đang sống trong hoàng cung.
Từ
Phẩm thứ 14 đến 26 mô tả lại cuộc đời Ngài khi dạo
chơi ngoài bốn cửa thành và chứng kiến cảnh sinh, già, bệnh
và chết cũng như kể lại việc từ bỏ vương cung, sự xuất
gia học đạo và tu khổ hạnh, sự hàng phục chúng ma cũng
như sự thành đạo của Ngài; sự diện kiến vua Bimbisāra
(Tần-bà-ta-la).... lời thỉnh cầu của Phạm thiên thỉnh Như
Lai chuyến pháp luân....
Phẩm
thứ 27 mới thế hiện tinh thần của Phật giáo Đại thừa,
và cũng chính chương này đã làm chói sáng toàn bộ nội dung
của Lalitavistara với vô số đức hạnh và trí tuệ của Như
Lai xuyên qua giáo nghĩa của việc chuyển pháp luân. Không phải
như những pháp về Tứ Đế, Bát Chánh Đạo và tinh thần
Trung đạo với tam chuyển thập nhị hành theo chiều luân khởi
và hoàn diệt về 12 chi phần duyên khởi, mà Chương này nhấn
mạnh đến tinh thần bình đắng của pháp tánh, cảnh giới
thanh tịnh của chư Phật với thật tướng của các pháp là
không tăng giảm, không đoạn thường, tịch tĩnh và bình đẳng
như hư không.
Nếu
đối chiếu với Hán tạng trong Đại Trang Nghiêm Kinh hay Thần
Thông Du Hý Kinh, thì bản dịch của Tàu có những Phẩm hơi
khác theo thứ lớp nhưng nội dung vẫn tương đồng. Đặc
biệt hai quyển cuối 11 và 12 nhấn mạnh đến vấn đề chuyển
pháp luân. Trong Phẩm Chuyển Pháp Luân thứ 26 của quyển thứ
11, nó trình bày về pháp luân, mà bản tánh của nó chiếu
sáng cùng khắp hư không, không sinh diệt, không tăng giảm.
Đoạn văn dưới đây hiển bày bổn tánh của pháp luân, thật
tướng của các pháp và cảnh giới thanh tịnh của chư Phật
như vầy:
“Bấy
giờ Bồ-tát Di-lặc bạch đức Phật: ‘Bạch đức Thế Tôn,
vô lượng chúng đại Bồ-tát đã vân tập, nguyện đức Như
Lai chuyển bánh xe pháp để cho những vị Bồ-tát ấy có được
những công đức. Xin nguyện đức Thế Tôn, hãy vì chúng đại
Bồ-tát giảng lược pháp yếu về tánh của pháp luân’”.
“Phật
bảo Di-lặc cùng với chư vị Bồ-tát: ‘Này (các) thiện
nam tử, pháp luân rất sâu xa vì không thể nắm bắt; pháp
luân rất khó thấy vì xa lìa nhị biên; pháp luân rất khó
gặp vì xa lìa sự tác ý và không tác ý; pháp luân không cách
ly vì phải đoạn trừ nhị chướng mới có khả năng chứng
đắc; pháp luân vi diệu vì xa lìa các ví dụ; pháp luân rất
kiên cố vì phải dùng trí kim cang mới có khả năng thể nhập;
pháp luân không hề chướng ngại vì không có bờ mé hay nguồn
gốc; pháp luân không phải để đàm (luận hý) tiếu vì xa
lìa mọi sự phan duyên; pháp luân không cùng tận vì không
hề thối thất; pháp luân phổ biến khắp nơi vì nó như hư
không’”.
“Này
Di-lặc, pháp luân hiển thị bản tánh của tất cả các pháp;
nó tịch tĩnh không sanh không diệt, không có xứ sở, không
có phân biệt cũng chẳng phải không phân biệt, (thẩm thấu)
đến (cùng tột) thật tướng, sang bờ giải thoát kia, như
hư không, không có hình tướng, không có sở nguyện, không
có tạo tác. Thể tánh của nó (thường) thanh tịnh, xa lìa
các tham dục, hội nhập với chơn như, cùng đồng với pháp
tánh, thật tế bình đẳng; chẳng hoại cũng chẳng đoạn,
không (đắm) trước cũng không (chướng) ngại, khéo thể nhập
duyên khởi, siêu việt nhị biên, không tại trung gian,
không hề khuynh động, hợp với chư Phật, không dụng công
hạnh, không tiến không lùi, không xuất không nhập, không
có chỗ chứng đắc, cũng không thể dụng ngôn thuyết (để
diễn bày). Tánh chỉ là một, còn người và các pháp chẳng
phải là hai, cũng không thể an lập; nương vào đệ nhất
nghĩa, thể nhập thật tướng của các pháp, pháp giới bình
đắng, siêu việt số lượng, đường ngôn ngữ đoạn sạch,
chỗ tâm hành cũng diệt, không thể dùng ví dụ (để tỉ
giảo, vì) bình đẳng như hư không, không xa lìa đoạn thường,
cũng không hoại diệt duyên khởi, không hề biến đổi, cứu
cánh tịch diệt, hàng phục các ma, diệt hết ngoại đạo,
thoát vòng sanh tử, nhập cảnh giới Phật”.
Đoạn
văn trên đã biểu hiện rõ tư tưởng phát triển của Đại
thừa Phật giáo bằng tinh thần trung đạo. Nó trỏ bản tánh
của các pháp đều bình đẳng, thật tại tánh của các pháp
chính là thật tướng bất sinh diệt, bất đoạn thường,
bất tăng giảm, tịch tĩnh như hư không của các pháp. Lại
nữa, dựa vào thật tướng của các pháp để diễn bày các
pháp là vô tánh hay không tánh, mà cách diễn đạt lại vay
mượn danh ngôn của “pháp luân” để biện minh.
Ở
một đoạn văn khác, đức Phật bảo vua Bimbisāra (Tần-bà-ta-la)
như vầy:
“Thưa
Đại vương, sắc là vô thường, khổ, không, vô ngã; thọ,
tưởng, hành, thức cũng vô thường, khổ, không, vô ngã. Sắc
như bọt nước, ma sát nhau không bền; thọ như bong bóng nước,
không hề kéo dài lâu; hành như ba tiêu, không có lõi kiên
cố; tưởng như ảo mộng, vọng thấy tợ hư không; thức
như huyễn hoá, từ điên đảo sinh khởi. Ba cõi đều không
thật, tất cả luôn vô thường”.
Phương
thức quán năm uẩn này có thể tìm thấy trong một số kinh
điển Đại thừa khác, như: Sūraṁgama-sūtra (Kinh Lăng-nghiêm),
Laṅkāvatāra-sūtra (Kinh Lăng-già). Tóm lại, Kinh này đã thể
hiện khá nhiều tư tưởng thâm áo của Đại thừa. Đặc
biệt đối với sự xuất hiện từ lúc nhập thai tạng, cho
đến sự xuất hiện chói sáng của đức Như Lai giữa hội
chúng Tỳ-kheo và Bồ-tát cũng như những chuyện kể liên quan
đến đấng Đạo Sư trong suốt cuộc đời sinh tiền của
Ngài, sự giáo hoá vua Bimbisāra (Tần-bà-ta-la), sự chuyển
pháp luân giúp cho tất cả chúng sanh chóng thoát khỏi vòng
sinh tử luân hồi; tất cả những công hạnh diệu dụng ấy,
tất cả những giáo nghĩa cao siêu ấy cùng với hình ảnh
thiêng liêng khả ái, khả kính của đức Như Lai đã đang
và mãi mãi chói sáng trong tam giới và siêu việt tam giới,
thảy đều vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích an
lạc cho số đông, vì lợi ích và an lạc cho cả chư thiên
và loài người. Phải chăng vì những ý nghĩa trên, cho nên
Lalitavistara-sūtra này khi được dịch sang Hoa ngữ, nó mang
tựa đề là Đại Trang Nghiêm Kinh hay Thần Thông Du Hý Kinh
ư?
*
*
*
Chương
VI:
Laṅkāvatāra
sūtra (Kinh Lăng Già)
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit có tầm quan trọng nhất trong lãnh
vực tâm lý triết học và thế giới tâm linh siêu thoát đối
với các kinh điển của Phật giáo Đại thừa là Laṅkāvatāra
(Kinh Lăng Già). Thời kỳ xuất hiện của bản kinh này chính
là giai đoạn phát triển mạnh nhất và có tiếng tăm lừng
lẫy nhất trong lịch sử của Phật giáo Đại thừa. Niên
đại của nó, theo D.T. Suzuki và M. Winternitz, chắc chắn đã
xuất hiện trước 433 sau CN, khi bản dịch đầu tiên của
Trung Hoa ra đời. Cứ liệu này về sau càng được minh chứng
hơn bằng bản dịch năm 513 và một bản khác nữa được
hoàn tất vào năm 700-704 sau CN với ba phẩm _ như sẽ trình
bày _ được bổ sung vào trong nội dung của nó. Khả tín nhất
và có thẩm quyền là bản dịch thời Lưu Tống của Guṇabhadra
(Cầu-na-bạt-đà-ra); ngoài ra, nội dung có phần dễ hiểu
hơn và dễ nắm bắt được cốt lõi của kinh khi nó được
mở rộng như bản dịch thời Đường của Śikṣananda (Thực-xoa-nan-đà).
Laṅkavatāra-sūtra
khi được dịch sang Hoa ngữ gồm có bốn bản trong khoảng
thời gian gần 300 năm, từ 420 đến 704, nhưng đáng tiếc là
bản gốc Saṅskrit thứ nhất bản dịch Hoa ngữ đều đã
bị thất lạc, hiện còn ba bản. Về bản dịch thứ nhất,
Suzuki đã dựa vào Khai Nguyên Lục để viện dẫn và minh hoạ
rằng Laṅkāvatāra đã được Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch
từ Phạn ngữ sang Hoa ngữ, có lẽ trong suốt thời gian lưu
trú tại Cô Tạng, thủ đô của Bắc Lương, sau khi đến Trung
Hoa vào năm 412. Nhưng điều này còn nhiều nghi vấn; vì
không những chính Khai Nguyên Lục (KNL) mà còn Phật Quang Đại
Từ Điển (PQĐTĐ) vẫn chưa thể phân biệt được hai nhân
vật Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) và Dharmakṣema (Đàm Vô Sấm).
Nếu tạm thời cứ vào Từ Điển Thuật Ngữ Trung-Anh (TĐTNTA),
thì niên đại khả tín của Dharmarakṣa là 265-316; còn về
Dharmakṣema thì TĐTNTA này cũng đồng tình với cả hai cứ
liệu KNL và PQĐTĐ chẳng đề cập gì đến nhân vật có tên
tuổi này.
Niên
đại của Dharmakṣema chưa có sử liệu nào xác đáng, ngoài
tin tức được trình bày ngắn gọn cho biết rằng ngài không
những là một Tỳ-kheo Phật giáo nổi tiếng nhất trong thời
Lương-Châu, tiếng tăm của ngài như là một cố vấn hoàng
gia đã khiến cho những nhà thống trị của Ngụy tìm cách
tách ngài ra khỏi Liang-chou, mà còn là một trong những dịch
gia quan trọng nhất trong suốt thời kỳ hình thành Phật giáo
của Trung Hoa. Lại nữa, nếu cứ vào kinh Đại Bát Niết-bàn
của Dharmakṣema hoàn tất vào năm 421 , và nếu cứ vào Suvarṇa-prabhasa
(Kinh Kim Quang Minh) của Dharmakṣema (Đàm-vô-sấm_414-433) dịch,
thì sự xuất hiện của ngài trong khoảng thời gian sau ngài
Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) và trước ngài Paramārtha (Chân-đế),
và có lẽ đúng là chừng khoảng cùng thời với ngài Đạo
Sanh (360-434) ở Trung Hoa. Thế nhưng, ở đây chúng ta không
nên bàn nhiều về Dharmakṣema; vì bản dịch Suvarṇa-prabhasa
(Kinh Kim Quang Minh) đã bị mất, thì việc về niên đại của
ngài có lẽ không hợp lý.
Bản
thứ hai do Guṇabhadra dịch vào năm 443, với tựa đề là Lăng-già
A-bạt-đa-la Bảo Kinh, đời Lưu Tống, 4 quyển, ĐC 16_670. Ngài
là người Trung Ấn, đến Trung Hoa bằng đường biển vào
năm 435 và tịch năm 468, thọ 75 tuổi. Bản thứ ba do
Bodhiruci (Bồ-đề-lưu-chi) dịch vào năm 513, với tựa đề
là Nhập Lăng-già Kinh, đời Ngụy, 10 quyển, ĐC 16-671. Và
bản thứ tư do Śikṣananda (Thực-xoa-nan-da) dịch vào những
năm 700-704, với tựa đề là Đại thừa Nhập Lăng-già Kinh,
đời Đường, 7 quyển, ĐC 16-672.
Trên
thực tế, bản hoàn tất của Guṇabhadra (Cầu-na-bạt-đà-ra)
vào năm 433 chỉ có 4 quyển với 4 Phẩm đều cùng một tựa
đề là Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm Phẩm, nhưng, theo Winternitz,
bản thứ hai này chưa có những Phẩm I, IX và X. Phẩm
I được thêm vào có tựa đề là Adhyeṣaṇā (Thỉnh Phật
Phẩm); đây dựa vào bản của Bodhiruci (Bồ-đề-lưu-chi).
Cùng Phẩm khác tên trong bản của Śikṣananda là Rāvaṇādhyeṣaṇā
(La-bà-na Vương Khuyến Thỉnh Phẩm). Tựa đề Phẩm IX của
cả hai bản thì giống nhau, chỉ có Phẩm X hơi khác vì tựa
đề Phẩm của bản Nguỵ là Sāmānya (Tổng Kệ); còn bản
Đường gọi là Gāthāḥ (Kệ Tụng Phẩm).
Trong
ba bản dịch trên, có lẽ phải nói rằng bản thứ hai của
Guṇabhadra có nhiều thẩm quyền và được ưa chuộng nhất
về lãnh vực Thiền học; vì dịch giả trung thành với nguyên
bản Saṅskrit, chứ không thêm vào những quan điểm riêng của
mình. Do đó, nó rất ngắn gọn, súc tích và rất được phổ
biến trong giới Thiền học Trung Hoa, mà không cần phải thêm
vào như hai bản dịch của Bodhiruci và Śikṣananda. Lại nữa,
bản dịch này là bí quyết vô cùng quan trọng trong lịch sử
Thiền học tại Trung Hoa. Thế nhưng theo Suzuki, Guṇabhadra được
cân nhắc là vị Cha Thiền đầu tiên tại Trung Hoa, chứ
không phải Bodhidharma (Bồ-đề-đạt-ma) như những vị sử
gia và thiền gia công nhận. Bodhidharma, xưa nay được sự thoả
thuận của giới sử gia và thiền sử gia, là Sở Tổ Thiền
Tông Trung Hoa, đã truyền bộ kinh Laṅkāvatāra cho đệ tử
của ngài, Huệ Khả, Tổ thứ 2 kế nhiệm Thiền phái này.
Tuy
nhiên, không giống như bản dịch thứ hai của ngài Guṇabhadra
vừa nêu, cũng không phải bản dịch thứ ba của ngài Bodhiruci,
nhưng trái lại bản thứ tư của ngài Śikṣananda rất được
phổ biến. Đáng chú ý hơn nữa là bản này không những được
Tắc Thiên Võ Hậu viết lời tựa, mà còn được Pháp Tạng,
một trong những học giả uyên bác và cũng là đại biểu
chói sáng nhất trong trường phái triết học Hoa Nghiêm, đã
viết lời bình về Kinh này trong bộ Nhập Lăng-già Tâm Huyền
Nghĩa.
Về
sau Laṅkāvatāra Sūtra cũng được phiên dịch ra tiếng Tây
Tạng và Nhật Bản. Ở Việt Nam, Laṅkāvatāra sūtra đã được
Sư Bà Diệu Không phiên dịch từ bản Hoa ngữ. Với tựa đề
là Lăng Già Tâm Ấn Kinh cũng được Hoà Thượng Thanh Từ
dịch và cho xuất bản vào năm 1995. Cả hai đều dịch từ
bản của ngài Hàm Thị. Bản của ngài Hàm Thị cũng chính
là bản gốc của Guṇabhadra. Vì sau khi nghiên cứu toàn bộ
nghĩa lý thâm áo của kinh cùng với những điều tâm đắc
trong suốt quá trình thực nghiệm, cho nên ngài Hàm Thị đã
mệnh danh cho Kinh là: “Lăng Già Tâm Ấn”. Do đó, thuật
ngữ “Tâm Ấn” chắc hẳn phải là thiền ngữ biểu tượng
cho thiền học trong giới thiền gia.
Tựu
trung, cả bản dịch của Guṇabhadra và Śikṣananda được
phổ biến rộng rãi, vì ngắn gọn và nghĩa lý súc tích
hơn bản dịch của Bodhiruci. Nhưng không phải vì thế mà bản
dịch thứ ba của ngài Bodhiruci không có giá trị. Vì sao? Vì
chính nhờ vào bản hiện còn này, mới có thể đối chiếu
và thấy được việc thêm hay bớt, ưu hoặc khuyết, hoặc
giữ nguyên bản gốc của nó. Chẳng hạn nếu không may bị
thất lạc như bản dịch đầu tiên, mà theo Khai Nguyên Lục
ghi lại rằng, Kinh này được Dharmakṣema (Đàm-vô-sấm)
dịch, ngài đến Trung Hoa năm 412 bấy giờ trú tại Cô Tạng,
kinh đô của Bắc Lương, v.v... thì chúng ta không thể nào
đối chiếu những ưu và khuyết giữa bản này với bản thứ
hai của Guṇabhadra. Vả lại, cùng một nội dung song Laṅkāvatāra
lại được rẽ ra thành hai hướng: về thiền học thì bản
của Guṇabhadra phổ biến và được lưu truyền; còn về lãnh
vực tâm lý triết học thì bản của Śikṣananda đa phần
khả quan hơn và dễ hiểu và dễ lãnh hội nghĩa lý hơn. Tuy
nhiên, bản dịch của ngài Guṇabhadra giữ nguyên bổn chứ
không phân ra từng tựa đề của mỗi phẩm, cho nên có phần
khó hiểu hơn; trong khi đó nếu đối chiếu với bản dịch
của ngài Śikṣananda với tựa đề của mỗi phẩm đã được
chia rõ ràng, chính vì thế mà bản sau đã giúp cho người
đọc dễ am tường và dễ dàng phân biệt và nắm bắt được
nội dung toàn kinh.
b.
Khái lược về Nội dung:
Ý
nghĩa vô cùng quan trọng của Laṅkāvatāra sūtra là chỉ bày
nếu không nhiều hơn hai khuynh hướng. Đó là thế giới tâm
lý triết học Phật giáo, mà hầu hết các triết gia, tâm
lý gia Phật giáo và không phải Phật giáo trên thế giới
đã y cứ vào kinh này để làm nền tảng cho quan điểm
hay học thuyết trường phái của mình. Tại Ấn Độ tâm lý
triết học Phật giáo đã được Maitreya (Di-lặc_thế kỷ
thứ 3 sau CN), Āsaṅga (Vô Trước_thế kỷ thứ 4 sau CN) và
Vasubandhu (Thế Thân_thế kỷ thứ 4 sau CN) đã xiển dương
đến tột đỉnh của nó.
Trước
đó chừng ba thế kỷ đã được vị Đại Luận Sư Aśvaghoṣa
(Mã Minh) tác thành bộ Mahāyāna-śradhotpāda-śāstra (Đại thừa
Khởi Tín Luận), được cân nhắc như một Đại Luận Sư
tiên phong trong việc xương minh nghĩa lý thâm áo của Phật
giáo Đại thừa. Khuynh hướng thứ hai trong Laṅkāvatāra sūtra
càng rõ nét hơn là thế giới của thiền học; nó được
xem như một pháp bảo vô giá đã được Bodhidharma trao truyền
cho ngài Huệ Khả, vị Tổ thứ 2 của dòng thiền tại Trung
Hoa. Tuy rằng yếu chỉ của thiền là “dĩ tâm truyền tâm,
bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân
tâm, kiến cánh thành Phật”. Song sự ấn chứng hay việc
dĩ tâm truyền tâm ở mỗi quốc độ có hơi khác, không giống
như việc truyền tâm ấn bắng biểu tượng “niêm hoa vi tiếu”
của Thế Tôn truyền chánh pháp nhãn tạng cho Mahākaśyapa (Đại
Ca-diếp) trên Gṛdhrakūṭa (Linh Thứu sơn). Như vậy, Laṅkāvatāra
sūtra chắc chắn là “pháp khí tín chứng” để tránh sự
nghi ngờ của hàng hậu thế.
Thế
nhưng, việc trao truyền “pháp khí tín chứng” làm biểu
tượng cho sự kế thừa về sau đã trở thành mối hoạ cho
người chứng ngộ và phụng lãnh pháp khí tín chứng ấy.
Sự cố này đã xảy ra chừng hai thế kỷ sau Bodhidharma; đó
là sự đố kỵ, tị hiềm, tranh giành và tước đoạt pháp
khí tín chứng, như câu chuyện ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền
“y và bát” cho Huệ Năng làm biểu tượng cho pháp khí tín
chứng đã trở thành mối hoạ lớn. Bởi sau khi nhận y bát
từ Tổ Hoằng Nhẫn, ngài Huệ Năng đi về phương Nam, và
trên đường đi đã bị những thuộc hạ của Thượng Toạ
Thần Tú rượt đuổi, và câu chuyện của Thượng Toạ Huệ
Minh cố tước đoạt y bát của ngài Huệ Năng đã thành một
thiền tích khá phổ biến....ở đây khỏi phải kể thêm chi
tiêt. Vì lý do này về sau, việc dĩ tâm truyền tâm không được
thể hiện bằng pháp khí tín chứng, mà bằng những bài “thiền
kệ” để lưu thế và cốt lõi của thiền kệ ấy phần
lớn là kim chỉ nam cho người kế thừa phụng hành theo.
Có
thể nói rằng Laṅkāvatāra không có tính logic, và chưa được
hệ thống hoá lại toàn bộ nội dung của kinh, cho nên từng
phẩm có vẻ rời rạc và dường như có tính độc lập mà
hiếm thấy sự nhất quán. Điều này chắc có lẽ vì muốn
giữ nguyên bản gốc. Do đó, dù văn ngữ thâm áo song những
Phẩm trong kinh trở nên rời rạc và hầu như chắng mấy liên
hệ nhau, như Phẩm thứ Hai dường như chẳng có một sự tương
hệ mật thiết với Phẩm Tựa và Phẩm thứ Ba, nếu cứ vào
bản dịch của Guṇabhadra. Càng rời rạc hơn nữa là Phẩm
thứ Chín, bàn về sự tốt hay xấu của việc ăn thịt, v.v...
Ngoài ra, lãnh vực tâm lý triết học Phật giáo trở nên độc
lập, ít có tính nhất quán, và gần như không có hệ thống
hoá như những bản dịch trước nó. Những vấn đề này lắm
khi dẫn đến một kết quả chắng mấy thuyết phục, nhất
là đối với những ai đức tin Tam Bảo đang còn ít nhiều
chao đảo và tâm niệm manh nha dấy khởi nhiều tư tưởng
tạp loạn thì dễ bị dao động.
Trong
tựa đề Laṅkāvatāra, Laṅkā là tên của một hòn đảo
tại Ceylon (Srilaṅkā_tức nước Tích Lan hiện nay); vatāra
có nghĩa là đi vào, nhập hoặc thể nhập. Laṅkāvatāra được
dịch là nhập Lăng-già. Tựa đề đầy đủ của nó là Saddharmalaṅkāvatāro
nāma mahāyāna sūtraṃ tức là “Kinh Đại Thừa Thánh Giáo
Nhập Lăng-già”.
Toàn
bộ nội dung của Laṅkāvatāra, theo bản đời Đường của
ngài Śikṣananda, chia làm 7 Quyển 10 Phẩm. Trong Quyển thứ
nhất được chia thành 2 Phẩm: Rāvaṇadhyeṣanā (La-bà-na Vương
Khuyến Thỉnh Phẩm) và Sarvadharmasamuccaya (Nhất Thiết Pháp
Ngữ Phẩm), Sarvadharmasamuccaya này lại chia nhỏ thành 3 Phẩm:
1, 2 và 3. Ngay từ Phẩm Tựa thứ nhất được gọi là Rāvaṇadhyeṣanā
(La-bà-na Vương Khuyến Thỉnh Phẩm). Nó đã mô tả lại chi
tiết về cuộc hội diện của đức Phật với Rāvaṇa, vua
của Rākṣasas ở Laṅkā tại Tích Lan. Được Mahāmati Bodhisattva
(Bồ-tát Đại Huệ) khích lệ, vua Rāvaṇa của Laṅkā (Chúa
thành Lăng-già) đã thỉnh Phật giải đáp những hoài nghi,
và thành tâm thỉnh đức Thế Tôn giảng giải về những sự
khác nhau thế nào là chánh pháp và thế nào là tà/phi pháp.
Phẩm thứ 2, tức là Sarvadharmasamuccaya (Nhất Thiết Pháp Ngữ)
thứ nhất của Quyển 1, Bồ-tát Đại Huệ đã tán thán đức
Thế Tôn bằng 26 kệ tụng và tự giới thiệu danh tánh
và cũng là người đã thông đạt giáo nghĩa của Đại thừa.
Sau
đó, khi Bồ-tát Đại Huệ đảnh lễ đức Phật và đọc
kệ, đưa ra một loạt nghi vấn, gồm 108 câu hỏi và cung thỉnh
đức Như Lai giải thích. Đức Phật đã hoan hỷ giải thích
nội dung những câu hỏi này giống như chư Phật trong quá
khứ đã giải thích. 108 câu hỏi pha tạp những vấn đề
khác nhau. Chúng gồm những nghi vấn chi tiết về giáo lý,
liên quan đến khuynh hướng phát triến làm thế nào để được
giải thoát khỏi các lưới nghi. Chẳng hạn, ai giải thoát,
ai bị trói buộc, do đâu mà một người đưọc giải thoát...;
có những nghi vấn liên quan đến Ālaya (A-lại-gia), Manovijñāna
(thức Thứ Bảy_Ý thức), Vijñāna (Thức)... và những ý niệm
khác nhau về Vijñāna (Thức), Śūnyatā (Không tánh), về sự
giải thoát giác ngộ... Cũng có những câu hỏi ngộ nghĩnh,
như: làm thế nào đồ ăn thức uống của tất cả các loại
có thể được tồn tại, rồi đang xen những câu hỏi vớ
vẫn, như: những gì là bản chất của một ông vua, những
gì là bản chất của một kẻ thống trị... Có những câu
hỏi liên quan đến đức Thích-ca, như: vì nguyên nhân gì Ngài
được sanh ở Thiên cung Tuṣita, do nhân duyên gì Ngài lại
hạ sanh vào dòng Sakya (Thích-ca), do những phước đức gì
Ngài trở thành một bậc Thánh chói sáng trong tất cả bậc
Thánh... rồi đức Thế Tôn lần lượt giải thích tường
tận về 108 nghi vấn đã được đặt ra như 108 chủ đề
mà chư Phật trong thời quá khứ đã giải thích.
Sarvadharmasamuccaya
(Nhất Thiết Pháp Ngữ) thứ 2 của Quyển thứ 2 trình bày
về tạng thức mà nó được ví như biển cả của đại dương.
Tạng thức của chúng sanh luôn thường trú, tịch tĩnh nhưng
do lục thức phan duyên theo ngoại cảnh khiến cho tạng thức
bên trong dao động; vì thế đã khiến cho tám thức khác đi
vào hoạt động, tác dụng hỗ tương dung nhiếp nhau và chuyển
biến sanh khởi, cũng từ đây dòng sinh tử và tái sinh vô
tận không hề dứt. Ví như biển cả tĩnh lặng nhưng vì gió
mạnh thối và gây kích động, khiến cho vô số lớp sóng
sinh khởi và ào ạt chuyển biển vô tận không bao giờ đoạn
tuyệt. Nghiệp thức của chúng sanh thảy đều do tập khí
vô minh nhiễm trước từ vô thỉ cùng với lục thức phan
duyên lục trần tác thành cảnh giới thiên hình vạn trạng,
muôn màu muôn vẻ. Cảnh giới đều do tự tâm biến hiện
sinh khởi. Nói cách khác, cảnh giới ấy là tự tâm khởi
niệm phân biệt các tướng. Điều này ngụ ý chỉ cho hàng
Nhị thừa và những kẻ phàm phu ngoại đạo khi chưa thấy
được tự tâm thanh tịnh, vấn đề đốn hay tiệm trong sự
giác ngộ về nguồn tâm cũng từ đây lưu xuất. Chỉ khi nào
tâm an trụ chuyên nhất vào một cảnh giới với thiền-định
kiên cố bất động, nhị chướng đoạn tận, xa lìa niệm
phân biệt tướng của các cảnh giới, thì chính lúc đó là
sự thanh tịnh tịch tĩnh của tạng thức...Tổng thuyết không
ngoài sự đề cập đến sắc và không cũng như cảnh giới
tự chứng tự nội, xả ly mọi ý niệm năng thủ và sở thủ
trên nền tảng của Viên thành thật tánh hay Chơn như tánh
trong Tam tánh. Đại ý của Phẩm này được đức Thế Tôn
dạy bằng tụng kệ:
“Nhất
thiết pháp vô sanh, diệc phục vô hữu diệt, ư bỉ chư duyên
trung, phân biệt sanh diệt tướng...quán nhất thiết hữu vi,
thí như hư không hoa, ly năng thủ sở thủ, nhất thiết mê
hoặc kiến, vô năng sanh sở sanh, diệc phục vô nhân duyên,
đản tuỳ thế tục cố, nhi thuyết hữu sanh diệt”.
Nghĩa
là “tất cả các pháp không sanh, lại cũng không diệt, đối
trong các duyên kia, phân biệt tướng sanh diệt... quán hết
thảy hữu vi, như hoa đốm giữa hư không, xa lìa thủ sở
thủ thì mọi cái thấy mê hoặc, không thể sanh khởi được;
cũng lại không nhân duyên, chỉ tuỳ theo thế tục, phương
tiện mà nói là có sanh diệt”.
Sarvadharmasamuccaya
thứ 3 của Phẩm thứ 2 Sarvadharmasamuccaya (Tập Nhất Thiết
Pháp Ngữ) trong Quyển 2 nội dung của nó chiếm trọn cả Quyển
3. Phẩm này trình bày về pháp môn phân biệt tâm và tướng,
không tánh, sự quán chiếu ngũ uẩn và nêu lên cảnh giới
thanh tịnh của chư Bồ-tát trong Thập địa. Nó khẳng định
rằng các pháp là không có tự tánh do vì không thấy nghĩa
lý mầu nhiệm vi tế “không tánh của (ngoan) không” (Śūnyatāśūnyatārtha),
cho nên hàng phàm phu lưu chuyển trong sinh diệt và tái sinh.
Vì:
“Các
pháp đều vô tánh, cũng lại không ngôn thuyết, chẳng (thấy)
không tánh của không, nên phàm phu lưu chuyển, hết thảy pháp
vô tánh, lìa ngôn ngữ phân biệt, các cõi như huyễn mộng,
không sinh tử Niết-bàn...”
Kế
đó, nó chỉ bày sự soi chiếu 5 uẩn như một pháp thiền
quán bằng năng lực thiền-định, ly tứ cú tuyệt bách phi,
diệt vọng duyên, trừ nhị kiến, thời tâm được giải thoát.
Ngoài ra, việc dụng công hạnh của chư Bồ-tát để thể
nhập vào Sơ địa cho đến Thập địa đều nhờ một phần
lớn năng lực thù thắng của chư Phật thọ ký hay quán đảnh
hộ trì, cảnh giới thanh tịnh của chư vị Bồ-tát đều
đoạn tận các lậu hoặc, như thật thấy rõ chơn đế.
Phẩm
thứ 4 của Quyển thứ 4 là Anityatā (Vô Thường Phẩm). [Phẩm
này bản dịch của Bodhiruci (Bồ-đề Lưu-chi) đã phân nhỏ
thành 5 phẩm: Buddhacitta (Phật Tâm Phẩm), Lokayatika (Lô-ca-gia-đà
Phẩm), Nirvāṇa (Niết-bàn Phẩm), Dharmakāya (Pháp Giới Phẩm)
và Anityatā (Vô Thường Phẩm)]. Phẩm này trình bày về ý
thành thân hay sự hình thành thân lưu chuyển trong luân
hồi đều do tham ái, vô minh, nghiệp thức chuyển biến và
ý phân biệt các tướng sai khác; đây cũng chính là nhấn
mạnh đến nguồn gốc của nghiệp vô gián. Nó cũng nêu bật
lên thế nào là Thể tánh của chư Phật. “Thể tánh của
chư Phật là biết rõ như thật cả nhân và pháp đều vô
ngã, diệt trừ hai loại chướng, xa lìa hai loại chủng tử,
đoạn tận hai thứ phiền não”. Ngoài ra nó cũng cho
biết thế nào là tướng của các tông thú và tướng
hư vọng phân biệt, thế nào là tướng trí thức
và thế nào là trí cũng như thế nào là Niết-bàn... Tất
cả các tướng ấy đều “do các thứ tâm phân biệt, chứ
không phải các pháp có tự tánh”. Nói về Jñāna (Trí), “Trí
tức là nếu như thật rõ biết cảnh giới chỉ là giả danh,
đều không thể đắc, thì không còn sở thủ; sở thủ không,
cho nên năng thủ cũng không; năng thủ và sở thủ đều không,
cho nên không khởi tâm phân biệt”. Tựu trung, đoạn dòng
luân hồi tức liễu tri như thật nhân và pháp vô ngã, đoạn
trừ nhị chướng, diệt tận phiền não, siêu việt nhị biên
chính là thể tánh của Phật; đây cũng chính là Tathāgata-garbha
(Như-lai tạng).
Phẩm
Vô thường, được tiếp tục trong Quyển thứ 5, lại cung
cấp cho chúng ta những khái niệm thế nào là Như Lai Ứng
Đằng Chánh Giác tự giác tánh, thế nào là tất cả các pháp
không sanh không diệt, cũng như nó nhấn mạnh đến vấn đề
hiện thực, như: “các hành vô thường, thị sanh diệt pháp”.
Phẩm kế tiếp giới thiệu đến sự hiện chứng (abhisamayaparivarto
nāma caturthaḥ) của hàng Bồ-tát ở những cấp độ khác
nhau trong sự thể nhập vào cảnh giới Thập địa, còn hàng
Thanh-văn Duyên-giác khi nhập diệt tức là tướng thứ lớp
tương tục, cũng tức là ở vào diệt tận tam-muội lạc tâm
vô sở hoặc (định lạc diệt tận tâm không còn nghi hoặc).
Phẩm
Vô thường thứ 4 đưa ra những khái niệm nghi vấn rằng Như
Lai Ứng Đẳng Chánh Giác là thường hay là vô thường, cốt
để nhấn mạnh đến sự “viễn ly thường vô thường mà
hiện thường vô thường”, mục đích khiến cho chúng sanh
thường phải quán chư Phật như thế mà không sinh ác kiến
nhằm trừ diệt mọi giác tưởng phân biệt, chứ không nên
nói là thường vô thường, hễ còn một chút ý niệm tạo
lập trong giác tưởng như thế, thì tất cả những ý niệm
tạo lập những giác tưởng ấy đều là loạn tưởng sai
lệch, và cho đến khi nào chỉ nơi tự tâm thấy rõ được
như vậy, thì không còn sai vạy. Nói về vô thường, Phẩm
này còn hiển thị rõ các tướng sanh diệt của Uẩn, Xứ
và Giới; cũng như chỉ bày các tướng sai biệt của tự tánh
các thức là vô ngã. Nó cũng đề cập đến khái niệm: khi
Tam tánh thể nhập vào trong năm pháp, thì mỗi một đều có
tự tướng của nó. Hơn nữa, Tam tánh, bát thức và nhân pháp
vô ngã đều hoà nhập vào trong năm pháp. Danh và tướng
trong năm pháp ấy là vọng tức là Tánh biến kế. Vì nương
vào tâm và tâm sở pháp phân biệt ấy câu hữu nhau mà sanh
khởi, như mặt trời cùng ánh sáng của nó thảy đều là
Tánh duyên khởi. Samyagjñāna (Chánh trí) và như như không thể
bị hoại diệt chính là Tánh viên thành. Tất cả các pháp
đều do tự tâm biến hiện, cho nên sanh niệm phân biệt, do
đó có tám loại phân biệt sanh khởi. Những khái niệm trên
được tóm thâu trong kệ tụng như vầy:
“Năm
pháp, ba tự tánh,
Và
tám loại chủng thức,
Cùng
nhân pháp vô ngã,
Đại
thừa nhiếp hết thảy.
Danh
tướng và phân biệt,
Nhiếp
luôn hai tự tánh,
Chánh
trí cùng như như,
Chính
là tướng viên thành (Pariniṣpannalakṣaṇa)”.
Kế
đó Phẩm này lại chỉ ra tất cả các pháp trong từng sát-na
đều có tướng hoại diệt. Đây cũng chính là cốt lõi về
nguyên lý của Phẩm Vô Thường.
Phẩm
thứ 7 của Quyển 6 là sự biến hoá (Nairmāṇikaparivarto nāma
saptamaḥ). Biến hoá ở đây ngầm chỉ cho sự biến hoá của
đức Phật không phải từ nghiệp sanh, chẳng phải tức là
Phật cũng chẳng phải là không phải Phật. Ví như bậc Điều
Ngự cùng với các sự việc do hoà hợp tạo tác mà có. Hoá
Phật cũng vậy, đầy đủ các tướng mà diễn thuyết các
pháp, nhưng không thể nói cảnh giới sở hành là tự chứng
thánh trí. Việc đức Phật thọ ký cho hàng Thanh văn chỉ
là mật ý nói, chứ Phật cùng với hàng Nhị thừa không có
sai khác, đều căn cứ vào sự đoạn tận hoặc và chướng,
thảy đều cùng một vị giải thoát. Phẩm kế tiếp là đưa
ra những nghi vấn về sự tốt xấu của việc ăn thịt (Māṃsabhakṣaṇaparivarto
nāmāṣṭamaḥ).
Phẩm
thứ 9 là Dhāraṇīparivarto nāma vavamaḥ (Đà-la-ni Phẩm). Phẩm
này mô tả rằng chư Phật trong quá khứ, vị lai và trong hiện
tại vì muốn hộ trì gia bị kinh này đều phải diễn thuyết
thần kinh chú Lăng-già. Phẩm thứ 10 thứ nhất, tức Sagāthaka
(Kệ Tụng Phẩm) trong Quyển 6 cùng với Phẩm thứ 10 thứ
hai trong Quyển 7 trùng tuyên lại toàn bộ nội dung trong kinh
đã diễn thuyết rộng nghĩa lý từ trước đến nay với 884
kệ tụng, cùng với một vài trang nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của lịch sử, cũng như những đặc thù bằng sự tiên
tri những nhân vật lịch sử quan trọng sẽ xuất hiện trong
tương lai.
Trên
đây là sự tóm lược nội dung của 7 Quyển với sự phân
chia thành 10 Phẩm chủ yếu dựa vào bản dịch của ngài Śikṣananda
cũng như sự kết hợp với hai bản dịch của ngài Guṇabhadra
(Cầu-na-bạt-đà-la) và của ngài Bodhiruci (Bồ-đề-lưu-chi).
*
*
*
Chương
VII:
Suvarṇaprabhāsa
Sūtra (Kinh Kim Quang Minh)
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit Phật giáo có tầm quan trọng nhất
với sự xuất hiện giáo lý Tantra (Mật giáo) trong các kinh
điển Đại thừa là Suvarṇa-prabhāsa Sūtra (Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh). Sự xuất hiện của nó chừng khoảng thế
kỷ thứ 5 sau CN. Nguồn gốc của kinh này, theo J.K. Nariman
và A.B. Keit, đã xuất hiện vào khoảng thứ 6 sau CN. Tuy
nhiên, theo sự nghiên cứu và phát hiện của M. Winternitz
cho biết, kinh này đã được Kāśyapa Mataṅga (Ca-diếp Ma-đằng)
dịch ở Trung Hoa rất sớm từ thế kỷ thứ 1 sau CN suốt
triều đại của Hán Minh Đế (58-75), nhưng không đề cập
gì đến bản gốc Saṅskrit; do đó cứ liệu này chắng mấy
khả quan. Nhưng mặt khác M. Winternitz lại cho rằng Kinh này
được Dharmakṣema (Đàm Vô Sấm) dịch có lẽ chừng khoảng
trong những năm (414-433) .
Suvarṇa-prabhāsa-sūtra,
khi được dịch từ Phạn ngữ sang Hoa ngữ, gồm có ba bản.
Bản thứ nhất được Dharmakṣema dịch với tựa đề là
Kim Quang Minh Kinh, 4 quyển, 16 Phẩm, đời Bắc Lương, ĐC 16-663.
Bản thứ hai cũng do Dharmakṣema dịch với tựa đề là Hiệp
Bộ Kim Quang Minh Kinh, 8 quyển, 24 Phẩm, đời Tuỳ, ĐC 16-664.
Bản thứ ba do ngài Nghĩa Tịnh dịch với tựa đề là Kim
Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, 10 quyển, 31 Phẩm, đời Đường,
ĐC 16-665.
Đối
với bản dịch thứ nhất, nếu dựa vào niên đại của nhà
Lương (502-557) ở Trung Hoa, chúng ta có thể ngầm biết rằng
nó có lẽ đã xuất hiện trước đó gần một thế kỷ. Vì
ngài Dharmakṣema, theo Kenneth K.S. Ch’en, đã dịch Mahāparinirvāṇa-sūtra
(Kinh Đại-bát Niết-bàn) hoàn tất vào năm 421, và có
lẽ đã dịch kinh Suvarṇa-prabhāsa vào những năm đầu của
thế kỷ thứ 5, nhưng mãi đến đời Lương nó mới được
cho phổ cập. Việc xuất hiện của bản dịch này có thể
do vì tình huống chính trị loạn lạc, hoặc vì chiến tranh
bấy giờ đã đang xảy ra tại An-Lộc-Sơn, hoặc đã thất
lạc và đã được tìm thấy trong thời Lương, v.v.... Bản
thứ 2 cũng do Dharmakṣema dịch có lẽ do nhiều nguyên nhân
tương tự vừa nêu, hoặc vì bị thất lạc và đã được
tìm thấy vào thời nhà Tuỳ (581-618).
Như
vậy, điều đáng khả tín rằng cả hai bản kinh này đã được
dịch và hoàn tất vào thế kỷ thứ 5. Thế nhưng gần một
thế kỷ sau, cả 2 bản kinh này mới được phổ biến. Do
đó, nếu cứ vào thời sinh tiền của Dharmakṣema, thì Suvarṇa-prabhāsa
sūtra có thế đã được phiên dich từ Phạn ngữ sang Hoa ngữ
vào đầu thế kỷ thứ 5. Nếu cho rằng cả 2 bản dịch này
có mặt vào thế kỷ thứ 6 như cứ liệu của J.K. Nariman và
A.B. Keit vừa nêu trên, hoặc Mục lục kinh điển của ĐC sau
khi đã được xếp loại, thì bản dịch này có lẽ đã đánh
mất đi khoảng thời gian gần một thế kỷ.
Về
bản dịch thứ 3 của ngài Nghĩa Tịnh (635-713), nó có lẽ
được hoàn tất vào đầu thế kỷ thứ 8 trong thời nhà Đường
(618-907) ở Trung Hoa. Vì năm 671 ngài rời Trung Hoa đến Ấn
Độ bằng đường biển, và hơn 20 lưu trú tại hải ngoại
đã gần một nữa thời gian ở tại Đại Học Nalanda; năm
695 khi hồi quy bản quốc ngài Nghĩa Tịnh đã đem về 400 tác
phẩm khác nhau. Nếu tính thời gian phiên dịch tại Trung Hoa,
thì bản này có lẽ được hoàn tất chừng khoảng cuối thế
kỷ thứ 7 và đầu thế kỷ thứ 8.
Có
thể nói rằng trong ba vị Tăng sĩ nổi tiếng của Trung Hoa
sang Thiên Trúc cầu pháp, trừ Pháp Hiền ra, cả ngài Huyền
Trang và Nghĩa Tịnh đều biết Phạn ngữ. Do đó, việc phiên
dịch của hai ngài này đã làm chói sáng trong vấn đề dịch
thuật trong thời nhà Đường ỏ Trung Hoa. Đặc biệt trong
Tam tạng giáo điển được phiên dịch từ khi Phật giáo đươc
du nhập vào đất nước này, cho đến thời Đường thì những
bản dịch đã được hoàn thiện và hầu hết tất cả Tam
tạng giáo điển quan trọng đều được xuất hiện từ thời
nhà Đường; còn những bản dịch sau này của thời nhà Tống
cũng có nhưng rõ ràng không mấy quan trọng và thậm chí không
thêm vào những gì mới cả. Duyên may cho chúng ta là nhờ
ngài Nghĩa Tịnh rành Phạn ngữ, cho nên văn phong trong bản
dịch của ngài có gieo âm vận, tuy nghĩa lý thâm áo, nhưng
minh giải rõ ràng, giúp người đọc dễ nắm bắt và lãnh
hội được pháp yếu bí tạng của Như Lai. Chính vì lý do
này, nghĩa lý trong bản 3 có nhiều nét nổi bật hơn bản
2 của ngài Dharmakṣema. Điều này tuy có phần chủ quan, song
khi đối chiếu với bản dịch của Dharmakṣema với bản dịch
của ngài Nghĩa Tịnh, thì thực tế bản sau khá chỉnh đốn
và rõ nghĩa hơn; vì thông thạo Phạn ngữ và với Hoa ngữ
là phương ngữ bản địa, đã giúp chúng ta dễ dàng trong
việc nghiên cứu hơn. Tuy không phải là sở trường về Duy
thức như ngài Huyền Trang, song việc chọn bản dịch 3 của
ngài Nghĩa Tịnh có lẽ thích hợp hơn.
b.
Phân loại:
Nếu
so sánh giữa bản dịch thứ 2 (Bản 2) của Dharmakṣema với
bản thứ 3 (Bản 3) của ngài Nghĩa Tịnh, thì bản sau đầy
đủ hơn. Song nội dung cả hai bản đều tương tợ nhau. Chỉ
khác như sự phân Phẩm dưới đây:
•
Phẩm 13 Công đức Thiên (Bản 2) chia ra thành 2 Phẩm;
•
Phẩm 16 Đại Cát Tường Thiên Nữ (Srī-mahādevī)_(Bản 3);
•
Phẩm 17 Đại Cát Tương Thiên Nữ tăng trưởng tài vật (Sarvabuddha-Bodhisattvasaṃdhāraṇi)_(Bản
3).
•
Phẩm 23 Thán Phật (Bản 2) chia ra thành 3 Phẩm:
•
Phẩm 27 Thập Phương Bồ-tát (Sarva-tathāgata-stava) tán thán_(Bản
3);
•
Phẩm 28 Diệu Tràng Bồ-tát (Ruciraketu Bodhisattva) tán thán_(Bản
3);
•
Phẩm 29 Bồ-đề (Bodhi) thọ thần tán thán_(Bản 3).
Trong
8 Quyển (của Bản 2) được chia thành 10 Quyển (của Bản
3), như sau:
-
Quyển 1 (Bản 2) gồm 3 Phẩm: Phẩm thứ I_Tựa, Phẩm 2_Thọ
Lượng và Phẩm 3_Tam Thân Phân Biệt.
+
Quyển 1 (Bản 3) gồm 2 Phẩm: Phẩm thứ I_Tựa và Phẩm 2_Như
Lai Thọ Lượng.
-
Quyển 2 (Bản 2) gồm 2 Phẩm: Phẩm 4_Sám Hối và Phẩm 5_Nghiệp
Chướng Diệt.
+
Quyển 2 (Bản 3) gồm 2 Phẩm: Phẩm 3_Tam Thân và Phẩm 4_Sám
Hối.
-
Quyển 3 (Bản 2) Phẩm 6_Đà-la-ni Tối Tịnh Địa.
+
Quyển 3 (Bản 3) Phẩm thứ 5_Diệt Nghiệp Chướng.
-
Quyển 4 (Bản 2) gồm 3 Phẩm: Phẩm 7_Tán Thán, Phẩm 8_Không
và Phẩm 9_Y Không Mãn Nguyện.
+
Quyển 4 (Bản 3) Phẩm thứ 6_Tối Tịnh Địa Đà-la-ni.
-
Quyển 5 (Bản 2) Phẩm thứ 10_Tứ Thiên Vương.
+
Quyển 5 (Bản 3) gồm 5 Phẩm: Phẩm 7_Liên Hoa Dụ Tán, Phẩm
8_Kim Thắng Đà-la-ni, Phẩm 9_Trùng Hiển Không Tánh, Phẩm 10_Y
Không Mãn Nguyện và Phẩm 11_Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân
Thiên.
-
Quyển 6 (Bản 2) gồm 6 Phẩm: Phẩm 11_Ngân Chủ Đà-la-ni, Phẩm
12_Đại Biện Thiên, Phẩm 13_Công Đức Thiên, Phẩm 14_Kiên
Lao Đại Thần, Phẩm 15_Tán Chỉ Quỉ Thần và Phẩm 16_Chánh
Luận.
+
Quyển 6 (Bản 3), Phẩm thứ 12_Tứ Thiên Vương Hộ Quốc.
-
Quyển 7 (Bản 2) gồm 5 Phẩm: Phẩm 17_Thiện Tập, Phẩm 18_Quỉ
Thần, Phẩm 19_Thọ Ký, Phẩm 20_Trừ Bịnh và Phẩm 21_Lưu
Thuỷ Trưởng Giả.
+
Quyển 7 (Bản 3) gồm 3 Phẩm: Phẩm 13_Vô Nhiễm Trước Đà-la-ni,
Phẩm 14_Như Ý Bảo Châu và Phẩm 15 (a)_Đại Biện Tài Thiên
Nữ (phần 1).
-
Quyển 8 (Bản 2) gồm 3 Phẩm: Phẩm 22_Xả Thân, Phẩm 23_Tán
Phật và Phẩm 24_Phó Chúc.
+
Quyển 8 (Bản 3) gồm 5 Phẩm: 15 (b)_Đại Biện Tài Thiên Nữ
(phần 2), Phẩm 16_Đại Cát Tường Thiên Nữ, Phẩm 17_Đại
Cát Tường Thiên Nữ Tăng Trưởng Tài Vật, Phẩm 18_Kiên Lao
Địa Thần, Phẩm 19_Tăng-thận-nhĩ-gia Dược-xoa Đại Tướng
và Phẩm 20_Vương Pháp Chánh Luận.
+
Quyển 9 (Bản 3) gồm 5 Phẩm: Phẩm 21_Thiện Sanh Vương, Phẩm
22_Chư Thiên Dược-xoa Hộ Trì, Phẩm 23_Thọ Ký, Phẩm 24_Trừ
Bịnh và Phẩm 25_Trưởng Giả Tử Lưu Thuỷ.
+
Quyển 10 (Bản 3) gồm 6 Phẩm: Phẩm 26_Xả Thân, Phẩm 27_Thập
Phương Bồ-tát Tán Thán, Phẩm 28_Diệu Tràng Bồ-tát Tán Thán,
Phẩm 29_Bồ-đề Thọ Thần Tán Thán, Phẩm 30_Đại Biện Tài
Thiên Nữ Tán Thán và Phẩm 31_Phó Chúc.
Nhìn
chung, theo sự phân chia vừa nêu, có thể giúp cho chúng ta nắm
bắt được bố cục và cấu trúc của toàn bộ kinh. Nhưng
công việc trên chỉ là tạm thời, muốn nắm bắt nghĩa lý
của kinh đòi hỏi chúng ta phải đi thắng vào nội dung của
mỗi phẩm, âu đó mới có thế nắm bắt được phần nào
tinh yếu và cốt lõi của kinh.
c.
Khái lược về Nội dung:
Toàn
bộ nội dung của Kinh này đã hiển bày những nét đặc thù
mà chúng ta chưa thấy xuất hiện trong những Kinh văn đã trình
bày thuộc văn hệ Saṅskrit trước đây về những giáo nghĩa
tiêu biểu cho nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Chẳng
hạn, ngoài nghĩa lý “Không” (Śūnya), và biểu hiện tính
diệu dụng của chơn không diệu hữu, tuỳ duyên bất biến,
bất biến tuỳ duyên xuyên qua nghĩa lý siêu việt về “Không
tánh” (Śūnyatā) như đã đề cập trong Aṣṭasāhasrikā Prajñāpāramitā
(Tiều Phẩm Bát-nhã) và trong Laṅkāvatāra-sūtra (Kinh Lăng-già)
trước đây, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh này, mà đặc
biệt được trình bày bằng bút pháp của ngài Nghĩa Tịnh.
“Tam Thân” (Trikāya), như đã có đề cập rất khái quát
trong Laṅkāvatāra sūtra, là giáo nghĩa đặc thù thứ hai của
Phật giáo Mahāyāna (Đại thừa), mà chúng ta không thể tìm
thấy trong các kinh điển của Hīnayāna (Tiều thừa). Giáo
nghĩa “Tam Thân” đã trở thành một chủ đề phổ biến,
không những các học giả thế giới công nhận sự thâm áo
bởi nó mang tính triết học siêu hình mà những vị Đại
Luận sư Phật giáo đã không ngừng cứ vào nó để làm nền
tảng trong vấn đề luận bàn và viết lách cũng như minh chứng
cho tư tưởng thù thắng về Phật tánh thường trụ. Không
phải pháp Lục-độ Ba-la-mật mà là Thập độ Ba-la-mật cũng
đã được đề cập trong kinh này; đây là pháp khá phổ biến
trong vấn đề tu tập và đại nguyện lợi sanh: “thượng
cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh” của hàng Bồ-tát; Pháp
Lục độ trong Thập độ có thể tìm thấy rải rác trong kinh
điển Đại thừa. Kế đó, giáo nghĩa “Thập địa”_ không
có trong giáo lý Tiểu thừa, có thể thấy trong Laṅkāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng-già)_đã được đề cập trong Kinh này là sự nổi
bật về công phu tu tập của một vị Bồ-tát, những vị
thật sự có chủng tánh Đại thừa. Giáo lý này chúng ta có
thể tìm thấy trong Daśabhūmi-sūtra (Kinh Thập Địa) và Avataṁsaka-sūtra
(Kinh Hoa-nghiêm) như sẽ được trình bày trong những kinh kế
tiếp.
Thần
chú Dhāraṇi (Đà-la-ni) là giáo lý đặc thù của Mật giáo
đã hoàn toàn thịnh hành trong thời Đường. Nó gợi nhắc
chúng ta về linh nghiệm và sự vi diệu với công năng thù
thắng trong Sūraṁgama-sūtra (Kinh Lăng-nghiêm); Tôn giả Anan
đã nhờ sự linh nghiệm của thần chú này mà thoát khỏi
tà thuật của ma nữ, kẻ đã dùng tà chú Ta-tỳ-ca-la để
làm mê hoặc Anan. Cũng vậy Dhāraṇi này, công năng của nó
giúp cho người hành trì được thanh tịnh, tâm hành bất nhiễm,
tự lực nghiệm chứng và được sự công năng của tha lực
gia bị và hỗ trợ. Ngoài ra, trong nội dung của kinh này nó
cũng kể lại tấm gương cao cả, xả thân cứu vật (bầy
cọp đói); đây là sự thể hiện lòng đại bi và đại nguyện
của Bồ-tát hạnh, mà có thể tìm thấy trong Jātakas (Những
Chuyện Tiền Thân) hoặc Avadānas (Những Chuyện Ví Dụ).
Về
tựa đề Kinh “Suvarṇa-prabhāsa”, Suvarṇa có nghĩa là vàng;
và Prabhāsa, ánh sáng, sự chiếu sáng, sự toả sáng. Vậy
Suvarṇa-prabhāsa Sūtra có nghĩa là Kim Quang Minh Kinh. Tựa đề
đầy đủ của kinh này là Suvarṇa-prabhāsottamarāja-sūtram.
Prabhāsottamarāja là từ ghép, được kết hợp giữa prabhāsa
+ uttama, luật Sandhi trong Saṅskrit: a + u = o. Uttama nghĩa là
cuối cùng, cùng tột, hoặc tối thắng; còn rāja, vương (vua).
Vì lẽ đó Suvarṇa-prabhāsottamarāja-sūtram ngài Nghĩa Tịnh
dịch là Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh.
Toàn
bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh gồm có 10 quyển, chia
thành 31 Phẩm. Nội dung của nó được tóm lược khái quát
như sau:
Ngay
từ Phẩm Tựa thứ nhất (Nidāna-parivarta), nó giới thiệu
toàn cảnh giới thanh tịnh của chư Phật cùng với sự có
mặt vô số Bồ-tát, những vị A-la-hán, chư Thiên, Nhân, A-tu-la,
những vị Thiện Thần Hộ Pháp, Long Thần, Địa Thần vô
số. Trong hội chúng có đến 98.000 vị Tỳ-kheo đều là những
vị đã chứng bậc A-la-hán, những bậc có khả năng điều
phục tượng vương, đoạn tận các lậu, không còn phiền
não, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát, sạch hết
các kiết, được đại tự tại, trú giới thanh tịnh, phương
tiện thiện xão, trí tuệ trang nghiêm, chứng bát giải thoát
và đã thật sự giải thoát. Lại có trăm ngàn vạn ức Đại
Bồ-tát, 58.000 Licchavi (Lê-xa-tỳ), 42.000 Devaputra (Thiên tử),
28.000 Long Vương, 36.000 Yakṣa (Dược-xoa), 49.000 Garuḍa (Yết-lộ-trà),
cùng với vô số những vị Gandarva (Càn-thát-bà), Aṣura (A-tu-la),
Kinnara (Khẩn-na-la).... đều tề tựu trong hội chúng trang nghiêm
thanh tịnh. Cuối phẩm này, Bhagavān (Bạt-già-phạm, tức là
đức Thế Tôn) đã thuyết kệ tụng tán thán giáo pháp vi
diệu của Kim Quang Minh là tối thắng trong tất cả các kinh,
sâu xa hiếm khi được nghe cũng như rất khó thấy được
cảnh giới thanh tịnh của chư Phật.
Phẩm
thứ 2 của Quyển thứ nhất là Tathāgata-yuṣpramaṇānirdeśa
(Như Lai Thọ Lượng). Nó trình bày về sự thọ mạng vô lượng
của chư Như Lai và nêu lên 2 nhân duyên dẫn đến sự thọ
mạng ấy: không hại sinh mạng và bố thí đồ ăn thức uống
cho kẻ khác; cũng như chỉ ra việc Như Lai nhập Niết-bàn
có lưu xá lợi là vì lợi ích cho tất cả loài hữu tình,
và một mục đích duy nhất trong việc thị hiện Niết-bàn
chính là phương tiện giáo hoá, khiến cho tất cả chúng sanh
thức tỉnh nguồn tâm, sớm như thật thấy rõ nguyên lý sinh
diệt vô thường để nỗ lực tu tập, chóng giải trừ khổ
đau, liễu sanh thoát tử.
Phẩm
thứ 3 là Phân biệt Tam Thân (Trikāya). Làm thế nào để phân
biệt và như thật hiếu thấu được Nirmāṇakāya (Hoá Thân),
Saṃbhogakāya (Ứng Thân) và Dharmakāya (Pháp Thân) của Như
Lai. Muốn đạt đến Trikāya của Như Lai, cần phải phản
quang tự kỷ hay quán chiếu tự thân, nỗ lực tu tập và sám
hối để diệt trừ nghiệp chướng: Kleśāvaraṇa (phiền não
chướng) và Jñeyāvaraṇa (sở tri chướng), không những sám
hối cho chính mình mà còn sám hối và hồi hướng công đức
sám hối ấy cho tất cả chúng sanh trong tứ sanh lục đạo;
hai phương thức này được trình bày trong Phẩm 4 của Quyển
2, Mộng Kiến (Svapna hoặc Deṣana) Kim Cổ Sám Hối và thể
hiện tâm thành sám hối mong tội chướng được tiêu trừ,
điều này có thể thấy trong Phẩm thứ 5 của Quyển 3 _ Diệt
Nghiệp Chướng.
Phẩm
thứ 6 của Quyển 4 là Tối Thanh Tịnh Dhāraṇi. Phẩm này
kể lại rằng bấy giờ có Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang Diễm
Bồ-tát cùng với vô lượng ức chúng từ tòa đứng dậy,
trịch áo vai hữu, quỳ gối chắp tay, cung kính lễ Phật,
rồi đem những thứ hương hoa tràng phan bảo cái cúng dường,
xong liền bạch Phật và thưa hỏi rằng có mấy nhân duyên
mới có thể chứng đắc bồ-đề tâm, và những gì là bồ-đề
tâm. Dù họ vẫn biết rằng “bồ-đề hiện tại tâm là
bất khả đắc, vị lai tâm cũng bất khả đắc, quá khứ
tâm cũng bất khả đắc, xa lìa nơi bồ-đề thì bồ-đề
tâm cũng bất khả đắc. Bồ-đề thì không thể dụng ngôn
thuyết; còn tâm thì không sắc không tướng, không có sự
nghiệp, không thể tạo tác. Chúng sanh cũng bất khả đắc,
cũng không thể biết”. Đức Phật dạy:
“Đúng
vậy, đúng vậy! Bồ-đề là vi diệu, tạo tác sự nghiệp
đều bất khả thuyết, tâm cũng bất khả thuyết; vì không
sắc tướng cũng không sự nghiệp. Hết thảy chúng sanh cũng
bất khả đắc. Vì sao? Vì bồ-đề và tâm đồng với chơn
như; vì năng chứng sở chứng thảy đều bình đẳng, chẳng
phải không có các pháp mà có thể liễu tri. Này Thiện nam
tử, Bồ-tát ma-ha-tát phải biết như thế mới có thể gọi
là thông đạt các pháp, khéo thuyết bồ-đề và bồ-đề
tâm. Bồ-đề tâm chẳng phải là quá khứ, chẳng phải vị
lai cũng chẳng phải hiện tại. Tâm cũng như vậy; chúng sanh
cũng như vậy, đối với trong hai thật tướng này đều bất
khả đắc. Vì sao? Bởi hết thảy các pháp đều là không
sanh, do đó bồ-đề là bất khả đắc (thậm chí) cái tên
bồ-đề cũng bất khả đắc, cái tên chúng sanh cũng bất
khả đắc. Thanh văn bất khả đắc (thậm chí) cái tên Thanh
văn cũng bất khả đắc. Độc giác, Bồ-tát, Phật bất khả
đắc (thậm chí) cái tên Độc giác, Bồ-tát, Phật cũng bất
khả đắc. Hành phi hành bất khả đắc, cái tên hành phi hành
cũng bất khả đắc; vì bất khả đắc cho nên trong tất cả
pháp đều tịch tĩnh, mà được an trụ. Đây là nhờ nương
vào thiện căn công đức mà được sinh khởi”.
Kế
đó nhấn mạnh đến diệu dụng của bồ-đề tâm có thế
làm lợi ích tất cả loài hữu tình; vì dụng bồ-đề tâm
làm lợi ích chúng sanh phải được đặt trên nền tảng của
Thập độ Ba-la-mật: đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền-định, trí tuệ, phương tiện thắng trí,
nguyện, lực và trí Ba-la-mật.
Muốn
thành tựu Bố thí Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp: 1) Tín;
2) Từ bi; 3) Vô cầu dục tâm; 4) Nhiếp thọ hết thảy chúng
sanh; và 5) Nguyện cầu Trí nhất thiết trí.
Muốn
thành tựu Trì giới Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Tam nghiệp thanh tịnh;
2)
Không vì hết thảy chúng sanh tạo tác nhân duyên phiền não;
3)
Đóng các ác đạo, mở cửa thiện thú;
4)
Vượt qua các địa của Thanh văn và Độc giác; và
5)
Tất cả công đức đều sung mãn.
Muốn
thành tựu Nhẫn nhục Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Luôn hàng phục tham, sân và phiền não;
2)
Không thương tiếc thân mạng;
3)
Tư duy vãng nghiệp, gặp khổ gắng nhẫn;
4)
Phát tâm từ bi, vì thành tựu hết thảy thiện căn cho tất
cả chúng sanh; và
5)
Chứng đắc được Vô sanh pháp nhẫn sâu xa.
Muốn
thành tựu Tinh tấn (Cần sách) Ba-la-mật phải nương vào 5
pháp:
1)
Cùng các phiền não, bất lạc cọng trú;
2)
Phước đức chưa đủ, không thọ nhận sự an lạc;
3)
Hành khổ hạnh đối với những việc khó làm, không sanh tâm
nhàm chán;
4)
Dùng tâm đại bi nhiếp thọ để lợi ích chúng sanh; và 5)
Nguyện thể nhập các địa, tâm không thối chuyển.
Muốn
thành tựu Thiền-định (Tĩnh lự) Ba-la-mật phải nương vào
5 pháp:
1)
Đối với các thiện pháp phải nhiếp thọ không để tản
mất;
2)
Thường nguyện giải thoát, không chấp trước vào nhị biên;
3)
Nguyện chứng đắc thần thông để thành tựu các thiện căn
cho chúng sanh;
4)
Vì pháp giới thanh tịnh phải trừ tâm cấu uế; và
5)
Vì đoạn trừ căn bản phiền não cho tất cả chúng sanh.
Muốn
thành tựu Trí tuệ Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Thường cúng dường và thân cận, không sanh tâm mỏi mệt
đối với tất cả chư Phật, Bồ-tát và những bậc minh trí;
2)
Chư Phật Như Lai thuyết pháp sâu xa, tâm phải thường an lạc
lắng
nghe, chứ không sanh tâm nhàm chán tự mãn;
3)
Phải phân biệt rành rọt những pháp thiện lạc và thắng
trí, chơn và tục;
4)
Phải thấy và tu tập để nhanh chóng đoạn trừ các phiền
não; và
5)
Phải thông thạo Ngũ minh và kỹ thuật của thế gian.
Muốn
thành tựu Phương tiện Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Hết thảy chúng sanh ý lạc hay phiền não, tâm hành sai biệt,
thảy đều thông đạt;
2)
Vô lượng pháp môn đối trị, tâm đều hiểu biết rốt ráo;
3)
Tâm thường trú định với dụng đại từ bi để xuất nhập
tự tại;
4)
Đối với các Ba-la-mật thường nguyện tu hành, thành tựu
đầy đủ; và
5)
Hết thảy pháp Phật đều nguyện được thông đạt rốt
ráo, dung nhiếp lãnh thọ không bỏ sót.
Muốn
thành tựu Nguyện Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Tất cả các pháp từ xưa đến nay không sanh không diệt, chẳng
phải có cũng chẳng phải không, tâm được an trú;
2)
Quán tất cả các pháp nghĩa lý tối thắng vi diệu, xa lìa
cấu uế, giữ tâm an trụ thanh tịnh;
3)
Vượt qua các tưởng là nguồn gốc của Như Lai, vô tác vô
hành, không khác không động, tâm được an trụ;
4)
Ở trong tục đế nhưng vì muốn lợi ích hết thảy chúng
sanh, mà tâm được an trụ; và
5)
Tâm phải thưòng dõi theo hơi thở (Vipāśyanā_Tỳ-bát-xá-na),
luôn ở trong định (Śamatha_Đồ-ma-tha), để được an trú.
Muốn
thành tựu Lực Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Dụng năng lực chánh trí để hiểu biết (hết thảy) tâm
hành thiện hay ác của tất cả chúng sanh;
2)
Dụng công năng thù thắng để khiến cho tất cả chúng sanh
thể nhập vào giáo pháp sâu xa vi diệu;
3)
Sự luân hồi sanh tử của tất cả chúng sanh phải tuỳ theo
duyên nghiệp của họ mà như thật liễu tri;
4)
Đối với ba loại thiện căn của tất cả chúng sanh, phải
dụng năng lực chánh trí để liễu tri; và
5)
Đối với chúng sanh phải đúng như lý vì họ diễn thuyết,
khiến cho các thiện căn của họ được thành tựu độ thoát;
vì họ đều có trí lực.
Muốn
thành tựu Trí Ba-la-mật phải nương vào 5 pháp:
1)
Đối với các pháp, phải có khả năng phân biệt thiện hay
ác rõ ràng;
2)
Đối với pháp trắng hay đen, sự nhiếp thọ phải vĩnh viễn
xa lìa;
3)
Đối với sanh tử hay Niết-bàn, không nên nhàm chán hay hoan
hỷ;
4)
Công hạnh phải đầy đủ phước đức và trí tuệ, mới
có thể đến chỗ cứu cánh; và
5)
Nhiếp thọ sự quán đảnh một cách thù thắng thì mới có
khả năng đắc được Thập lực , Tứ vô sở uý , Thập bát
bất cọng của chư Phật và Trí nhất thiết trí.
Ngoài
ra, Phẩm này còn giải thích rất chi tiết về Thập địa.
Chẳng hạn, nó giải thích thế nào là Pramuditā-bhūmi (Sơ
hoan hỷ địa), Vimalā-bhūmi (Ly cấu địa), Prabhākarī-bhūmi
(Phát quang địa), Arciṣmatī-bhūmi (Diệm huệ địa), Sudurjayā-bhūmi
(Nan thắng địa), Abhimuktī-bhūmi (Hiện tiền địa), Dūraṃgamā-bhūmi
(Viễn hành địa), Acalā-bhūmi (Bất động địa), Sādhumatī-bhūmi
(Thiện Huệ địa) và Dharmameghā-bhūmi (Pháp vân địa):
1.
Pramuditā-bhūmi (Sơ hoan hỷ địa) tức là tâm xuất thế chứng
đắc ban đầu, trước kia chưa chứng nay mới chứng đắc,
do đó tâm rất hoan hỷ; vì thế cho nên Sơ địa được gọi
là Hoan hỷ.
2.
Vimalā-bhūmi (Ly cấu địa) tức là những lỗi lầm phạm phải
giới điều cấu nhiễm vi tế, đều được thanh tịnh; vì
thế cho nên Nhị địa được gọi là Vô cấu.
3.
Prabhākarī-bhūmi (Phát quang địa), tức là trí tuệ tam muội
quang minh vô lượng, không hề khuynh động, không một pháp
nào có thể tồi phục, nghe và hàn trì Đà-la-ni dùng làm căn
bổn; vì thế cho nên Tam địa được gọi là Minh địa.
4.
Arciṣmatī-bhūmi (Diệm huệ địa) tức là vận dụng lửa
trí tuệ để thiêu đốt sạch mọi phiền não, làm tăng trưởng
quang minh, tu hành hiểu rõ phẩm vị; vì thế cho nên Tứ địa
được gọi là Diệm địa.
5.
Sudurjayā-bhūmi (Nan thắng địa) tức là nhờ công phu tu hành
mà có được thắng trí tự tại, vì thắng trí rất khó chứng
đắc. Nhờ tu tập thấy phiền não là rất khó điều phục
mà có khả năng nhiếp phục, vì thế cho nên Ngũ địa được
gọi là Nan thắng.
6.
Abhimuktī-bhūmi (Hiện tiền địa) tức là hành pháp luôn tương
tục, hiển hiện được rốt ráo, dụng tư duy vô tướng,
khiến nó luôn hiện tiền; vì thế cho nên Lục địa được
gọi là Hiện tiền.
7.
Dūraṃgamā-bhūmi (Viễn hành địa) tức là dụng tư duy vô
tướng (tâm) vô lậu không hề gián đoạn, được giải thoát
tam muội, lìa xa công hành tu tập (của thế gian); vì thế
cho nên Thất địa được gọi là Viễn hành.
8.
Acalā-bhūmi (Bất động địa) tức là dụng tư duy vô tướng,
nhờ hạnh tu tập nên được tự tại, hành tướng các phiền
não không còn khả năng khiến tâm dao động, vì thế cho nên
Bát địa được gọi là Bất động.
9.
Sādhumatī-bhūmi (Thiện Huệ địa) tức là diễn thuyết những
thứ sai biệt của tất cả các pháp một cách tự tại, không
chướng ngại cũng không vướng luỵ, trí tuệ tăng trưởng,
tự tại vô ngại; vì thế nên Cửu địa được gọi là Thiện
huệ.
10.
Dharmameghā-bhūmi (Pháp vân địa) tức là pháp thân như hư
không, trí tuệ như mây lớn, có công năng biến hoá sung mãn,
(như mây đại pháp) che phủ tất cả; vì thế cho nên Thập
địa được gọi là Pháp vân.
Ngoài
ra, Phẩm này còn đề cập đến vô minh mà chính vô minh là
những nghiệp chướng làm chướng ngại công hạnh thể nhập
ở mỗi một trong Thập địa. Lại nữa, đối với công hạnh
tu tập trong Thập địa còn liên quan mật thiết đến Thập
độ. Điều này có nghĩa là trong Sơ địa đòi hỏi phải
hành Bố thí Ba-la-mật; trong Nhị địa phải trì Giới Ba-la-mật;
trong Tam địa, Nhẫn nhục Ba-la-mật; trong Tứ địa, Tinh tấn
Ba-la-mật; trong Ngũ địa, Thiền-định Ba-la-mật; trong Lục
địa, Trí tuệ Ba-la-mật; trong Thất địa, Phương tiện Ba-la-mật;
trong Bát địa, Nguyện Ba-la-mật; trong Cửu địa, Lực Ba-la-mật;
và trong Thập địa đòi hỏi phải hành Trí Ba-la-mật.
Khi một Bồ-tát đăng Thập địa phải hành Thập Ba-la-mật,
thì vị ấy có đủ công năng chứng đắc Đà-la-ni; đây cũng
chính là nội dung cốt lõi của Phẩm Tối Thanh Tịnh Dhāraṇi
này. Những vị nào thành tựu viên mãn các pháp vừa nêu,
thì những vị ấy luôn được thần lực của mười phương
chư Phật hộ niệm và gia bị.
Phẩm
thứ 7 của Quyển 5 là Kamalākara (Liên Hoa Dụ Tán). Phẩm này
kể lại chuyện Bồ-đề Thọ thần rằng Diệu Tràng nằm
mộng thấy trống vàng vi diệu phát âm thanh lớn, tán thán
công đức chư Phật cùng với pháp sám hối. Do nhân duyên
này cho nên đức Phật mới kể lại rằng quá khứ có vua
tên là Suvarṇabhūjendra (Kim Long Chúa) thường dùng hoa sen làm
dụ để tán thán xưng dương công đức của ba đời mười
phương chư Phật. Nhờ nhân duyên đó cho nên đức Phật vì
đại chúng kể lại chuyện ấy, Diệu Tràng cũng đã tác kệ
ca ngợi công đức vô lượng của thập phương tam thế Phật.
Phẩm
thứ 8 của Quyển 5 là Hiraṇyavatī-dhāraṇī (Kim Thắng Đà-la-ni).
Chuyện mô tả rằng khi đức Phật ở trong hội chúng lớn,
Ngài đã kể cho Bồ-tát Thiện Trụ rằng có Dhāraṇī được
mệnh danh là Kim thắng, nếu có vị nào khát khao thân cận
và thấy được chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị
lai, hết lòng cung kính cúng dường thì phải thọ trì Dhāraṇī
này. Vì nó chính là mẹ của chư Phật trong ba đời, do đó
cần phải thọ trì Dhāraṇī. Nếu thọ trì, thì giới pháp
được thanh tịnh, không huỷ phạm, không khiếm khuyết, cũng
không hề bị chướng ngại, có công năng quyết định thể
nhập vào pháp môn mầu nhiệm, sâu xa và vi diệu. Nếu vị
nào thọ trì Dhāraṇī sẽ đạt được vô lượng vô biên
công đức, tuỳ sự mong muốn của mình mà có đầy đủ y
phục, tài bảo, đa văn, thông tuệ, thân không tật bịnh,
luôn được trường thọ, phước đức vô biên, tuỳ theo nguyện
cầu, không một nguyện nào không được toại ý, không bị
các loài tà độc nguy hiếm gây hại. Phương thức thọ trì
Dhāraṇī cũng được chỉ bày cặn kẽ chi tiết trong phẩm
này.
Phẩm
9 của Quyển 5 là Trùng Hiển Không Tánh (Śūnyatā). Phẩm này
mô tả lại việc đức Thế Tôn sau khi thuyết thần chú Dhāraṇī,
và muốn lợi ích cho hết thảy Bồ-tát ma-ha-tát cùng với
đại chúng nhân thiên, khiến cho họ được chứng đắc và
ngộ giải Đệ nhất nghĩa sâu xa chơn thật, cho nên đã tuyên
thuyết nghĩa lý không tánh này bằng những kệ tụng:
“Ở
những kinh văn sâu xa khác,
Ta
giảng chơn không vi diệu pháp,
Nay
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương,
Lược
thuyết pháp ‘không’ bất tư nghì.
Các
pháp quảng đại nghĩa sâu xa,
Khai
thị pháp không khiến chứng ngộ,
Đại
bi thương xót các hữu tình,
Phương
tiện xương minh duyên thù thắng.
Ta
nay đối trước đại chúng này,
Diễn
thuyết khiến họ rõ nghĩa không.
Nên
biết thân người như không tụ,
Lục
tặc nương goá nào liễu tri.
Sáu
trần cùng giặc dựa căn riêng,
Cũng
vậy mỗi một nào hay biết.
Nhãn
căn thường quán nơi sắc xứ;
Nhĩ
căn nghe thanh nào đoạn tuyệt;
Tỉ
căn luôn ngửi mùi hương cảnh;
Thiệt
căn ưa nếm từng mỹ vị;
Thân
căn thường thích nhiều cảm xúc;
Ý
căn liễu pháp nào chán dừng.
Những
căn như thế tuỳ niệm khởi,
Mỗi
căn đối cảnh sanh phân biệt,
Thức
như huyễn hoá nào chơn thật,
Nương
tựa căn xứ vọng tham cầu.
Như
người rong đuối trong làng trống,
Sáu
thức nương căn cũng thế thôi,
Tâm
biến rong cầu tuỳ xứ chuyển,
Mặc
tình (phó thác) ngoại cảnh để căn duyên.
Thường
thích sắc thanh hương vị xúc,
Đối
pháp tầm tư chẳng tạm dừng,
Sáu
căn tuỳ duyên hành biến hiện,
Như
chim nào ngại giữa từng không,
Vay
mượn các căn làm chỗ tựa,
Mới
mong liễu biệt cảnh duyên ngoài,
Thân
này nào biết nào tạo tác,
Thể
nó mong manh nương goá thành,
Đều
từ hư vọng sanh phân biệt,
Ví
tợ cơ quan do nghiệp chuyển.
Địa
thuỷ hoả phong kết thành thân,
Tuỳ
nhân duyên kia chiêu dị báo,
Đồng
ở một nơi, mà hại, trái.
Như
bốn độc xà ở một rương,
Tánh
bốn độc xà đều khác biệt,
Tuy
đồng một chỗ lại thấp cao,
Gió
lửa nhị xà tánh khí độc.
Do
đây chống trái chúng bịnh sanh,
Tâm
thức nương nhờ vào thân nọ,
Tạo
tác vô vàn nghiệp thiện ác,
Nhân
thiên ba cõi ác trôi lăn.
Tuỳ
vào nghiệp lực thọ thân sắc,
Mang
nhiều tật bịnh sau thân chết,
Nước
tiểu đại tiện mặc giao lưu (chảy tràn lan);
Trùng,
dòi, sâu đục ôi nhờm gớm,
Thây
phơi rừng vắng tợ cây khô,
Các
ngươi nên quán pháp như vậy,
Sao
chấp chúng sanh có bản ngã?
Cùng
tột các pháp thảy vô thường,
Đều
từ vô minh duyên lực khởi,
Các
đại chủng nọ luôn hư vọng,
Gốc
chẳng thật có, thể không sanh;
Nên
nói đại chủng, tánh đều không,
Biết
vọng nổi trôi chẳng thật có.
Tự
tánh vô minh, gốc vốn không,
Nhờ
lực các duyên hoà hợp có,
Đối
tất cả thời mất chánh tuệ,
Nên
Ta quở họ, kẻ vô minh.
Hành
thức làm duyên sanh danh sắc;
Sáu
xứ, xúc, thọ theo đó sanh;
Ái,
thủ duyên nhau sanh lão tử,
Ưu
bi khổ não mãi đoanh vây,
Chúng
khổ ác nghiệp thường bức bách,
Sanh
tử luân hồi chẳng hề nguôi.
Xưa
nay chẳng có, thể là không;
Do
không như lý, sanh phân biệt.
Ta
đoạn tuyệt sạch mọi phiền não,
Thường
dụng chánh trí, quán hiền tiền;
Thấy
rõ năm uẩn thảy đều không,
Cầu
chứng bồ-đề chơn thật xứ.
Thành
lớn, cam lồ, Ta mở cửa;
Chỉ
bày suối pháp, khí vi diệu;
Đã
chứng pháp mầu chơn thật vị,
Thường
dụng suối pháp (cam lồ) thí quần sanh.
Ta
đánh vang lừng trống pháp lớn;
Ta
thổi dọc ngang đại pháp loa;
Ta
thắp sáng mãi đèn xuất thế (đại minh);
Ta
rưới khắp nơi mưa pháp (mầu).
Hàng
phục phiền não cùng oán kết,
Dương
lên cao ngất cờ đại pháp;
Vào
biển sanh tử cứu quần mê,
Bít
lối đóng chặt ba cõi ác;
Lửa
phiền não đốt thiêu chúng sanh,
Không
nơi nương tựa, không người giúp;
Ban
cho kẻ ấy cam lồ vị,
Thân
tâm nhiệt não thảy tiêu trừ,
Bởi
ta thường hành vô lượng kiếp,
Cung
kính cúng dường chư Như Lai,
Kiên
trì cấm giới đến bồ-đề,
Cầu
chứng pháp thân cõi an lạc,
Thí
cả chân tay và tai mắt,
Vợ
con tôi tớ, cũng cam lòng;
Trân
bảo thất tài trang nghiêm đủ,
Cung
cấp hết thảy tuỳ người ưa;
Thí,
nhẫn... các độ, tâm thường hành,
Viên
mãn thập địa thành Chánh giác,
Nên
Ta được xưng Nhất thiết trí...”
Tóm
lại, cốt lõi về thuyết không tánh sâu xa, phải thấy rõ
như thật thể tánh của bốn đại và năm uẩn đều không,
chỉ do sáu căn sáu trần vọng sanh trói buộc. Biết rõ không
tánh, cần tu chánh hạnh, nguyện thoát luân hồi, xuất ly tam
giới....
Phẩm
thứ 10 cuả Quyển thứ 5 là Y Không Mãn Nguyện. Nội dung Phẩm
này nêu lên phương hướng tu hành, nếu cậy vào pháp giới
để hành pháp bồ-đề, thì tâm hành phải bình đẳng. Nếu
như thật thấy biết:
“Năm
uẩn có công năng hiển hiện pháp giới. Pháp giới chính là
năm uẩn, nhưng năm uẩn là bất khả thuyết, chẳng phải
năm uẩn cũng bất khả thuyết. Vì nếu pháp giới là năm
uẩn, tức rơi vào đoạn kiến; nếu lìa xa năm uẩn, tức
rơi vào thường kiến, lìa xa hai tướng uẩn và giới, không
đắm trước nhị biên, không chấp trước vào cái thấy, vượt
khỏi cái được thấy, không danh, không tướng; như vậy tức
là thoát khỏi pháp giới. Vì sao năm uẩn có công năng hiển
hiện pháp giới? Vì năm uẩn không từ nhân duyên sanh. Vì
sao? Nếu từ nhân duyên sanh tức là vì đã sanh rồi cho nên
sanh, hoặc vì chưa sanh cho nên sanh. Nếu sự sanh đã sanh, thì
dụng những nhân duyên gì? Nếu sự sanh chưa sanh, thời không
thể được sanh. Vì sao? Vì các pháp chưa sanh tức là chưa
có, không danh, không tướng, chẳng có thể dùng để so sánh
tỉ giảo hay đề cập; vì chắng phải là do nhân duyên được
sanh. Thí như tiếng trống, phải dựa vào đùi trống, nương
vào da trống và lực tạo tác thì mới có tiếng trống phát
ra. Như vậy, tiếng trống quá khứ không có, vị lai không
có và hiện tại cũng không có. Vì sao? Vì chính âm thanh của
cái trống không phải từ đùi trống phát sanh, không phải
từ da trống phát sanh và cũng không phải từ tay đánh hay
lực tạo tác phát sanh, cũng không phải từ ba cõi sanh, tức
là không sanh. Nếu không thế sanh, thời không thể diệt. Nếu
không thể diệt, thời nó không từ đâu đến. Nếu không
từ đâu đến, thì cũng không đi về đâu. Nếu không đi về
đâu, thì chằng phải thường, chẳng phải đoạn. Nếu chẳng
phải thường, chẳng phải đoạn, tức là bất nhất, bất
dị. Vì sao? Vì nếu là nhất, tức là không khác với pháp
giới. Nếu như vậy, thì người phàm phu lý đáng phải thấy
được chơn đế, chứng đắc Niết-bàn vô thượng an lạc.
Đã không phải như vậy, cho nên biết là không phải nhất;
còn nếu nói “dị”, thì hành tướng của tất cả chư Phật,
Bồ-tát tức là chấp trước, chưa được giải thoát khỏi
phiền não trói buộc, tức là không chứng Vô thượng Bồ-đề.
Vì sao? Vì tất cả Thánh nhân, nơi hành mà chẳng (chấp trước)
hành, đồng chơn thật tánh; vì thế cho nên không phải “dị”;
do đó biết năm uẩn chẳng phải có cũng chẳng phải không,
chẳng phải từ nhân duyên sanh, cũng chẳng phải là không
do nhân duyên sanh; vì cái được biết của bậc Thánh không
phải từ cảnh giới khác, cũng chẳng phải nói là năng thuyết
hay sở thuyết, không danh, không tướng, không nhân không duyên,
cũng không thí dụ, trước sau tịch tĩnh, xưa nay đều không;
vì thế cho nên nói năm uẩn có công năng hiển hiện pháp
giới”.
Nếu
rốt ráo liễu tri năm uẩn có công năng hiển hiện pháp giới,
thì chính là ý ở đây vậy.
Ở
đoạn kế, chúng ta đọc:
“Muốn
cầu Vô thượng Bồ-đề, khác chơn khác tục, khó thế tư
lường, nơi phàm là cảnh Thánh, thể chẳng phải nhất chẳng
phải dị, không bỏ nơi tục, không lìa nơi chơn, cậy vào
pháp giới, hành hạnh bồ đề”.
Ở
một đoạn khác Đại Phạm Vương hỏi Như Ý Bảo Quang Diệu
Bồ-tát: “Như thế nào là hành bồ-đề hạnh?”.
Đáp:
“Phạm Vương, nếu trăng trong nước hành bồ-đề hạnh,
thì ta cũng hành bồ-đề hạnh. Nếu trong mộng hành bồ-đề
hạnh, thì ta cũng hành bồ-đề hạnh. Nếu tiếng vang trong
hang hành bồ-đề hạnh, thì ta cũng hành bồ-đề hạnh”.
Bấy
giờ Đại Phạm Vương nghe nói như thế rồi, liền thưa: “Ngài
nương vào nghĩa nào mà nói như thế?”.
Đáp:
“Thưa Phạm Vương, không có một pháp nào là thật tướng
cả, chỉ do nhân duyên mà được hình thành”.
Phạm
Vương nói: “Nếu như vậy, hết thảy những người phàm
phu đều đắc Vô thượng Bồ-đề hết cả hay sao?”.
Đáp:
“Ngài nhân ý gì mà nói như thế, dị nhân ngu si hay dị nhân
trí tuệ, dị nhân bồ-đề hay dị nhân phi bồ-đề, dị nhân
giải thoát hay dị nhân phi giải thoát!”
“Thưa
Phạm Vương! Như vậy các pháp đều bình đẳng không khác,
nơi pháp giới này, chơn như, bất nhất bất dị, không có
khoảng trung gian nào có thể chấp trước, không tăng không
giảm”.
“Thưa
Phạm Vương! Thí như nhà ảo thuật và học trò của ông ta,
khéo bày trò ảo thuật nơi ngã tư đường, lấy những thứ:
cát, đất, cỏ , cây, lá, v.v... tụ lại một chỗ làm các
ảo thuật, khiến người nhìn thấy hình tượng voi, ngựa,
xe binh, v.v..., tập hợp bảy báu và những kho lúa. Nếu người
ngu si vô trí, không chịu suy nghĩ, thì chẳng biết đó là
gốc của ảo thuật. Hoặc thấy, hoặc nghe, liền suy nghĩ
rằng những thứ voi ngựa xe mà ta thấy đây là không thật
có, đều là luống dối, về sau lại chẳng tư duy quán sát.
Người có trí thời không phải thế, rõ gốc ảo thuật, hoặc
thấy, hoặc nghe, liền nhớ lại rằng, những thứ voi, ngựa
như ta thấy đây, chẳng phải chơn thật, chỉ do ảo thuật;
hoặc người có mắt, lại vọng cho rằng voi, ngựa, v.v...
và những kho lúa, có tên nhưng không thật, như ta đã thấy
nghe, không chấp là thật. Sau khi suy nghĩ, rõ biết những thứ
đó là hư vọng; vì thế cho nên người trí biết rõ các pháp
đều là không thật thể, chỉ tuỳ thế tục thấy nghe như
thế; biểu diễn những thứ ảo thuật, suy nghĩ chín chắn,
thời không phải vậy, lại do giả thuyết, hiển nghĩa chơn
thật. Dị sanh ngu si, chưa được xuất thế, không mắt Thánh
tuệ, chưa biết tất cả các pháp, vì chơn như bất khả thuyết.
Những kẻ phàm phu hoặc thấy hoặc nghe, nhưng hành chẳng
phải pháp hành, cứ thế suy nghĩ, liền sanh chấp trước,
cho đó là thật. Đối nơi Đệ nhất nghĩa không có khả năng
liễu tri các pháp chơn như là bất khả thuyết. Những bậc
Thánh nhân, hoặc thấy hoặc nghe, hành mà chẳng chấp vào
pháp hành, tuỳ vào năng lực của mình mà không sanh chấp
trước, cho là thật có, liễu tri hết thảy pháp hành không
thật, không thật chẳng phải là pháp hành, chỉ vọng tư
lường, hành chẳng phải hành tướng, chỉ có danh tự, không
có thật thể. Những vị Thánh nhân tuỳ thế tục thuyết,
vì muốn khiến họ, biết nghĩa chơn thật như vậy”.
“Thưa
Đại Vương! Những vị Thánh nhân dụng cái thấy Thánh trí,
rõ pháp chơn như là bất khả thuyết, hành chẳng phải pháp
hành cũng lại như vậy; vì muốn khiến cho kẻ khác rõ biết,
cho nên nói ra vô số danh ngôn thế tục”.
Phẩm
12 Quyển 6, Tứ Thiên Vương Hộ Quốc, nêu lên tâm huyết hộ
trì Phật pháp, hộ trì chân lý của Tứ Đại Thiên Vương
bằng công tâm hộ quốc. Họ luôn cung kính cúng dường kinh
này và hết lòng ủng hộ những người thọ trì kinh này.
Ngoài ra, Đa Văn Thiên Vương còn có pháp “Như ý bảo châu
Đà-la-ni”, nếu người nào thọ trì, thì công đức vô lượng.
Đa Văn Thiên Vương thường ủng hộ, khiến cho chúng sanh kia
ly khổ đắc lạc, có khả năng thành tựu hai loại phước
và trí. Tựu trung, Phẩm này ca ngợi tinh thần hộ trì Phật
pháp, hộ trì chân lý của Tứ Đại Thiên Vương bằng công
tâm hộ quốc, bằng cách quán xem sự hưng thạnh của nhân
thiên để gia tâm cứu giúp và phụng đạo cũng như sự biểu
hiện công năng linh nghiệm của thần chú Dhāraṇi trong việc
ứng dụng tồi tà phụ chánh, gia tâm giúp cho chánh pháp được
cửu trụ, chúng sanh được an lạc, và sự bất nhiễm tà
thuật bởi diệu dụng của Dhāraṇi, là viên ngọc như ý
vô giá rất mầu nhiệm để giữ vững chủng tánh của Tam
bảo, hưng thịnh Đại thừa.
Trong
Phẩm 13 của Quyển 6, Vô Nhiễm Trước Đà-la-ni, mô tả lại
lời dạy của đức Phật cho tôn giả Xá-lợi-phất và những
vị Bồ-tát về pháp môn bất nhiễm Đà-la-ni này. Nó là hiện
thân của mọi công đức, là mẹ của chư vị Bồ-tát, được
chư Bồ-tát trong quá khứ hết lòng thọ trì, công đức vô
lượng. Đáng lưu ý rằng Đà-la-ni này chẳng phải là nơi
chốn, chẳng phải không nơi chốn, chẳng phải pháp cũng chẳng
phải phi pháp, chẳng phải quá khứ, hiện tại hay vị lai,
chẳng phải sự cũng chẳng phải phi sự, chẳng phải duyên
cũng chẳng phải phi duyên, chẳng phải hành cũng chẳng phải
phi hành, không có sanh, không có diệt, cũng không có pháp diệt.
Nên biết rằng công dụng của Đà-la-ni này đều đầy đủ
thế lực an lập, lý thú của chánh đạo. Đà-la-ni tức là
công đức của chư Phật, là cấm giới của chư Phật, là
sở học của chư Phật, là bí mật của chư Phật, và cũng
là sanh xứ của chư Phật; cho nên gọi là Vô Nhiễm Trước
Đà-la-ni.
Phẩm
14 của Quyển 6 là Như Ý Bảo Châu Đà-la-ni. Phẩm này trình
bày về công năng linh nghiệm và diệu dụng của Đà-la-ni.
Nếu vị nào thọ trì đọc tụng như ý bảo châu Đà-la-ni
này sẽ viễn ly tất cả tai ách, cũng có khả năng chấm dứt
những điều xấu ác điện lôi. Thuyết Đà-la-ni này là vì
thương xót thế gian, ủng hộ cho tất cả, khiến cho chúng
sanh được an lạc, có đại oai lực, sở cầu như ý.
Phẩm
15 thứ nhất của Quyển 7 và Phẩm 15 thứ hai của Quyển 8
cho đến Phẩm 17 đều đề cập đến pháp môn tổng trì Đà-la-ni
vô ngại mà Thiên Nữ Đại Biện Tài đã nhờ thọ trì thần
chú ấy, cho nên đạt được những phước đức vô lượng.
Nó cũng mô tả về phước báo vô lượng của Thiên Nữ Đại
Cát Tường đã tăng trưởng thêm nhiều tài vật để cúng
dường chư Phật cùng với những ai thọ trì thần chú Đà-la-ni
cũng như những ai tôn kính và lưu hành thần chú này.
Phẩm
18 đến Phẩm 20 của Quyển 8 kể lại sự hộ trì Tam bảo,
hộ trì chánh pháp, hộ trì chân lý và hộ trì kinh này cũng
như những ai thọ trì kinh này đều được những vị Hộ
Pháp thường theo hộ vệ. Những Hộ Pháp này là những vị
Thần, như Kiên Lao Địa Thần, Đại Tướng Dược-xoa, Vương
Pháp Chánh Luận...
Phẩm
21 của Quyển 9 mô tả lại chuyện vua Susaṃbhava (Thiện Sanh)
trong thời quá khứ đã từng làm một vị Chuyển luân Thánh
vương. Ngài đã đem cả đại địa, đại hải và tứ châu
cúng dường chư Như Lai. Nó cũng kể lại sự hộ trì chánh
pháp, hộ trì chân lý và hộ trì những người trì tụng kinh
này của chư Thiên, Dược-xoa (Yakṣa).
Phẩm
22 và 23 đề cập đến vấn đề thọ ký của đức Thế Tôn.
Nó cũng kể lại nhân duyên sau khi Như Lai diệt độ, giáo
pháp cũng đều bị diệt tận, thời bấy giờ có trưởng
giả được thọ ký hiệu là Kim Quang Minh Như Lai, Ứng cúng,
Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật
Thế Tôn.
Phẩm
thứ 24 của Quyển 9 nêu lên phương pháp làm thế nào để
diệt trừ tật bịnh. Tật bịnh cũng có nguồn gốc từ tập
khí phiền não và nghiệp chướng đã tích luỹ sâu dày từ
thời vô thỉ; vì thế cho nên, muốn diệt trừ tật bịnh
phải nghiêm trì tịnh giới, tinh tấn hành Lục độ, tích
luỹ những công đức và đặc biệt là phải sám hối nghiệp
chướng, khiến tâm được tịnh, tâm tịnh thời thân an, nghiệp
chướng theo đó tự tiêu diệt.
Phẩm
25 mô tả lại chuyện trưởng giả Lưu Thuỷ (Jalavāhanasya
-matsya-vaineya). Xưa ông ta làm vua trị vì cõi Trời Tự Tại
Quang, cũng là một vị đại lương y đã cứu chữa vô số
tật bịnh cho nhân dân trong nước, khiến cho những ai có tật
bịnh đều chóng bình phục và được an lạc. Vô số nhân
dân ở trong cõi nước của Ông khi được cứu chữa bịnh
tật như thế đều tôn kính Ông ta bằng cách phát tâm tu tập
phước đức, hành thiện bố thí và lần lượt những người
ấy đều đến chỗ của Ông_vi Đại lương y đó_thi thiết
và lễ bái, cung kính và cúng dường đồng thời cầu nguyện
cho ngài luôn được trường thọ.
Phẩm
26 của Quyển 10 là mô tả lại việc xả thân cứu bầy cọp
(1 cọp mẹ và 7 cọp con) đang đói khát. Chuyện kể rằng
thủa xưa trong thời quá khứ, đức Thế Tôn hành Bồ-tát
đạo, không những thí nước và thức ăn để cứu bầy cá,
mà còn hiến cả thân mình. Nhờ nhân duyên như thế, phải
nên quán sát. Rồi đức Phật kể lại chuyện tiền thân,
Ngài là một vị Bồ-tát, hành Lục độ Ba-la-mật, lưu lại
xá-lợi, những ai đảnh lễ cung kính cúng dường xá-lợi
đều được phước lạc vô biên. Trước hội chúng Tỳ-kheo,
Ngài dùng kim thủ tướng hảo trăm phước trang nghiêm ấn
xuống đại địa, tức thời lục chủng đại địa chấn
động, đại địa liền nứt nẻ ra, bảy báu từ đất bỗng
dưng vọt lên, những lưới báu trang nghiêm, đại chúng thấy
vậy, hết lòng kính phục, bởi việc hy hữu xưa nay chưa có.
Trong lưới báu ấy có xá-lợi, màu sắc vi diệu khác thường.
Nhân đó đức Thế Tôn bảo chư Tỳ-kheo rằng các Ông nên
quán công hạnh của Bồ-tát, thân lưu xá-lợi. Nếu các Ông
lễ kính xá-lợi ấy cũng chính là nhen nhúm xông lên hương
giới định tuệ, là phước điền tối thượng, rất hiếm
gặp được. Bấy giờ đại chúng cung kính đảnh lễ xá-lợi,
tâm sanh hoan hỷ chưa từng có. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo
rằng, Ngài nhờ thân cốt xá-lợi ấy mà thành quả Vô thượng
Bồ-đề, Tiếp đó Ngài kể về nhân duyên Xá-lợi bằng sự
tích như vầy: Thủa xưa có một quốc vương tên là Đại
Xa, giàu có đa tài, kho tàng đầy đủ, binh xa võ dũng, chúng
đều khâm phục, thường dùng chánh pháp giáo hoá nhân dân,
ai nấy cảm phục không hề oán hận. Trong nước lớn này
có đại phu nhân thọ mạng. Phu nhân có 3 thái tử, nhan sắc
đoan chánh, ai thấy cũng vui. Thái tử trưởng tên là Mahābala,
vị kế tiếp tên Mahādeva và vị sau cuối tên Mahāsatiya.
Chuyện
kể lại rằng khi cả ba Thái tử vào rừng tìm hoa quả về
dâng cúng, đi vào rừng trúc. Đang đi trong rừng trúc ấy,
Thái tử trưởng mô tả trạng thái kinh hoàng khi ở rừng
vắng, sợ các thú dữ đến gây nguy hại. Vị Thái tử kế
lại nói rằng ta không tiếc thân mạng, chỉ sợ người thân,
có biệt ly khổ. Vị Thái tử cuối làm kệ nói rằng ta không
tiếc thân cũng chẳng kinh sợ ái biệt ly khổ; vì thân tâm
đầy hoan hỷ, thường được công đức thù thắng. Trong rừng,
cả ba Thái tử thấy bầy cọp sắp chết đói, thấy rồi
sợ hãi bỏ chạy. Vị Thái tử út liền nghĩ rằng bầy cọp
đang sắp chết, không có gì cứu được, nghĩ rồi bèn trở
lại chỗ bầy cọp ấy; đến nơi cởi áo ngồi trước bầy
cọp, nhưng vì đức dày của Thái tử bầy cọp không dám
hành thích. Biết vậy, Thái tử trèo lên cây, xả thân rơi
xuống đất nhưng vô hiệu, vì những Thọ thần và Thổ thần
dang tay đỡ lấy, thân không sây sát; sau cùng Thái tử phải
bẽ cành trúc đâm vào thân mình, lúc máu huyết chảy, tiến
gần bầy cọp, giúp cơn đói khát. Nhờ vậy mà bầy cọp
thoát chết. Bấy giờ bỗng dưng đất trời rung chuyển, mây
đen phủ kín, báo điềm chẳng lành. Hai vị Thái tử chợt
thấy chuyện lạ, liền đi tìm em, đến chỗ bầy cọp, chỉ
thấy xương trắng. Trở về vương cung, lòng rất lo buồn,
hai Thái tử dẫn Phụ vương đến hiện trường, vua cha tiếc
thương, than khóc khôn nguôi, cúi nhặt xương trắng về xây
bảo tháp hết lòng thờ cúng. Phu nhân hay tin, Thái tứ đáng
yêu xả thân cứu cọp, lòng đau quặn thắt, ngất xỉu hồi
lâu, làm kệ tiếc thương, tán thán thờ phụng. Nhân dân trong
nước hay tin như thế, ai nấy tiếc thương, đều đến chia
buồn, lễ bái bảo tháp. Đây chính là chuyện tiền thân của
đức Thế Tôn.
Phẩm
28, 29 và 30 trình bày về công đức vô lượng của những
vị Bồ-tát trong mười phưong, những vị Thiên thần, Thọ
thần cũng như Đại Biện Tài Thiên nữ hết lòng tán thán,
hoan hỷ cung kính, cúng dường đức Phật. Phẩm cuối cùng
mô tả lại việc phó chúc của đức Thế Tôn cho những vị
Bồ-tát, thiên nhân và tất cả đại chúng.
*
*
*
Chương
VIII:
Daśabhūmika
(Daśabhūmaka/Daśabhūmīśvara, Kinh Thập Địa)
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit khá quan trọng trong lịch sử của
Phật giáo Đại thừa là Daśabhūmika-sūtra (Kinh Thập Địa).
Nguồn gốc của kinh này, theo M. Winternitz, xuất hiện vào cuối
thế kỷ thứ 3 sau CN, do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch sang
Hoa ngữ vào năm 297. Thế nhưng A.B. Keit lại cho rằng, kinh
này xuất hiện vào thế kỷ thứ 4; còn J.K. Nariman thì chẳng
đề cập gì đến kinh này. A.B. Keit không mấy chú trọng,
ngoài cách diễn đạt sơ sài rằng kinh này nhấn mạnh đến
10 giai đoạn tu chứng của Bồ-tát liên quan đến quả Phật.
Ý kiến của M. Winternitz có lẽ đúng với nguồn gốc xuất
hiện của kinh này. Nguồn tin khả tín là những bản
dịch Hoa ngữ, như sẽ trình bày dưới đây.
Daśabhūmika
hiện có 4 bản dịch Hoa ngữ với những đề kinh khác nhau.
Bản sớm nhất do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch với tựa
đề: “Bồ-tát Thập Trụ Hành Đạo Phẩm”, 1 quyển, đời
Tây Tấn, ĐC 10-283. Bản thứ hai do Gītamitra (Kỳ-đa-mật)
dịch với tựa đề: “Phật Thuyết Bồ-tát Thập Trụ Kinh”,
1 quyển, đời Đông Tấn, ĐC 10-284. Bản thứ ba do Kumārajīva
(Cưu-ma-la-thập) dịch với tựa đề: “Thập Trụ Kinh”,
4 quyển, đời Diêu Tần, ĐC 10-286. Bản thứ tư do Śīlabhadra
(Thi-la-bạt-đà-ra) dịch với tựa đề: “Phật Thuyết Thập
Địa Kinh”, 9 quyển, đời Đường, ĐC 10-287.
Daśabhūmika
nhấn mạnh đến công hạnh tu tập mà một Bồ-tát cần phải
trải qua mười giai đoạn mới có thể chứng đắc Phật địa.
Liên quan đến Daśabhūmika, chúng ta có thể tìm thấy rất
nhiều trong những kinh Đại thừa thuộc văn hệ Saṅskrit như:
Phẩm Thập Địa thứ 26 trong Avataṁsaka-sūtra (Kinh Hoa-nghiêm),
Suvarṇaprabhāsa-sūtra (Kinh Kim Quang Minh), Laṅkāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng-già). Về sau Kinh này được chú giải ở quyển
thứ 17 trong Daśabhūmika-vibhāṣā-śāstra (Luận Thập Trụ
Tỳ-bà-sa) của ngài Nāgārjuna, và quyển thứ 12 trong Daśabhūmikasūtra-śāstra
(Thập Địa Kinh Luận) của ngài Vasubandhu. Ngoài ra, kinh này
còn có thể tìm thấy trong bộ luận Mahāvastu của Lokottaravādins
(những người theo Xuất Thế Bộ) cũng được gọi là Caityakas,
con đẻ của Mahāsaṅghikas (Đại Chúng Bộ). Daśabhūmika rất
thiết thực, vì nó cũng là một trong những chủ đề thường
được nhắc đến trong thời khoá lễ Công phu chiều
của Thiền môn.
b.
Phân loại:
Trong
4 bản kinh Daśabhūmika vừa nêu trên, hai bản dịch đầu từ
Phạn ngữ sang Hoa ngữ của Dharmarakṣa và Gītamitra được
hoàn tất vào cuối thế kỷ thứ 3, đời Tây Tấn và Đông
Tấn. Nhưng cả hai bản dịch chưa mấy hoàn bị; vì chỉ có
1 quyển. Bản thứ ba gồm 4 quyển, được hoàn tất vào đầu
thế kỷ thứ 5, tức là thời gian ngài Kumārajīva xuất hiện
tại Trung Hoa. Hiện chưa rõ 4 quyển này được ngài Kumārajīva
mang từ Ấn Độ sang Trung Hoa hay không; vì chưa thấy các sử
gia đề cập. Điều chắc chắn là bản dịch của ngài Śīlabhadra
(Thi-la-bạt-đà-ra) từ Phạn ngữ sang Hoa ngữ trong thời nhà
Đường là hoàn bị nhất; vì sự phiên dịch Tam tạng giáo
điển trong thời kỳ nhà Đường là hoàn bị nhất, như đã
nói trước. Thế nhưng, bản dịch của ngài Kumārajīva thường
được ưa chuộng hơn. Trong bốn bản này, đáng lưu ý nhất
là bản Tần gồm 4 quyển do Kumārajīva dịch và với bản
Đường 9 quyển do Śīlabhadra dịch.
Bản
thứ ba (B3) đời Tần gồm 4 quyển (Q), do Kumārajīva dịch;
còn bản thứ tư (B4) đời Đường gồm 9 quyển (Q) do Śīlabhadra
dịch được liệt kê như sau:
Bản
3_Kumārajīva, Tần Bản 4_Śīlabhadra, Đường
Q1:
Hoan Hỷ Địa (Sơ địa); Q1: Thứ nhất_Bồ-tát Cực Hỷ
Ly Cấu Địa (Nhị địa).
Địa.
Q2:
Minh Địa (Tam địa); Q2: Bồ-tát Cực Hỷ Địa,
Diệm Địa (Tứ địa);
(tiếp theo).
Nan Thắng Địa (Ngũ địa).
Q3:
Hiện Tiền Địa (Lục địa); Q3: Thứ ba_Bồ-tát Phát
Viễn Hành Địa (Thất địa);
Quang Địa.
Bất Động Địa (Bát địa).
Q4:
Diệu Thiện Địa (Cửu địa); Q4: Thứ năm_Bồ-tát Nan
Pháp Vân Địa (Thập địa).
Thắng Địa.
Q5:
(Thứ bảy) Bồ-tát Hiện
Tiền Địa (tiếp theo).
Q6:
Thứ tám_Bồ-tát Bất Động
Địa.
Q7:
Thứ chín_Bồ-tát Thiện
Huệ Địa.
Q8:
Thứ mười_Bồ-tát Pháp
Vân Địa.
Q9:
Bồ-tát Pháp Vân Địa (tiếp
theo).
Nếu
dựa vào sự phân loại trên, thì bản dịch của ngài Kumārajīva
gọn và rõ hơn; do đó, nội dung khái quát của kinh này cũng
chỉ cứ vào bản dịch thứ ba của ngài Kumārajīva.
c.
Khái lược về Nội dung:
Daśabhūmika,
một trong chín kinh của Nepal, là kinh văn Saṅskrit Đại thừa
rất quan trọng được viết dưới hai hình thức văn xuôi
và kệ tụng. Muốn chứng được Phật quả trước hết phải
thể nhập vào Thập địa hay Bồ-tát địa xuyên qua quá trình
tu tập Thập độ Ba-la-mật để diệt trừ Thập chướng,
mới có khả năng chứng đắc Phật địa. Đây là điều kiện
tất yếu mà một Bồ-tát phải trải qua mới thật sự trở
thành Bồ-tát chơn chánh.
Do
phát đại nguyện sâu rộng và nguyện duyên với hết thảy
pháp Phật, tu tập đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp cùng với
mười nguyện bất khả tận, cho nên Bồ-tát an trụ vào địa
thứ nhất, Sơ hoan hỷ địa. Nhờ nghiêm trì tịnh giới, tinh
tấn hành đạo, trừ tâm cấu uế, tu tập đầy đủ 37 bồ-đề
phần pháp cùng với sự phát sanh mười tâm thù thắng, cho
nên Bồ-tát an trụ trong địa thứ hai, Ly cấu địa. Nhờ
nguyện chuyển tiếp tăng trưởng, thấy được minh pháp, tu
tập đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp cùng với sự thực hành
viên mãn mười tâm vi diệu, cho nên Bồ-tát an trụ vào địa
thứ ba, Phát quang địa. Do phát nguyện lực sâu rộng và thấy
được minh pháp, đủ công năng thể nhập vào đạo, tu tập
đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp cùng với sự vận dụng nhu
nhuyến mười loại pháp minh và đắc được mười chủng
trí cho nên Bồ-tát an trụ vào địa thứ tư, Diệm huệ địa.
Bởi tuỳ vào chánh pháp mà thuận hành theo pháp thế gian,
tu tập đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp cùng với sự vận
dụng nhu nhuyến mười tâm bình đẳng, Bồ-tát an trụ vào
địa thứ năm, Nan thắng địa. Nhập vào pháp môn sâu xa,
đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp cùng với sự vận dụng nhu
nhuyến mười pháp bình đẳng và quán chiếu 12 nhân duyên,
Bồ-tát an trụ vào địa thứ sáu, Hiện tiền địa. Sinh khởi
hết thảy pháp Phật, tu tập đầy đủ 37 bồ-đề phần pháp
cùng với sự vận dụng tuệ phương tiện để khởi mười
diệu hạnh, Bồ-tát an trụ trong Thất địa. Bồ-tát thể
nhập vào địa này, được các trí tuệ sâu rộng, chứng
đắc đạo quả và nhờ năng lực thiền-định sâu xa kiên
cố; vì trong từng niệm phải tinh tấn hành Thập độ Ba-la-mật,
Tứ nhiếp pháp, 37 bồ-đề phần pháp, Tam giải thoát môn,
cho nên đắc được mười pháp tự tại, thì đệ Bát địa
tự nhiên được thành tựu.
Quyển
thứ nhất đề cập đến hai địa: Sơ hoan hỷ địa (Pramuditā)
và Ly cấu địa (Vimalā). Trước hết là Sơ hoan hỷ địa.
Nó giới thiệu về cảnh giới của đức Phật đang trú trên
bảo điện Ma-ni tại cung Trời Tha-hoá-tự-tại cùng với vô
số Bồ-tát ở các phương khác đều đến tập hội. Những
vị Bồ-tát này đều là những bậc không còn thối chuyến
đối với quả vị Vô thượng Chánh đắng Chánh giác, năng
lực thiền-định sâu xa, thần thông du hý, tự tại vô ngại,
công đức vô lượng, luôn đem đại tâm của mình cung kính
cúng dường mười phương chư Phật và nhiếp hoá vô số chúng
sanh. Kế đó, nó kể lại chuyện Bồ-tát Kim-cang Tạng, từ
thiền-định khởi, nói với chúng Bồ-tát như vầy:
“Này
các Phật tử, là công việc của Bồ-tát, trước hết tự
mình phải khéo quyết định, không có lầm lỗi, (tâm) vô
phân biệt, rõ suốt thanh tịnh, rộng lớn như pháp tánh, rốt
ráo như hư không, biến khắp hết thảy mười phương chư
Phật và thế giới chúng sanh; vì muốn cứu độ hết thảy
thế gian, vì được thần lực của hết thảy chư Phật gia
hộ”.
Kế
đó, Ngài nói rằng những Bồ-tát muốn nhập vào trí địa
của chư Phật trong ba đời, mà chư Phật trong ba đời đã
nói, nay nói và đang nói; đặc biệt, trí địa này chính là
trí địa của chư vị Bồ-tát ma-ha-tát, gồm 10 cấp độ:
1. Pramuditā (Hỷ địa); 2. Vimalā (Tịnh địa); 3. Prabhākarī
(Minh địa); 4. Arciṣmatī (Diệm địa); 5. Sudurjayā (Nan thắng
địa); 6. Abhimuktī (Hiện tiền địa); 7. Dūraṃgamā (Thâm
viễn địa); 8. Acalā (Bất động địa); 9. Sādhumatī (Thiện
huệ địa); và 10. Dharma-meghā (Pháp vân địa).
Thế
nhưng, khi thuyết về danh hiệu Thập địa xong, liền yên lặng
mà không giảng thuyết nghĩa lý; do đó, ngài Giải Thoát Nguyệt
Bồ-tát đại diện hội chúng thỉnh cầu diễn sâu về nghĩa
lý. Sau khi quán xét hội chúng, Bồ-tát Kim-cang Tạng nói kệ:
“Lý
đạo của chư Phật,
Nhiệm
mầu khó giải bày,
Phi
tư lường mà được,
Chỉ
bậc trí hiểu thấu.
Tánh
nó tự xưa nay,
Vắng
lặng không sanh diệt,
Từ
xưa nay vốn không,
Diệt
trừ các khổ não,
Xa
lìa nơi các cõi,
Đồng
với tướng Niết-bàn.
Không
giữa cũng không sau,
Phi
ngôn từ diễn thuyết,
Vượt
thoát khỏi ba đời,
Tướng
nó như hư không,
Nơi
hoạt động chư Phật,
Thanh
tịnh, sâu, vắng lặng,
Nói
năng khó hiển bày;
Địa
hành cũng như thế,
Nói
về nó đã khó,
Huống
gì chỉ bày người.
Trí
tuệ của chư Phật,
Phải
lìa các tâm số,
Không
thể suy nghĩ thấu,
Chẳng
phải ấm giới nhập,
Dụng
trí có thể biết,
Chẳng
phải thức sánh đặng,
Không
dấu tích, khó nói.
Sao
hiển bày tướng ấy?
Nghĩa
Thập địa như thế,
Phi
tâm vô biên (làm sao) biết...”
Nói
kệ xong, Bồ-tát Kim-cang Tạng lại bảo với đại chúng:
“Nếu
chúng sanh khéo tích tập thiện căn, tu các thiện hạnh, hành
pháp trợ đạo, cúng dường chư Phật, khéo tập các bạch
pháp (śukladharma), được thiện tri thức giúp, thể nhập tâm
rộng sâu, tin vui tâm đại pháp, tâm từ bi rải khắp, mong
cầu trí tuệ Phật, những chúng sanh như thế, mới có khả
năng phát tâm Bồ-đề Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
được nhất thế chủng trí, chứng đắc Thập lực cùng các
pháp Tứ vô uý, được pháp Phật đầy đủ, tự tại chuyển
đại pháp luân, rộng thị hiện thần lực của Phật... Bồ-tát
sanh tâm như vậy, liền vượt qua các phàm phu địa, nhập
Bồ-tát vị, sanh nơi nhà Phật, chủng tánh không thể cơ hiềm,
vượt qua hết thảy các đạo thế gian, nhập vào đạo xuất
thế, trụ trong pháp Bồ-tát, nơi các số Bồ-tát, nhập vào
trong chủng tánh ba đời của Như Lai, thảy đều rốt ráo
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ-tát trụ pháp như thế,
gọi là tru Hoan hỷ địa”.
An
trụ Sơ địa này tâm Bồ-tát được hoan hỷ; vì nhớ nghĩ
đến chư Phật, nhớ nghĩ đến pháp của Phật, cho nên tâm
hoan hỷ; vì nhớ nghĩ đến công hạnh của chư Bồ-tát, nhớ
nghĩ đến các tướng thanh tịnh Ba-la-mật, nhớ nghĩ đến
chư Bồ-tát cùng với chúng thù thắng, cho nên tâm hoan hỷ....
Bồ-tát tiếp tục cần hành tinh tấn, phát 10 nguyện bất
khả tận: 1. Chúng sanh bất khả tận; 2. Thế gian; 3. Hư không;
4. Pháp tánh; 5. Niết-bàn; 6. Phật xuất thế; 7. Trí tuệ chư
Phật; 8. Tâm duyên bất khả tận; 9. Khởi trí; và 10. thế
gian đạo chủng, pháp đạo chủng, trí tuệ đạo chủng bất
khả tận.
Kế
tiếp là Vimalā-bhūmi (Ly cấu địa). Bồ-tát phải nên sanh
mười tâm đầy đủ mới có thể nhập nhị địa. 1. Nhu nhuyến
tâm; 2. Điều hoà tâm; 3. Kham thọ tâm; 4. Thiện tâm; 5. Tịch
diệt tâm; 6. Chơn tâm; 7. Bất tạp tâm; 8. Vô tham lạc tâm;
9. Khoái tâm; và 10. Đại tâm. Lại nữa, Bồ-tát muốn
trụ Ly cấu địa phải từ bỏ sát sanh, tâm không sân hận,
thường sống tàm quý, khởi từ bi tâm đối với hết thảy
chúng sanh; lìa bỏ trộm cướp, sống thiểu dục tri túc; lìa
bỏ tà dâm; nói lời chân thật; thành tín Tam bảo, thường
hành thiện nghiệp. Bồ-tát vì người thuyết thập thiện
nghiệp, khéo dụng phương tiện, cứu vớt chúng sanh, cầu
trí tuệ Phật, thanh tịnh các địa Bồ-tát và các Ba-la-mật,
năng hành sâu rộng, có khả năng chứng đắc Thập lực
của Phật, Tứ vô sở uý và Bốn vô ngại trí,
trải tâm đại từ bi cho đến chứng đắc đầy đủ nhất
thiết chủng trí.
Quyển
thứ hai đề cập đến ba địa: Prabhākarī-bhūmi (Minh địa),
Arciṣmatī-bhūmi (Diệm địa) và Sudurjayā-bhūmi (Nan thắng
địa). Trong Prabhākarī-bhūmi (Minh địa), Bồ-tát đã nhập
vào địa thứ hai rồi, muốn đắc địa thứ ba phải dụng
10 tâm mới có thể nhập.
Mười
tâm này là: 1. Tịnh tâm; 2. Mãnh lợi tâm; 3. Yếm tâm; 4. Ly
tâm; 5. Bất thối tâm; 6. Kiên tâm; 7. Minh thạnh tâm; 8. Vô
tuệ tâm; 9. Khoái tâm; và 10. Đại tâm. Với mười tâm
này, Bồ-tát có thể quán hết thảy tướng chơn thật của
pháp hữu vi, như: vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh,
bại hoại không lâu bền, tướng không đáng tin, mỗi niệm
mỗi niệm sanh diệt. Lại nữa, (tâm) không sanh không diệt,
không từ đời trước (mà có), không bỏ đời sau, hiện tại
(tâm) không trụ. Bồ-tát quán tướng như thật của tất cả
các pháp hữu vi, biết các pháp này, không do tạo tác, không
sanh khởi, không đến không đi...
Thấy
như vậy rồi, Bồ-tát đối nơi tất cả các pháp hữu vi
nhàm chán chuyển hoá, xa lìa, mới có thế chứng đắc trí
tuệ Phật. Bồ-tát biết trí tuệ của Như Lai là bất khả
tư nghì, bẩt khả xứng lượng, có thể lực lớn, không gì
hơn được, không có tạp tướng, không có suy não ưu bi, có
công năng đạt đến đại thành vô uý, an ổn, không còn thối
chuyển, có công năng cứu vớt chúng sanh khổ não, như thật
thấy biết trí Phật vô lượng, thấy pháp hữu vi khổ não
vô lượng, đối với hết thảy chúng sanh chuyển hoá để
phát sanh mười tâm thù thắng. Đó là: 1. Chúng sanh đáng thương
xót; 2. Cô độc không (người) cứu giúp; 3. Bần cùng không
nơi nương tựa; 4. Lửa tam độc thiêu đốt không dừng; 5.
Lao ngục kiên cố giam cầm trong ba cõi; 6. Phiền não thường
trụ, đầy dẫy xấu ác; 7. Đối trong các pháp thiện, không
có năng lực chánh quán; 8. Tâm dục lạc ít; 9. Mất hết diệu
pháp của chư Phật, mà thường xuôi theo dòng sanh tử; và
10. Sợ hãi Niết-bàn.
Phát
tâm như vậy, lại như pháp được nghe, tâm thường hỷ lạc,
đều có khả năng chánh quán. Bồ-tát nghe các pháp rồi, hàng
phục tâm mình; tâm nhớ nghĩ như vậy rồi, đúng như thuyết
hành, mới đắc pháp của Phật, không thể chỉ nói năng.
Bồ-tát như thế, mới có khả năng an trụ minh địa, nhập
vào Sơ, Nhị, Tam và Tứ thiền. Bồ-tát tiếp tục nhập
vào Tứ không và hành Tứ vô lượng tâm. Bồ-tát thấy
như thật rằng “các pháp không sanh không diệt, vì chúng
do các duyên hợp thành”.
Kế
đó là Arciṣmatī-bhūmi (Diệm địa). Nếu Bồ-tát đầy đủ
thanh tịnh hạnh địa thứ ba rồi, muốn đắc địa thứ tư,
phải dùng 10 loại pháp minh (Dharmālokapraveśa) mới có thể
nhập. Mười pháp minh này là: 1. Tư lương Chúng sanh tánh;
2. Tư lương Pháp tánh; 3. Tư lương Thế giới tánh; 4. Tư lương
Hư không tánh; 5. Tư lương Thức tánh; 6. Tư lương Dục giới
tánh; 7. Tư lương Sắc giới tánh; 8. Tư lương Vô sắc giới
tánh; 9. Tư lương Khoái tín giải tánh; và 10. Tư lương Đại
tâm tánh. Từ đệ tam địa, Bồ-tát dùng 10 pháp minh
môn này để nhập vào địa thứ tư, tức là ở nhà Như Lai;
vì thế lực chuyển hoá, cho nên chứng được nội pháp với
mười chủng trí. Những gì là mười? 1. Bất thối chuyển
tâm; 2. Đối trong Ba ngôi báu, đắc trí cứu cánh bất hoại
tín thanh tịnh; 3. Tu tập quán sanh diệt; 4. Tu tập (quán) các
pháp bản lai bất sanh; 5. Thường tu tập chuyển hoàn thế
gian hành; 6. Tu tập biết nghiệp nhân duyên cho nên có sanh;
7. Tu tập phân biệt sanh tử Niết-bàn môn sai biệt; 8. Tu tập
(quán) sự khác nhau của nghiệp chúng sanh; 9. Tu tập (quán)
sự khác nhau của đời trước và đời sau; và 10. Tu tập
(quán) hiện tại thường diệt bất trụ hành. Chứng đắc
10 trí tâm này tức sanh vào nhà của Phật, chuyển được
thế lực. Bồ-tát tinh tấn tu tập, nhất tâm quán chiếu Ba
mươi bảy pháp trợ đạo để diệt trừ tham ái thế gian.
Kế
đó là Sudurjayā-bhūmi (Nan thắng địa). Bồ-tát đã nhập
vào địa thứ tư rồi, muốn đắc địa thứ năm phải dùng
10 tâm bình đẳng mới có thể nhập. Mười tâm bình đẳng
(samatā) là: 1. Quá khứ Phật pháp bình đẳng; 2. Vị lai Phật
pháp bình đẳng; 3. Hiện tại Phật pháp bình đẳng; 4. Giới
tịnh bình đẳng; 5. Tâm tịnh bình đẳng; 6. Trừ kiến nghi
hối bình đẳng; 7. Tri đạo phi đạo tịnh bình đẳng; 8.
Hành tri kiến tịnh bình đẳng; 9. Các Bồ-đề phần pháp
chuyển thắng tịnh bình đẳng; và 10. Đẳng hoá chúng sanh
tịnh bình đẳng. Lại nữa, Bồ-tát khéo biết: thế đế,
đệ nhất nghĩa đế, tướng đế, sai biệt đế, thị thành
đế, sự đế, sanh khởi đế, tận vô sanh đế, khiến nhập
Đạo đế; thứ lớp thành các địa của Bồ-tát và khéo
biết: tập Như Lai trí đế.
Bấy
giờ Bồ-tát thường ở nơi Nhất thừa, khéo biết đệ nhất
nghĩa đế là tuỳ ý chúng sanh, khiến họ hoan hỷ; biết thế
đế là biết phân biệt tự tướng các pháp, biết tướng
đế, mỗi một của các pháp đều khác nhau; biết sai biệt
đế là biết phân biệt các ấm giới nhập; biết thị thành
đế là dụng khổ não của thân và tâm. Biết Khổ đế là
biết các đạo sanh khởi liên tục. Biết Tập đế là biết
sự tận diệt rốt ráo hết thảy nhiệt não. Biết Diệt đế
là biết pháp bất nhị sanh khởi. Biết Đạo đế là biết
dụng nhất thiết chủng trí, biết thứ lớp của tất cả
pháp, thành các địa của Bồ-tát. Khéo biết tập Như Lai
trí đế là dụng năng lực tín giải; biết chẳng phải chứng
đắc trí đế vô tận. Bồ-tát nhờ dụng các trí đế này
mà như thật biết hết thảy các pháp hữu vi là tướng bại
hoại, luống dối hư ngụy, giả dạng tạm thời luống dối
kẻ phàm phu.
Đối
với chúng sanh, Bồ-tát khởi đại bi thù thắng chuyển hoá
mà ứng hiện, có thể sanh khởi đại tâm từ bi, chứng được
lực trí tuệ, nguyện cứu giúp chúng sanh, thường cầu trí
tuệ Phật, như thật quán chiếu tất cả các pháp hữu vi
đời trước đời sau. Bồ-tát bấy giờ trụ trong địa Nan
thắng thứ năm này không quên các pháp, cho nên gọi là niệm;
trí tuệ quyết định, trí; biết ý thứ tự của kinh thơ,
đạo; tự bảo hộ và bảo hộ cho kẻ khác, tàm quý; không
bỏ việc trì giới, tâm kiên cố; khéo tư duy là xứ hay chẳng
phải xứ, giác; không tuỳ tha, tuỳ trí; khéo phân biệt nghĩa
lý chương cú của các pháp, tuỳ tuệ; khéo tu thiền-định,
thần thông; tuỳ thế gian pháp hành, phương tiện; khéo tu
tập phước đức tư lương, vô yểm túc; thường cầu nhân
duyên trí tuệ, bất xả; tu tập nhân duyên đại từ đại
bi, vô bì quyện; thường nhớ nghĩ chơn chánh, viễn ly phá
giới; thâm tâm cầu Thập lực, Tứ vô sở uý, Thập bát bất
cọng pháp của Phật, cho nên gọi là thường niệm pháp Phật;
thường khiến cho chúng sanh lìa ác tu thiện, trang nghiêm Phật
quốc; gieo trồng: 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp phước đức
trang nghiêm, hành chủng chủng thiện nghiệp; cầu trang nghiêm
như thân khẩu ý của Phật, hành tinh tấn; cúng dường hết
thảy Bồ-tát thuyết pháp, lạc đại cung kính; hết thảy
Bồ-tát và các thế gian bằng các phương tiện tâm vô sân
ngại, tâm vô ngại; thường vui giáo hoá chúng sanh, trú dạ
viễn ly chư tâm.
Quyển
thứ ba đề cập đến ba địa: Abhimuktī-bhūmi (Hiện
tiền địa), Dūraṃgamā-bhūmi (Thâm viễn địa) và Acalā-bhūmi
(Bất động địa). Bồ-tát, sau khi đã nhập vào địa thứ
năm rồi, muốn chứng đắc địa thứ sáu, phải dụng 10 pháp
bình đẳng mới có khả năng thể nhập. Mười pháp bình đẳng
là: 1. Vô tánh; 2. Vô uý; 3. Vô sanh; 4. Vô diệt; 5. Bản lai
thanh tịnh; 6. Vô hý luận; 7. Bất thủ bất xả; 8. Ly; 9. Tất
cả các pháp như ảnh, như hưởng, như huyễn mộng; và 10.
Hữu vô bất nhị.
Bồ-tát
quán tất cả pháp tánh, có khả năng nhẫn tuỳ thuận địa
thứ sáu. Vô sanh pháp nhẫn tuy chưa hiện tiền, nhưng tâm
được lợi ích rõ ràng, cho nên thành tựu thuận nhẫn. Bồ-tát
quán tất cả các pháp tướng như vậy, dụng đại bi làm
đầu, tăng trưởng đầy đủ, lại dùng thắng quán, quán
tướng sanh diệt của thế gian, cho nên suy nghĩ rằng có thế
gian là do nơi chốn thọ thân, đều vì tham trước vào ngã;
nếu xa lìa sự tham trước vào ngã, thì không có thế gian.
Bồ-tát thuận quán 12 nhân duyên thấy rằng vì không biết
tuệ tri đệ nhất nghĩa đế là do vô minh che lấp tâm. nghiệp
quả của vô minh gọi là hành; nương vào các hành, cho nên
có thức; do thức sanh, có 4 thủ ấm; nương vào thủ ấm,
có danh sắc; danh sắc thành tựu, có sáu nhập; do căn tác
động với trần, có thức; theo sự hoà hợp này, xúc hữu
lậu sanh, có thọ; tham muốn nơi thọ gọi là ái; ái tăng
trưởng gọi là thủ; từ nơi thủ, khởi nghiệp hữu lậu,
cho nên có nghiệp, có quả bảo ngũ ấm thì gọi là sanh; ngũ
ấm chín mùi, già; ngũ ấm hoại, tử.
Bồ-tát
thấy 12 nhân duyên này vốn không có ngã và ngã sở, không
có tác giả, không có tác giả sai sử. Trong đệ nhất nghĩa
đế, không có tác giả cũng không có tác sự. Biết rõ tam
giới là hư vọng, chỉ do tâm tạo tác. Đức Như Lai dạy
rằng có 12 chi phần nhân duyên là đều do tâm. Vì tuỳ sự
việc sanh tâm tham dục, tâm này tức là thức; sự việc là
hành; hành dối gạt tâm gọi là vô minh; thức nương vào nơi
danh gọi là sắc; tâm tham nhập vào sanh khởi gọi là sáu
nhập; căn trần thức hoà hợp cho nên có xúc; xúc cùng sanh
gọi là thọ; tham đắm thọ, khát ái; khát ái không từ bỏ,
thủ; vì sự hoà hợp này, hữu; có hữu này lại có hữu
khác liên tục gọi là sanh; sanh biến hoại chín mùi, lão;
lão hoại, tử. Mỗi chi trong 12 nhân duyên này đều có 2 loại
riêng.
Do
vô minh làm nhân duyên với các hành tức là sự việc quá
khứ; thức danh sắc lục nhập xúc thọ, sự việc hiện tại;
ái thủ hữu sanh lão tử, sự việc vị lai; từ đây mà có
ba đời lưu xuất. Do vô minh diệt cho nên hành diệt gọi là
thuyết đoạn tương tục; thuyết 12 nhân duyên gọi là Ba khổ.
Nghĩa là vô minh hành thức danh sắc lục nhập gọi là Hành
khổ; xúc thọ, Khổ khổ; ái thủ hữu sanh lão tử ưu bi khổ
não, Hoại khổ. Vô minh diệt cho nên hành diệt, cho đến lão
tử diệt gọi là thuyết đoạn ba khổ tương tục. Tuỳ vào
12 nhân duyên, quán vô ngã, vô chúng sanh, vô thọ mạng, vô
nhân không tánh, lìa tác giả, tác giả sai sử thì chúng không
có chủ, không có nhân duyên.
Quán
như vậy thì Không giải thoát môn hiện tại tiền; diệt sự
việc này thì sự việc khác không thể tiếp tục Vô tướng
giải thoát môn hiện tại tiền; biết 2 loại này cho nên không
sanh tâm vui mừng, chỉ còn tâm đại bi, giáo hoá chúng sanh
thì Vô nguyện giải thoát môn hiện tại tiền. Biết pháp
hữu vi là nhiều lỗi lầm, là vô tánh, lìa tướng kiên cố,
không sanh không diệt cùng hoà hợp với đại từ bi, cứu
giúp tất cả chúng sanh, thời đắc được trí tuệ Ba-la-mật
vô chướng ngại, hiện tiền rõ biết; chứng đắc trí tuệ
như vậy, tu tập đầy đủ, hướng đến quả Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, mà không cùng với pháp hữu vi an trụ.
Quán pháp tánh hữu vi, tướng nó thường vắng lặng, không
trụ trong pháp hữu vi, chỉ mong chứng Phật quả. Bồ-tát
trụ trong Hiện tiền địa, được thiền-định kiên
cố. Bồ-tát trụ trong Hiện tiền địa, chí tâm, quyết định
tâm, diệu tâm, thâm tâm, bất chuyển tâm, bất xả tâm, quảng
tâm, vô biên tâm, lạc trí tâm, tuệ phương tiện hoà hiệp
tâm, những tâm như thế, v.v... sự chuyển tiếp tăng trưởng
thù thắng, tuỳ thuận vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Kế
tiếp là Dūraṃgamā-bhūmi (Viễn hành địa). Bồ-tát, sau khi
thể nhập địa thứ sáu rồi, muốn đắc địa thứ bảy
này phải dụng tuệ phương tiện để khởi 10 Diệu hạnh
mới có khả năng thể nhập. Mười Diệu hạnh này là:
1.
Bồ-tát khéo tu tập ‘không’ ‘vô tướng’ ‘vô nguyện’
mà dụng tâm từ bi đối xử với chúng sanh;
2.
Tuỳ vào pháp bình đẳng của chư Phật mà không bỏ việc
cúng dường chư Phật;
3.
Trí thường thích tư duy về không mà rộng tu tập tư lương
phước đức;
4.
Xa lìa ba cõi mà có công năng trang nghiêm ba cõi, vắng lặng
rốt ráo các phiền não mà có công năng vì chúng sanh dấy
khởi pháp diệt trừ các phiền não tham nhuế si;
5.
Tuỳ thuận các pháp, như huyễn như mộng, như ảnh như tiếng
vang, như hoá như trăng trong nước, như hình tượng trong gương,
không có nhị tướng mà khởi phân biệt các phiền não và
không quên quả báo của nghiệp;
6.
Biết hết thảy quốc độ của Phật thanh tịnh, là không,
như hư không, các quốc độ khác đều là tạp tướng mà
khởi công hạnh thanh tịnh quốc độ của Phật;
7.
Biết hết thảy pháp thân Phật là không thân mà khởi sắc
thân, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp dùng để tự trang nghiêm;
8.
Biết âm thanh của chư Phật là tướng bất khả thuyết;
9.
Tín giải tướng của Như Lai xưa nay là tướng vắng lặng
mà tuỳ thuận hết thảy chúng sanh, khởi những thứ âm thanh
trang nghiêm; và
10.
Biết chư Phật đối trong từng niệm ngắn ngủi đều thông
đạt ba cõi mà biết các thứ tướng, thời và các số kiếp,
đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác do tuỳ thuận tâm
chúng sanh mà tín giải.
Bồ-tát
tu mười Diệu hạnh này mới có khả năng nhập vào địa
thứ bảy. An trụ trong địa này, Bồ-tát nhập vào tánh chúng
sanh vô lượng, nhập vào pháp giáo hoá chúng sanh của chư
Phật vô lượng, nhập vào tánh thế gian vô lượng, nhập
vào quốc độ thanh tịnh vô lượng của chư Phật, nhập vào
các pháp sai biệt vô lượng, nhập vào trí của chư Phật
vô lượng mà chứng đắc đạo vô thượng... nhập vào chư
Phật vô lượng thuyết đạo nhân duyên khiến cho chúng sanh
tín giải... Bồ-tát trong từng niệm phải tinh tấn hành Thập
độ Ba-la-mật, Tứ nhiếp pháp, Ba mươi bảy bồ-đề phần
pháp, Tam giải thoát môn, nêu lên những ngôn từ trọng yếu,
trợ giúp (hết thảy chúng sanh phát tâm dõng mãnh, cần cầu)
pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Kế
đó là Acalā-bhūmi (Bất động địa). Bồ-tát đã tu tập
thành tựu mười hạnh vi diệu ở đệ Thất địa, dụng tuệ
làm phương tiện đạo, khéo tu tập các pháp trợ đạo thanh
tịnh; vì năng lực nguyện lớn, tâm an trụ bất diệt, được
thần lực của chư Phật gia hộ, thiện căn được năng lực,
thường niệm tuỳ thuận tu Thập lực, Tứ vô sở uý và pháp
Thập bát bất cọng của Như Lai, tâm an lạc tâm sâu xa khéo
thành tựu thanh tịnh, phước đức trí lực, tâm đại từ
bi, cứu giúp hết thảy chúng sanh, tu hành vô lượng trí đạo,
năng nhập các pháp xưa nay, không sanh không diệt, vô tướng,
không xuất, không mất, không đi, không lại, không có tánh
sở hữu. Chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối đều bình
đẳng, không khác Như Lai, trí vô phân biệt, hết thảy tâm
ý thức, ức tưởng phân biệt, không có tham trước, nhập
vào hết thảy các pháp, như tánh hư không, thì gọi là Bồ-tát
đắc Vô sanh pháp nhẫn, thể nhập vào địa thứ tám, liền
chứng đắc Bất động địa gọi là công hạnh sâu xa của
Bồ-tát, khó có thể biết được, không có khả năng phân
biệt, xa lìa hết thảy các tướng, các tưởng, những sự
tham đắm, vô lượng vô biên, bất khả tư nghì, hết thảy
Thanh-văn, Bích-chi-Phật không có thể hoại diệt, sâu rộng
xa lìa mà ứng hiện trước mắt.
Ví
như Tỳ-kheo, chứng được thần thông, tâm được tự tại,
thứ lớp mới có thể nhập vào Diệt tận định, hết thảy
động tâm, ức tưởng phân biệt, tâm hành các việc, thảy
đều dứt sạch. Bồ-tát cũng vậy, an trụ Viễn hành địa,
hết thảy sự việc thảy đều tận diệt, việc không phải
do thân khẩu ý hành, trú đại viễn ly... Bồ-tát cũng vậy,
phát đại tinh tấn, rộng tu hành đạo, đến Bất động địa,
hết thảy sự việc, thảy đều buông thả, chẳng hành nhị
tâm, các thứ ức tưởng, đều không hiện tiền. Ví như tiên
nhơn sanh nơi Phạm thế, phiền não cõi dục không còn hiện
tiền. Bồ-tát trụ Bất động địa, hết thảy tâm ý thức
đều không hiện tiền, cho đến Phật tâm, Bồ-đề tâm, Niết-bàn
tâm cũng không còn hiện tiền, huống gì sanh tâm thế gian;
tuỳ thuận là địa, do nhờ năng lực bổn nguyện. Hiển hiện
thân mình, trụ nơi các địa, trong dòng chảy pháp, trí tuệ
Như Lai, vì nhân duyên tạo...Chư Phật đều có nói như vầy:
“Lành
thay, lành thay! Này các thiện nam, (pháp) các ông chứng là
nhẫn đệ nhất, thuận theo tất cả các pháp của Phật. Này
các thiện nam, Ta có Thập lực, Tứ vô sở uý, Thập bát bất
cọng những pháp của Phật, nay ông chưa đắc, phải nên chứng
đắc các công đức ấy, gia tâm tinh tấn chớ nên xả bỏ
pháp nhẫn như thế. Này các thiện nam, các ông tuy đắc được
sự giải thoát tĩnh lặng sâu xa như thế, nhưng hạng chúng
sanh phàm phu bất thiện chẳng được giải thoát vắng lặng,
thường khởi những thứ phiền não; vì những thứ giác và
quán thảy đều bị hại. Các ông nên thương xót những chúng
sanh này. Lại nữa, này các thiện nam, các ông nên nhớ nguyện
lực cội gốc, muốn khiến chúng sanh được lợi ích lớn,
giúp cho chúng sanh chứng đắc trí tuệ bất khả tư nghì.
Lại nữa, này các thiện nam, hết thảy pháp tánh, hết thảy
pháp tướng, hoặc Phật xuất hiện hay không xuất hiện, thường
trụ không khác, chứ không phải vì những đức Như Lai chứng
đắc pháp (tánh vô phân biệt) này mới gọi là Phật, Thanh-văn
và Độc-giác-Phật cũng có khả năng chứng đắc tịch tĩnh
pháp vô phân biệt này”.
“...
Nếu chư Phật không khiến cho Bồ-tát này trụ vào trí tuệ
như thế, thì Bồ-tát bấy giờ thảy đều nhập vào Niết-bàn
bỏ mất lợi ích hết thảy chúng sanh. Nhờ chư Phật cùng
những Bồ-tát vô lượng vô biên phát khởi nhân duyên trí
tuệ như thế, mà trong mỗi niệm, trí tuệ phát sanh. Từ Sơ
địa đến nay nếu sánh với Thất địa, trăm phần không
bằng một; ngàn vạn ức phần, trăm ngàn vạn ức na-do-tha
cho đến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ phần, không bằng một,
cho đến toán số thí dụ cũng không sánh bằng. Vì sao? Vì
trước tiên nhờ một thân hành đạo, tu tập công đức; nay
trong địa này, đắc vô lượng thân, tu Bồ-tát đạo, dùng
âm thanh vô lượng, trí tuệ vô lượng, sanh xứ vô lượng,
quốc độ thanh tịnh vô lượng, giáo hoá chúng sanh vô lượng;
vì cúng dường cung cấp hầu hạ chư Phật vô lượng; vì
tuỳ thuận pháp Phật vô lượng; vì thần thông lực vô lượng;
vì đại hội khác nhau vô lượng, thân khẩu ý nghiệp vô
lượng, được hành đạo tu tập hết thảy Bồ-tát là nhờ
pháp bất động này. Ví như tàu thuyền muốn vào biển lớn.
Lúc chưa vào biển lớn, cần phải dụng nhiều công sức,
hoặc phải dùng tay đẩy. Nếu vào biển lớn, đâu cần dùng
lực, chỉ dùng sức gió mà đi. Ở trong biển lớn, nếu chỉ
dùng sức, đi được một ngày bằng trăm ngàn năm, không thể
sánh được. Bồ-tát cũng vậy, nhờ thiện căn tư lương nhiều
tu tập theo con thuyền đại thừa nên công hạnh của Bồ-tát
mới đến được biển đại trí tuệ, chỉ trong khoảnh khắc,
không cần dụng công, mà cũng có khả năng tiếp cận với
trí tuệ của tất cả chư Phật, vốn chẳng dụng công, hoặc
một kiếp, hoặc trăm ngàn vạn kiếp, cũng không sánh được
khả năng như thế. Bồ-tát chứng đắc đến địa thứ tám,
từ tuệ đại phương tiện, tâm sanh vô công dụng”.
Bồ-tát
an trụ trong địa này, có thể tuỳ tâm ứng hiện hoá thân
cứu giúp hết thảy chúng sanh. Đây là nhờ vào công hạnh
diệu dụng mà có được mười pháp tự tại. Đó là: mạng
tự tại, tâm, tài vật, nghiệp, sanh, nguyện, tín giải, như
ý, trí và pháp tự tại... Bồ-tát an trụ trong địa
này, xa lìa hết thảy phiền não, cho nên trong tâm khéo an trụ
năng lực thanh tịnh; tâm thường không lìa đạo, cho nên trong
tâm khéo an trụ năng lực sâu xa; không bỏ rơi chúng sanh,
năng lực đại bi; cứu giúp hết thảy thế gian, năng lực
đại từ; không quên pháp được nghe, năng lực Đà-la-ni;
phân biệt quyết trạch chọn lựa hết thảy pháp Phật, hết
thảy năng lực của thuyết an lạc; hoạt dụng thế giới
sai biệt vô biên, năng lực thần thông; không xả bỏ tất
cả công hạnh của Bồ-tát, nguyện lực; tu tập hết thảy
pháp Phật, năng lực Ba-la-mật; khéo khởi nhất thiết chủng
trí, cho nên trong tâm khéo an trụ năng lực của Như Lai.
Bồ-tát
chứng đắc được trí lực như thế, chỉ bày hết thảy
sự tạo tác không lỗi lầm. Bồ-tát an trụ trong địa này
không thể bị hoại diệt, cho nên gọi là Bất động địa;
vì trí tuệ không lay chuyển, bất chuyển địa; vì hết thảy
thế gian khó lường biết nổi, oai đức địa; vì không mắc
lỗi gia quyến, vương tử địa; vì tuỳ ý tự tại, Bồ-tát
sanh địa; vì không tạo tác thêm nữa, thành địa; vì khéo
chọn lựa trí tuệ, cứu cánh địa; vì khéo phát đại nguyện,
hoá lạc địa; vì không phá hoại các pháp, thắng xứ địa;
vì khéo tu khởi đạo trước tiên, vô công lực địa. Các
Phật tử, chư vị Bồ-tát chứng đắc trí tuệ như vậy,
cho nên gọi là được thể nhập vào cảnh giới Phật, gọi
là công đức của Phật được chiếu sáng, gọi là tuỳ vào
công hạnh oai nghi của Phật, hướng đến Phật pháp, thường
được thần lực của Phật khéo hộ trì, thường được
Tứ thiên vương, Thích-đề-hoàn-nhơn, Phạm thiên vương, v.v...
cung nghênh phụng hành, thường được Thần Kim-cang Mật tích
hộ trì, khéo có công năng sanh các thiền-định sâu xa, thường
có khả năng tạo tác vô lượng thân khác nhau, đối trong
những thân này đều có thế lực, được thần thông lực
và quả báo lớn; đối trong tam-muội vô biên, được tự
tại, có khả năng lãnh thọ sự thọ ký vô lượng, tuỳ vào
nơi chốn chúng sanh thành tựu, chỉ bày Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác thành tựu...
Quyển
thứ tư đề cập đến hai địa: Sādhumatī-bhūmi (Thiện Huệ
địa) và Dharmameghābhūmi (Pháp vân địa). Sau khi đã chứng
đắc địa thứ tám và muốn thể nhập vào địa thứ chín
này, Bồ-tát phải dùng trí vô lượng để quán Phật đạo,
lại muốn cầu chuyển thắng giải thành giải thoát tịch
diệt sâu xa, muốn chuyển tư duy thắng giải thành trí tuệ
của Như Lai, muốn nhập vào trong pháp thâm mật của Như Lai,
muốn chọn lấy đại trí tuệ bất khả tư nghì, muốn chọn
các Đà-la-ni tam-muội lại khiến thanh tịnh, muốn khiến thần
thông quảng đại, muốn tuỳ thuận các hành sai biệt của
thế gian, muốn tu Thập lực, Tứ vô sở uý và pháp Thập
bát bất cọng của Phật, không thứ gì có khả năng huỷ
hoại, muốn thuận hành theo năng lực chuyển pháp luân của
chư Phật, muốn không xả bỏ nguyện đại từ đại bi, được
nhập vào địa thứ chín. Chư vị Bồ-tát an trụ trong địa
này, như thật biết rõ những pháp hành sanh khởi của: thiện,
bất thiện và vô ký; hữu lậu và vô lậu; thế gian và xuất
thế gian; có thể nghĩ nghì và không thể nghĩ nghì; quyết
định và không quyết định; như thật rõ biết pháp hành
của Thanh-văn và Bích-chi-Phật, Bồ-tát đạo và Như Lai địa;
hữu vi và vô vi pháp đều biết như vậy...
Bồ-tát
biết tướng sai biệt của tâm chúng sanh, tướng tạp nhạp
của tâm, tướng chuyển nhẹ của tâm, tướng hoại và bất
hoại của tâm, tướng vô hình của tâm, tướng vô biên tự
tại của tâm, tướng sai biệt thanh tịnh của tâm, tướng
cấu và vô cấu nhiễm của tâm, tướng trói buộc của tâm,
tướng giải thoát của tâm, tướng siễm khúc của tâm, tướng
chất trực của tâm, tướng tuỳ đạo của tâm, đều biết
như thật... cho đến như thật biết 84.000 tướng sai biệt
của thâm tâm. Bồ-tát phải như thật biết tướng sai biệt
của chúng sanh, như tưóng sai biệt của địa ngục, súc sanh,
ngạ quỉ, a-tu-la, trời, người, sắc giới, vô sắc giới,
hữu tưởng, vô tưởng... Bồ-tát phải như thật biết các
tập khí, hữu dư hoặc vô dư, tuỳ nơi sanh mà có tập khí,
tuỳ chỗ chúng sanh ở mà có tập khí, tuỳ nghiệp phiền
não mà có tập khí...
Bồ-tát
an trụ trong địa này là Đại pháp sư, có công năng giữ
gìn pháp tạng của chư Phật, là Đại pháp sư trong ý nghĩa
sâu xa vi diệu, dùng tuệ phương tiện vô lượng, tứ vô ngại
trí, phát khởi sự thuyết pháp ngôn từ của Bồ-tát. Bồ-tát
thường tuỳ vào Tứ vô ngại trí mà không phân biệt. Đó
là: pháp vô ngại, nghĩa vô ngại, từ vô ngại và lạc thuyết
vô ngại. Bồ-tát dùng Pháp vô ngại trí, biết tự tướng
của pháp; dùng Nghĩa vô ngại trí, biết sự sai biệt của
pháp; dùng Từ vô ngại trí, biết các pháp của thuyết vô
phân biệt; dùng Lạc thuyết vô ngại trí, biết sự không
đoạn diệt thứ lớp của các pháp...An trụ trong địa thứ
chín này gọi là đắc được pháp tạng của chư Phật, là
vị Đại pháp sư, biết được các nghĩa và các pháp Đà-la-ni,
khởi trí và các sự chói sáng Đà-la-ni....cho đến đắc được
vô lượng Đà-la-ni. Bồ-tát trụ trong địa này, thiện căn
chuyển thắng giải, ngày đêm niệm không ngớt, thâm nhập
vào chỗ công hạnh của chư Phật, thường dự hết thảy
Phật hội, thâm nhập vào sự giải thoát của Bồ-tát. Bồ-tát
tuỳ thuận trí như vậy; thường thấy chư Phật, mà ở trong
mỗi kiếp vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức, đem những
thứ vi diệu cúng cụ, cúng dường chư Phật; ở chư Phật
những thứ vấn nạn thảy đều thông đạt Đà-la-ni...
Sau
cùng là Pháp vân địa. Với trí tuệ vô lượng như vậy,
Bồ-tát khéo tu hành pháp đạo cho đến địa thứ chín, khéo
tu tập các bạch pháp, khéo tu tập vô lượng trợ đạo pháp,
hộ trì trí tuệ công đức lớn, rộng hành đại bi, biết
phân biệt sâu xa sự sai biệt của tánh thế gian, thâm nhập
vào nạn xứ của chúng sanh, đến các hành xứ của Như Lai,
nhớ nghĩ tuỳ thuận hành xứ tịch diệt của Như Lai, hướng
đến tu Thập lực, Tứ vô sở uý và pháp Thập bát bất cọng
của chư Phật, giữ gìn kiên cố không xả bỏ, đạt đến
nhất thiết trí. Bồ-tát tuỳ hành theo trí như vậy, gần
gũi với Phật địa, tức chứng đắc được vô cấu tam-muội
của Bồ-tát, mà ngay nơi hiện tại lại nhập vào pháp tánh
sai biệt tam-muội, đạo tràng trang nghiêm tam-muội, tất cả
thế gian mưa hoa quang tam-muội, hải tạng tam-muội, hải ấn
tam-muội, hư không quảng tam-muội, quán xét chọn lọc tất
cả các pháp tánh tam-muội, tuỳ vào tâm của hết thảy chúng
sanh mà hành tam-muội, như thật chọn lựa tất cả các pháp
tam-muội, chứng đắc được trí tín tam-muội của Như Lai,
như vậy trăm vạn a-tăng-kỳ tam-muội, v.v...đều ở ngay trong
hiện tại. Bồ-tát thảy đều nhập vào tam-muội này, khéo
biết công dụng sai biệt của tam-muội, tam-muội sau cùng,
gọi là địa vị của trí lợi ích tất cả.
Bồ-tát
an trụ vào Pháp vân địa, như thật biết tập Dục giới,
tập Sắc giới, tập Vô sắc giới; như thật biết tập thế
gian tánh, tập chúng sanh tánh, tập thức tánh, tập hữu vi
tánh, tập vô vi tánh, tập hư không tánh, tập pháp tánh, tập
Niết-bàn tánh, tập tà kiến các phiền não tánh, như
thật biết các pháp thành hoại của thế gian, như thật biết
tập đạo của Thanh-văn và Bích-chi-Phật, tập đạo của
Bồ-tát, tu tập Thập lực, Tứ vô sở uý và pháp Thập bát
bất cọng của chư Phật, tập sắc thân và pháp thân, tập
nhất thiết trí tuệ; tập như vậy đắc được Phật đạo;
tập chuyển pháp luân, tập thị hiện diệt độ, nêu lên
lời lẽ cần thiết, như thật biết thị hiện tập sai biệt
của tất cả các pháp. Bồ-tát dùng trí tuệ như vậy, tuỳ
thuận Bồ-đề hạnh, như thật thâm nhập chuyển biến, biết
sự biến hoá của chúng sanh, của nghiệp, của phiền não,
của các kiến, tánh thế gian, pháp tánh của Thanh-văn, Bích-chi-Phật,
Bồ-tát, của Như Lai, của tất cả, của phân biệt và vô
phân biệt, đều thể nhập như thật.
Bồ-tát
như thật biết năng lực gia trì của Phật, pháp; như thật
biết sự gia trì nghiệp, phiền não, thời, nguyện, đời trước,
hành, sự sống và sự gia trì của trí. Bồ-tát an trụ trong
địa này thâm nhập vào trí của chư Phật, hành trí tuệ
vi tế. Nghĩa là sanh tử trí vi tế, thế trí vi tế, xuất
gia, đắc đạo, thần lực tự tại, chuyển pháp luân, duy
trì thọ mạng, hiển bày Niết-bàn trí vi tế và pháp cửu
trụ trí vi tế, những trí vi tế như vậy, đều như thật
biết... Bồ-tát an trụ địa này, tức là có khả năng thể
nhập vào trí tuệ như vậy, tuỳ là hạnh của đất (địa
hạnh); vì Bồ-tát chứng đắc và vận dụng Thập giải thoát
làm đầu, chúng là: 1. bất tư nghì giải thoát; 2. vô ngại
giải thoát; 3. hành giải thoát; 4. phổ môn minh giải thoát;
5. Như Lai tạng giải thoát; 6. vô ngại luận giải thoát; 7.
nhập tam thế giải thoát; 8. pháp tánh tạng giải thoát; 9.
giải thoát minh giải thoát; và 10. ly sai biệt giải thoát.
Ngoài
ra còn có vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ
giải thoát, đều ở nơi địa này; Bồ-tát chứng đắc được
trăm ngàn vạn a-tăng-kỳ tam-muội, trăm ngàn vạn vô lượng
a-tăng-kỳ Đà-la-ni, trăm ngàn vạn vô lượng a-tăng-kỳ thần
thông, cũng đều đắc được như vậy. Bồ-tát thành tựu
trí
tuệ như vậy, tuỳ thuận nơi Bồ-đề, thành tựu vô lượng
niệm lực, có thể trong một niệm khoảnh khắc đến mười
phương vô lượng cõi Phật, thọ vô lượng pháp môn, vô lượng
pháp vũ (mưa pháp), đều có khả năng thọ trì. Ví như Bà-già-la
Long vương tạo pháp vũ, chỉ trừ biển lớn, còn các địa
khác đều không có khả năng lãnh thọ. Bồ-tát cũng vậy,
vì lãnh thọ đại pháp vũ, có khả năng thâm nhập Như Lai
mật xứ, là đại pháp vũ; còn hết thảy chúng sanh, Thanh-văn,
Bích-chi-Phật, đều không thể. Bồ-tát từ Sơ địa cho đến
Cửu địa, cũng không có khả thọ trì, duy chỉ có những
vị Bồ-tát an trụ trong địa thứ mười: Pháp vân địa thì
mới có đủ khả năng thọ trì.
Bồ-tát
an trụ trong Pháp vân địa, có khả năng khiến cho vô lượng
chúng sanh an trụ vào nhất thiết trí đạo. Bồ-tát an trụ
trong địa này, mười phương chư Phật vì họ thuyết trí
tuệ, khiến thông đạt tam thế, biết đúng tánh tướng của
các pháp, dùng trí tuệ diễn thuyết phổ quát hết thảy thế
gian, chiếu soi vào tánh thế gian, dùng đại từ đại bi, trải
khắp cho tất cả chúng sanh, thấy biết tất cả các pháp
một cách chơn chánh và phổ quát, nói lên những ngôn từ
bí yếu của Như Lai, vì họ diễn thuyết đầy đủ, cho đến
tất cả trí đạo. Đây là Bồ-tát an trụ Pháp vân địa.
Tóm
lại, Bồ-tát chứng đắc Thập địa là nhờ vào nhân duyên
trí của Phật. Ví như vì nhân duyên đại địa mà có Thập
đại Sơn vương. Như Tuyết Sơn vương, tất cả dược thảo,
tập trung trong núi tuyết này, số nhiều không cùng tận. Cũng
vậy, Bồ-tát an trụ vào Sơ hoan hỷ địa này, tất cả thế
gian, kinh thơ kỹ nhạc, văn tụng chú thuật, tập trung trong
địa này, số nhiều không cùng tận. Như Hương Sơn vương,
tất cả các thứ hương, tích tụ lại trong núi hương này,
số nhiều không cùng tận; cũng vậy, Bồ-tát an trụ vào trong
Ly cấu địa này, trì giới đầu đà, oai nghi trợ pháp, tập
trung trong địa này, số nhiều không thể cùng tận. Như Kha-lợi-la
Sơn vương, đều dùng thành bằng báu, tập trung các thứ hoa
vi diệu, số nhiều không thể cùng tận; cũng vậy, Bồ-tát
an trụ trong Phát Quang địa này, tập trung tất cả thế gian,
thiền-định thần thông, giải thoát tam-muội môn, số nhiều
không thể cùng tận. Như Tiên Thánh Sơn vương, chỉ dùng thành
bằng báu, đa số Thánh nhân có được năm thứ thần thông,
số nhiều không thể cùng tận; cũng vậy, Bồ-tát an trụ
trong Diệm Huệ địa này, tập trung khiến cho chúng sanh nhập
vào nhân duyên đạo, những thứ vấn nạn, số nhiều không
thể cùng tận. Du-càng-đà-la Sơn vương, chỉ dùng thành bằng
báu, tập trung những đại thần Dạ-xoa, La-sát Dạ-xoa, số
nhiều không thể cùng tận; cũng vậy, Bồ-tát an trụ trong
Nan thắng địa này, tích tập tất cả những thứ vị tự
tại, thần thông như ý, số nhiếu nói không cùng tận. Như
Mã-nhĩ Sơn vương, chỉ dùng bằng báu, tích tập các thứ
quả vi diệu, số nhiều không thể cùng tận; cũng vậy, Bồ-tát
an trụ trong Hiện tiền địa này, tập trung những pháp nhân
duyên sâu xa, nói về quả Thanh-văn, số nhiều nói không thể
cùng tận. Như Ni-dân-đà Sơn vương, chỉ dùng thành bằng
báu, tập trung hết thảy các vị Long thần đại lực, số
nhiều nói không cùng tận, cũng vậy, Bồ-tát an trụ trong
Viễn Hành địa này, tập trung những thứ trí tuệ phương
tiện, thuyết về Bích-chi-Phật đạo, số nhiều không thể
cùng tận. Như Sở-ca-bà-la Sơn vương, chỉ dùng bằng báu,
tập trung những thứ tâm tự tại, số nhiều không thể cùng
tận; cũng vậy, Bồ-tát an trụ trong Bất động địa này,
tập trung tất cả những Bồ-tát tự tại đạo, thuyết về
tánh thế gian, số nhiều nói không cùng tận. Như Chúng Tướng
Sơn vương, chỉ dùng thành bằng báu, tập trung những vị
đại thần lực, những vị A-tu-la, số nhiều không thể cùng
tận; cũng vậy, Bồ-tát an trụ trong Diệu Thiện địa này,
tập trung tất cả trí hành chuyển hoá chúng sanh, thuyết về
tướng thế gian, số nhiều không thể cùng tận. Như Tu-di
Sơn vương, chỉ dùng thành bằng báu, tập trung hết thảy
những vị đại thần, số nhiều không thể cùng tận; cũng
vậy, Bồ-tát an trụ trong Pháp Vân địa này, tập trung hết
thảy Thập lực của Như Lai, Tứ vô sở uý, thuyết về các
pháp của chư Phật, số nhiều không thể cùng tận. Là Thập
Bảo sơn, cùng đồng trong biển lớn, nhân vì nước biển
lớn, có tướng sai biệt, cho nên chư vị Bồ-tát Thập địa
cũng lại như vậy, cùng đồng tại Phật trí, nhân vì có
nhất thiết trí, cho nên có tướng sai biệt. Ví như biển
lớn, vì có mười tướng, cho nên gọi là đại hải, không
gì có khả năng làm hư hoại. Mười thứ này là:
1.
Thứ lớp sâu dần;
2.
Không dung chứa tử thi;
3.
Những dòng sông khác mất tên gốc của chúng khi chảy vào
biển này;
4.
Thuần một vị;
5.
Có nhiều châu báu tích tụ;
6.
Sâu thẳm khó thể nhập;
7.
Rộng lớn vô lượng;
8.
Có nhiều chúng sanh thân hình vĩ đại nương sống;
9.
Không vượt quá giới hạn bình thường; và
10.
Có khả năng nhận lãnh tất cả những cơn mưa lớn có nhiều
lợi ích lớn. Các hạnh Bồ-tát cũng lại như vậy, vì chỉ
dùng mười nhân duyên, cho nên được gọi là không có khả
năng làm huỷ hoại. Mười thứ nhân duyên này là:
1.
Trong Hoan hỷ địa, nguyện thứ lớp dần dần sanh kiên cố;
2.
Trong Ly cấu địa, không cùng sống với hạng phá giới mà
cùng
sống với những người giữ giới;
3.
Trong Minh địa, xả bỏ hết những tên tuổi giả tạm của
thế gian;
4.
Trong Diệm huệ địa, đối với Phật đắc được sự nhất
tâm không hoại tịnh tín;
5.
Trong Nan thắng địa, sanh khởi thần thông phương tiện vô
lượng của thế gian, khởi thế gian sự;
6.
Trong Hiện tiền địa, quán pháp nhân duyên sâu xa;
7.
Trong viễn hành địa, dùng tâm quảng đại, khéo chọn lựa
các pháp;
8.
Trong Bất động địa, có khả năng sanh khởi thị hiện sự
việc đại trang nghiêm;
9.
Trong Diệu thiện địa, có khả năng đắc được sự giải
thoát thâm sâu, thông đạt các hành thế gian, sự thật đúng
đắn không có lỗi lầm; và
10.
Trong Pháp vân địa, có khả năng lãnh thọ hết thảy đại
pháp vũ của chư Phật...
Như
vậy, là Bồ-tát chân chánh, cần phải tinh tấn tu tập rốt
ráo để đạt đến Viễn hành địa, làm nền tảng kiên cố
không còn thối chuyển, thì mới có thể thể nhập vào Bất
động địa. Không dừng lại địa này, Bồ-tát cần phát
vô lượng tâm để thể nhập vào Pháp vân địa xuyên qua
Diệu Thiện địa. Được vậy, Bồ-tát ấy đã đến tận
cùng đích của Bồ-tát địa, hành pháp lợi sanh, hưng long
chánh pháp, diệt sạch ma quân, làm cho giòng giống Tam bảo
và Phật pháp luôn được trường tồn, chúng sanh an lạc.
Chương
IX:
Gaṇḍavyūha-sūtra
(Kinh Hoa Nghiêm)
1.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
1.1.
Nguồn gốc:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit của Phật giáo Đại thừa giới thiệu
về thế giới tâm linh mầu nhiệm của pháp giới trùng trùng
duyên khởi trên nền tảng của nhất tâm chơn như mà vạn
pháp hiện hữu thảy đều xuyên qua chơn tâm bản giác phát
sinh là Gaṇḍavyūha Sūtra (Kinh Hoa-nghiêm). Nguồn gốc của
nó, theo truyền thuyết, được đức Phật thuyết sau khi Ngài
đã chứng quả Vô thượng Bồ-đề. Khi Ngài thuyết Kinh này,
duy hàng Bồ-tát thượng căn thượng trí mới có thể hiểu
và lãnh hội được cốt lõi; còn hàng Tân học Bồ-tát và
Sơ học Bồ-tát cũng như hàng Nhị Thừa và phàm phu thì không
thể hiểu nổi; vì căn trí còn thấp kém, trí tuệ chưa đầy
đủ và năng lực thiền-định chưa kiên cố, công đức chưa
tích luỹ sâu dày, cho nên chưa thể lãnh hội được yếu
chỉ của Kinh. Sau khi quán thấy căn cơ của hàng Tân học
Bồ-tát và Sơ học Bồ-tát cũng như hàng Nhị Thừa và phàm
phu chưa đủ căn trí để lãnh hội nghĩa lý thâm áo của
kinh này, bấy giờ đức Phật mới từng bước giáo hoá bằng
cách dắt dẫn những chúng sanh này từ thấp đến cao, từ
cạn đến sâu; do đó, những kinh như: A-hàm, Phương Đẳng,
Bát-nhã, v.v... lần lượt được thuyết giảng.
1.2.
Phiên dịch:
Kinh
này là một trong Chín Kinh Đại thừa, mà người Nepal gọi
là Chín Pháp. Trước hết Gaṇḍavyūha-sūtra (Kinh Hoa-nghiêm)
có thể tìm thấy ở Phẩm thứ 39 trong Avataṁsaka-sūtra (Kinh
Hoa-nghiêm). Đây là Phẩm cuối cùng mà tại Trung Hoa và Tây
Tạng, nó được gọi là Dharmadhātupraveśa (Phẩm Nhập
Pháp Giới). Nhưng thực tế, Gaṇḍavyūha Sūtra được xem
như là một bản dịch độc lập. Nó được dịch sang Hoa
ngữ trong khoảng 400 năm _ từ thế kỷ thứ 4 đến 8
sau CN, và được phiên dịch sang tiếng Tây Tạng vào thế
kỷ thứ 9. Gaṇḍavyūha Sūtra nói riêng và Avataṁsaka sūtra
nói chung là giáo lý nền tảng của trường phái Hoa-nghiêm
tại Trung Hoa, trường phái Kegon tại Nhật Bản và Triều Tiên,
mà cả 2 hiện nay vẫn đang còn rất thịnh hành. Tác phẩm
này được dịch sang Hoa ngữ giữa những năm 317 và 420 với
tựa đề Avataṃsaka-sūtra (Kinh Hoa-nghiêm).
Avataṃsaka-sūtra
hiện còn 3 bản. Bản thứ nhất do Buddhabhadra (Phật-đà-bạt-đà-la)
dịch sang Hoa ngữ suốt những năm 418-420, đời Đông Tấn,
60 quyển, ĐC 9_278. Bản thứ hai do Śikśānanda (Thực-xoa-nan-đà)
dịch trong những năm 695-704, đời Đường, 80 quyển, ĐC 10_279.
Bản thứ ba do Prajñā (Bát-nhã) dịch trong những năm 795-810,
đời Đường, 40 quyển, ĐC 10_293. Tựa đề của ba bản dịch
này giống nhau, là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”.
Ngoài ra, có vài bản khác do Divākara (Địa-bà-ha-la) dịch
với tựa đề “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập
Pháp Giới Phẩm”, đời Đường, 1 quyển, ĐC 10_295; và do
Devaprajñā (Đề-vân-bát-nhã) dịch với tựa đề “Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tu Từ Phần”, đời Đường,
1 quyển, ĐC 10_306.
Trong
ba bản vừa nêu, bản thứ ba của Prajñā dịch từ Saṅskrit,
không phải là Avataṃsaka-sūtra, nhưng từ Gaṇḍavyūha-sūtra.
Đặc biệt bản này rất quan trọng, vì không những nó bao
quát cả Daśabhūmika (Thập Địa), mà còn được ngài Nāgārjuna
(Long Thọ) trích dẫn vào Mahāprajñāpāramitopadeśa (Đại Trí
Độ, ĐC 24_1509) dưới nhan đề Acintyavimokṣa (Bất Tư Nghì
Giải Thoát).
Giải
thích Đề Kinh:
Có
sự khác nhau nào giữa hai đề kinh: Avataṃsaka-sūtra và Gaṇḍvyūha-sūtra
chăng? Thực tế Gaṇḍavyūha-sūtra chỉ là tên khác của Avataṃsaka-sūtra
mà thôi. Thuật ngữ “Avataṃsaka” có nghĩa là một vòng
hoa (Treatise on Wreath of miscellaneous fresh flowers) (tức là những
loại hoa đẹp và tươi được kết đều, đan xen và lẫn
lộn nhau thành vòng), ngụ ý rằng tất cả những đức hạnh
của đức Phật đã được tích luỹ từ thời vô thỉ, nhờ
đó mà Ngài đạt được sự giác ngộ; đức hạnh ấy cũng
na ná như một vòng hoa tươi đẹp dùng để trang nghiêm thân.
Thuật ngữ “Gaṇḍa” nghĩa là hoa, hoa thông thường, tạp
hoa; còn Vyūha, nghiêm. Gaṇḍavyūha nghĩa là Hoa Nghiêm; song
nó được cân nhắc là tên gốc của Dharma-dhātu-praveśa (Nhập
Pháp Giới).
2.
Khái lược Nội dung:
Dharmadhātupraveṣa
(Nhập Pháp Giới) trong Gaṇḍa-vyūha-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm)
gồm 40 phẩm. Trong 39 phẩm đầu Kinh này mô tả lại cảnh
giới bất khả tư nghì, bất khả thuyết trong rừng Jetavana
(Thệ Đa) về sự giác ngộ của đức Phật và sự thực nghiệm
cũng như những hạnh nguyện của Bodhisattva Samantabhadra (Bồ-tát
Phổ Hiền), mà có cống năng khiến cho chúng sanh thể nhập
vào cảnh giới tâm linh vi diệu. Trong rừng Jetavana, đức Phật
lúc ấy đang ngự trong lầu các Đại trang nghiêm, sau khi quán
căn tánh của hội chúng, Ngài liền nhập Tam-muội sư tử
thần thông.
Bấy
giờ, vì muốn khiến cho đại chúng phát tâm chánh tín Phổ
Môn, Bồ-tát Mañjuśrī (Văn Thù) biến khỏi lầu các Thiên
Sự, đi hướng về phía Nam đến thành phía Đông, nơi đức
Phật đã thuyết pháp. Hết thảy đại chúng đều phát Đại
thừa tâm, trong đó có Sudhana là người phát tâm dong mãnh,
hết lòng chí thành, cầu đạo vô thượng. Chuyện kể này
liên quan đến một nhân vật chính tên là Sudhana (Thiện Tài
Đồng Tử) và cuộc du hành của ngài trong việc tìm cầu chân
lý giải thoát. Sudhana đã du hành và yết kiến trải qua 53
vị Thiện Tri Thức.
Khi
Sudhana (Thiện Tài Đồng Tử) đến mỗi một vị Thiện tri
thức để yết kiến và cầu pháp để chứng đắc chân lý,
thì mỗi vị đều trình bày một pháp môn giải thoát tam-muội.
Những vị này với những pháp môn khác nhau như sau:
1)
Tỳ-kheo Đức Vân Thiên Biền Diệu Thân trong nước Thắng
Lạc ở phương Nam được pháp môn Ức Niệm Nhứt Thiết Chư
Phật Cảnh. 2) Tỳ-kheo Hải Vân ở nước Hải Môn được
pháp môn Phổ Nhãn. 3) Tỳ-kheo Thiện Trụ ở Tụ Lạc Hải
Ngạn bên cầu Long Giả được pháp môn giải thoát vô ngại.
4) Ông Di Già ở thành Tự Tại đem thuyết pháp ở giữa chợ
được pháp môn Bồ-tát Diệu Âm Đà-la-ni Quang Minh. 5) Trưởng
giả giải thoát ở Tụ Lạc Từ Lâm được môn giải thoát
Như Lai Vô Ngại Trang Nghiêm. 6) Tỳ-kheo Hải Tràng ở nước
Ma-lợi-gia-la ban ngày ngồi kiết già và đi kinh hành được
Tam-muội Phổ Nhãn Xã Đắc, hoặc bát Nhã Ba La Mật Cảnh
Giới Thanh Tịnh Quang Minh hoặc Phổ Trang Nghiêm Thanh Tịnh
Môn. 7) Ưu-bà-di Hưu Xã ở Thiên Long. 8) Tương Tử Mục Củ
Sa ở nước Kha-la-cấu được môn giải thoát Bồ-tát Vô Thắng
Tràng. 9) Bà-la-môn Thắng Nhiệt ở nước Tụ-lạc- y-sa-na
được môn giải thoát Bồ-tát Vô tận luận.
10)
Đồng nữ Tứ Hạnh ở thành Sư Tử Phân Tấu được môn
Bát-nhã Ba-la-mật Phổ Trang Nghiêm. 11) Tỳ-kheo Thiện Kiến
ở nước Long Nhãn. Vị Tỳ-kheo trẻ tuổi này đi kinh hành
trong rừng, chứng được môn giải thoát Bồ-tát tùy thuận
đông. 12) Đồng Tử Tự Tại Chủ ở trên bãi sông của nước
Văn Vân, Đồng Tử chuyển cát chơi được pháp môn Nhất
Thiết Công Xã Đại Thần Thông Trí Quang Minh. 13) Ưu Bà Di
Cụ Túc ở thành Hải Trụ được môn giải thoát Bồ Tát
Vô Tận Công Đức Hạnh. 14) Cư sĩ Minh trí ở thành Đại
Huận ở ngã tư đường chợ, ngồi trên tòa được môn giải
thoát Từ Ý Súc Sanh Phước Đức Tạng. 15) Trưởng giả Pháp
Bửu Kế ở thành Cư-sĩ Cung được môn giải thoát Bồ Tát
Vô Lượng Phước Đức Bửu Tạng. 16) Trưởng giả Phổ Nhãn
ở thành Phổ Môn được pháp môn Nhất Thiết Kiến Phật
Quang Ký. 17) Vua Vô Yểm Túc ở thành Đa-la-tràng được môn
duy diễn giải thoát. 18) Vua Đại Vương ở thành Diệu Quang
được môn Tam-muội giải thoát Bồ-tát Đại Từ Tùy Thuận
Thế Gian. 19) Ưu-bà-di Bất Động ở Vương-đô-an-trụ được
cầu Nhứt Thiết Pháp Vô Yểm Túc Tam-muội Công Minh.
20)
Ngoại Đạo Biến Hành ở thành Vô-lượng-đô- tát-la được
môn nhứt Thiết Xứ Bồ-tát Hạnh. 21) Trưởng giả Vương-thượng-ưu-bát-la-hoa
ở nước Quảng Đại được phương pháp điều hòa chư môn.
22) Người lái Thuyền Bà-phi-la ở thành lâu các được môn
Đại Bi Tràng Hạnh. 23) Trưởng giả Vô Thuận Thắng ở thành
Khả Lạc được môn Nhứt Thiết trí Bồ-tát Hạnh. 24) Tỳ-kheo
Ni Sư-tử-tần-thân ở quốc độ Thân-na được pháp môn giải
thoát Thành Tựu Nhất Thiết Trí. 25) Người nữ Bà-chu-mật
đa ở thành Bửu-trang-nghiêm trong nước Hiển Nạn được
môn giải thoát Bồ-tát Xuất Ly Tam Dục Tế. 26) Sư-tử-từ-đắc-hy-la
ở thành thiện Bộ được môn giải thoát Bất Bát Niết-bàn
Tế. 27) Bồ-tát Quán-tự-tại ở núi Bồ-đáp-lạt-la được
môn Bồ-tát Đại Bi Hạnh. 28) Bồ-tát Chánh-thu-tử Hư-không
đến ở trong đảnh núi Hy Sơn… tại thế giới ta-bà về
phương Đông được môn giải thoát Bồ-tát Phổ Tác Hành.
29) Thành Đại Vương ở thành Đọa-la-sát-định về phương
Nam được môn giải thoát Văn Võng.
30)
Chư-địa-thần-an-trụ ở Bồ-đề Tràng ở nước Ma-kiệt-đà
được pháp môn Bất Khả Trí Hoại Huệ Tạng Đại Trí Huệ.
31) Chư Dạ Thần Bà-sang-đà- diên-đế ở thành Ca-tỳ-la được
môn Bồ-tát Phổ nhứt Thiết Chúng Âm Phát Quang Minh Giải
Thoát. 32) Chư Đại Thần Tịnh Đức Phổ Quang ở Bồ-đề-tràng
được môn giải thoát Thiền Giải Thoát Phổ Dũng Bộ. 33)
Dạ Thần Hỷ-mục quan sát chúng sanh ở phía hữu Bồ-đề-tràng
được môn giải thoát Đại trí Lực Đổ Bưu Tràng. 34) Dạ
Thần Phổ Chiếu Chúng Sanh Diệu Đức cũng ở trong Bồ-đề-tràng
được môn giải thoát Bồ-tát Xuất Hiện Thế Gian Điều
Phục Chúng Sanh. 35) Chủ Dạ Thần Tịch-tịnh-âm-hải ở cách
đây không xa được môn Giải thoát Bồ-tát niệm niệm Phương
Quảng Đại Trí Trang Nghiêm. 36) Chủ Dạ Thần Thủ Bộ Nhất
Thiết Thần Thông Tưởng Tha Lực ở Bồ-đề-tràng được
môn Giải Thoát Thậm Thâm Vi Diệu Âm. 37) Chủ Dạ Thần Khai
Phu Nhất Thiết Thọ Hoa cũng ở Bồ-đề-tràng được môn
Giải Thoát Bồ-tát Xuất Sanh Quảng Đại Hỷ Quang Minh. 38)
Dạ Thần Đại Nguyện Tinh Tấn Hỷ Lực Nhứt Thiết Đại
Hỏa Cứu Độ Chúng Sanh cũng ở Bồ-đề-tràng được môn
Giải Thoát Giáo Hóa chúng sanh linh căn, thiện căn. 39) Thần
Diệu Đức Viên Mãn ở thành Ca-tỳ-ni được môn Giải Thoát
Biến Nhất Thiết Xứ Thiện Thọ Thân Tự Tại.
40)
Con gái họ Thích Cù-ba dạy cho thái tử Tất-đạt-đa ở thành
Ca-tỳ-la được môn Giải Thoát Quán Sát Bồ-tát Tam-muội
Hải. 41) Ma-gia phu nhân ở trong hư không được môn Giải Thoát
Bồ-tát Đại Nguyện Trí Huyển. 42) Thiên nữ Thiên Chủ Quang
con vua Chánh Niệm ở cõi trời Đao Lợi được môn Giải Thoát
Vô Ngại Biện Thanh Tịnh Trang Nghiêm. 43) Đồng Tử Sư Biến
Hữu ở thành Ca-tỳ-la được môn giải thoát Thiện Tri Chúng
Ngộ. 44) Ưu-bà-di Huyền Thắng ở thành Bà-đát-na trong nước
La-phiệt-đà được môn Giải Thoát Vô Ưu Trú Đạo Tràng.
45) Trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát ở thành Áp Diêu được
môn Giải Thoát Vô Trước Thanh Tịnh Trang Nghiêm. 46) Trưởng
giả Diệu Nguyệt ở trong ấp Điều được môn Giải Thoát
Tịch Chiếu Quang Minh. 47) Trưởng giả Vô Thắng Quán ở thành
Phúc Tâm được môn Giải Thoát Vô Tận Tướng. 48) Bà-la-môn
Tối Tịch tịnh ở tụ lạc Vi Diệu Pháp được môn Giải
Thoát Thần Nguyện Ngữ.
49-50)
Đồng Tử Đức Trang, Đồng Nữ Diệu Đức ở thành Diệu
Ý Hoa Môn được môn Giải Thoát Huyền Trụ. 51) Bồ-tát Di-lặc
ở lầu Cát-tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng trong vườn Đại
Trang Nghiêm ở nước Hải Ngạn được môn Giải Thoát Tạng
Trí Trang Nghiêm Nhập Nhất Thiết Cảnh Giới Tam Thế Bách
Vân. 52) Bồ-tát Văn-thù từ xa đưa tay phải 100 ngàn do tuần
để trên đầu Thiện Tài vào đạo tràng Phổ Nhãn. 53) Bồ-tát
Phổ Hiền ở trong quốc độ Như Lai ngồi tòa Sư Tử Bửu
Viên Hoa chứng được hạnh nguyện hải Phổ Hiền.
Khi
Sudhana đến yết kiến và được nghe ngài Mañjuśrī (Văn Thù)
diễn giảng và xương minh giáo nghĩa thâm áo của Như Lai,
nguồn cảm hứng nhận ra sự giác ngộ đã bừng sáng trong
tâm. Cuối cùng Sudhana gặp được ngài Samantabhadra (Phổ Hiền),
sau khi được nghe giáo pháp và vì muốn đưa giáo nghĩa mà
ngài Samantabhadra đã giảng vào thực nghiệm, Sudhana đã chiêm
nghiệm những di huấn của ngài Samantabhadra và trong tâm bỗng
dưng bừng sáng, và thật sự đã giác ngộ với sự thể nhập
vào Pháp giới tánh thanh tịnh.
2.1.
Lý tưởng Bồ-tát và Phật:
Không
phải hàng phàm phu, cũng chẳng phải là hàng Nhị thừa: Thanh
Văn và Duyên Giác có thể có được lý tưởng của những
vị Bồ-tát và Phật. Tuy Phật tánh đồng, song phước đức
và hạnh nghiệp có khác, cho nên phước báo cũng khác nhau.
Như hoa sen trong hồ, có hoa đã vươn lên khỏi mặt nước
và toả hương sắc, có đoá vừa chớm nở, có đoá lập lững
giữa mặt nước, nhiều đoá đang còn trong nước. Cũng vậy,
sự khác nhau giữa hàng phàm phu, Nhị thừa, Bồ-tát và Phật
đều tương tợ như thế. Những điểm khác biệt đặc thù
về lý tưởng Bồ-tát và Phật khi so với hàng Nhị thừa
có lẽ không ngoài chính vấn đề dưới đây.
1)
Niệm niệm vô lậu, siêu thế gian trí: tức là sự lắng nghe
và quán chiếu pháp giới vượt lên trên bình diện của tư
duy và diễn đạt. Sự cường điệu cùng tột của ngôn ngữ
chỉ đi vào thế giới của tánh không. Mỗi một niệm đều
ứng hiện chói sáng và nhiệm mầu đang trong thực tại.
2)
Công năng vi diệu và thần lực Tam-muội bất tư nghì: nói
cách khác, đây chính là nhờ năng lực hay thần thông lực
của đức Phật bằng sự thể nhập tam-muội biến hoá không
lường, kỳ ảo vô biên xuyên qua mười năng lực: 1. Gia trì
lực (adhiṣṭhāna), năng lực ban cho hàng Bồ-tát để chóng
thành tựu mục đích của đời sống trong hiện thực; 2. Thần
thông lực (vikurvita): năng lực tạo ra các phép lạ; 3. Uy đức
lực (anubhāva), năng lực chế ngự; 4. Bản nguyện lực (pūrvapraṇidhāna);
5. Túc thế thiện căn lực (pūrva sukṛta kusalamūla): năng lực
của những thiện căn trong đời trước; 6. Thiện tri thức
nhiếp thọ (kalyānamitra-parigraha): năng lực tiếp đón hết
thảy bạn tốt; 7. Thanh tịnh tín lực (śraddhāyajñana-viśuddhi):
năng lực của tín và trí thanh tịnh; 8. Đại minh giải lực
(udārādhimuktyava-bhāsapratilamba): năng lực thành tựu một tín
giải vô cùng sáng suốt; 9. Thú hướng Bồ-đề thanh tịnh
tâm lực (bodhisattvādhyāśapariśuddhi): năng lực làm thanh tịnh
tâm của Bồ-tát; và 10. Cầu nhất thiết trí quảng đại
nguyện lực (adhyāśayasarvajñāna-praṇidhāna-prasthāna): năng
lực khiến nhiệt thành hướng tới nhất thiết trí và các
đại nguyện.
3)
Tâm đại bi (mahākaruṇāhṛdaya), tinh thể của Tam-muội (samādhi):
bi tâm tức là thân thể (śarīra), là cửa ngõ (mukha) và cũng
chính là tiền đạo (pūrvaṇgama) của tam-muội. Nếu không
có tâm từ bi, không có năng lực tam-muội của Phật, thì
sẽ không thể thể nhập vào thế giới tâm linh của vạn
loại hàm linh. Tam-muội chính là nơi thường trụ của Phật.
4)
Bản thệ (praṇidhāna): là điều vô cùng quan trọng của hàng
Bồ-tát; vì mọi hạnh nguyện đều được huệ nhãn (jñānacakṣus)
soi chiếu và sức mạnh ý chí trở thành năng lực hành trì
(caryā) kiên cố, không còn bị thối chuyển. Có bản thệ
thì mới có đủ công năng và muôn hạnh để thể nhập vào
pháp giới, mà đây chính là sự nghiệp tiên quyết của một
vị Bồ-tát nhằm phụng sự chúng sanh.
5)
Tinh thần vô chấp vô trụ: đây thật sự là lý tưởng chân
chính của Bồ-tát. Từ quan điểm cho đến sự quán chiếu,
hay cái nhìn không còn chìm đắm trong bùn lầy cố chấp: chấp
nhân và chấp pháp.
6)
Trí và Tín thanh tịnh tối thắng: Nhờ trí và đức tín thù
thằng, hàng Bồ-tát có thể quán chiếu thấy “hết thảy
các pháp đều như huyễn, hết thảy chư Phật tợ như ảnh,
những loài thọ sanh đều như mộng, nghiệp báo như bóng tợ
trong gương, các pháp sinh khởi như quáng nắng, hết thảy
thế gian đều như hoá”. Nhờ trí và tín thanh tịnh tối
thắng, Bồ-tát có thể rống tiếng rống sư tử, biện tài
vô ngại, thần thông du hí...
7)
Phước đức vô tận, Tuệ nhãn tối thắng và Tâm bất thối
chuyển: trong Gaṇḍa nhấn mạnh đến hàng Bồ-tát đã trải
qua vô số kiếp bằng cách tích lũy công đức vô tận, đạt
được tuệ nhãn tối thắng và chứng được tâm bất thối
chuyển, mà hàng Nhị Thừa đối với những vấn đề này
còn nhiều khiếm khuyết.
8)
Viên mãn công đức của chư Phật và hạnh nguyện của Bồ-tát
Phổ Hiền: hàng Bồ-tát luôn luôn vun trồng và tưới tẩm
hạt giống từ bi, tu tập và hành theo những công đức của
chư Phật và hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền, mà hàng Nhị
Thừa chưa đạt được.
9)
Bồ-tát am tường cùng tột pháp giới trong đó thế giới
tâm linh mầu nhiệm và thế giới phàm phu bất phân ly: kinh
nghiệm tâm linh của hàng Bồ-tát đều được đặt trên nền
tảng trực giác không cần phải vận dụng đến trí năng
hay biểu tượng của nó. Thế giới của tâm linh mầu nhiệm
và vi diệu của Bồ-tát thượng căn thượng trí có thể ví
cho thế giới của ánh sáng vừa tổng thể vừa cụ thể,
hay vừa toàn thể lại vừa cá biệt mà viên dung vô ngại;
còn thế giới phàm phu_đầy dẫy cá biệt và ngăn ngại lẫn
nhau.
2.2.
Trụ xứ của Bồ-tát:
Về
trú xứ của Bồ-tát, chúng ta có thể tìm thấy rải rác trong
những kinh điển Đại thừa đề cập đến. Chẳng hạn như
Vajracchekikaprajñapāramitā-sūtra (Kinh Kim Cang) dạy: “Ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Đây chính là trú xứ của Bồ-tát.
Vimalakīrtinideśa-sūtra (Kinh Duy Ma) nói: “Bồ-tát hành tâm
(địa) không cùng tận nơi pháp hữu vi và Bồ-tát hành
tâm vô trụ nơi pháp vô vi”; hoặc “Bồ-đề không
trụ, do đó, không chứng”. Chúng ta đọc tiếp đoạn trong
kinh Duy Ma, như sau:
“Thưa
ngài Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát có bịnh hãy nên như thế mà
điều phục tâm mình mà không trụ trong thân, lại cũng không
trụ mà không điều phục tâm. Vì sao? Vì nếu trụ nơi thân
mà không điều phục tâm là pháp của người ngu. Nếu trụ
mà điều phục tâm là pháp của Thanh-văn. Vì thế cho nên
Bồ-tát không nên trụ nơi điều phục và không điều phục
tâm, xa lìa cả hai pháp này là hạnh của Bồ-tát. Ở nơi
sinh tử mà không bị các hạnh nhiễm ô, trụ ở Niết-bàn
mà vĩnh viễn không diệt độ là hạnh của Bồ-tát, chứ
chẳng phải hạnh của phàm phu, chẳng phải hạnh của Hiền
Thánh là hạnh của Bồ-tát; chẳng phải hạnh ô uế, chẳng
phải hạnh thanh tịnh là hạnh của Bồ-tát.”
Trong
Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā (Tiểu Phẩm Bát-nhã), đức
Phật cũng dạy:
“Tâm
của Như Lai không trụ bất kỳ nơi đâu, không trụ trên các
pháp hữu vi, không trụ trên các pháp vô vi; vì không trụ
cho nên không hề rời khỏi sở trụ”.
Trong
Sūraṃgama-sūtra (Kinh Lăng-nghiêm) dạy:
“Những
vị Bồ-tát như thế lấy tất cả cõi Phật làm trú xứ,
nhưng không dính mắc vào trú xứ này; vì vốn không thể chứng,
không thế thấy”.
Trong
Gaṇḍavyūha, kinh mô tả trụ xứ của Bồ-tát như vầy:
“Đại
lầu các (Vairocana) này là trú xứ của những ai đã hiểu
nghĩa không, Vô tướng và Vô nguyện; của những ai đã hiểu
rằng hết thảy các pháp đều là vô phân biệt, rằng pháp
giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sanh giới vốn là bất
khả đắc, rằng hết thảy các pháp là vô sinh. Đây là trú
xứ của những ai không còn bị ràng buộc vào một thế gian
nào.... Đây là trú xứ của những ai biết rằng hết thảy
các pháp đều không có tự tánh...Đây là trú xứ của những
ai thâm nhập Bát-nhã Ba-la-mật-đa....Đây là trú xứ của
những ai, dù tự mình giải thoát, mà vẫn hiện thân vào thế
gian này để giáo hoá hết thảy chúng sanh....Đây là trú xứ
của những ai diễn giảng pháp khó bắt gặp; những ai vui
hưởng pháp khó hiểu, sâu xa, không hai, không tướng, không
đối đãi, vô sở đắc; những ai trụ trong đại từ và đại
bi; những ai không còn bị đắm chìm trong cảnh giới của
hết thảy Thanh Văn (Śrāvaka) và Duyên Giác (Pratyekabuddha)...
Đây là trú xứ của những ai đã xa lìa hết thảy các tướng
và vượt lên trên quả vị của Thanh Văn; những ai an hưởng
với hết thảy pháp vô sinh, nhưng cũng không dừng lại nơi
pháp vô sinh.... tuy quán Tứ Thánh Đế mà không hề trụ nơi
quả Tiểu thừa; tuy quán lý duyên khởi sâu xa mà không trụ
nơi cứu cánh tịch diệt; tuy tu Bát Chánh Đạo mà không mong
vĩnh viễn diệt trừ các uẩn...; tuy an trụ chơn như (Tathatā)
mà không lọt vào thật tế; tuy thuyết hết thảy các thừa
mà không bỏ Đại thừa. Đây là trú xứ của những ai đầy
đủ các đức tính như thế”.
Lại
nữa, ở một đoạn khác cũng đã mô tả về trú xứ của
Bồ-tát, như vầy:
“Đây
là nơi đức Di-lặc (Maitreya) tôn quí, đại bi, thanh tịnh,
lợi ích chúng sanh, là con trưởng của Phật trong quán đảnh
vị, nhập trong các cảnh giới Như Lai. Đây là trú xứ của
các hàng Vô đẳng, là con Phật, có tiếng tăm vang dội, đã
bước vào cửa giải thoát của Đại thừa, du hành trong pháp
giới, tâm không đắm trước. Đây là trú xứ của những
vị đã đầy đủ bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục,
thiền-định và trí tuệ; phương tiện, thệ nguyện, lực
và thần thông; là tất cả Ba-la-mật của Đại thừa. Đây
là trú xứ của những vị có trí vô ngại, với tâm rộng
lớn vô ngại như hư không...Đây là trú xứ của hạng đại
trí, khéo hiểu rõ hết thảy các pháp: vốn vô tánh, vô sanh,
vô sở y; tự tại như chim bay giữa trời. Đây là trú xứ
của các bậc tịch tĩnh, biết rõ ba độc không thật tánh...Đây
là trú xứ của những bậc khéo léo, biết rõ ba giải thoát,
Tám Thánh đạo, các Uẩn, Xứ, Giới và Duyên khởi, mà vẫn
không rơi vào cõi tịch diệt. Đây là trú xứ của bậc tịch
diệt, dùng vô ngại trí mà quán sát khắp, mười phương quốc
độ và chúng sanh, biết là tánh không, không phân biệt....
Đây là trú xứ chân Phật tử, thành tựu môn tổng trì tam-muội;
đại nguyện, các Thiền, và giải thoát, mỗi mỗi đều trụ
vô biên kiếp..... Phật tử trú ở đây, tu tập các tam-muội,
trong mỗi mỗi tâm niệm, biết rõ pháp ba đời. Phật tử
trú ở đây, kiết già thân không động, hiện khắp hết thảy
cõi, trong hết thảy các nẻo.... Phật tử trú ở đây, quán
khắp hết thảy pháp, chúng sanh, quốc độ và thời gian, không
sinh khởi và không thật hữu. Quán sát lý bình đẳng, nơi
chúng sanh, nơi pháp, Như Lai, quốc độ và nguyện, thời gian
thảy bình đẳng....con nay cung kính lễ, đức Di-lặc tôn quí,
là con trưởng chư Phật, mong ngài đoái thương con”.
Khi
được oai lực của ngài Di-lặc cho Sudhana bước (thể nhập)
vào lầu các tạng trang nghiêm và được chiêm ngưỡng cảnh
giới trang nghiêm thanh tịnh xong, ngài Di-lặc thu nhiếp thần
lực và gọi: “Này thiện nam tử, hãy đứng dậy! Pháp tánh
vốn như thế, do sự tích tụ và tập hợp của các nhân duyên
nên hiện ra tướng như thế, tự tánh vốn như thế, không
tự thành tựu, như mộng, như huyễn, như ảnh tượng”.
Khi
Sudhana hỏi rằng những cảnh giới trang nghiêm ấy sẽ đi
về đâu, Di-lặc bảo “Đi về chỗ đến”. Sudhana lại hỏi
rằng chúng từ đâu đến, Di-lặc đáp:
“Từ
thần lực trí tuệ của Bồ-tát mà đến; nương thần lực
trí tuệ của Bồ-tát mà trụ. Không có chỗ đi, cũng không
có chỗ trụ, không có tích tập, không có tăng gia, không có
thường trụ, không có sở trước, không có sở y trên mặt
đất hay giữa hư không”... Và “Bồ-tát không đến không
đi, như thế mà đến; Bồ-tát không bước không dừng, như
thế mà đến; không sống không chết, không ở không qua, không
rời không dậy, không cầu không thủ, không nghiệp không báo;
không sinh không diệt, không thường không đoạn, như thế
mà đến”. “Này nữa, thiện nam tử, Bồ-tát đến như vầy:
đến từ chỗ đại bi, vì mong điều phục hết thảy chúng
sanh khỏi những khổ não; đến từ chỗ tịnh giới, vì muốn
thọ sinh vào những nơi tuỳ thích; đến từ chỗ đại nguyện
phải viên mãn, vì năng lực của những thệ nguyện xưa kia;
đến từ chỗ thần thông, vì muốn hiện thân theo sở thích
chúng sanh; đến từ chỗ không dao động, vì không hề lãng
xa gót Phật; đến từ chỗ không thủ xả vì đi hay đến
không nhọc thân và tâm; đến từ chỗ trí tuệ phương tiện
vì để tuỳ thuận hết thảy chúng sanh; đến từ chỗ thị
hiện biến hoá, vì tất cả hoá hiện đều như ảnh, như
tượng”.
Tựu
trung, trú xứ của Bồ-tát là không bị kẹt, vướng mắc
hoặc trụ vào bất cứ một trú xứ nào. Thiết tưởng cũng
đầy đủ ý nghĩa khi mô tả về thế giới vô trụ của Bồ-tát
mà chúng ta đã từng nghe trong Kinh Kim Cang dạy: “Bất ưng
trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc và
pháp sanh tâm”, và nhấn mạnh “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”.
2.3.
Mong cầu giác ngộ:
Có
thể nói rằng hơn một nữa trong 40 quyển của bộ Gaṇḍavyūha,
trong cuộc du hành tìm cầu giải thoát của sudhana xuyên qua
sự diện kiến của 53 vị Thiện tri thức, kinh thường lập
đi lập lại ý chí “vân hà học Bồ-tát hạnh, tu Bồ-tát
đạo?”. Điều này ngụ ý nhấn mạnh đến sự quyết tâm
mãnh liệt và sự khao khát mong cầu quả vị giác ngộ Vô
thượng Bồ-đề của hàng Bồ-tát. Lòng mong cầu giác ngộ
chính là nhấn mạnh đến tâm Bồ-đề. Đức Vairocana (Đại
Nhật Như Lai) nói: “Bồ-đề tâm vượt ngoài tất cả sự
biến thành; Bồ-đề tâm vừa hệ vừa không hệ trong các
uẩn, xứ và giới; quán hết thảy các pháp vô ngã và bình
đẳng, đó là tâm của chính ta, từ vô sinh nguyên thuỷ, và
bản tánh là Không tánh (śūnyatā)”. Ngoài ra, chúng ta có
thể tìm thấy đề cập khá nhiều trong các kinh điển Đại
thừa về sự mong cầu giác ngộ. Như Đức Akṣobhya (Bất
Động Như Lai) dạy: “Bồ-đề tâm thấy rằng tất cả các
pháp đều không sinh, không tự tánh, không tha tánh; tâm như
hư không, không ngã thể; và đây là chỗ thiết lập vững
chắc lý giác ngộ”.
Đức
Ratnaketu (Bảo Sanh Như Lai) dạy: “Bồ-đề tâm thấy rằng
tất cả các pháp đều không sinh, vô tướng, chúng sinh ra
từ pháp vô ngã; và đây là chỗ thiết lập vững chãi lý
giác ngộ”.
Đức
Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu Như Lai) dạy: “Các pháp
tự bản chất vốn ngời sáng, chúng thuần tịnh như hư không;
vì không có cái giác ngộ, cái chứng đắc, cho nên mới thiết
lập vững chãi lý giác ngộ”.
2.4.
Bốn cảnh giới của Gaṇḍavyūha:
Pháp
giới tuy thiên sai vạn biệt muôn màu muôn vẻ, nhưng theo Gaṇḍavyūha,
thì pháp giới không ngoài bốn cảnh giới như sau: 1. Sự Pháp
giới; 2. Lý Pháp giới; 3. Sự Lý vô ngại pháp giới; và 4.
Sự Sự vô ngại pháp giới, hay pháp giới viên dung vô ngại.
1.
Sự pháp giới tức là thế giới chúng ta đang sống trong hiện
thực.
2.
Lý pháp giới tức là những nguyên lý, là chân lý tiềm ẩn
bên trong các pháp mà chỉ có hàng Bồ-tát mới có thể nhận
biết; còn hàng phàm phu không thể thấy được.
3.
Sự Lý vô ngại pháp giới tức là sự giao thoa tương dung
hỗ tương lẫn nhau giữa nguyên lý và sự vật; vì lý tức
là sự và sự tức là lý cả hai đều hỗ tương nhau. Chúng
dung nhiếp nhau mà không hề chướng ngại và không làm hại
đến lý tánh hay sự tướng của tất cả sự vật.
4.
Sự Sự vô ngại pháp giới: tức là mỗi sự vật đều từ
nơi pháp tánh hiển hiện, song chúng thường “nhậm trì tự
tánh” cho nên sự là sự tướng “quỹ sanh vật giải”
tiên quyết mà có thể được nhận ra; còn lý là yếu tính
thứ hai, nhân nơi tướng mà có thế thấy được lý tánh
của sự vật. Do đó, trong sự luôn ẩn tàng cái lý của nó,
và lý luôn đóng vai trò thứ yếu khi sự hiển hiện để
bảo vệ cho sự tướng chủ yếu. Nhờ lý của sự vật hay
của pháp tánh hỗ tương dung nhiếp và viên dung vô ngại,
cho nên biểu hiện ra sự vật cũng vô ngại; vì sự từ nơi
lý phát sinh.
Sự
hỗ tương dung nhiếp và viên dung vô ngại này có thể dựa
vào Thập huyền môn hay Thập Huyền Duyên Khởi mà ngài Hiền
Thủ đã lý giải mới có khả năng nhận ra lý sự viên dung
vô ngại hoặc sự sự viên dung vô ngại của các pháp.
1.
Đồng thời cụ túc tương ưng môn: Nghĩa là hết thảy các
pháp không có giới hạn trong không-thời gian, mà sự sự vật
vật vẫn viên dung hoàn bị.
2.
Nhất đa tương dung bất đồng môn: tức là một bao hàm tất
cả (nhiều), và tất cả bao hàm một, nhưng một và tất cả
vẫn là một và tất cả vẫn là tất cả không ngăn ngại
nhau.
3.
Chư pháp tương tức tự tại môn: tức là bản thể của các
pháp luôn tự do tự tại hoà hợp nhau, tương tức tương nhập
với nhau, một tức là hết thảy, hết thảy tức là một.
4.
Nhân-đà-la vi tế cảnh giới môn: Nhân-đà-la là Đế thích
Thiên, trong cung điện của vua Đế thích mắc tấm màn bằng
bảo châu có nhiều mắc lưới, ánh sáng của mỗi bảo châu
đó soi dọi chiếu sáng lẫn nhau, trùng trùng điệp điệp
cùng dung thông nhau mà không hề chướng ngại nhau.
5.
Vi tế tương dung an lập môn: tức là sự vật nhỏ bao dung
sự vật lớn, một bao hàm tất cả (nhiều) mà không phá hoại
nhau.
6.
Bí mật ẩn hiện câu thành môn: Ẩn là bí mật, hiện ra bên
ngoài là hiển hiện. Lý tương tức tương nhập của các pháp,
phần này thì ở bên trong, phần kia thì bên ngoài, cả trong
và ngoài đều đồng một thể.
7.
Chư tàng thuần tạp cụ túc môn: chư tàng tức là chư hành,
thuần nghĩa là một, tạp nghĩa là nhiều, đây cũng là nghĩa
một tức tất cả và tất cả tức một.
8.
Thập thế cách pháp dị thành môn: trong ba đời: quá khứ,
hiện tại và vị lai, lại bao hàm ba đời khác, hiệp thành
9 đời, rồi 9 đời này lại dung thông nhau, tương tức, tương
nhập nhau trở thành một đời. Đây là thập thế tự tại
dung thông nhau.
9.
Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn: Duy tâm là Như Lai tạng,
tự tánh thanh tịnh tâm. Điều này có nghĩa: duy ở “nhất
tâm” mà có công năng phát sinh ra muôn pháp.
10.
Thác sự hiển pháp sinh giải môn: tức là nói về cái lý
nhất và đa tương tức tương nhập thì cảnh giới biểu hiện
rõ ràng nơi muôn vật, mà không cần phải dùng thí dụ cũng
có thể liễu giải được.
Từ
căn bản trí phát khởi thành diệu huệ là cốt lõi của ngài
Hiền Thủ. Ngài Văn Thù vẫn nghiễm nhiên bất động không
rời pháp thân của đức Tỳ-lô-giá-na, mà ngài vẫn thành
tựu được trí sai biệt_Bồ-tát Phổ Hiền.
2.5.
Ngũ giáo:
Hoa
Nghiêm chia giáo lý mà suốt thời sinh tiền của đức Phật
đã thuyết thành ngũ thời bát giáo theo từng cấp độ
khác nhau. Đây chỉ đề cập đại cương đến ngũ giáo:
1.
Giáo lý cơ bản của Tiểu thừa;
2.
Giáo lý cơ bản của Đại thừa;
3.
Giáo lý sau cùng của Đại thừa;
4.
Giáo lý đốn ngộ của Đại thừa; và
5.
Giáo lý viên dung của Đại thừa.
Trong
ngũ giáo này, Hoa Nghiêm được liệt vào thời thứ năm.
Một
và Tất cả:
Đây
chỉ cho giáo lý trùng trùng duyên khởi, một là tất cả và
tất cả là một; một trong tất cả và tất cả trong một.
Một không phải là chính nó, nhưng cái một ở đây chính
là do duyên sinh. Tất cả tức chỉ cho thiên hình vạn trạng,
song tất cả đều có ẩn tàng cái một, mà một trong nghĩa
này chính là nguyên lý đồng nhất thể của các pháp, bất
nhị bất phân ly, như luôn tương tức tương nhập. Cuối cùng
một đây cũng chính là chỉ cho cái Tâm. Như trong kinh Hoa Nghiêm,
đức Phật đã dạy:
“Nhược
nhơn dục liễu tri,
Tam
thế nhất thiết Phật,
Ưng
quán pháp giới tánh,
Nhất
thiết duy tâm tạo”.
Chúng
ta cũng có thể thấy cùng nghĩa lý này trong Kinh Lăng Già “Nhất
thiết duy tâm, vạn pháp duy thức”. Tất cả cũng đều chỉ
cho cái Tâm vậy.
*
*
*
Chương
X:
VĂN HỌC SAṄSKRIT
TRONG LUẬN TẠNG
Khái quát về Luận Tạng (Abhidharma-piṭaka) Saṅskrit Phật
giáo:
Suốt
những năm hoằng pháp lợi sanh, đức Thế Tôn đã đem hết
công tâm và nghị lực của mình từng bước dắt dẫn và
giáo hóa mọi tầng lớp người trong xã hội, trên từ vua
quan dưới cho đến thứ dân và hạng cùng đinh, không phân
biệt chủng tộc giai cấp hay màu da, chỉ biết rằng tất
cả chúng sanh đều có “dòng máu cùng đỏ và nước mắt
cùng mặn”, đồng tánh nhưng dị nghiệp, song hết thảy họ
đều có khả năng trở thành Phật. Đặc biệt, Ngài nhấn
mạnh đến giá trị của con người; vì con người là trung
tâm của vũ trụ. Chính vì nóng lòng khao khát đưa vạn loại
hữu tình sớm thoát vòng sinh-diệt-và-tái-sinh, vượt thoát
khỏi tam giới mà thể nhập vào Thập địa, vào cảnh giới
của chư Phật; do đó, mọi chất liệu từ bi và trí tuệ
của Ngài đã biến thành thượng vị của đề hồ, những
dòng cam lồ ngọt lịm của hương vị giải thoát, những dòng
suối pháp, những cơn mưa pháp tưới tẩm cho hạt giống Bồ-đề
của chúng sanh ngày thêm đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết
quả, rưới mát những tâm niệm sân hận và thù nghịch, dập
tắt lửa phiền não và rắn tam độc đã đang ngày đêm nung
nấu và thiêu đốt, cắn rứt và quấy nhiễu nội tâm của
nhân thế.
Theo
dòng thời gian, từ hạng cùng đinh hạ tiện cho đến người
thường dân, từ hạng dâm nữ cho đến vua quan đại thần,
hết thảy họ dần dần được Ngài giáo hoá dắt dìu trở
thành những người đệ tử chân chánh, những người Phật
tử ưu tú: Thiện nam Tín nữ, những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni có
đủ khả năng “thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, cũng
có nhiều vị trong số ấy trở thành hàng Nhị thừa: Thanh-văn
và Duyên-giác (Bích Chi Phật hay Độc Giác Phật), vô số trở
thành những vị Sơ học Bồ-tát, Tân học Bồ-tát và những
Bồ-tát chân chánh.
Khi
hàng đệ tử của Ngài đã thật sự trưởng thành, có thể
thay Ngài để tiếp tục chuyển vận bánh xe chánh pháp lợi
lạc quần sanh, thì cũng là lúc cỗ xe của Ngài đã tiêu mòn
và hư hoại, chính là những phút giây thiêng liêng trọng đại
trong những ngày cuối, trong những giờ cuối của đời Ngài,
trong những lời huấn thị tối thượng, nhắc nhở và phá
nghi cuối cùng về những giáo pháp mà Ngài đã thuyết cho
hàng Đại đệ tử của mình. Nay những pháp âm đó không
còn vang vọng nữa, những tiếng rống của sư tử xưa kia
chừ đã quyện vào thinh không, nhưng Pháp thân Ngài vẫn luôn
hiển hiện trong tâm của chúng ta.
Hiện
thân của Pháp thân Như Lai chính là bản thể của chơn tâm
thường trú. Hiện thân cho pháp âm của Ngài cũng có lẽ đã
biểu hiện nơi Tam tạng giáo điển. Đọc Tam tạng giáo điển
chính là thiện duyên lớn để nếm lại hương vị của chánh
pháp, thưởng thức lại pháp vị thiêng liêng nhiệm mầu và
sống động, thanh lương và vi diệu của ánh đạo vàng_ bậc
Đại Giác trong thời xa xưa ấy. Được như thế, hẳn cũng
đã và đang khẽ nhắc chúng ta rằng ánh đạo vàng vẫn còn
đang và sẽ chói sáng với trọng nhiệm phần lớn trong mỗi
cá thể “Tỳ-ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”.
Về
Tam tạng giáo điển, nó nhiều hơn cả lá rừng, nó rộng
và sâu hơn cả đại dương, nó thênh thang và bát ngát như
thinh không, và thậm chí nó cũng nhiệm mầu và vi diệu như
thế giới của tâm linh siêu phóng, chói sáng trong cùng tận
thâm cung của tiềm thức, của Phật tánh trạm nhiên. Rừng
luôn thay lá, còn đại dương cứ vẫn mìm cười và xì xào
như những làn sóng biển, và cũng lắm khi nó trầm hùng và
tịch tĩnh như thính không. Vào Tam tạng giáo điển, như người
đang leo lên núi báu, lấy được của báu hay không, không
phải lỗi của Như Lai, góp nhặt của báu nhiều hay ít chính
là khả năng của mỗi người. Chương này chỉ trình bày một
số trong những vầng thơ bất hủ tuyệt tác, đầy trữ tình
song chuyên tải hương vị của chánh pháp, gợi nhắc lại
cuộc đời và hình ảnh chói sáng cùng với những pháp thoại
siêu thế của đấng Đạo Sư, bậc siêu Vĩ nhân trong những
bậc vĩ nhân, bậc Đại Giác của nhân thiên.
Đã
tạm khái quát và đi qua sơ lược về Luật và Kinh tạng trong
văn hệ Saṅskrit của Phật giáo, chừ chúng ta tiếp tục đi
vào thế giới trang nghiêm của Luận tạng tương hệ với
lịch sử của nền văn chương Saṅskrit.
Thông
thường Abhidharma có nghĩa là Luận, nói cho đủ là Abhidharma-piṭaka
(Luận tạng) _ một trong trong Tam tạng giáo điển của Phật
giáo. Luận tạng, theo Phật Giáo Thánh Điển, còn được gọi
là: A-tỳ-đạt-ma Tạng, A-tỳ-đàm Tạng, hoặc Đối pháp
Tạng, và nó cũng được giải thích có tính truyền thống
như: Thắng pháp hoặc Vô tỉ pháp, Đối pháp, hoặc Hướng
pháp và chỉ bày về những vấn đề Nhân và Quả. Luận tạng
được hình thành trong thời kỳ kiết tập kinh điển lần
thứ 4_không đề cập trong biên niên sử của Ceylon_ được
tổ chức tại Kāśmīra (Kế Tân, tức Pakistan ngày nay) chừng
hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN, do ngài Vasumitra (Thế Hữu)
chủ trì, dưới sự ủng hộ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca).
Nguyên
Abhidharma chỉ có liên quan đến sự cứu cánh của giáo pháp;
còn nếu chỉ nghiên cứu Luật Tạng, thì gọi là A-tỳ-nại-gia.
A-tỳ-đàm về sau được mở rộng ra cho sự soạn thuật về
Luận bao gồm cả Kinh và Luật, cũng đều gọi là A-tỳ-đạt-ma.
Ban đầu Abhidharma chỉ là một danh từ hay thuật ngữ đơn
giản của Phật giáo, sau đó nó tiếp tục được mở rộng
và dần dần trở thành hình thức giải thích, rồi đến thời
kỳ Phật giáo bộ phái, mỗi bộ phái đều có năng lực hay
thẩm quyền để kiết tập hay thành lập A-tỳ-đạt-ma cho
riêng trường phái của mình; vì triết học quá thâm áo và
súc tích, cho nên cần phải vận dụng đến giáo học để
triển khai. Ngài Buddhaghoṣa (Phật Minh) cho rằng ‘Luận được
cân nhắc như qui luật hay sự thật đối với các pháp mà
nó vượt lên trên những phạm trù của qui luật hoặc ẩn
tàng đằng sau các qui luật’.
Hệ
thống thắng nghĩa của Abhidharma, theo Câu Xá Luận quyển 1,
phải dụng đến trí tuệ để đối quán lý Tứ Đế mới
có thể đối hướng đến ý nghĩa vô lậu, câu hữu với
tuệ, mà ở đây chính là trí tuệ thù thắng của Niết-bàn.
Theo Phật giáo, Abhidharma chủ yếu chỉ có Thượng Toạ Bộ
(trong văn Pali) và Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Saṅskrit rất
hiếm, chủ yếu là Hán tạng). Từ 2 loại này về sau
phát triển thành Luận tạng có tính quy mô của Phật giáo
Đại thừa, song nó vừa đầy đủ lại vừa có ý nghĩa đặc
thù. Hoa-nghiêm Kinh Tham Huyền Ký quyển 1 có nêu lên 7 nghĩa
A-tỳ-đạt-ma, như sau: 1. Đối pháp (tức là đối hướng
hay đối quán); 2. Số pháp; 3. Phục pháp; 4. Thông pháp; 5.
Vô tỉ pháp; 6. Đại pháp và 7. Thích pháp.
Sự
ra đời của Abhidharma đã đánh dấu một thời kỳ cực thịnh
của Phật giáo, sau khi đức Thế Tôn nhập Niết-bàn chừng
vài thế kỷ. Luận có nghĩa là thích đối pháp, tức hiển
thị rõ cái bổn ý của giáo pháp, cần có sự gia tâm để
phân biệt đến những ý nghĩa của kinh điển đã nói và
chỉnh lý hoặc liễu giải rốt ráo nghĩa lý ấy. Ngoài ra,
Luận cũng chỉ cho sự luận nghị, tức nhờ vào vấn đáp
để hiển dương giáo nghĩa. Luận tạng là những bộ
luận được chư Tổ, những vị Đại Luận sư hay những Tam
tạng Pháp sư của Phật giáo bàn luận, trước tác, chú giải
rộng những bí tạng của Như Lai trong Kinh hoặc trong Luật.
Những bộ luận giải thích và trình bày nhiều lãnh vực khác
nhau của Phật giáo, như: vấn đề tâm lý, giáo dục và triết
học siêu hình.v.v....
Ngược
dòng thời gian, có lẽ phải nói rằng Luận tạng đã có mặt
từ thời sinh tiền của đức Phật, bấy giờ không phải
bằng chữ viết nhưng bằng khẩu truyền; vì nó chỉ được
lưu truyền và xiển dương, luận bàn và giải thích rộng
nghĩa lý mà đức Phật đã thuyết. Thế nhưng, những giáo
pháp mà đức Phật đã thuyết lắm lúc quá cao siêu và vi
diệu, hàm súc và thâm áo; trong khi đó, căn tánh của hội
chúng thì bất đồng, một số đủ khả năng am tường và
lãnh hội; còn một số khác thì không thể. Giáo pháp ấy,
vì lẽ đó, cần phải có những đệ tử nổi bật và thông
tuệ như Xá-lợi-phất, Phú-lâu-na, hoặc Ưu-ba-li... thay Ngài
để giải thích rộng với nghĩa lý đầy đủ và chi tiết
hơn nhằm giúp cho những người nghe mà căn tánh của họ trì
trệ, hoặc khả năng lãnh hội chậm chạp cũng như trí tuệ
thấp kém có thể hiểu được.
Tương
tự, sau khi đức Phật diệt độ, giáo nghĩa thâm áo và bí
tạng của Ngài đều nhờ vào sự phân tích hay giải thích
hoặc chú giải nghĩa lý rõ ràng của luận tạng, thay vì khẩu
truyền hoặc trùng tuyên. Nếu không có Luận tạng thì khó
có thể lãnh hội được tôn chỉ và cốt lõi của kinh. Luận
tạng của Phật giáo rất nhiều, sâu và rộng hơn như đại
dương. Nó lần lượt được những vị Đại Luận sư, hoặc
Tam tạng Pháp sư cho ra đời trong những thời kỳ khác nhau,
chẳng hạn như thời kỳ Phật giáo Bộ Phái, Đại Chúng Bộ
và Phật giáo Đại thừa. Luận tạng bằng Phạn bản, phần
lớn đã bị thất lạc, số còn lại cũng như một số được
khám phá và tìm ra trong những thập kỷ gần đây hiện đang
duy trì trong những Tàng Kinh Các, trong Hàn Lâm Viện hoặc trong
những Thư Viện của các quốc gia Phật giáo trên thế giới.
Luận tạng, theo dòng thời gian, dần dần đã được phiên
dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, như: Pháp, Anh, Ấn Độ,
Trung Hoa, Nepal, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan,
Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia...
Trong
đây không liệt kê hết các bộ luận vì giới hạn của nó,
mà chỉ nêu lên khái quát với nội dung chính của một hay
vài tác phẩm hoặc vài bộ luận của những vị Đại Luận
Sư nổi tiếng của Phật giáo, như: Aśvaghoṣa (Mã Minh), Nāgārjuna
(Long Thọ), Maitreya (Di-lặc), Āsaṅga (Vô Trước), Vasubandhu
(Thế Thân). Trước hết là bộ Buddhacarita (Phật Sở Hành
Tán) của ngài Aśvaghoṣa.
Buddhacarita
(Phật Sở Hành Tán):
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Những
vần thơ cổ nhất trong lịch sử văn chương Phật giáo nói
riêng và cũng là một trong những tác phẩm thuộc nền văn
chương Saṅskrit của nhân loại nói chung là Buddhacarita (Phật
Sở Hành Tán). Đây là một tác phẩm thi ca nổi tiếng nhất
của Phật giáo, khiến cho nhiều tác giả của nền văn chương
thế giới phải cúi đầu và khâm phục, tán dương và cân
nhắc như một tác phẩm tiên phong và độc đáo nhất bởi
những vần thơ kỳ vĩ và siêu thường của nó. Nguồn gốc
của tác phẩm được ngài Aśvaghoṣa (Mã Minh) sáng tác
khoảng thế thứ nhất sau CN. Điều này dựa vào cả hai nguồn
tin được kết hợp với triều đại của Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca)
và với sự biên soạn của Vibhaṣa (Tì-bà-sa), lời bình vĩ
đại của Sarvāstivādin (những người theo Nhất Thiết Hữu
Bộ) trên lãnh vực văn chương Luận tạng. Nhưng mãi đến
thế kỷ thư 5 Buddhacarita mới được dịch sang Hoa ngữ. Nguồn
tin kế đến là sự ra đời của Buddhacarita cùng với hai tác
phẩm khác là Saundarananda (Tôn-đà-lợi Nan đà) và Śārīputraprakaraṇa
(Xá-lợi-phất chi Sở Thuyết) của Aśvaghoṣa.
Với
tác phẩm Buddhacarita của Aśvaghoṣa (Mã Minh), bản Saṅskrit
vẫn còn. Hiện chúng ta có 3 bản dịch khác nhau. Bản thứ
nhất do Dharmakṣema (Đàm Vô Sấm) phiên dịch sang Hoa ngữ,
5 quyển trong những năm 414-421, đời Bắc Lương với nhiều
tựa đề khác nhau, như: Phật Sở Hành Tán, Phật Sở Hành
Tán Kinh, Phật Sở Hành Tán Truyện, hoặc Phật Sở Hành Tán
Kinh Truyện, ĐC 4_192. Bản thứ hai do Thích Bảo Vân dịch,
7 quyển với tựa đề “Phật Bổn Hạnh Kinh”, đời Liệt
Tống, ĐC 4_193. Bản thứ ba do Xà-na-quật-đa dịch với tựa
đề “Phật Bổn Hạnh Tập Kinh”, 60 quyển, đời Tuỳ,
ĐC 3_190. Trong ba bản dịch này, ngắn gọn và đáng chú ý
là bản của Dharmakṣema với tựa đề đầy đủ nguyên uỷ
Saṅskrit của tác phẩm này là: Buddhacarita-kāvya-sūtra.
Rõ
ràng Buddhacarita của Aśvaghoṣa có nguồn gốc từ hạ bán
thế kỷ thứ nhất trước CN và thế kỷ thứ nhất sau CN
qua sự phiên dịch của Dharmakṣema, nhờ đây người Trung
Hoa mới biết được giá trị của nó. Thế nhưng, ‘phần
lớn người Tây Phương đều chẳng để ý gì, mãi cho đến
thế kỷ thứ 19, khi nó được học giả người Pháp Sylvain
Lévi cho xuất bản chương đầu của nó vào năm 1892, bấy
giờ chỉ có một số ít biết đến nhà thơ nổi bật nhất
của nền văn chương Saṅskrit này, và được cân nhắc như
người sáng tạo về những sáng tác những vần thơ thuộc
loại trữ tình, thuộc kịch bản và thiên sử ca’. Nhưng
đa số họ chưa biết Aśvaghoṣa là người sáng lập ra hệ
thống của Phật giáo Đại thừa đầu tiên, mà nó đặt trên
nền tảng của tác phẩm Mahāyānaśraddhotpāda (Đại Thừa
Khởi Tín Luận) của Ngài , vẫn biết cốt lõi của duy thức
học đã từng có mặt trong Kinh tạng Phật giáo như Laṅkāvatāra
sūtra (Lăng Gìa Kinh), Sandhinirmocana sūtra (Giải Thâm Mật Kinh),
và một phần trong Sūraṅgama sūtra (Lăng Nghiêm Kinh).
b.
Khái lược về Nội dung:
Kể
từ sau đức Như Lai diệt độ, có thể nói rằng chưa một
tác phẩm nào tiên phong trong thế giới thi ca thuộc nền văn
chương Saṅskrit của Phật giáo, ngoại trừ những thi kệ
trong Trưởng Lão Tăng kệ và Trưởng Lão Ni kệ, ... nhưng
chúng thuộc tạng Pali, chứ không phải thuộc về lãnh vực
văn hệ Saṅskrit. Nó đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại
trong sự chuyển biến lịch sử của Phật giáo từ thời kỳ
Phật giáo Tiểu thừa cho đến thời kỳ manh nha của Đại
thừa, mở đầu cho sự nghiệp hoạt động và phát triển
của Phật giáo Đại thừa. Nó hàn gắn và bắt nhịp
lại hương vị của chánh pháp sau thời kỳ Phật giáo bộ
phái, rồi tiếp đến là thời kỳ chánh pháp mà tiêu biểu
là Aśvaghoṣa (Mã Minh) và Nāgārjuna (Long Thọ). Từ đây, phải
chăng nó đã gióng lên tiếng trống pháp, để tiếp tục cho
thời kỳ tượng pháp vàng son của Maitreya (Di-lặc), Āsaṅga
(Vô Trước), Vasubandhu (Thế Thân)... Tuy cuộc đời của đấng
Đạo sư không những đã ghi lại trong nhiều tác phẩm khác
nhau, như: Lalita-vistasa Sūtra (Đại Trang Nghiêm Kinh), Mahāvastu
(Đại Sự), Dīvyāvadāna (Những Chuyện Thí Dụ về Chư Thiên),
Avadāna (Những Chuyện Ví Dụ) cũng như Jātakas (Những Chuyện
Tiền Thân) và Buddhavamsa (Lịch Sử của Đức Phật) ở trong
văn Pali, tuy có những tác phẩm ghi lại chi tiết và đầy
đủ, nhưng càng đầy đủ và thi vị hơn bằng những vầng
thơ tuyệt tác trong Buddhacarita, như sự kết tinh giai điệu
của thiên sử ca, của thiên anh hùng ca.. Những vầng
thơ bằng Saṅskrit thuần tuý, dù tính ngữ của nó có bàng
bạc phong thái trữ tình lại siêu phóng của nhà thơ, song
vẫn hàm súc một nội dung chuyên tải một phần giáo nghĩa
bí tạng của Như Lai.
Những
thi kệ được diễn tả trong Buddhacarita, nó trình bày đầy
đủ và chi tiết về cuộc đời của đấng Đạo Sư từ lúc
đản sinh xuyên qua việc báo mộng cho Hoàng hậu Māyā, cho
đến lúc trưởng thành như một Thái tử thông minh tướng
hảo, từ lúc chứng kiến bốn cảnh sinh già bịnh chết trong
những dịp dạo chơi ngoài cổng thành cho đến lúc kiến nghị
Phụ vương (Tịnh Phạn) xin xuất gia, từ lúc học đạo với
hai vị Thiền sư ngoại đạo (Ālara Kālamā, Uddaka Rāmaputta)
cho đến lúc tu khổ hạnh, từ lúc chứng đắc Vô thượng
Bồ-đề cho đến lúc chuyển pháp luân, từ lúc giáo hoá hàng
phục Năm anh em Kiều-trần-như cho đến độ Gia-xá, điều
phục ba huynh đệ Ca-diếp, cho đến nhiếp hoá vua Bình-sa,
và cứ thế cho đến khi giáo đoàn lớn mạnh và việc nhận
lãnh Tinh Xá Kỳ-hoàn, việc viếng thăm phụ hoàng cùng quyến
thuộc cũng như việc nhiếp hoá những hạng thiện tín nam
nữ khác, như Cấp-cô-độc... và việc nhập Niết-bàn. Cuối
cùng là việc phân bố Xá-lợi...
Buddhacarita
có nhiều dữ kiện lịch sử và tư tưởng chuyển biến đặc
thù hơn những tác phẩm văn xuôi khác. Toàn bộ tác phẩm
Buddhacarita này được Dharmakṣema (Đàm-vô-sấm) chia thành
5 quyển và 28 phẩm, như sau:
Quyển
thứ nhất gồm 5 Phẩm: Thứ nhất là Bhagavat-prasūti-sarga
(Sanh Phẩm); Phẩm 2, Antaḥpuravihāra-sarga (Xứ Cung Phẩm). Phẩm
3, Saṃvegotpetti-sarga (Yểm Hoạn Phẩm); Phẩm 4, Strīvighātara-sarga
(Ly Dục Phẩm); và Phẩm 5 là Abhiniṣkramaṇa-sarga (Xuất Thành
Phẩm).
Quyển
thứ 2 gồm 3 Phẩm: Phẩm 6, Chanda-kanivartana-sarga (Xa-nặc Hoàn
Phẩm); Phẩm 7, Tapovanapraveśa-sarga (Nhập Khổ Hạnh Lâm Phẩm);
Phẩm 8, Antaḥpuravilāpa-sarga (Hiệp Cung Ưu Bi Phẩm); và Phẩm
9 là Kumārānveṣaṇa-sarga (Suy Cầu Thái Tử Phẩm).
Quyển
thứ 3 gồm 6 Phẩm: Phẩm 10, Sreṇyābhigamana-sarga (Bình-sa Vương
Nghệ [đi đến] Thái Tử Phẩm); Phẩm 11, Kāmavigarhaṇa-sarga
(Đáp Bình-sa Vương Phẩm); Phẩm 12, Arāḍadarśana-sarga (A-la-lam
Uất-đầu-lam Phẩm); Phẩm 13, Māravijaya-sarga (Phá Ma Phẩm);
Phẩm 14, Abhisambodhana-saṃstavana-sarga (A-duy-tam-bồ-đề); Phẩm
15 là Chuyển Pháp Luân.
Quyển
thứ 4 gồm 7 Phẩm: Phẩm 16, Bình-sa Vương Chư Đệ Tử Phẩm;
Phẩm 17, Đại Đệ Tử Xuất Gia Phẩm; Phẩm 18, Hoá Cấp-cô-độc;
Phẩm 19, Phụ Mẫu Tương Kiến Phẩm; Phẩm 20, Thọ Kỳ Hoàn
Tinh Xá Phẩm; Phẩm 21, Thủ Tài Tuý Tượng Điều Phục Phẩm;
và Phẩm 22 là Am-ma-la Nữ Kiến Phật Phẩm.
Quyển
thứ 5 gồm 6 Phẩm: Phẩm 23, Thần Lực Trụ Thọ Phẩm; Phẩm
24, Ly Xa Từ Biệt Phẩm; Phẩm 25, Niết-bàn Phẩm; Phẩm 26,
Đại Bát-niết-bàn Phẩm; Phẩm 27, Thán Niết-bàn Phẩm; và
Phẩm 28 là Phân Xá-lợi Phẩm.
Phẩm
thứ nhất mô tả toàn cảnh sinh hoạt an vui và thịnh vượng
trong hoàng gia của dòng họ Thích Ca. Vua Suddhodanarāja (Tịnh-phạn)
được thần dân qui ngưỡng và tôn kính như vị Trời Đế-thích,
chấp chính sự nghiêm minh, việc xứ thế rộng lượng. Chúng
ta đọc:
“Thánh
Maya (Māyā) mộng điềm lành,
Vua
trắng từ Đâu-suất,
Nhập
thai độ nhân thế,
Tâm
tịnh tợ liên hoa,
Xa
lìa mọi ưu hoạn,
Lòng
chẳng sanh tà vạy,
Chán
ghét đời trần thế,
thích
trú nơi rừng vắng:
Lâm-tỳ-ni
thắng cảnh,
Đầy
hoa quả tốt tươi,
Thiền
tư hợp, an tịnh.
Vua
biết chí nguyện mình,
Sanh
tâm tưởng đặc thù,
Cùng
hoàng gia thân thích,
Đến
viếng thắng cảnh kia...
Ngày
mồng 8 tháng 4,
Thanh
tịnh khí an hoà,
Trai
giới tu tịnh đức,
Từ
hông phải đản sanh,
Đại
bi cứu thế gian,
Không
khiến mẹ khổ não.
Những
vị vua xưa nay,
Sinh
ra từ bắp vế,
Như
vua Aurva;
Sinh
ra từ cánh tay,
Như
vua Pṛthu;
Sinh
ra từ đảnh đầu,
Như
vua Māndhātṛ;
Sinh
ra từ nơi nách,
Như
vua Kakṣīvat;
Tất-đạt-đa
cũng vậy,
Từ
hông phải đản sanh...”
“Thân
vi diệu sáng chói,
Như
nhật chiếu thế gian,
Bồ-tát
thân vàng ròng,
Toả
chiếu cũng như thế,
Tâm
chơn chánh không loạn,
An
nhàn đi bảy bước,
Kim
túc vẫn bình an,
Quán
sát khắp bốn phương,
Thông
suốt nghĩa chơn thật,
Kham
năng thuyết như vầy:
Đản
sanh là Phật sanh,
Tức
là thân cuối cùng,
Ta
chỉ trong đời này,
Phải
độ hết tất cả.
Lúc
ấy trong hư không,
Hai
dòng nước cam lồ,
Ấm
và mát trong ngần,
Rưới
đảnh khiến thân an...”
Việc
Đản sanh của Thái tử Tất-đạt-đa là tối thượng. Như
Luận nói:
“Tu-di,
vua các núi;
Các
báu, vàng quý nhất;
Các
sông, biển lớn nhất,
Các
sao, trăng sáng nhất;
Các
sáng, mặt trời nhất”.
Phẩm
thứ 2 kể lại cuộc đời của Thái tử trong hoàng cung đầy
nhung lụa êm ấm. Phẩm 3 kể lại những cuộc vân du ngoài
thành chứng kiến tường tận bốn cảnh: sinh, già, bệnh và
chết, nghiệm biết đời vô thường, chúng sanh đang trầm
luân trong sanh tử khổ đau, thần chết luôn đe doạ, quỷ
vô thường nung nấu....Phẩm thứ tư nhấn mạnh đến lòng
bi mẫn càng tăng, quán chiếu hạng thể nữ, nhàm chán ly dục
tăng, tâm định tĩnh suy tư, sớm tìm đường xuất thế.
Phẩm
5 mô tả lại cuộc vấn đáp mà Thái tử đã đưa ra bốn
điều nghi vấn:
1.
Làm sao cho thân con được sống lâu, không bịnh?
2.
Làm sao cho thân con được sống lâu?
3.
Làm sao cho thân con không bị già cỗi?
4.
Làm sao để cho các pháp không bi hoại diệt ?”
Ngài
đã thỉnh cầu phụ vương giải đáp. Nếu bốn điều này
được giải đáp thoả đáng, thì Thái tử sẽ đình chỉ
xuất gia; nếu không thì Ngài sẽ quyết định rời khỏi vương
cung, dấn thân tầm đạo. Một đêm nọ Ngài cùng Xa-nặc vượt
thành, đánh dấu ngày xuất gia. Vào rừng sâu tĩnh toạ tư
duy như vầy:
“Thái
tử quán sanh tử,
Luôn
biến hoại vô thường,
Tâm
an định bất động,
Năm
dục như mây tan,
Có
giác cũng có quán,
Vào
Sơ thiền vô lậu;
Ly
dục, tâm hoan hỷ,
Chơn
chánh nhập tam-muội”.
Phẩm
kế tiếp là chuyện kể lại những vấn vương và sầu thảm,
tiếc thương và đau xót của những thần dân trong nước và
tất cả những quần thần trong hoàng cung, khi Xa-nặc lủi
thủi trong đớn đau vô chủ, dắt ngựa lững thửng trở về
hoàng cung, họ nghe tiếng hý bi ai bộc bạch sự trống vắng
đầy thất vọng và sầu thảm của chú ngựa Kiền-trắc,
rồi tất cả đều sững sờ, kinh hãi và vô vọng....Phẩm
7 đánh dấu những năm tu khổ hạnh vô cùng khắc nghiệt của
Bồ-tát tại rừng khổ hạnh. Phẩm kế tiếp là chuyện kể
lại của Xa-nặc tâu lại phụ hoàng của Thái tử Tất-đat-đa,
rồi không khí của hoàng cung như chìm vào trong bóng đêm,
mưa lòng buồn rười rượi réo gọi, những giọt lệ xối
xả tuôn trào, cả hoàng cung đều ướt đẫm trong mưa...bởi
nỗi khổ đau của tình cốt nhục, của ái biệt ly, của muôn
thứ tình bấy giờ tan biến như bèo dạt mây trôi, như phù
du mộng ảo....
Phẩm
9 tả lại nỗi buồn thống thiết của Tịnh Phạn vương bởi
lửa ái biệt ly ngày đêm thiêu đốt. Vua sắc các quần thần
ra đi tìm Thái tử nhưng cuối cùng họ trở về trong thất
vọng vì chí nguyện kiên cố của Thái tử rằng:
“Thà
khổ hạnh tịnh pháp,
Còn
hơn lạc bất tịnh,
Quán
xem hết các tướng,
Không
tướng nào cố định;
Lời
chơn, tâm rỗng rang,
Xa
lìa các hoạn nạn;
Nói
lời sai, tà vạy,
Bậc
trí không hề nói;
Không
như thuyết La-ma, v.v...
Bỏ
nhà tu phạm hạnh,
Sau
cùng về bổn quốc,
Tập
lại thói ngũ dục,
Là
hành vi thô lậu,
Bậc
Trí không nương tựa.
Ta
nay vì các ngươi,
Lược
nói các yếu nghĩa,
Nhật
nguyệt dù rơi rụng,
Núi
Tu-di rung chuyển,
Thân
Ta trọn không rời,
Lui
vào nơi xứ khác;
Thân
Ta dù lửa đốt,
Không
vì nghĩa thối tâm,
Lui
về nơi bổn quốc,
Nhập
vào lửa năm dục...”.
Phẩm
10 và 11 kể lại chuyện vua Bình-sa cùng các đại thần đến
viếng Thái tử và sự vấn đáp giữa vua Bình-sa với Thái
tử. Phẩm 12 mô tả chuyện Thái tử đến tham vấn và học
đạo với Ālara Kālamā (A-la-lam) và Uddaka Rāmaputta (Uất-đầu-lam),
cuối cùng Ngài đã chứng được hai quả tối thượng của
Tứ Không: Vô sở hữu xứ tưởng và Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Không thoả mãn với hai quả vị này, từ giã họ, Ngài
tiếp tục tìm cầu đạo thù thắng diệu. Kệ nói:
“Ngài
lên núi Xà-già (Gaya),
Thành
tên núi khổ hạnh,
Gặp
năm vị Tỳ-kheo,
Thấy
năm Tỳ-kheo ấy,
Khéo
nhiếp các tình căn,
Trì
giới tu khổ hạnh,
Nơi
rừng khổ hạnh kia,
Bên
dòng sông Ni-liên,
Thật
trong mát khả ái,
Ngài
liền đến chỗ ấy,
Tịch
tĩnh tâm tư duy,
Năm
Tỳ-kheo biết Ngài,
Tâm
siêng cầu giải thoát,
Tận
tâm đến cúng dường,
Như
kính Trời Tự Tại...”.
Phẩm
13 diễn tả lại sự hàng phục chúng ma, khiến chư Thiên rúng
động, nơi không trung trời mưa hoa cúng dường Bồ-tát. Phẩm
14 kể lại chuyện hàng phục chúng ma xong, tâm Ngài an ổn
kiên cố. Từ đây Ngài nhập định, thấy rõ hạnh nghiệp
của chúng sanh trong nhiều đời với tên như thế, nơi chốn
như thế, rồi tiếp tục quán chiếu 12 chi phần duyên khởi
theo vòng luân khởi và hoàn diệt và cuối cùng chứng đắc
quả Vô thượng Bồ-đề, trở thành bậc Chánh giác.
Phẩm
15 kể lại công hạnh hoằng dương chánh pháp.
“Với
pháp nhãn thanh tịnh,
Thấy
rõ đạo giải thoát,
Ta
nay mới nói: khổ,
Sanh,
lão, bệnh, tử;
Ái
ly, oán tắng hội,
Khổ
cầu không thành tựu,
Và
các thứ khổ khác,
Lìa
dục chưa ly dục,
Có
thân và không thân,
Lìa
các công đức tịnh,
Nói
chung đây đều khổ,
Cũng
như xí thạnh dừng,
Tuy
còn chút hơi nóng,
Tịch
tĩnh ngã vi tế,
Tánh
khổ lớn vẫn còn,
Tham
sân, v.v...các phiền não,
Và
các nghiệp sai lầm,
Đây
chính là nhân khổ,
Xả
ly thời hết khổ,
Cũng
như các chủng tử,
Lìa
xa đất và nước,
Các
duyên không hoà hợp,
Mầm
móng không thể sanh,
Có
những tánh tương tục,
Hữu
tình trong lục đạo,
Luân
hồi không hề dứt,
Đây
do tham dục sanh,
Sai
lệch nhiều cấp độ,
Các
thứ nghiệp là nhân,
Nếu
diệt tham, sân, đẳng, v.v...
Thời
khổ không tương tục,
Mọi
thứ nghiệp dứt sạch,
Khổ
sai biệt đều dứt,
Đây
có thì kia có,
Đây
diệt thời kia diệt,
Không
sanh già bịnh chết,
Không
địa thuỷ hoả phong,
Không
chặng đầu chặng giữa,
Cũng
chẳng pháp luống dối,
Nơi
Thánh hiền an trụ,
Hết
sạch khổ, tịch diệt,
Tuyên
thuyết Bát Chánh đạo,
Thế
gian nào thấy được,
Bị
mê hoặc lâu dài,
Ta
biết Khổ, đoạn Tập,
Chứng
Diệt tu Chánh đạo,
Quán
Bốn chơn đế này,
Chóng
thành Đẳng Chánh giác.
Vì
Ta đã biết Khổ,
Đã
đoạn nhân hữu lậu,
Đã
diệt sạch, chứng đắc,
Đã
tu Bát Chánh đạo,
Đã
biết Bốn chơn đế,
Chưa
sanh trí tuệ nhãn,
Không
thể gọi giải thoát,
Không
nói việc làm xong,
Cũng
không nói hết thảy,
Chơn
thật thành tri giác;
Vì
đã biết chơn đế,
Tự
biết được giải thoát,
Tự
biết việc làm xong,
Tự
biết Đẳng chánh giác...”.
Phẩm
16 kể lại rằng:
“Lúc
năm Tỳ-kheo ấy,
A-thấp
và Ba-thệ, v.v...
Nghe
biết tiếng pháp kia,
Bỗng
dưng lòng hỗ thẹn,
Chắp
tay càng cung kính,
Chiêm
ngưỡng đức Thế Tôn,
Ngài
khéo dùng phương tiện,
Đưa
người vào chánh pháp,
Cả
nhóm năm Tỳ-kheo,
Đắc
đạo điều phục căn, ....
Về
đêm Ngài kinh hành,
Nghe
xướng tiếng não loạn,
Liền
gọi Tỳ-kheo đến,
Đây
có chỗ an ổn,
Niết-bàn
cực thanh lương,
Vắng
lặng lìa các não,
Da-xá
nghe Phật dạy,
Trong
tâm rất hoan hỷ,
Nương
lực yểm ly tâm,
Thánh
tuệ bỗng khai ngộ,
Như
vào ao trong mát,
Cung
kính đến chỗ Phật,
Tâm
Ông đầy dục lạc,
Mà
nay đã đoạn tận,
Đầy
đủ lực căn lành,
Tốc
chứng quả La-hán....
Lúc
sau mươi Tỳ-kheo,
Vâng
lời Phật giảng pháp,
Mỗi
vị tuỳ túc duyên,
Đi
mọi nơi giáo hoá,
Riêng
Thế Tôn du hành,
Đi
đến núi Già-xà,
Vào
rừng vắng tịch lặng,
Đến
tiên nhân Ca-diếp,
Vị
có hầm lửa dữ,
Nơi
độc long đang ở,
Núi
rừng xanh bao la,
Không
một nơi an trú.
Thế
Tôn vì giáo hoá,
Xin
Ca-diếp tá túc,
Ca-diếp
bạch Phật rằng,
Đây
không chỗ tá túc,
Chỉ
có hầm lửa dữ,
Khéo
thanh tịnh trú được,
Nhưng
có độc long ở,
Sợ
làm tổn hại ngài.
Phật
nói chỉ chỗ ấy,
Cần
một đêm an trú,
Kia
hết lời can ngăn,
Thế
Tôn bảo: chớ lo!
Ca-diếp
ngại, bạch Phật:
Không
muốn chỉ hầm lửa,
Sợ
lòng hối kính tiếc,
Vậy
tuỳ tiện ý Ngài.
Phật
bước xuống hầm lửa,
Ngồi
thẳng, chánh tư duy,
Khi
độc long thấy Phật,
Giận
dữ phun lửa độc,
Lửa
toả sáng khắp hầm,
Mà
không hại thân Phật,
Hầm
bị lửa thiêu rụi,
Thế
Tôn vẫn an toạ.
Ví
như kiếp hoả khởi,
Cung
Phạm thiên sáng rực,
Phạm
thiên ngồi ngay thẳng,
Không
khiếp cũng chẳng sợ.
Độc
long thấy Thế Tôn,
Tướng
chói sáng không sợ,
Sanh
thiện tâm, dừng độc,
Cúi
đầu xin qui y.
Đêm,
Ca-diếp thấy lửa,
Thốt
lời than quái gỡ!
Người
đạo đức như thế,
Mà
độc long hoả thiêu!
Ca-diếp
cùng quyến thuộc,
Tờ
mờ sáng đến xem,
Phật
đã hàng độc long,
Đặt
gọn trong bình bát,
Họ
biết công đức Phật,
Bèn
sanh lòng kỳ đặc,
Lâu
nay vì kiêu mạn,
Bảo
tôn trọng đạo ta!
Phật
nghĩ: nay đúng thời,
Biến
hiện các thần thông,
Xét
tâm họ nghĩ gì,
Biến
hoá thích ứng họ,
Khiến
tâm kia nhu nhuyến, ...
Tuỳ
thuận thọ chánh pháp,
Uất-tỳ-lam
Ca-diếp,
Có
500 đệ tử, Tuỳ thầy khéo điều phục,
Thứ
lớp thọ chánh pháp,
Ca-diếp
cùng đồ chúng,
Đều
thọ chánh pháp xong,
Còn
tiên nhân nuôi vật,
Cùng
những dụng cụ lửa,
Đem
quăng vào trong nước,
Trôi
dạt theo dòng sông,
Na-đề
và Gia-xà, v.v...
Hai
đệ ở dòng dưới,
Thấy
y phục các vật,
Trôi
theo dòng loạn xạ,
Cho
rằng gặp hoạ lớn,
Lo
sợ chẳng hề an,
Hai
chúng 500 người,
Theo
dòng lên cứu anh,
Thấy
anh đã xuất gia,
Các
đệ tử cũng thế,
Biết
việc chưa từng có,
Mà
sinh tưởng kỳ đặc,
Anh
nay đã phục đạo,
Ta
cũng nên tuỳ thuận,
Cả
3 huynh đệ kia,
Cùng
đệ tử quyến thuộc,
Phật
vì họ thuyết pháp...”.
“Thế
Tôn cùng hội chúng,
Tiến
về thành tinh xá,
Sực
nhớ vua Ma-kiệt,
Trước
khi tu đã hứa,
Nay
Ngài đã đến rồi,
Dừng
lại nơi rừng cây,
Vua
Bình-sa nghe tin,
Cùng
hết thảy quyến thuộc,
Cho
các sĩ nữ theo,
Đi
đến chỗ Thế Tôn.
Xa
thấy Như Lai ngồi,
Hàng
tâm phục các căn,
Trừ
sạch các niệm tục,
Xuống
xe rồi đi bộ;
Cũng
như Trời Đế-thích,
Đi
đến vua Phạm-thiên,
Trước
đảnh lễ chân Phật,
Kính
lời vấn an Ngài,
Phật
cũng an uỷ vua,
Thỉnh
an toạ một bên,
Thời
tâm vua yên ổn,
Thích-ca
oai lực lớn,
Thắng
luôn đức Ca-diếp, v.v...
Nay
đều là đệ tử,
Phật
biết tâm niệm chúng,
Hướng
phía Ca-diếp, hỏi:
“Ông
thấy phước lợi gì,
Mà
bỏ việc thờ lửa?
Ca-diếp
vâng lời Phật,
Khởi
thân trước đại chúng,
Quỳ
gối và chắp tay,
Lớn
tiếng bạch Phật rằng:
“Tu
phước thờ thần lửa,
Chịu
quả báo luân hồi,
Sanh
tử phiền não tăng,
Vì
thế con từ bỏ,
Việc
tinh cần thờ lửa,
Vì
cầu cảnh ngũ dục,
Ái
dục tăng không cùng,
Vì
thế con từ bỏ.
Thờ
lửa tu chú thuật,
Xa
giải thoát, thọ sanh;
Thọ
sanh là gốc khổ,
Nên
liền bỏ, cầu an,
Nghĩ
rằng tu khổ hạnh,
Tế
tự thiết đại hội,
Là
tối thắng đệ nhất,
Mà
trái với Chánh đạo,
Vì
thế con từ bỏ,
Cầu
tịch diệt thù thắng,
Lìa
sanh già bệnh chết,
Tận
cùng cõi thanh lương,
Vì
biết rõ nghĩa này,
Từ
bỏ việc thờ lửa”.
Thế
Tôn nghe Ca-diếp,
Trình
bày việc thấy biết,
Muốn
khiến các thế gian,
Thảy
sanh lòng tịnh tín,
Liền
bảo Ca-diếp rằng:
Bậc
Đại sĩ khéo đến,
Phân
biệt các thứ pháp,
Mà
từ nơi thắng đạo,
Nay
đối trước đại chúng,
Hiển
công đức thù thắng,
Như
trưởng giả giàu lớn,
Mở
bày các tạng báu,
Khiến
chúng sanh nghèo khổ,
Lớn
mạnh tâm nhàm chán.
Lành
thay, Tôn giáo lớn!
Chính
là đại chúng này...
Ca-diếp
là đệ tử.
Sau
thu nhiếp thần thông,
Kính
lễ chân Thế Tôn.
Phật,
Đại sư của con.
Con
là đệ tử Ngài,
Phụng
giáo nghe hành trì,
Việc
làm đã rốt ráo.
Thế
gian thảy đều thấy,
Ca-diếp
là đệ tử,
Quyết
định biết Thế Tôn,
Chơn
thật nhất thiết trí,
Phật
biết các hội chúng,
Kham
vì thọ pháp khí,
Mà
khuyên vua Bình-sa,
Đại
vương khéo lắng nghe,
Tâm
ý và các căn,
Đều
là pháp sanh diệt,
Biết
sanh diệt đã qua,
Tức
là quán bình đẳng,
Bình
đẳng quán như vậy,
Tức
là rõ biết thân,
Thân
là pháp sanh diệt,
Không
thủ cũng không xả;
Như
rõ biết thân căn,
Vô
ngã, vô ngã sở,
Thuần
gốc khổ tích tụ,
Khổ
sanh mà khổ diệt,
Đã
rõ các thân tướng,
Vô
ngã, vô ngã sở,
Chính
là biết rốt ráo,
Cùng
tột cõi thanh lương.
Ta
thấy các phiền não,
Trói
buộc các thế gian,
Đã
thấy vô ngã sở,
Các
trói đều được giải,
Không
thật thấy bị trói,
Thật
thấy thời giải thoát.
Thế
gian nhiếp thọ giới,
Tức
là tà nhiếp thọ.
Nếu
kia thấy có ngã,
Hoặc
thường hoặc vô thường,
Thấy
nhị biên sinh tử,
Lỗi
kia lớn vô cùng.
Chớ
cho rằng vô thường,
Tu
hành không có quả,
Cũng
không thọ thân sau,
Không
công mà giải thoát.
Chớ
cho pháp là thường,
Không
tử sanh trung gian,
Thời
đồng với hư không,
Không
sinh cũng không diệt.
Chớ
cho rằng có ngã,
Lý
đáng hết thảy đồng,
Tất
cả đều có ngã,
Không
nghiệp, mà thành quả.
Nếu
có ngã, tác giả,
Không
nên khổ tu hành,
Kia
có chủ tự tại,
Cần
gì tu tạo tác?
Nếu
ngã là thường có,
Lý
không khắp, biến dịch.
Thấy
có khổ lạc tướng,
Sao
lại nói là thường?
Biết
sanh thời giải thoát,
Xa
lìa các trần cấu,
hết
thảy ngã thường có,
Dụng
gì để giải thoát?
Vô
ngã không chỉ nói,
Lý
thật, tánh không thật;
Không
thấy ngã tạo tác,
Cũng
không tạo tác ngã,
Không
có hai việc này,
Chơn
thật không có ngã,
Không
tác giả, tri giả,
Không
chủ mà lưu chuyển,
Dòng
sanh tử ngày đêm.
Hãy
lắng nghe Ta nói,
Sáu
căn, sáu cảnh giới;
Nhân
duyên, sáu thức sanh;
Ba
việc hợp sanh xúc;
Tâm
niệm, nghiệp tuỳ chuyển...”.
Phẩm
17 kể lại chuyện những vị đại đệ tử xuất gia. Phẩm
18 nhấn mạnh đến vị trưởng giả Cấp-cô-độc giàu có
nổi tiếng cũng như việc Như Lai giáo hoá trở thành người
đệ tử chân chính, hộ trì Tam bảo, hộ trì chơn lý và hộ
trì chánh pháp. Phẩm 19 kể lại việc hội diện của đức
Thế Tôn cùng với vua Tịnh Phạn tại Ca-tỳ-la-vệ. Phẩm
20 kể lại trọng trách giáo đoàn ngày càng đông, đòi hỏi
cần có một nơi sinh hoạt có tổ chức quy mô, tránh những
kẻ ngoại đạo trà trộn làm mất thanh danh và uy tín của
Giáo đoàn; vì thế đức Thế Tôn phải nhận lãnh Tinh xá
Kỳ-hoàn. Đây là nơi yên ổn cho Chúng Tăng tu tập.
Phẩm
21 kể lại chuyện đức Thế Tôn dùng trí đức và uy lực
để hàng phục voi say. Phẩm 22 kể lại chuyện đức Phật
răn đe các Tỳ-kheo cần phải thu nhiếp các căn khi dâm nữ
xuất hiện và Ngài đã hàng phục dâm nữ nơi rừng Am-ma-lặc.
Nhờ đó dâm nữ khi thấy Phật, liền sinh lòng kính ngưỡng
và xin qui y làm đệ tử. Phẩm 23, 24, 25 và 26 diễn tả lại
việc giáo hoá của đức Thế Tôn cũng như việc thu nhận
những đệ tử trong những ngày cuối của đời Ngài cùng
với sự chấn động thiên địa bởi đấng Đạo Sư đã Bát-Niết-bàn.
Hai Phẩm cuối cùng mô tả lại cảnh quang sầu thảm ở Ku-si-na-ga
cùng với sự tán dương của chư Thiên và hàng đại đệ
tử của Ngài cũng như thể hiện sự tôn kính về bậc Đại
Giác bắng sự phân bố Xá-lợi vì lợi ích của số đông,
vì an lạc cho số đông, vì lợi ích và sự an lạc cho cả
chư Thiên và loài người.
Nói
chung, cuộc đời và sự nghiệp của đấng Đạo Sư đã được
ngài Aśvaghoṣa diễn tả lại rất chi tiết, mà như chúng
ta đã từng bắt gặp trong Lalitavistara (Kinh Đại Trang Nghiêm),
Mahāvastu (Đại Sự), hay Dīvyāvadāna (Những Chuyện Thí Dụ
về Chư Thiên)...
Trên
tất cả, Buddhacarita ra đời cùng với Saundara-nanda (Tôn-đà-lợi
Nan-đà) và Śārīputra-prakaraṇa (Xá-lợi-phất chi Sở Thuyết),
mà nổi tiếng hơn nữa là Mahāyānaśraddhotpāda-śāstra (Luận
Đại Thừa Khởi Tín) của Aśvaghoṣa. Chính Aśvaghoṣa, một
Tăng sĩ Phật giáo, một đại triết gia, một nhà thi sĩ của
Phật giáo, một nhà thành lập hệ thống của Phật giáo Đại
thừa đầu tiên, đã bắt đầu cho một nhựa sống mới, một
kỷ nguyên mới, khai mở một thời kỳ mới của nhân
loại trong thế giới thi ca bất diệt, một tác phẩm tuyệt
tác của lịch sử nền văn chương Saṅskrit.
*
*
*
Chương
XI:
Mūlamadhyamaka-kārika
(Trung Quán Luận)
1.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Phật
giáo đã chiếm một vị trí trung tâm trong sự phát triển
của triết học Ấn Độ, nhất là sự ảnh hưởng sâu sắc
trong lãnh vực triết học và tôn giáo tại xứ sở đa thần
giáo này. Sau Buddhacarita (Phật Sở Hành Tán), một tác phẩm
thi ca tuyệt tác của ngài Aśvaghoṣa, là Mādhyamika-śāstra
(Trung Quán Luận) của ngài Nāgārjuna (150-250). Sự ra đời
của tác phẩm này đã đánh dấu một bước tiến khá xa trong
lịch sử văn chương Saṅskrit, một bộ luận chói sáng nhất
và quan trọng nhất trong triết học về “không tánh” (Śūnyātā)
của Phật giáo. Nó là một tác phẩm quan trọng nhất và nổi
tiếng nhất trong những tác phẩm nổi tiếng của ngài, như:
Vigrahavyāvartanī-śāstra (Hồi Tránh Luận), Mahāyāna-prajñāpāramitopadeśa-śāstra
(Luận Đại Trí Độ) v.v... Nguồn gốc của Mādhyamika śāstra
được ngài Nāgārjuna (Long Thọ) sáng tác vào khoảng thế
kỷ thứ 2 sau CN với 400 bài kệ bằng Saṅskit. Tác phẩm này
là nền tảng chủ yếu của trường phái Trung Quán tại
Ấn Độ, kế thừa tư tưởng của Aṣṭasāhasrikā prajñāpāramitā
sūtra (Bát Thiên Tụng Bát-nhã hoặc Tiểu Phẩm Bát-nhã). Nhưng
mãi đến đầu thế kỷ thứ 5, nó mới được dịch sang Hoa
ngữ và trở thành tác phẩm nền tảng của trường phái Tam
Luận Tông: Mādhyamika-śāstra (Trung Luận), Dvādaśa-dvāra-śāstra
(Luận Thập Nhị Môn) và Śata-śāstra (Luận Quảng Bách),
ở Trung Hoa.
Mādhyamika-śāstra
(Luận Trung Quán) hay Mūla-madhyamaka-kārikā được Phạm Chí
Thanh Mục thích, đời Nguyên Nguỵ, Kumārajīva dịch sang Hoa
ngữ năm 409 với tựa đề “Trung Luận” hay “Trung Quán
Luận”, 4 quyển, đời Diêu Tần, ĐC 30_1564. Ngoài ra, nó được
ngài Āsaṅga (Vô Trước) thích, Gautama-Prajñāruci (Cù-đàm
Bát-nhã Lưu-chi) dịch với tựa đề “Thuận Trung Luận Nhập
Đại Bát-nhã Ba-la-mật Sơ Phẩm Pháp Môn”, 2 quyển, đời
Nguyên Nguỵ, ĐC 30_1565. Một bản khác do ngài Sthiramati (An
Huệ) tạo, ngài Duy Tịnh dịch với tựa đề “Đại Thừa
Trung Quán Thích Luận”, 9 quyển, ĐC 30_1567.
3.
Khái Lược về Nội dung:
Sau
Buddhacarita nổi tiếng của Aśvaghoṣa_một tác phẩm thi ca
nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử văn chương Saṅskrit của
Phật giáo với nội dung chuyên tải đầy hương vị của chánh
pháp_là những kệ tụng bằng Saṅskrit trong bộ Mādhyamika-śāstra
(Luận Trung Quán) của ngài Nāgārjuna (Long Thọ). Bằng những
kệ tụng Saṅskrit trong tác phẩm này, tư tưởng Śūnyatā
(Không tánh) được xiển dương trên lập trường quan điểm
của “bát bất”, mà nó chính là biện chứng pháp hùng hồn
phủ định triệt để tư tưởng chấp thủ về ngã và pháp
của các triết gia ngoại đạo và của những vị Luận sư
A-tỳ-đạt-ma. Vẫn biết tư tưởng Śūnyatā (Không tánh) đã
được đức Phật dạy trong Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā
(Tiểu Phẩm Bát-nhã), ngài Long Thọ cũng đã kế thừa tư
tưởng ấy bằng cách cho ra đời Mādhyamika śāstra này. Với
luận lý nhưng siêu việt luận lý, Mādhyamika śāstra đã nghiễm
nhiên trở thành nền tảng thâm thuý và kỳ vĩ của lịch
sử luận lý học Phật giáo và nhiếp phục tất cả những
Luận lý gia ngoại đạo.
Śūnyatā,
một trong những khái niệm trừu tượng nhất mà những triết
gia phương Đông và phương Tây đã trở nên choáng ngợp và
ngao ngán suốt nhiều thế kỷ qua, đã chứng minh bằng phương
pháp phủ định (reductio ad absurdum) như một khuynh hướng giáo
dục đánh thức nhằm giải quyết những mâu thuẫn và loại
trừ mọi ý niệm nhị biên. Nāgārjuna, vừa là tư tưởng
gia vừa là triết gia vĩ đại nhất của Ấn Độ nói riêng
và thế giới nói chung, trên cơ sở của giáo lý nguồn gốc
của đức Phật, đã hình thành một hệ thống “luận lý
siêu việt luận lý” xuyên qua “biện chứng pháp phủ định”
triệt để. Với biện chứng pháp trên lập trường quan điểm
của Śvabhāva-śūnya, Śūnyatā (Không tánh), ngài Nāgārjuna
không những chỉ bác bẻ những quan điểm sai lầm của những
triết gia ngoại đạo mà còn loại trừ những ý/khái niệm
nhị biên của các trường phái Hīnayāna (Tiểu thừa) như
Śautrāṇtikā (Kịnh Lượng Bộ), Sarvāstivāda/Vaibāsika (Nhất
Thiết Hữu Bộ). Ngoài ra śūnyatā, chúng ta có thể thấy trong
Mahāyāna-prajñāpāramitopadeśa-śāstra (Luận Đại Trí Độ).
Trên
thực tế, Śūnyatā không phải là “hư vô chủ nghĩa” hay
giáo điều thuần tuý. Song chúng ta rất khó thẩm thấu được
cốt lõi thâm thuý của Śūnyatā. Vì “căn tánh ám độn không
có khả năng chánh quán về không tánh, nên tự hại, như người
không giỏi chú thuật, không rành bắt rắn độc”.
Toàn
bộ Mādhyamika-śāstra được chia ra thành 25 phẩm. Mỗi phẩm
có vẻ độc lập nhưng nhấn mạnh biện chứng pháp phủ định
triệt để cùng với hệ thống lôgic luận lý siêu việt luận
lý đã tiềm tàng như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ đầu
đến chí cuối tác phẩm.
4.
Lập Trường quan điểm của Nāgārjuna trong Mādhyamika Śāstra:
Mādhyamika-śāstra
trên cơ sở của Svabhāva-śūnya không chỉ bàn luận về nhân
quả, sự prapañca, prajtipad (giả danh), mà cũng nhấn mạnh
đến hai chân lý: Saṁvṛti satya (Tục đế) và Paramārtha satya
(Thắng nghĩa đế). “Bát bất” trong Mādhyamika Śāstra của
ngài Nāgārjuna chính là trụ cột, là cốt lõi, là biện chứng
pháp hùng hồn, đóng vai trò quan trọng nhất. Từ lập trường
quan điểm của “bát bất”, Śūnyatā trong tư tưởng của
ngài Long Thọ chính là không tánh của giáo lý Pratītyasamutpāda
(Duyên sinh) và cũng là không tánh của Trung đạo. Trong bài
kệ đầu tiên của mình đã tỏ lòng tôn kính đức Phật,
bậc Đạo Sư tối thượng trong những bậc đạo sư đã dạy
giáo lý Duyên sinh, sự huỷ diệt mọi giai tầng cấu trúc
tư tưởng trong thế giới hiện tượng, Nāgārjuna nói:
“Con
cúi đầu lễ Phật,
đã
giảng thuyết nhân duyên,
đệ
nhất trong các thuyết,
khéo
diệt các hí luận”.
Ngài
và hoàn toàn thẩm thấu cũng như tán dương giáo lý Duyên
sinh trên lập trường quan điểm tuyệt đối, ngài Nāgārjuna
đã công bố:
“Không
sanh cũng không diệt,
Không
thường cũng không đoạn,
Không
một cũng không khác,
Không
đến cũng không đi”.
Thế
nhưng về bản thể, “bát bất” chỉ là sự phát biểu khác
của nguyên lý duyên sinh chứ không có sự khác biệt nào,
vì tất cả mọi ý niệm nhị biên đều bị phủ định triệt
để trong Śūnyatā. Điều này có nghĩa là “Pháp do các duyên
sinh, ta nói tức là không, đó chính là giả danh, cũng là nghĩa
trung đạo” . Tất cả các pháp không có tự tánh của riêng
nó và sự hiện hữu của tất cả sự vật chính là sự có
mặt của tất cả nhân duyên hoà hợp. Ngài Nāgārjuna đã
sử dụng bát bất để loại trừ rốt ráo tất cả quan điểm
hoặc những tư tưởng sai lầm về ngã và pháp trên cơ sở
của Bát-nhã độ. Tương tự, không tánh trong ý nghĩa nhị
biên gồm hai lãnh vực, một mặt về lãnh vực động như
loại trừ tuyệt đối tất cả mọi chấp thủ sai lầm, và
mặt khác về lãnh vực tĩnh như đang hình thành một nguồn
trí tuệ thanh tịnh hoàn toàn. Như vậy, Śūnyatā trong ý nghĩa
gấp đôi của nó là không phải chủ thuyết hư vô, và toàn
bộ hệ thống của Mādhyamika śāstra hay biện chứng pháp siêu
việt của nó nhấn mạnh đến một vấn đề duy nhất đó
là Svabhāva (Tánh), có thể nhận ra và thẩm thấu xuyên qua
Nāma (Danh) và Lakṣaṇas (Tướng).
5.
Nāma (Danh) và Lakṣaṇas (Tướng):
Trong
thế giới hiện tượng cũng như quá trình hoạt động của
tâm vật lý bên trong của mỗi người, tất cả trạng thái:
sanh, trụ, dị, diệt luôn luôn xảy ra trong từng sát-na. Vậy
là vô thường. Vô thường là những đặc tính sinh và diệt
của tất cả các pháp. Không có qui luật vô thường, thì
cũng không có sự hiện hữu của loài hữu tình và vô tình,
tức là không có danh và tướng. Tuy nhiên, trong vô thường
cũng có đặc tính chân thật và siêu việt của vô thường;
đây chính là svabhāva-śūnyā (Không tánh) có thể được thẩm
thấu và nhận ra xuyên qua danh và tướng. Danh và tướng tức
danh/tâm và sắc/vật là sự thu gọn của năm uẩn (sắc uẩn,
thọ, tưởng, hành và thức uẩn) của sáu đại (địa đại,
thuỷ, hoả, phong, không và thức).
Lakṣaṇas
(Tướng) có thể được nhận thức bằng đối tượng định
rõ qua sự nhận thức, nhưng không phải bằng một đối tượng
không định rõ, vì cả hai sự kiện xảy ra trong cùng một
sát-na bằng danh xuyên qua phương tiện của ngôn ngữ; vì ngôn
ngữ chỉ là sự hiện hữu trừu tượng mà không có bất
kỳ sự vật nào trong chính nó. Cũng thế, chân lý mà một
luận lý gia mong muốn đế nhận ra là sự tương xứng giữa
tiến trình của sự biểu hiện và tiến trình của thực tại.
Khiếm khuyết một trong hai tiến trình này thì không thể được.
Nāma
(Danh) chính là sự biểu hiện của Lakṣaṇas (Tướng), nhưng
tướng không thể là đối tượng của tri thức mà không có
bất kỳ danh nào. Vậy danh đã vay mượn trong đây là bằng
phương tiện của ngôn ngữ, mà ngôn ngữ chỉ là một sự
hiện hữu tương đối bao gồm nhiều kinh nghiệm nhận thức.
Nhưng kinh nghiệm của sự nhận thức thì vô số, hoặc ảo
giác hoặc hư cấu, sai hoặc đúng, thì không thể chắc chắn
được; còn kinh nghiệm của tri thức có thể chấp nhận được
trên cơ sở của trí giác. Nếu trí giác hoàn hảo, thì thật
tại chơn thật của tướng phải được hiển bày. Song kinh
nghiệm của sự nhận thức và kinh nghiệm của tri thức thì
không thể chứng minh cho thực tại chơn thật của tướng.
Vì thế, không có kinh nghiệm nào có thể, cũng không có ngôn
ngữ nào diễn đạt về thực tại chơn thật của tướng.
Tóm
lại, danh thì không thật nhưng không có nó thì thực tại
không thể nhận ra. Tương tự, không có hiện tượng thì siêu
hiện tượng không thể được hiển bày. Sự thâm thuý của
không tánh phải chăng là thế giới đang tiềm ẩn dưới địa
tầng của trí năng, tiềm ẩn dưới địa tầng của sự vật
sinh khởi độc lập thì rất khó nhận ra, song bằng phương
tiện thiện xão của ngôn ngữ, bậc giác ngộ như đức Phật
có thế diễn bày bằng ngôn thuyết xuyên qua hai cấp độ
chân lý: Tục đế và Thắng nghĩa đế. Để nhận ra hai chân
lý này, phải đi vào thế giới biện chứng của Trung Quán.
6.
Biện chứng pháp_triệt tiêu mọi ý niệm nhị biên:
Triệt
để loại trừ quan điểm nhị biên là phương pháp biện chứng
của trung quán. Quan điểm nhị biên thì có thể hữu lý hoặc
vô lý, những mâu thuẫn luận lý và phi luận lý mà thường
xảy ra trong một tiền đề được cấu trúc bởi ngôn ngữ.
Cẩn trọng quán xét về quan điểm nhị biên và loại trừ
hoặc giải quyết những mâu thuẫn đó trong cùng một tiền
đề là chuẩn mực chính thống và thực tiễn của Trung quán.
Một tiền đề phải tổng hợp cả ngôn ngữ và lý lẽ, nếu
không thì nó trở nên vô nghĩa. Cùng tột của trí năng tự
thức hay trong thâm cung của tiềm thức hoặc nhận thức trực
giác đều có đủ công năng phủ định triệt để và loại
trừ những mâu thuẫn không thật mà ngôn ngữ chính nó bấy
giờ đại diện cho một sự ngẫu nhiên nào đó của thực
tại trong một tiền đề được xem như là hợp pháp trong
biện chứng pháp. Hễ khi nào ngôn ngữ đã sử dụng để
tạo nên một ấn tượng mà có thể phân biệt giữa những
ý niệm đúng hoặc sai đang xảy ra trong thực tại; chẳng
hạn tiền đề, như: “tất cả các pháp đều là không”.
Để
chấp nhận một tiền đề là để chứng minh thực tại năng
động của tiền đề ấy xuyên qua ngôn ngữ, và một tiền
đề, hễ đã chấp nhận, có nghĩa rằng nó không phải là
không thật. Đối với luật mâu thuẫn, vì lẽ đó, nó chỉ
là sự diễn đạt của tất cả sự kiện/thật rằng tất
cả sự nhận thức (kể cả về khái niệm, tưởng tượng,
phán đoán và suy luận) là phân/rẽ đôi và tương đối;
đây là sự khiếm khuyết về hiệu quả sống động của
ngôn ngữ năng động. Hễ những gì chúng ta cho là mâu thuẫn
thuộc luận lý thì cũng bị đóng lại trong một khung sườn
tư tưởng cố định vì nó có lẽ được gọi là qui luật
đồng nhất. Chẳng hạn, qui luật đồng nhất có nghĩa là:
“Mỗi
vật trong vũ trụ là riêng biệt, mỗi vật là thực tại chân
thật bởi chính nó, và mỗi thực tại rốt ráo là một vật-trong-chính-nó.
Đồng nhất nghĩa là sự đồng nhất về sự không thể nhận
thức; những sự vật là đồng nhất hoặc tương tợ chỉ
xa bằng chúng ta nhận thức những khác biệt của chúng”.
Như
vậy, mâu thuẫn thuộc luận lý cũng bị giới hạn trong một
khung luận lý mà có thể bị mất đi cái tính năng động
của duyên sinh cũng như hiệu quả sống động của ngôn ngữ
năng động. Trái lại, sự phủ định có thể chấp nhận
như sự phát biểu của ngài Dharmottara (Pháp Thượng) như vầy:
“Phủ
định được nhận thức như sự vắng mặt của sự trực
tiếp tương tợ, sự khác biệt và sự đối lập được nhận
thức như sự vắng mặt của sự gián tiếp tương tợ”.
Xa
hơn nữa, sự phủ định tránh tạo ra những lỗi vô hạn
thực tiễn đang liên quan đến điều không rõ ràng của sự
phán đoán vô hạn, hoặc khái niệm vô hạn; vì lẽ đó,
nó là một vũ khí bén nhọn và đầy kỹ xão được ngài
Long Thọ sử dụng để loại trừ mọi chấp thủ hoặc những
ý niệm sai lầm và không thật. Vì lý do này, những sự phổ
quát và những phần riêng thì không ngoài 6 sự mâu thuẫn
như dưới đây:
1.
Nếu sự vật là không, thì sự phát biểu của bạn là không,
đang bao quát tất cả sự vật; và một sự phủ định bằng
sự phát biểu đó mà nó là không, thì không là điều không
có khả năng luận lý. Trong hoàn cảnh này, sự phủ định
rằng tất cả sự vật là không thì ‘không’ là có giá
trị.
2.
Nếu, mặt khác, sự phủ định rằng tất cả sự vật là
không tức không có giá trị, thì sự phát biểu của bạn
là không có giá trị. Nhưng sự phủ định mà nó hình thành
lập bởi vì nó là không phải không, thì không có giá trị.
3.
Bây giờ, nếu tất cả sự vật là không, nhưng sự phát biểu
của bạn bằng sự phát biểu đó bị ảnh hưởng, mà sự
phủ định là không phải không, thì sự phát biểu của bạn
không được bao gồm trong tất cả sự vật. Sự đề nghị
của bạn, lúc ấy, bị mâu thuẫn bởi ví dụ.
4.
Nếu, trái lại, sự phát biểu của bạn bao quát trong tất
cả sự vật, và nếu tất cả sự vật là không, thì sự
phát biểu cũng là không; và vì nó là không, nó không thể
thành lập bằng sự phủ định.
5.
Chúng ta, lúc đó hãy cho rằng nó là không và có sự phủ
định bởi nó: “tất cả sự vật là không”. Nhưng, trong
trường hợp đó, tất cả sự vật dù là không, đã sẽ có
khả năng thực hiện các hoạt động, mà nó là vô lý.
6.
Lúc đó để được chấp nhận rằng, tất cả các sự vật
là không và chúng là không có khả năng thực hiện các hoạt
động; để sự đề nghị không bị mâu thuẫn bởi thí dụ
này. Trong trường hợp đó, tuy nhiên, sự phủ định về bản
tánh nội tại của các sự vật bằng sự phát biểu không
của bạn thì không có giá trị”.
Thậm
chí ngay cả duyên sinh hẳn phải bị loại trừ bởi chính
nó, thực tại chân thật về các đặc tính của các sự vật
mới có thể được hiển hiện. Vậy giáo lý duyên sinh, khi
đã được chấp nhận, thì có thể chấp nhận toàn bộ sự
sinh khởi và sự đoạn diệt của một cái-ngã-trong-chính-sự-vật,
nhưng nó chính là duyên sinh, mà cái-ngã-trong-chính-sự-vật
ấy trở thành không sinh, cũng không diệt, đó là để nói,
nó là śūnyatā. Vì bản chất của sự hiện hữu là śūnyatā,
như kệ nói:
“Do
có nghĩa không, nên tất cả các pháp được thành tựu, nếu
không có nghĩa không, thời tất cả các pháp không thành”.
Từ
lập trường quan điểm của śūnyatā, cho thấy rằng không
có một vật nào đơn điệu có thể tồn tại một cách độc
lập. Nếu mỗi vật-trong-chính-nó có thể tự-nó-hiện-hữu,
thì nó phải có bản chất quyết định riêng của nó, nếu
vậy, làm thế nào chính nó có thể kết hợp với một cái
khác (bản tánh quyết định). Vậy một tiền đề tối thiểu
phải bao gồm ba yếu tố: chủ thể, đối tượng và sự vật.
Ba yếu tố này không có bất kỳ bản chất quyết định riêng
của chúng. Trong sự so sánh tương đối, sự-vật-trong-chính-nó
trở nên hoàn toàn (trọn vẹn) hoặc thay đổi, song sự-vật-trong-chính-nó
là riêng biệt và bản tánh khác nhau nhưng không tự hiện
hữu, nó không trọn vẹn hoặc thay đổi như những gì nó
thật sự đang là. Tương tợ, bản chất của ngôn ngữ là
riêng biệt và khác nhau nhưng không tự hiện hữu, mặc dù
bản chất khác nhau và riêng biệt của ngôn ngữ là có khả
năng diễn đạt một ý niệm hoặc đối tượng nào đó như
tiền đề “các pháp là không”. Vậy là duyên sinh, vì “cái
này sinh thì cái kia sinh”. Thậm chí bản chất của sự hiện
hữu cũng là śūnyatā, và śūnyatā là bản tánh quyết định
của sự hiện hữu. Như thế, một tiền đề đầy đủ là
sự biểu hiện ngôn ngữ sống động có thể biểu hiện tính
phủ định: “các pháp là không”, sự yên lặng của ngôn
ngữ cũng có thể biểu hiện śūnyatā, như sự yên lặng của
đức Phật, của Vimalakīrti (Duy-ma-cật), hoặc của Bodhidharma
(Bồ-đề Đạt-ma), là biện chứng pháp.
“Biện
chứng”, theo Murti, “là sự vận động tâm linh của tiềm
thức; nó có tính thiết yếu cho một sự phê bình về lý
lẽ... Biện chứng pháp này là một sự mâu thuẫn phổ quát
đang ảnh hưởng đến từng phạm trù của tất cả sự vật”.
Nếu
khi nào một tiền đề mà thiếu tính phủ định, thì nó trở
nên một khung sườn cứng nhắc và khô khan, chứ không có
năng lực sống động và thực tiễn nào. Sự phủ định là
một hình thức khác của sự khẳng định. Luận nói:
“Các
pháp không sinh ra từ chính nó, cũng không sinh ra từ cái khác,
cũng không sinh ra từ cả hai; cũng không phải tự nhiên sinh,
cũng không do duyên sinh, thế nên biết các pháp vốn vô sinh”.
Vì
lẽ đó, một pháp không thể được nói là thật hoặc là
không thật, hoặc cả hai, hoặc cũng không cả hai. Điều này
cho thấy rằng một vật-trong-chính-nó không có bản chất
quyết định nào riêng của nó, đã không có bản chất quyết
định nào, thì vật-trong-chính-nó không thể hiện hữu; vì
nó là do duyên sinh, là giả danh, là śūnyatā, và cũng được
gọi là thật tướng trung đạo. Bản chất của ngôn ngữ
cũng lại như vậy. Thế nhưng, do duyên sinh, bản chất của
ngôn ngữ trở nên sống động và diễn tả được tính năng
động của thật tướng trung đạo, mà nó cũng không thật,
cũng không phải không thật. Và càng sống động hơn là thật
tướng trung đạo xuyên qua “bát bất” mà nó thâu tóm toàn
bộ hệ thống triết học biện chứng siêu việt của Trung
Luận. Nhớ rằng, “bát bất” không hề bị giới hạn trong
không-và-thời-gian, cũng không hề bị giới hạn trong bất
kỳ ý niệm nào mà từ đó tuệ giác hay đúng hơn là “trung
đạo” được tìm thấy. Và đây cũng chính là lập trường
quan điểm của triết học biện chứng siêu việt của Trung
Luận.
7.
Śūnyatā và Pháp_không sanh không diệt:
Để
phủ định sự chấp thủ về tự tánh của các pháp, như
ngài Nāgārjuna đã nói rằng “các pháp được sanh ra không
phải từ chính nó, cũng không phải từ cái khác, cũng không
phải cả hai, cũng không có nhân”. Vậy tất cả các pháp
là không sanh; do đó, bất kỳ một sự vật nào lệ thuộc
đến nguyên lý duyên sinh thì hoàn toàn không có bất kỳ bản
tánh quyết định nào; vì nó là giả danh, cũng được gọi
là Śūnyatā. Nếu nói rằng ‘không có nhân nhưng quả
của nó cũng hiện hữu’, thì cũng như nói con trai của người
đàn bà không sinh, hoặc sừng của con thỏ, ... điều này
không đúng. Có hai trường hợp không thể được như Luận
nói: “Giống như tự tánh của các pháp, không ở trong các
duyên, vì không có tự tánh, cho nên tha tánh cũng không”.
Ngài
Nāgārjuna đã phản bác 4 duyên, mà các vị Luận sư Abhidharma
(A-tỳ-đạt-ma) chủ trương:
“Có
bốn và chỉ bốn duyên có khả năng sinh ra các pháp, không
có duyên thứ năm. Đó là nhân duyên và thứ đệ duyên, sở
duyên duyên và tăng thượng duyên”.
Lại
nữa, Luận nói:
“Quả
được sanh ra từ duyên, hoặc từ không duyên, hoặc quả cố
hữu hoặc không cố hữu trong duyên”. Có hai trường
hợp không thể chấp nhận: “(Nhân của) sự vật có khả
năng sinh ra quả, có khả năng sinh ra quả được gọi là duyên,
nhưng khi quả chưa được sinh ra. Vậy tại sao nó không thể
được gọi là không duyên?”.