Chương
I:
GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN
Lược
sử về Nguồn gốc Văn học Sanskrit Phật giáo:
Khoảng
thiên niên kỷ thứ 2 trước CN., bấy giờ có những bộ lạc
Indo-European đã chiếm giữ những vùng rộng lớn ở Iran, Asia
Minor, và Tây-Bắc Ấn, họ đã làm thay đổi hoàn toàn cục
diện xã hội ở những lãnh địa này. Trong những bộ lạc
Indo-European ấy, có giống dân Aryan xâm lăng lãnh thổ Ấn
Độ, phương ngữ của họ có thể được xem như là tổ tiên
của những phương ngữ của Ấn-độ và Iran. Kể từ đây,
Thánh thư Ṛgveda (Vệ-đà) của người Ấn ra đời. Từ ngôn
ngữ của Ṛgveda, chúng ta có thể tìm thấy dấu vết phát
triển vững vàng của Sanskrit cổ điển trong Saṁhitā và Brāhmaṇa
(Bà-la-môn).
Ấn
Độ, như chúng ta đã biết, là một nước đa thần giáo.
Nó nặng về sự “phân biệt chủng tộc và giai cấp, những
dữ kiện về ngôn ngữ càng nổi bật, quan trọng hơn thì
càng trở nên phức tạp. Những gì Saṅskrit trình bày bằng
ngôn ngữ của chính nó thì rõ ràng nền văn minh của Bà-la-môn
giáo và sự mở rộng nền văn minh đó trên đà gia tăng, dù
Bà-la-môn giáo đã phải đương đầu với sự cạnh tranh của
những đức tin mới đặc biệt trong đạo Phật và đạo Jain
từ thế kỷ thứ 5 tr. CN”.
Sau
khi đức Phật diệt độ chừng hơn 2 thế kỷ, những tác
phẩm văn học của Phật giáo trong thời kỳ đầu được
viết một phần bằng tiếng Phạn và một phần bằng phương
ngữ của vùng Trung Ấn, rồi sau đó đồng hoá thành Sanskrit
mà nó được mệnh danh là “Sanskrit pha trộn” (Mixed Sanskrit).
Vì nó được pha trộn bằng tiếng Prākrit chứ chưa phải
Sanskrit thuần tuý, mà có lẽ nó được tìm thấy trong việc
ứng dụng ở hai trung tâm học thuật tại đại học Nālanda
và Takkasilā (Taxila) thuộc vùng phía Bắc và Tây Bắc Ấn.
Khoảng
đầu thế kỷ thứ 2 tr. CN, Văn chương Sanskrit Phật giáo thuần
tuý bắt đầu xuất hiện mà rõ nét nhất là trong sự ly giáo
của Giáo đoàn Phật giáo. Trừ 3 Đại hội kiết tập Tam
tạng giáo điển đầu, có lẽ phải kể đến Đại hội kết
tập lần thứ 4 được tổ chức tại Kāśmīra (Kế Tân, tức
Pakistan ngày nay) chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN
dưới sự chủ trì của ngài Vasumitra (Thế Hữu) dưới sự
ủng hộ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca), mà nó không được
đề cập trong biên niên sử của Ceylon; vì Theravādins (những
người theo Thượng Toạ Bộ) đã không tham dự và không chấp
nhận Đại hội này. Tiếc rằng Luận Tạng của những trường
phái khác đã bị thất lạc, ngoại trừ những bài văn bản
hiện còn được duy trì ở Tích Lan, Trung Hoa và Tây Tạng
là những Luận Tạng của phái Theravāda (Thượng Toạ Bộ)
và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ).
Những
trường phái từ Tiểu thừa dần dần phát triển thành Mahāsaṅghikā
(Đại Chúng Bộ) và từ đây nó được đánh dấu bằng mốc
lịch sử của sự manh nha và xuất hiện của Phật giáo Đại
thừa chừng thế kỷ thứ I trước CN và thế kỷ thứ I sau
CN. Trong thời kỳ đầu vì sự phát triển mạnh của những
đoàn truyền giáo từ Ấn đến các nước lân cận khác nhau,
cho nên Sanskrit được dịch ra thành một vài thứ tiếng khác
nhau, như: Tây Tạng và Trung Hoa.
Tầm
quan trọng và giá trị chung của Saṅskrit được trình bày
qua đoạn văn như sau: “Ngôn ngữ Sanskrit này, khuynh loát cả
bất kỳ ngôn ngữ nào cổ xưa, nó có cấu trúc tuyệt vời;
hoàn hảo hơn cả Hy Lạp; hơn những bản sao chép của Latin,
và cũng đã thanh lọc tinh tế hơn; mà đang đem lại cho cả
hai của chúng một mối quan hệ mạnh mẽ hơn cả hai trong
động từ căn và những hình thức văn phạm, có lẽ đã có
thể được sản sinh ra bằng sự ngẫu nhiên; quả thật quá
mạnh đến nổi không một nhà ngữ âm học nào đã có thể
xem xét tất cả chúng mà không tin tưởng rằng chúng đã sinh
ra một số nguồn gốc chung, mà có lẽ tồn tại chẳng bao
lâu.” Tính đa dạng của nó được diễn tả như vầy:
“Saṅskrit là ngôn ngữ của khoa học, không những về văn
phạm, thi pháp hoạ, vũ trụ luận, ngữ nghĩa học, từ nguyên
luận, mà cũng không còn nghi ngờ gì về nghệ thuật thần
thông, như là thuật xem tướng và khoa nghiên cứu về quỷ
thần được ghi chép trong những văn bản của Phật giáo...”.
Thế
nhưng, sự xuất hiện của Saṅskrit Phật giáo tại Ấn Độ
chính là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử phát
triển của Phật giáo Đại thừa; vì nó đáp ứng được
nhu cầu của thời đại mới, chuyển mình và thoát xác ra
khỏi khung sườn cứng nhắc của những gì được xem như
là “khuynh hướng bảo thủ và cực đoan”. Hơn thế nữa,
Saṅskrit thuộc ngôn ngữ của giới thượng lưu, quý tộc;
trong khi đó Pali chỉ là phương ngữ phổ biến của hạng
thường dân. Giá trị của Saṅskrit được mô tả qua đoạn
văn như vầy:
“So
sánh chuẩn mức của Latin trong thời Trung đại thì vài điều
gì đó chưa thoả mãn; trong thời kỳ sớm hơn về việc sử
dụng Saṅskrit thì rõ ràng nó lại gần gũi nhiều hơn so với
phương ngữ của những tầng lớp thấp trong vô số sự đổi
thay của nó hơn là Latin ở Châu Âu trong thời Trung đại.
Sự tỉ giảo về Saṅskrit với những phương ngôn của những
mẫu tự của Aśoka (A-dục) thì đối với điều này có ý
nghĩa quan trọng; những khác nhau của chúng thì không mấy
thiết yếu ... Hơn thế nữa, những kết luận đạt được
như vậy là được hỗ trợ trực tiếp bằng chứng cứ của
drama (thuật diễn kịch, hay sự việc có kịch tính) này, trong
đó những Bà-la-môn và những vị vua, những người ở địa
vị cao và ngành giáo dục sử dụng Saṅskrit, trong khi những
cá tính thấp kém hơn sử dụng một số của Prākrit. Người
ta cố gắng để tranh luận chống lại quan điểm này bằng
cốt lõi mà drama là nguồn gốc trong Prākrit, còn Saṅskrit
chỉ được giới thiệu khi nó chính thức trở thành ngôn
ngữ chung của văn hoá”.
Văn
chương Sanskrit của Phật giáo Đại thừa thật sự đã manh
nha từ Đại hội kiết tập lần thứ 2, hình thành và
phát triển trong Đại hội 4, như sáu vấn đề đã nói trên.
Thêm vào đó, một số tác phẩm Sanskrit Phật giáo đã thật
sự xuất hiện trong thế kỷ thứ 2 tr. CN, khiến Pali trở
nên mờ nhạt và suy yếu. Diễn biến về sự thăng trầm của
lịch sử Prākrit mà nó gồm cả Pali trong đó cùng với sự
ảnh hưởng lớn của nền văn chương Sanskrit Phật giáo như
sau. Chúng ta đọc:
“Trong
thế kỷ thứ 2 tr. CN, những dấu vết về sự ảnh hưởng
của Sanskrit xuất hiện; trong thế kỷ kế đó bằng một sự
quan sát được tìm thấy mẫu tự đầu tiên mà có lẽ toàn
bộ được mệnh danh là Sanskrit, và những học thuyết Sanskrit
đang trên đà gia tăng. Trong thế kỷ thứ nhất sau CN, Prākrit
vẫn còn thịnh hành, nhưng, dù nó cũng nổi bật trong những
thế kỷ kế tiếp, chúng ta cũng tìm thấy mẫu tự Sanskrit
vĩ đại của Rudradāman mà nó biểu lộ rõ ràng sự có mặt
của nền văn chương Sanskrit kỹ xão. Trong thế kỷ kế tiếp,
Sanskrit và Prākrit hài hoà. Trong thế kỷ thứ 4, Prākrit trở
nên khan hiếm với sự phục hưng của Bà-la-môn giáo dưới
triều đại Gupta, và từ thế kỷ thứ 5 nó hầu như biến
mất ở Bắc Ấn. Một sự tiến triển song hành đã đang tiếp
tục bằng nền văn chương; trong những tác phẩm của Phật
giáo như là Lalitavistara (Kinh Đại Trang Nghiêm) và Mahāvastu
(Đại Sự), chúng ta nhận thấy rằng những kết quả của
một sự nỗ lực để chuyển hoá Prākrit vào Sanskrit, và những
kết quả tương tợ là được tìm thấy trong những lãnh vực
khác, như những luận thuyết về dược liệu trong bản thảo
của Bower. Từ điều này, giới Phật tử chẳng bao lâu đã
làm thăng hoa đến giai đoạn mà trong đó Sanskrit đã được
sử dụng một cách thích đáng, như trong Divyāvadāna (Thiên
Thí Dụ), có lẽ thuộc thế kỷ thứ 2 sau CN”.
Tuy
trong hai Đại hội kiết tập đã có một số tranh luận
về Luật và Luận rồi, nhưng nó chưa phát triển mạnh. Mãi
đến thế kỷ thứ 2 tr. CN, nền văn chương Sanskrit Phật giáo
mới bắt đầu ảnh hưởng mạnh và được phổ biến; từ
đó cho đến thế kỷ thứ 4 sau CN ngày càng phát triển và
gây ảnh hưởng rất lớn trên toàn lãnh thổ Ấn Độ và
thậm chí kéo dài cho đến thê kỷ thứ 12.
Sau
khi đức Thế Tôn diệt độ, những quan điểm mâu thuẫn về
giáo lý cũng như sự giải thích khác nhau về những giới
điều và nhiều nguyên nhân nội tại và ngoại tại khác đã
khiến cho Giáo đoàn Phật giáo chia ra thành nhiều bộ phái.
Thừa cơ hội này, ngoại đạo đã tìm cách trà trộn vào
hàng ngũ Tăng sĩ với mưu đồ gây mất uy tín và thanh danh
của Giáo đoàn, mặt khác tìm cách đồng hoá rất vi tế tín
đồ Phật giáo thành Ấn giáo.
Để
ghi chép lại những lời dạy của đức Thế Tôn, Tam tạng
Pali (P_Tipiṭaka; S_Tripiṭaka) đã được kiết tập trong ba
Đại hội đầu tiên. Từ đó, nó được truyền bá và trở
nên phổ biến khắp nơi. Tam tạng Pali là nền tảng quan trọng
để đối chiếu hoặc nghiên cứu khi bàn luận về, hoặc
so sánh với giáo điển của Phật giáo Đại thừa và cũng
đã cung cấp nhiều phương thức tu tập, thiết thực và phổ
biến nhất. Đây là để nói, sự ly giáo của Giáo đoàn
đã có mầm móng manh nha trong Đại hội kiết tập lần II,
bấy giờ hai bộ Luật bằng tiếng Saṅskrit của Mahāsaṅghika
(Đại Chúng Bộ) và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ) đã
được biên soạn rồi nhưng chưa công bố trong Đại hội
lần này.
Ngoài
ra, bộ Mahāvastu (Đại Sự) bằng tiếng Saṅskrit và Prākrit
(phương ngữ Ấn) của Lokottaravāda (Thuyết Xuất Thế Bộ),
con đẻ của Mahāsaṅghika, đã được hình thành chừng thế
kỷ thứ 2 tr. CN. Trong Đại hội III, Kathāvatthu (Những Điểm
Tranh Luận) được biên soạn bằng Pali, nhưng chỉ liên quan
đến Theravāda. Riêng Đại hội IV tổ chức tại Kāśmīra,
chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN, do Vasumitra (Thế
Hữu) chủ trì, dưới sự hỗ trợ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca),
nhưng Theravāda không tham dự và không có trong Biên niên sử
của Ceylon (Tích Lan). Có rất nhiều lý do và nguyên nhân vì
sao Theravāda không tham dự ở Đại hội lần thứ IV, mà chúng
đã xãy ra trước đó bao quát cả sự bất đồng quan điểm
và sự giải thích những giới điều khác nhau cũng như sự
xuất hiện của một số tác phẩm thuộc về văn chương Saṅskrit
của Phật giáo Đại thừa.
Tóm
lại, lịch sử văn học Saṅskrit là pháp bảo vô giá của
Phật giáo đại thừa nói riêng và thế giới nói chung. Tiếc
rằng Phạn bản đã bị thất lạc quá nhiều; do đó, Hán
tạng đã phải đóng vai trò rất quan trọng trong tập sách
nhỏ này. Nếu khi nếm một giọt nước biển mà biết được
vị mặn của đại dương, thì khi để tâm chuyên chú đọc
một phần nhỏ trong Tam Tạng Phật giáo, âu đó có lẽ cũng
giúp ta hiểu thấu được một phần pháp vị thuần giải
thoát.
Chương
II:
VĂN HỌC
SAṄSKRIT PHẬT GIÁO
TRONG TAM TẠNG
(TRIPIṬAKA)
VĂN HỌC SANSKRIT
TRONG LUẬT TẠNG
Khái
quát về Luật Tạng Saṅskrit Phật giáo:
Lịch
sử Văn học Luật Tạng Saṅskrit có lẽ được cứ vào thời
điểm ly giáo của Giáo đoàn Phật giáo. Không những về tư
tưởng văn học mà còn về quá trình phát triển Luật Tạng
của những trường phái nổi bật như Sarvāstivāda, Lokottaravāda
làm cơ sở chuyển tiếp từ Hīnayāna đến Mahāyāna xuyên
qua cửa ngỏ và nhịp cầu của Mahāsaṅghikā. Phạn bản (có
pha trộn phương ngữ Ấn_Prākrit) quan trọng nhất và hoàn
hảo nhất trong những bộ Luật của các trường phái khác
là Mahāvastu. Ngoài ra, bộ Mūlasarvāstivāda của phái Sarvāstivāda
cũng sẽ được đề cập khái quát về một vài nét chính
trong nội dung của nó.
Theo
sự thống kê mang tính ước lệ chung của các sử gia, có
đến 20 trường phái Phật giáo. Dĩ nhiên mỗi một đều có
Luật Tạng riêng để duy trì và chỉnh đốn hội chúng của
trường phái mình, nhưng chẳng may Luật Tạng về Saṅskrit
của những trường phái này phần lớn đã bị thất lạc.
Trong quá trình góp nhặt, những mảng về Prātimokṣa-Sūtra
(Giới Kinh) của Sarvāstivādins (những người theo Nhất Thiết
Hữu Bộ) cũng như những văn bản khác thuộc Luật Tạng Saṅskrit
đã được phát hiện ở Central Asia (Trung Á) và Eastern Turkestan
(Đông Thổ Nhĩ Kỳ) và một số ít ở Nepal, mà chúng ta có
thể tìm thấy trong những bản dịch của Trung Hoa và Tây Tạng.
1.
Mahāvastu (Đại Sự_the Book of the Great Events):
Quan
trọng nhất là bộ Mahāvastu của Lokottaravādins (những người
theo Xuất Thế Bộ) cũng được gọi là Caityakas, con đẻ của
Mahāsaṅghikas. Nó cho chúng ta biết về những chuyện tiền
thân của đức Phật cũng như nhiều vấn đề pha tạp khác,
đặc biệt về lịch sử của Ngài, mà nó được cân nhắc
như là chủ đề chính đã đóng góp khá nhiều đến sự phát
triển của Đại thừa sau này. Trong phần nội dung chính,
nó tương đồng với Nidānakathā trong Pali, ghi lại tiểu sử
của đức Phật, mà cuộc đời của Ngài có lẽ được phân
ra làm ba thời kỳ.
a)
Cuộc đời của một vị Bồ-tát ở vào thời đức Phật
Dīpaṅkara (Nhiên Đăng), và kể lại sự xuất hiện của Ngài
trong thời quá khứ.
b)
Giới thiệu cho chúng ta biết rằng Bồ-tát đang trú ở cung
trời Tuṣita (Đâu Suất), và xác định sự tái sanh vào thai
tạng của Hoàng Hậu Ma-gia. Nó kể lại những điều phi thường
từ khi Thái Tứ được sinh ra, sự xuất gia, sự hàng phục
ma quân và cuối cùng Ngài đã chứng ngộ tại cội Bồ đề.
c)
Giống như những đặc trưng chính trong Mahāvagga (Đại Phẩm)
của Nam Tạng, Mahāvastu liên quan đến sự chuyển hoá và những
cuộc tọa đàm đầu tiên của Giáo đoàn cũng như lịch sử
của sự hình thành cộng đồng tu viện. Đây là tại sao nó
thuộc về Luật Tạng.
Ngoài
ra, nó là một tác phẩm định rõ về văn chương nghệ thuật,
song không kém phần phức tạp; vì thiếu tính lôgic và những
dụ về chuyện tiền thân của đức Phật còn mang tính giáo
điều. Thêm vào đó, cùng một câu chuyện tiền thân, mà nó
thường lập lại đến vài ba lần, ban đầu theo thể văn
xuôi nhưng sau bằng những vần kệ; còn về ngôn ngữ của
nó thì chưa mấy thống nhất, thậm chí cả kệ tụng đã
quá lỗi thời vì ít thông dụng. Tựu trung, có thể nói
rằng toàn bộ tác phẩm này_văn xuôi cũng như bằng kệ_được
viết bằng ‘Saṅskrit pha trộn’ (Mixed Saṅskrit).
Về
phương diện giáo lý, nó duy trì nhiều truyền thống cổ và
giáo lý của đức Phật, như: tất cả các pháp thế gian là
không thật, còn tất cả các pháp xuất thế là thật,
chứ không phải đơn thuần là những giáo lý đặc thù của
riêng Lokottaravādins (những người theo Xuất Thế Bộ), như:
Catvāri-ārya-satyāni (Bốn chân lý), Aṣṭa-āryā-mārga (Bát
chánh đạo), Pratītyasamūtpada (Duyên sinh), Anitya (Vô thường)
về sự hình thành của một chúng sanh (các uẩn), không hiện
hữu của linh hồn (ātman) ...
Hơn
thế nữa, nó còn hàm tàng nhiều hương vị của Đại thừa
với những điểm nổi bật về khái niệm thân Phật, như:
Sắc thân (rūpakāya hay nirmāṇakāya), mà ngài Paramārtha (Chân
Đế) giải thích là vô hạn. Vô hạn ở đây có nghĩa là
“bất khả tư nghì” và “bất khả lượng” mà bấy
giờ đã thịnh hành giữa Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ) và
Lokottaravādins (những người theo Xuất Thế Bộ) với tư tưởng
chuyển tiếp đến Đại thừa. Bên cạnh đó, nó mô tả một
quan điểm mới bằng sự giải thích về Thập Địa mà xuyên
qua đó một vị Bồ-tát phải trải qua mới có thể chứng
được Phật quả.
Ngoài
ra những đặc trưng về Đại thừa cũng như một số đoạn
văn của nó có ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật điêu
khắc ở Gandhāra , mà nó thuộc về những thế kỷ đầu sau
Công Nguyên. Nhìn chung, tác phẩm này chuyên tải một nội
dung khá cổ, cho nên niên đại thuộc nguồn gốc của nó có
lẽ lui xa về thế kỷ thứ 2 tr. CN, mà thậm chí nó còn mở
rộng và kéo dài đến thế kỷ thứ 4 sau CN; vì có những
sự kiện được thêm vào ở những thời gian sau đó nữa.
Đến
thế kỷ thứ tư sau CN, khi trường phái Yogācāra (Du-già) xuất
hiện, Mahāvastu chỉ được xem như là sự pha trộn của giáo
lý đại thừa chứ không phải là thần thoại của đại thừa,
và từ đó Yogācāra có lẽ cũng đã có vay mượn từ Mahāvastu
này, mà tựa đề đầy đủ của nó là Mahāvastu-avadāna (Mahāvastovadāna).
Ngoài Mahā-vastu như đã đề cập, lịch sử của đức Phật
có thể được tìm thấy trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ: những
chuyện thí dụ về chư Thiên).
2.
Mūlasarvāstivādavinaya: (Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ
Tỳ-nại-gia):
Bộ
Luật Mūlasarvāstivādavinaya của Phái Nhất Thiết Hữu Bộ
bao gồm nhiều truyền thuyết của Phật giáo liên quan đến
Hội nghị ở Kashmir và Tây Bắc Ấn. Mūla-sarvāstivāda này,
theo Nalinaksha Dutt, được phát hiện ở Gilgit, có thể đối
chiếu với bản dịch của Tây Tạng , song chúng ta chỉ dựa
vào bản dịch của Trung Hoa thuộc nền văn chương Luật Tạng
của Sarvāstivāda. Nó nói rằng những bản dịch về Luật
của Sarvāstivāda và bộ Mūlasarvāstivāda dường như không
có khác nhau.
Nếu
dựa vào Thư Mục của Nanjio, thì chúng ta có thể thấy được
thư mục thuộc Văn chương kinh điển của Trung Hoa, mà Vinaya
(Luật_Tỳ-nại-gia) của Sarvāstivāda gồm có 7 Bộ:
1)
Sarvāstivāda-vinaya-mātṛkā (Tát-bà-đa-bộ Tỳ-ni Ma-đắc-lặc-già),
Saṅghavarman (Tăng-già-bạt-man) dịch năm 445 sau CN, Đại Chính
[ĐC] 23, 1441.
2)
Sarvāstivāda-vinaya-vibhāṣā (Tát-bà-đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa), chưa
rõ người dịch, phát hiện năm 350-431 sau CN, ĐC, 23, 1440.
3)
Sarvāstivāda-vinaya-saṅgraha (Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-gia
Nhiếp Tụng?), Jinamitra (Thắng Hữu) soạn, ngài Nghĩa Tịnh
dịch năm 700 sau CN.
4)
Daśādhyāya-vinaya-nidāna (Thập Tụng Tỳ-nại-gia Ni-đà-na),
ngài Vimalākṣa (Tỳ-ma-la-xoa) dịch.
5)
Daśādhyāya-vinaya-bhikṣu-prātimokṣa (Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa
Giới Bổn), ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) dịch năm 404 sau
CN, ĐC 23, 1436.
6)
Daśādhyāya-vinaya-bhikṣuṇī-prātimokṣa (Thập Tụng Tỳ-kheo-ni
Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bổn), Fayin soạn năm 420-479 sau CN,
ĐC 23, 1437.
7)
Daśādhyāya-vinaya (Thập Tụng Luật) hay Sarvāstivāda Vinaya,
Puṇyatara (Phất-nhã-đa-la) cùng với Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập)
dịch năm 404 sau CN, ĐC 23, 1435.
Trong
7 Bộ này, bộ thứ 7 được xem là quan trọng nhất.
Giống
như Mahāvastu của Lokottaravādins, Mūla-sarvāstivāda giới thiệu
nhiều tình huống liên quan đến những đời sống của đức
Phật. Mūlasarvāstivāda này bao gồm 15 chương thuộc về
Luật Tạng. Trên cơ sở của Bộ Luật Mūlasarvāstivāda
này, một số truyền thuyết trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ)
phần lớn cũng đều được vay mượn từ nó.
Chương
III:
VĂN HỌC SANSKRIT
TRONG KINH TẠNG
Khái quát về Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo:
Trong
lịch sử Văn học Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo, nhiều tác
phẩm đã có mặt từ thế kỷ thứ I tr. CN; nếu không nói
là sớm hơn. Còn những tác phẩm khác lần lượt xuất hiện
từ thế kỷ thứ I sau CN cho đến những thế kỷ kế tiếp
sau đó.
Xấp
xỉ chừng 5 thế kỷ sau khi đức Thế Tôn diệt độ, Phật
giáo Đại thừa đã bắt đầu xuất hiện và phát triển.
Song song với sự phát triển này, những tác phẩm của Đại
thừa cũng lần lượt xuất hiện, mà chúng đã đóng góp rất
lớn cho sự truyền bá chánh pháp, lợi lạc nhân thiên đúng
như những lời huấn thị và hạnh nguyện lợi sanh của đức
Thế Tôn cách đây hơn 26 thế kỷ.
Bí
tạng của Như Lai, như chúng ta đã biết, là một nền văn
chương khổng lồ và vĩ đại, bao la và rộng lớn, mà những
ai một khi đã thấy danh mục Phạn bản của Nanjio, thì chắc
hẳn không ít người ngán ngẫm và choáng ngợp, dù vẫn biết
toàn bộ Văn chương Sanskrit Phật giáo được cân nhắc như
là nhịp cầu chuyển tiếp từ Hīnayāna đến Mahāyāna nhằm
mở toang những nếp gấp vô minh trong tiềm thức của loài
hữu tình, những cửa ngõ giao thoa cho sự tiến triển tâm
linh vượt ngoài tầm vĩ mô và vi mô của khoa học ngày nay.
Để
nhấn mạnh đến tầm quan trọng về nền văn chương kinh tạng
vĩ đại này và để nêu bật lên giá trị bất biến trong
thời-không gian xuyên qua những dòng chuyển biến tâm linh siêu
thế của Như Lai đã đang và sẽ giúp cho con người giải
thoát khổ đau, nó hàm súc nhưng siêu hình thù thắng, thiết
thực nhưng mầu nhiệm huyền vi. Phật giáo đặc biệt lấy
con người làm trung tâm trên tinh thần bình đẳng và vô ngã
vị tha, nhằm thể hiện tính nhân bản và thực thi Bồ-tát
hạnh. Vậy thử nhìn lại những tác phẩm nào mà chúng nghiễm
nhiên quyết định cho những cố hương của Phật giáo Đại
thừa nói chung và nền văn chương Kinh Tạng Sanskrit Phật giáo
nói riêng.
Theo
ý kiến của nhiều học giả cho rằng Đại thừa không có
một kinh nào sở hữu của riêng nó bởi lý do đơn giản vì
Đại thừa không tiểu biểu cho một trường phái thống nhất
nào cả. Ngược dòng thời gian, quả thật có một sự giải
thích về Đại hội kiết tập kinh điển lần thứ IV được
tổ chức tại Kāśmīra, do ngài Vasumitra (Thế Hữu) chủ trì,
dưới sự ủng hộ của vua Kaniṣka vào thế kỷ thứ I sau
CN, nhưng nó vẫn còn nhiều nghi ngờ; vì không biết có kinh
điển nào được thành lập ở Đại hội này hay không, nếu
có, chúng bằng ngôn ngữ gì và thuộc về trường phái nào.
Trong
khi đó, một văn bản Trung Hoa do ngài Huyền Trang dịch liên
quan đến Bodhisattva-piṭaka (Bồ-tát Tạng) bao gồm một danh
mục dài của những bản dịch Đại thừa, một Tạng Luật
và một Tạng Luận và tương tự cũng có một lốc danh mục
với vô số kinh điển Đại thừa. Thế nhưng, qua sự cố
gắng để phân loại về kinh điển Đại thừa hiện còn bằng
Sanskrit, theo Nepál, thì chỉ còn chín kinh, mà chúng được
mệnh danh là Vaipulya-sūtras (những kinh Phương Đẳng/Quảng).
Chín
kinh này là: Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā (Tiểu Phẩm Bát
Nhã), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), Lalitavistara-sūtra
(Kinh Đại Trang Nghiêm), Laṅkāvatāra hay Saddharmalaṅkāvatāra-sūtra
(Kinh Lăng Già), Suvarṇa-prabhāsa-sūtra (Kinh Kim Quang Minh), Gaṇḍavyūhasūtra
(Kinh Hoa Nghiêm), Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata-guṇajñāna-sūtra
(Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh Thiền-định
Vương) và Daśabhūmīśvara-sūtra (Kinh Thập Địa).
Theo
dòng diễn biến của lịch sử, sau thời đại của vua Aśoka
(A-dục), một vị vua hộ pháp đắc lực và nổi tiếng nhất
của Phật giáo, Ấn Độ đã phải trải qua những triều đại
khác nhau... Về sau đáng chú ý nhất là triều đại của vua
Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca_tiền bán của thế kỷ thứ 2 tr. CN)
với một đế quốc lớn nhất Nam Á, nó trải dài từ Trung
Á đến Afghanistan và bao quát cả Tây Bắc và những lãnh địa
ở Bắc Ấn.
Ở
Trung Hoa, có thể nói rằng sớm nhất trong lịch sử Văn
học Phật giáo Trung Hoa là Kinh Tứ Thập Nhị Chương do Kāśyapa
Mātaṅga (Ca-diếp Ma-đằng) Dharmaranya (Trúc-pháp-lan), thời
Hán Minh Đế, ĐC 17_784. Một thế kỷ sau, Kinh An-ban-thủ-ý,
một của 34 tác phẩm Hīnayāna trong số 40 tập do ngài An Thế
Cao, Tỳ-kheo Parthian (thuộc nước Pa-thia xưa ở Tây Á) đến
Trung Hoa, dịch, ĐC 15_602. Sau đó có nhiều Kinh điển Saṅskrit
Đại thừa Phật giáo được biên tập sớm nhất trong thời
đại Kuṣāna (Nguyệt Thị), như Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā-sūtra
(Kinh Đạo Hành Bát Nhã), một của 14 tác phẩm trong số 27
tập, ĐC 8 _224, do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm), một Tỳ-kheo
của thời Kuṣāṇa đến Trung Hoa, dịch. Đạo Hành Bát
Nhã với Nội dung của nó đều tương đồng với bản dịch
Tiều Phẩm Bát Nhã Ba-la-mật Kinh của ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập)
vào thời Hậu Tần, ĐC 8_227. Ngoài ra, còn nhiều kinh khá phổ
biến khác như Śūraṅgamasamādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng-nghiêm
Tam-muội) do ngài Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch. Tiếc rằng
nó đã bị thất lạc, nhưng nội dung của nó có thể được
suy luận từ bản của ngài Kumārajīva, thời Tầng, ĐC 15_642;
Mahāratnakūṭasūtra (Kinh Đại Bảo Tích) Vimalakīrti-nideśa
(Kinh Duy Ma Cật), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa),
Avataṃsaka-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Bhadrapālasūtra (Kinh Ban Châu
Tam Muội), Sukhāvatīvyūha-sūtra (Kinh A Di Đà)...phần lớn chúng
có mặt từ thế kỷ thứ I tr. CN.
Nếu
dựa vào truyền thuyết, thì người ta cho rằng đức Phật
thuyết Avataṁsaka sūtra (Kinh Hoa Nghiêm) đầu tiên, song vì
nghĩa lý quá cao siêu vi diệu, cả hội chúng lúc bấy giờ
đều ngơ ngác, chỉ một số ít Bồ-tát thượng căn thượng
trí mới có thể lãnh hội; vì lý do này, sau khi quán sát lại
căn cơ của tất cả chúng sinh, Ngài bắt đầu thuyết kinh
Āgama (A-hàm) , Prajñā (Bát Nhã), Vaipulya (Phương Đẳng), Saddharmapuṇḍarīka
(Pháp Hoa) và Mahānirvāṇa (Niết-bàn).
Trong
9 kinh vừa nêu trên, phần này chỉ trình bày khái quát 7 kinh.
Ngoại trừ hai kinh: Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata-guṇajñāna-sūtra
(Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh Thiền-định
Vương) còn nhiều nghi ngờ, cho nên chưa đề cập và sẽ được
bổ khuyết sau.
Nhìn
chung, tại Ấn Độ phần lớn những kinh điển Phật giáo
Đại thừa đều xuất hiện tại vùng Nam Ấn. Sớm nhất là
Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát-nhã, hay Bát
Thiên Tụng Bát-nhã).
Kinh
Tạng Sanskrit Phật giáo:
Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā
(Tiểu Phẩm Bát Nhã):
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Bản
kinh cổ nhất và sớm nhất trong nền văn chương kinh tạng
Sanskrit Phật giáo là Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā. Kinh
này có mặt vào thế kỷ thứ I tr. CN, trong thời Kuṣāṇa,
do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch, 10 quyển, ĐC 8_224, với
đề kinh là Đạo Hành Bát Nhã Kinh, cũng là bản dịch từ
Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā, và được dịch ra tiếng
Trung Hoa vào năm 179 sau CN. Nội dung của nó cũng giống như
Tiểu Phẩm Bát-nhã Kinh, do ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập),
dịch vào năm 408 sau CN, 10 quyển, ĐC 8_227. Tuy nhiên, việc
biên soạn bản kinh này là một quá trình phức tạp; vì trải
qua nhiều giai đoạn, và thậm chí mở rộng đến cả 1.000
năm.
Nguồn
gốc của nó, theo ngài Huyền Trang, bắt đầu từ Nam Ấn hoặc
Đông Nam, sau đó được truyền đến phía Đông rồi phía
Bắc. Nó là chủ đề của một vài sự tranh luận. Ban đầu
nó có lẽ phát triển giữa Mahāsāṅghikas ở Nam Ấn, tại
nước Andhra trên sông Kistnā. Bấy giờ phái này có hai tu viện
nổi tiếng, mà tên gọi của chúng cũng là danh xưng của hai
phái: Pūrvaśailas (Đông Sơn Bộ) và Aparaśailas (Tây Sơn Trụ
Bộ). Hai phái này có ý nghĩa quan trọng vì ba lý do: a) họ
có một bản bằng Prākrit; b) nói về Dharmadhātu (Pháp giới)
trong cùng ý nghĩa như Bát Nhã Ba-la-mật; và c) việc tu tập
của họ đã thực sự chuẩn bị lát đường cho việc tu tập
Bát Nhã.
b.
Phân loại:
Tuy
đồng một loại Kinh văn Bát-nhã, nhưng có lẽ do quan điểm
và tư tưởng đặc thù của những dịch giả khác nhau, ở
những thời đại khác nhau, cho nên khi phiên dịch có những
tựa đề khác nhau. Tuy nhiên, về tư tương cốt lõi trong nội
dung của nó vẫn là một, nhưng Kinh này được mang nhiều
tên khác nhau, như sau:
- Kinh
Đạo Hành Bát-nhã do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch (10 quyển,
đời Hậu Hán, ĐC 8_224), khi được phân loại, thuộc về
cùng nhóm với Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm
Bát-nhã) do ngài Kumārajīva dịch (10 quyển, đời Hậu Tần,
ĐC 8_227). Nó được xếp vào cùng nhóm với bản Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā
do ngài Kumārajīva dịch, tương xứng với quyển thứ 4 và
thứ 5 trong Mahāprajñā-pāramitā-sūtra (Kinh Đại Bát Nhã Ba-la-mật-đa),
do ngài Huyền Trang dịch, 600 quyển, đời Đường, ĐC 5_220.
-
Kinh Quang Tán (hay Kinh Quang Tán Bát-nhã), do Dharmarakṣa (Trúc
Pháp Hộ) dịch (10 quyển, đời Tây Tấn (265-316), ĐC 8_222)
tương đương với Phóng Quang Bát-nhã Kinh, thuộc Prākrit (phương
ngữ Ấn), do Vô-la-xoa dịch (20 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 8_221),
tương đương với Đại Phẩm Bát-nhã Kinh hay (Kinh Đại Bát-nhã
Ba-la-mật-đa), do ngài Kumārajīva dịch, (207 quyển, đời Hậu
Tần, ĐC 8_223), và Pañcaviṃśati-sāhasrikā-prajñāpāramitā
(Kinh Nhị Thập Ngũ Thiên Tụng Bát-nhã Ba-la-mật) và quyển
thứ 2 trong Mahāprajñā-pāramitā (Đại Bát-nhã Ba-la-mật).
Những Kinh Bát-nhã khác thuộc hệ Saṅskrit hiện còn, là:
-
Śatasāhasrikāprajñā-pāramitā (Bách Thiên Tụng Bát-nhã), 1
quyển, ĐC 5_220.
-
Suvikrāntavikrāmiparipṛcchā (Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa)
ĐC 5_220, quyển 16.
-
Vajracchedikā (Kim-cang), ĐC 5_220, quyển thứ 9, và ĐC 8_230, 235
tới 239.
-
Adhyardhaśatikā, ĐC 5_220, quyển thứ 10, và ĐC 8_240 tới 244.
-
Prajñāpāramitāhṛdyasūtra (Tâm Kinh Bát-nhã Ba-la-mật), ĐC
5_ 249 tới 256.
Những
bản Saṅskrit vừa nêu trên đều hiện còn và được
dịch sang tiếng Tây Tạng và Trung Hoa, phần lớn những bản
dịch này đều là đa đồng tiểu dị.
c.
Khái lược về Nội dung:
Đa
số những Kinh văn Đại thừa ban đầu thường xuất hiện
trong hai hình thức: kệ tụng và thể văn xuôi; cũng vậy kinh
văn Bát-nhã không ngoài thể thức ấy. Tác phẩm này bắt
đầu bằng những vần kệ giới thiệu, trong đó sự hiện
thân trí tuệ Bát-nhã được tán dương như là “nguồn phát
sinh ra trí tuệ tối thượng, đấng mẫu từ đáng yêu của
tất cả những bậc siêu vĩ nhân. Ngài với tâm của mình
an trụ kiên cố nơi đích tối thượng”, “như đức Phật
Bà từ ái của tất cả chúng sanh”. Ngay từ chương đầu,
một biện chứng pháp chuẩn mực mà nó được thẩm định
bằng trí tuệ Bát-nhã đã nhắc nhở chúng ta đừng vấp phải
phương thức tranh luận ngụy biện của những kẻ ngoại đạo
và những triết gia ngụy biện của Hy Lạp cổ đại. Toàn
bộ bản dịch về Văn học Bát Nhã được viết theo thể
văn xuôi, trừ kệ tụng giới thiệu. Bản cổ nhất Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā
(Tiểu Phẩm Bát Nhã) có nghĩa là 8.000 dòng Bát-nhã Ba-la-mật,
được trình bày trong 32 chương. Bản này được ngài Lokakṣema
đặt tên là Đạo Hành Bát-nhã Kinh, 10 quyển, 30 Phẩm; còn
ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) đặt tên là Tiểu Phẩm Bát-nhã,
10 quyển, 29 Phẩm.
Theo
Phật pháp đại hệ, Kinh này thuộc về pháp giới không huệ
học, hay pháp tướng không huệ tông. Nó kể lại cuộc vấn
đáp giữa đức Phật với tôn giả Subhūti (Tu-bồ-đề). Trước
hết nó đề cập đến những vị Bồ-tát thành tựu được
Prajñā-pāramitā (Trí tuệ Ba-la-mật), hay sự chứng ngộ dharmalakṣāṇa
(Pháp tướng), và cùng với pháp tướng bất tương ly.
Điều này ngụ ý rằng ‘khi được nói về Bồ-tát, thì
phải thấy rằng không có một pháp nào được gọi là Bồ-tát,
và cũng không có một pháp nào được gọi là trí tuệ Ba-la-mật’.
Bởi vì vị ấy không thể nhận ra, cũng không thể hiểu,
cũng không thể thấy một pháp nào được gọi là Bồ-tát,
cũng không thấy một pháp nào được gọi là trí tuệ Ba-la-mật’.
Nếu khi được chỉ ra như thế mà tâm Bồ-tát vẫn không
kinh hãi, không dao động và không bị thối thất; nếu vị
ấy không chán nản, không dao động và không kinh hãi, thì
vị ấy mới thật sự là Bồ-tát chơn chánh, là bậc siêu
vĩ nhân, xứng đáng xiển dương Bát-nhã Ba-la-mật’. Điều
này phải được hiểu đúng bằng trí tuệ của một vị Bồ-tát,
và cũng là sự giáo hoá bằng trí tuệ Ba-la-mật. Khi chính
vị ấy xiển dương như vậy, với giáo lý như vậy, thì sự
xiển dương của vị ấy bao quát cả trí tuệ Ba-la-mật’.
Xa
hơn nữa, khi một vị Bồ-tát hay thực hành Bát-nhã Ba-la-mật
và phát triến nó, thì vị ấy không hề móng niệm tự hào
về tâm giác ngộ; bởi cái được gọi là tâm ấy thật sự
không phải là tâm, vì cội nguồn cốt lõi của tâm là sự
chói sáng của tuệ giác trong ngần. Chớ tư niệm rằng tâm
hiện hữu, hoặc một người có thể hiểu bằng trạng thái
về sự vắng bóng của tâm, hoặc tâm có mặt, hoặc tâm không
có mặt, vì tâm không có sinh cũng chẳng có diệt.... Nếu
một Bồ-tát tự nghĩ rằng ‘vô số chúng sanh được đức
Như Lai dẫn đến Niết-bàn’, thật ra ‘không có chúng sanh
nào được dẫn đến Niết-bàn, cũng không có chúng sanh nào
chứng đắc Niết-bàn’. Vì sao? Vì tất cả chỉ là hiện
tượng’.... Vậy những gì được mệnh danh đều không cố
định ở bất kỳ nơi đâu, hoặc không cố định; không phải
không cố định, cũng không phải không không cố định. Vì
sao? Vì nó không có tồn tại; đó là tại sao nó không cố
định ở bất kỳ nơi đâu, cũng không phải là không cố
định; không phải không cố định, cũng không phải là không
không cố định. Đây là sự huỷ diệt ngã chấp. Sự
huỷ diệt pháp chấp là không móng tâm, không khởi niệm đối
với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Trong
32 Chương, ngoài Chương 1 như đã vừa đề cập ở trên, nó
còn nhấn mạnh đến sự huỷ diệt ngã chấp, như đã đề
cập, trình bày về nghĩa lý của Bồ-tát và sự chứng đắc.
Chương
2 giới thiệu về Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn), làm thế nào
để an trú nơi tánh không hoặc Bát-nhã Ba-la-mật. Nó cũng
tán dương những bậc Thánh với tiêu đích chói sáng của
họ bằng sự thực nghiệm Bát-nhã Ba-la-mật cùng với tính
bất diệt siêu việt thời-không của nó.
Từ
Chương 3 đến Chương 7, nó nhấn mạnh đến sự tôn kính
Bát-nhã Ba-la-mật; vì nó là nguồn thiện pháp bất khả tư
nghì, là nguồn công đức vĩ đại hơn bất kỳ món quà tâm
linh nào khác, là sự linh nghiệm của đại thần chú vì nó
rất vĩ đại và siêu việt, và những diệu dụng khác bới
giá trị tối thượng của Bát-nhã Ba-la-mật cũng như sự
hỷ lạc cúng dường những công đức tối thượng, và cần
phải tránh những quan điểm đối lập về những vấn đề
siêu hình.
Chương
8 đề cao sự thẩm thấu trí tuệ Bát-nhã một cách rốt ráo
là vô thượng tuệ, bẻ gãy mọi ý niệm chấp thủ và chấp
thủ tưởng, vì tất cả được ví như tiếng vang, như hư
không.
Chương
9 và 10 tán dương sự chuyển pháp luân với diệu dụng của
Bát-nhã Ba-la-mật, sự mầu nhiệm và công năng hành trì Bát-nhã
Ba-la-mật của hàng Bồ-tát được chư Phật khen ngợi.
Chương
11, 12 và 13 nói đến những hành động của chúng ma, hiển
thị cõi Ta- bà, và làm thế nào Như Lai có thể biết được
cõi này và tâm của tất cả chúng sanh, hết thảy đều là
giả danh, là không thật, mà đáng chú ý là năm thuộc tính
(bất khả tư, b/k nghị, b/k lượng, b/k kế và tất cả đều
bình đẳng) của nó. Hai Chương kế tiếp nói về sự tái
sinh trong quá khứ và tương lai, những chướng ngại về nghiệp
quá khứ của hàng Bồ-tát, và công hạnh mà một Bồ-tát
làm thế nào để giáo hóa bằng trí tuệ Ba-la-mật.
Chương
16, 17 và 18 cho thấy các pháp là “như thị” cùng với những
thuộc tính, những biểu hiện và những dấu hiệu bất biến
khác nhau và nêu bật lên tánh không trong Bát-nhã Ba-la-mật.
Chương
19 đến 27 bàn về những nữ thần của sông Hằng, phương
tiện thiện xão, ma lực/nghiệp, tình pháp lữ, những vị
trí cao thượng của Bồ-tát trong chúng Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn),
sự lừa gạt của ma quân, sự trau dưỡng Bát-nhã Ba-la-mật
của hàng Bồ-tát, chỉ ra tất cả các pháp đều là ảo giác;
và cốt lõi của Bát-nhã Ba-la-mật xuyên qua sự giác ngộ
cũng như sự an trụ không tánh.
Ba
Chương tiếp theo là chuyện kể về Avakīrṇakusuma, Śadaprarudita
và con gái của thương nhân cũng như chuyện kể về Gandhavatī
và cuộc đời của Dharmodgātā. Đặc biệt là nó nêu lên
tầm quan trọng của thiền-định. Chương 31 trình bày về
vô trú xứ của Như Lai, sự cúng dường của Śadaprarudita
và sự biểu hiện về giáo pháp của Dharmodgātā; và cuối
cùng là sự phó chúc Bát-nhã Ba-la-mật đến tôn giả Ānanda.
Tóm
lại, những điểm dưới đây là sự khác biệt giữa Hīnayāna
(Tiểu thừa) và nội dung cốt lõi của Văn học Bát-nhã. Có
thể nói rằng lý tưởng, mục đích và hạnh nguyện độ
sanh của một vị Bồ-tát trong Văn học Bát-nhã hoàn toàn
đối lập với lý tưởng hay sự nghiệp của những vị Arhat
(A-la-hán) và Pratyekabuddha (Bích-chi-phật).
1.
Rải rác trong các Kinh văn, đức Phật đã nhấn mạnh rất
nhiều về vấn đề thực nghiệm, ít chuộng về lý thuyết
suông; do đó, trí tuệ Bát-nhã mà một hành giả muốn đạt
được, điều tất yếu là phải nỗ lực thực nghiệm xuyên
qua samādhi (thiền-định). Việc hành thiền-định đã được
đề cập rất nhiều trong những Kinh văn Đại thừa, nhưng
quan trọng nhất là Śuraṅgama-samādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng
Nghiêm Tam-muội), mà nó đã giúp cho những hành giả có đủ
nghị lực kiên cố, năng lực thiền-định tối thượng, để
huỷ diệt tất cả phiền não. Trên nền tảng của thiền-định
như đã được đề cập trong Śuraṅgama-samādhi, một hành
giả có thể có khả năng đạt được Dharmameghā-bhūmi (Pháp
Vân Địa), tức là Địa thứ mười trong Thập Địa của
Bồ-tát.
Văn
học Bát-nhã không những có mối liên quan mật thiết với
Śuraṅgama-samādhi-sūtra và Daśa-bhūmika-sūtra (Kinh Thập Địa),
mà còn với Akṣobhya-tathāgatasyavyūha (Kinh A Súc Phật Quốc
[đời Hậu Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch, 2 quyển, ĐC 11_313]
). A Súc Phật Quốc Kinh này cũng có thể thấy trong Phẩm thứ
12 (Phẩm Thấy Phật A Súc hoặc Nhìn Phật Bất Động) của
Vimalakīrtinideśa (Kinh Duy Ma Cật).
2.
Trí tuệ Bát-nhã của Bồ-tát đều là những bậc thượng
căn thượng trí đã và đang chứng ngộ Thập Địa. Đơn giản
vì những Bồ-tát này đều có chủng tánh của Đại thừa,
mà nó cao thâm hơn trí tuệ của những trường phái còn trong
thời kỳ ban đầu.
3.
Những vị Đại Luận Sư của Đại thừa đều có khả năng
nhận thức và biết rõ các pháp như thật xuyên qua sự quán
chiếu cả ngã và pháp, đặc biệt là sự tự ý thức với
những công hạnh mà họ đang làm.
4.
Vì thấy rõ sự sinh khởi và đoạn diệt của các pháp, từ
đây họ chủ trương rằng không có một pháp nào sinh diệt
như vậy cả; vì tất cả các pháp là bất sinh diệt, bất
tăng giảm.
5.
Vô số của những pháp riêng biệt đều được cân nhắc
cho sự hình thành thật tại tính rốt ráo. Vì sao? Vì không
có vô số các pháp như thế, vì tất cả chỉ là một; cũng
chẳng có những pháp nào riêng biệt hay đơn điệu, nhưng
những gì chúng xuất hiện chỉ là sự ước lệ hoặc chỉ
là sự cấu trúc của danh ngôn (hoặc tướng trạng).
6.
Tánh không được đề cập trong Văn học Bát-nhã là sự tối
thượng bằng tính “tuyệt đối”, mà nó đã dẫn dắt cho
chúng ta đi đến khái niệm về thuật ngữ “như thị”,
và dường như gợi nhắc cho chúng ta liên tưởng đến “thập
như thị” trong Pháp Hoa sau này.
7.
Khái niệm mới về Phương tiện thiện xão_có thể thấy trong
Kinh Pháp Hoa và Duy Ma_mà xuyên qua đó bằng sự chuyển hoá
của những giai tầng tâm linh thù thắng, mọi thao tác hoạt
dụng và những tư duy trên nền tảng Bát-nhã, thảy đều
trở nên những công cụ để phụng sự cho lòng từ phổ quát,
trí bình đẳng vô phân biệt.
8.
Khái niệm về sự cống hiến và hồi hướng hết thảy các
công đức đã dập tắt mọi tâm niệm chấp thủ về những
công đức đã đang và sẽ đạt được, thực thi tinh thần
bình đẳng, vô thủ và vô thủ tưỏng công đức, vô ngã
vị tha, đã bẻ gãy và đập nát vụn những ý thức chấp
thủ về ngã và pháp. Đặc biệt tinh thần phụng sự chúng
sanh bằng sự hồi hướng và chuyển tiếp mọi công đức
ấy nhằm giúp cho họ đầy đủ khả năng đạt được sự
giác ngộ.
9.
Khái niệm về giáo dục đánh thức trong Văn học Bát-nhã
đã giúp cho chúng ta thêm một khái niệm mới của khuynh hướng
Đại thừa. Nó giống như tiếng gọi thôi thúc của bậc làm
cha mẹ đánh thức những đứa con đang còn mê ngủ, phải
mau mau tỉnh giấc để làm cho tròn bổn nhiệm của chúng.
Nó cũng giống như ánh đèn pha, soi vào màn đêm để chúng
ta có thấy được hướng đi và tránh rơi vào những đầm
sâu, hố thẳm ... Tương tự, đức Phật cũng gọi Subhūti
(Tu-bồ-đề), hoặc gọi Sāriputra (Xá-lợi-phất) để đánh
thức dòng tâm linh đang ngủ vùi trong tiềm thức, vực dậy
hay khiến cho nó được giao cảm với thế giới thanh tịnh
của chư Phật với một đích duy nhất là dắt dẫn hàm linh
thoát khỏi vòng sinh-diệt-và-tái sinh.
10.
Tinh thần siêu việt nhị biên, không rơi vào có và không,
đoạn và thường, sinh và diệt, sinh tử và Niết-bàn, năng
chứng và sở chứng... vì tất cả đều là ảo giác, là huyễn
hóa.
11.
Thần chú trong Bát-nhã là thần chú lớn, ẩn tàng sự linh
nghiệm và mầu nhiệm, siêu phóng và vi diệu, có đủ công
năng giúp cho hành giả vượt qua mọi khổ ách, đến bờ giải
thoát an lạc. Thần chú này đều được chư Phật hộ niệm;
vì chư Phật ba đời ở trong mười phương đều dụng thần
chú này mà có được công năng bất khả tư nghì.
Tóm
lại, toàn bộ Văn học Bát-nhã có thể tóm lược trong hai
vấn đề cũng hàm tàng đủ nghĩa lý của nó. Đó là nó nhắc
chúng ta rằng một người phải trở thành một vị Bồ-tát
chơn chánh nhưng không nên hài lòng hay mãn nguyện về tất
cả trí tuệ đã đạt được; vì trí tuệ là phương tiện
thiện xão để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Và nó
nhắc rằng không có một pháp nào, cũng không có một Bồ-tát
như thế, trí tuệ như thế hoặc sự chứng ngộ như thế,
nghĩa là trong tâm tưởng không một ý niệm gì về Bồ-tát
hay những trí tuệ đã chứng đắc, thậm chí cũng không có
một Bồ-tát chứng đắc như thế. Vì với văn học Bát-nhã
xuyên qua nội dung cốt lõi của nó là tất cả các pháp đều
là không, song nó thể hiện sự linh hoạt và diệu dụng của
“chơn không diệu hữu”, của “tánh không”.
Về
sau Văn học Bát-nhã cũng đã được những vị Đại Luận
Sư của Phật giáo Đại thừa như: Aśvaghoṣa (Mã Minh) Nāgārjuna
(Long Thọ), Asaṅga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân)
diễn dịch và xiển dương đến tột đỉnh của nó bằng
những lời bình của mình. Chẳng may những bộ luận này,
khi được truyền đến chúng ta chỉ là những bản dịch của
Trung Hoa và Tây Tạng. Nổi tiếng nhất trong số này là Mahāprajñāpāramitopadeśa
śāstra (Luận Đại Trí Độ) của ngài Nagārjuna (Long Thọ).
*
*
*
Chương IV:
Saddharmapuṇḍarīka-sūtra
(Kinh Pháp Hoa)
a.
Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:
Kinh
văn thuộc hệ Saṅskrit quan trọng nhất và được xem như
tác phẩm văn chương có giá trị nhất của Phật giáo là
Saddharmapuṇḍarīka sūtra. Niên đại xuất hiện của nó chừng
khoảng thế kỷ thứ I sau CN, tức thời kỳ Phật giáo Đại
thừa đã phát triển mạnh tại các nước ở Châu Á. Tuy nhiên,
trong thời gian này Kinh văn Pháp Hoa vẫn chưa hoàn toàn đầy
đủ, mà chừng khoảng bốn hoặc năm thế kỷ sau đó nó phải
được bổ sung thêm vào. Phổ biến nhất là bản kinh của
ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập); vì nó đã được bổ sung
thêm một chương và những kệ tụng trong những phẩm khác
liên quan đến Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) và Avalokiteśvara
(Quán-thế-âm) cũng như một nửa Phẩm Auṣadhasyarāja Bodhisattva
(Dược Vương Bồ-tát) khi so với sự khiếm khuyết từ bản
dịch ban đầu của ngài.
Saddharmapuṇḍarīka-sūtra,
theo Maurice Winternitz, được phiên dịch đầu tiên sang tiếng
Trung Hoa vào năm 223; vì nó cũng đã được ngài Nāgārjuna
trích dẫn, tiếc rằng bản dịch này cũng đã bị thất lạc.
Bản hiện còn do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch sang tiếng
Trung Hoa vào năm 286, với nhan đề là Chánh Pháp Hoa Kinh, 27
chương, 10 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 9_263. Có một bản dịch
khác gọi là Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh, 1 quyển, ĐC
9_265, nhưng không rõ dịch giả, đã đề cập đến những
Phẩm “Devadatta” (Đề-bà-đạt-đa) và “Hiện Bảo Tháp”,
mà nó được hoàn tất trong khoảng thời gian của ngài Dharmarakṣa
(Trúc Pháp Hộ). Vẫn biết, bản dịch của ngài Dharmarakṣa
gồm 27 chương là tương đối hoàn chỉnh, song ở vào một
niên đại sớm hơn, nhiều mảng của những chương này dường
như đã được lưu hành có tính độc lập. Chẳng hạn, Phẩm
Upāyakauśalya (Phương Tiện) đã xuất hiện trước thế kỷ
thứ 2 sau CN; vì những sự mô tả sinh động về hình tượng
của đức Phật được đề cập trong chương này, niên đại
của nó có lẽ không sớm hơn hạ bán thế kỷ thứ I sau CN.
Lại
nữa, bản tương đối hoàn chỉnh do ngài Kumārajīva dịch
vào năm 405 hoặc 406, được gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh,
7 quyển, đời Diêu Tần, ĐC 9_262. Tuy nhiên, bản dịch này
không có những Phẩm đề cập đến “Devadatta” và những
bài kệ của Phẩm Avalokiteśvara cũng như một nửa của Phẩm
Auṣadhasyarāja Bodhisattva (Dược Vương Bồ-tát). May thay, ngài
Pháp Hiền đã phát hiện được một mảng Saṅskrit liên quan
đến Phẩm Devadatta ở Turfan vào năm 490, sau đó nó được
dịch ra Hoa ngữ. Thế nhưng trên thực tế, bản này ngài Pháp
Vân không sử dụng trong lời bình của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký,
8 quyển, đời Lương, Pháp Vân soạn, ĐC 33_1715, và Pháp Hoa
Nghĩa Sớ, Shōtoku Taishi (574-622), 4 quyển, ĐC 56_2187. Điều
này cho thấy Phẩm Devadatta chỉ được thêm vào trong Kinh Pháp
Hoa sau thời của họ. Ngài Trí Khải (538_597) bình luận về
Phẩm Devadatta trong Pháp Hoa Văn Cú (hay Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh Văn Cú), 20 quyển, đời Tuỳ, ĐC 34_1718, 114c) của
mình, mà trước đây nó không có trong bản dịch của ngài
Kumārajīva.
Năm
601, những phần khiếm khuyết trong bản dịch của Kumārajīva
(Cưu-ma-la-thập) đã được Jñānagupta (Xà-na-quật-đa_523-600)
cùng với những dịch giả khác bổ sung và thêm vào sau này
thành một bản hoàn hảo với nhan đề là Thiêm Phẩm Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, Jñānagupta và Kumāragupta dịch, 7 quyển,
đời Tuỳ, ĐC 9_264. Do đó, có sự khác nhau giữa bản dịch
của Kumārajīva với Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) và Kumāragupta
(Khố-mã-lạp-cấp-đa); còn mảng Kinh được tìm thấy ở
Đông Thổ Nhĩ Kỳ (Earstern Turketan) cũng có phần hơi khác
với bản dịch của Nepalese (người Nepál).
Ngoài
ra, còn nhiều bản dịch thuật, trước tác, biên soạn và
chú giải khác, như: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa, 20
quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết, ĐC 33_1716 và Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh Văn Cú, 20 quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết,
ĐC 34_1718. Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Sám, 20 quyển, đời Đường,
Trạm Nhiên thuật, ĐC 33_1717. Pháp Hoa Huyền Luận, 10 quyển,
đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1720; Pháp Hoa Nghĩa Sớ, 12
quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1721; và Pháp Hoa Du
Ý, 1 quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng tạo, ĐC 34_1722. Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh Huyền Tán, 20 quyển, đời Đường, Khuy Cơ soạn,
ĐC 34_1723. Pháp Hoa Huyền Tán Nghĩa Quyết, 1 quyển, đời Đường,
Tuệ Chiếu soạn, ĐC 34_1724. Và Pháp Hoa Tông Yếu, 1 quyển,
Tân La, Nguyên Hiểu soạn, ĐC 34_1725.
Một
bản dịch của Tây Tạng hoàn toàn về Saddharma-puṇḍarīka
sūtra hiện còn, và bản thảo Saṅskrit của nó đã được
tìm thấy trong những vùng khác nhau của Châu Á. Đặc biệt
quan trọng là bản thảo Saṅskrit ở Nepal, Gilgit ở Bắc Ấn,
cũng như ở Kashgar và Khādalik ở Trung Á. Từ khi bản thảo
Saṅskrit của Nepal được H. Kern và B. Nanjio cho xuất bản,
kế tiếp đó, những bản khác về kinh này cũng lần lượt
được xuất bản. Những bản dịch Anh Ngữ và Nhật Bản
cũng đã xuất hiện.
b.
Khái lược về Nội dung:
Toàn
bộ Saddharmapuṇḍarīka-sūtra này được viết bằng văn hệ
Saṅskrit và Prākrit theo thể văn xuôi và kệ tụng, song nó
vẫn tiêu biểu cho một sự phát triển cao về lãnh vực văn
chương của Phật giáo Đại thừa. Nó vốn hàm súc những
tư tưởng độc đáo, nghĩa lý thâm áo lại mầu nhiệm mà
đã được kết tinh bằng những chất liệu từ bi và trí
tuệ của đức Như Lai suốt 45 năm thuyết pháp; đó là từ
lúc Giáo đoàn Phật giáo được hình thành cho đến khi Ngài
nhập Niết-bàn. Dĩ nhiên, trong suốt thời sinh tiền của Như
Lai, nếu cứ vào sự dòng tư tưởng chuyển biến và phát
triển, hệ thống và lôgic, thì có vẻ đường đột; vì suốt
quãng thời gian chừng năm thế kỷ sau khi đức Thế Tôn diệt
độ, rất nhiều kinh điển Đại thừa khác xuất hiện với
những giai tầng tư tưởng khác nhau.
Đối
với Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), bất luận tầng
lớp nào trong xã hội, một khi đã tiếp cận và kiên nhẫn
trì tụng, nó cũng đều ban cho họ những món quà vô giá,
những thức ăn đầy nhựa sống cho tinh thần, có lẽ vì thế
mà nó được phổ biến khắp nơi trên thế giới, không luận
là những nước có truyền thống Phật giáo Hīnayāna (Tiểu
thừa) hay Mahāyāna (Đại thừa). Nó làm sống lại những tâm
hồn đau khổ và sầu muộn, tưới mát lại những dòng chảy
tâm linh khô héo đã ngủ vùi từ bấy lâu nay trong thế giới
huyễn ảo và giả tạm, và đánh thức lại nguồn tâm hay
Phật tánh mà con người hững hờ quên lãng, đó là “khai,
thị, ngộ, nhập Phật chi tri kiến”. Những phương tiện
vô cùng thiện xão, như: “khai tích, hiển bổn”, “khai quyền,
hiển thật”, “khai cận, hiển viễn” và “khai tam, hiển
nhất” đã nhấn mạnh một cách triệt để rằng chỉ có
một Phật thừa duy nhất mà hoàn toàn không có thừa thứ
hai hay thứ ba nào khác, cốt để nêu bật lên tư tưởng thù
thắng: “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, với
mục đích giúp cho chúng sanh thể nhập Phật tánh thanh tịnh
nhằm xiển dương tinh thần “tuỳ duyên bất biến”, “bất
biến tuỳ duyên” trong thế giới hiện sinh này.
Đặc
biệt, giáo lý Ekayāna (Nhất thừa) của Kinh Pháp Hoa này đã
hình thành một hệ thống giáo lý uyên bác và bình đằng,
thâm áo và uyển chuyển, với một mục đích duy nhất là
phá tan mọi quan niệm cố chấp cứng nhắc về quả vị chứng
ngộ của hàng Nhị thừa (Śrāvakayāna_Thanh-văn, Pratyekabuddhayāna_Bích-chi-phật)
còn hạn cuộc trong Tứ Thánh quả cũng như hàng Bodhisattvayāna
(Bồ-tát thừa).
Những
đoạn văn xuôi ngắn bằng Saṅskrit và những kệ tụng bằng
Saṅskrit pha trộn của bản kinh này, theo Nariman, không thể
xuất hiện cùng thời; vì những đoạn văn xuôi cũng như những
kệ tụng của văn kinh này thường được nói về một sự
biên soạn kỹ xão có vận luật. Hơn nữa, nguồn gốc của
văn kinh chỉ là những đoạn văn ngắn gọn được giải thích
bằng phương thức giới thiệu và nối liền giữa những vần
kệ. Thế nhưng, những đoạn văn xuôi ngắn gọn này lại
được mở rộng như là phương ngữ của những vần kệ và
dần dần trở nên thuần tuý hoàn toàn.
Ngoài
những thể loại văn xuôi ở đầu của mỗi phẩm và phần
lớn được kết thúc bằng thể loại kể tụng ở cuối phẩm,
nó còn chỉ cho thấy một kỷ nguyên thịnh hành cao độ về
nghệ thuật thiết kế và kiến lập những bảo tháp uy nghiêm
và vĩ đại của Phật giáo thời bấy giờ. Những Thánh tích
của đức Phật được tôn trí bên trong của vô số tu viện
Phật giáo với những quy mô lớn và đặc thù, với những
tôn tượng đức Phật bằng đá quý, những hình tượng của
đức Phật được chạm khắc lên những loại gỗ quý và
kim loại đặc biệt cũng như những tranh tượng được chạm
khắc trên tường vô cùng sống động.
Saddharmapuṇḍarīka
sūtra với 28 Phẩm của nó có lẽ được chia ra thành hai phần
chính. Cả 14 Phẩm đầu của Kinh đề cập đến những phương
tiện thiện xão, còn được gọi là “Tích Môn”; còn 14
Phẩm sau xiển dương triệt để giáo lý nền tảng, cũng được
gọi là “Bản Môn”. Vậy Tích Môn và Bản Môn là hình
ảnh thu nhỏ của toàn bộ 28 Phẩm của Kinh Pháp Hoa.
Phẩm
Tựa giới thiệu tổng quan toàn bộ kinh này. Nó mô tả cảnh
đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong núi Kỳ-xà-quật
cùng với 2.000 Tỳ-kheo, 2.000 vị Hữu học và Vô học,
6.000 Tỳ-kheo-ni cùng với quyến thuộc, 80.000 Bồ-tát,
Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với 20.000 Thiên tử quyến thuộc,
Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà...và có cả vua A-xà-thế cùng
với vô số quần thần đều đến tập hội. Mỗi vị trong
số chúng ấy đến lễ nơi chân Phật, rồi lui ngồi một
bên. Lúc giữa tứ chúng vây quanh cung kính cúng dường tán
thán, đức Thế Tôn vì chư Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa
Vô lượng nghĩa, thuyết xong, Ngài ngồi kiết già an nhiên,
nhập vào vô lượng nghĩa xứ tam-muội, thân tâm bất động.
Bấy giờ chư Thiên, rải hoa trời cúng dường, tán thán, lục
chủng chấn động. Hết thảy hội chúng đều rất hoan
hỷ, thấy điềm lành chưa từng có, bèn chắp tay nhất tâm
chiêm ngưỡng đức Phật. Lúc ấy đức Thế Tôn phóng ánh
sáng từ tướng chân mày trắng, chiếu soi tới 8.000 cõi về
phương đông, trên thấu tận trời Hữu Đảnh, dưới tới
tận ngục A-tỳ. Trong ánh sáng đó hiện đủ cảnh giới khác
nhau. Đại diện chúng đương cơ, ngài Di-lặc, tiêu biểu cho
lòng từ, hỏi ngài Văn-thù_tiêu biểu cho trí tuệ_vì nhân
duyên gì điềm lành ấy xuất hiện; người sau đáp rằng
đó là vì đức Thế Tôn muốn thuyết kinh Đại thừa vô lượng
nghĩa và muốn khiến cho đại chúng được nghe pháp cao sâu
và rất khó tin của thế gian. Ngài tuỳ cơ thuyết pháp, như:
nói pháp Tứ đế cho người cầu Thanh-văn; pháp Thập nhị
nhân duyên, Duyên-giác; Lục độ Ba-la-mật, Bồ-tát. Với một
mục đích duy nhất là mong muốn cho tất cả họ phát tâm
cầu đạo và chứng đắc được quả Vô thượng Bồ-đề,
thành nhất thiết chủng trí.
Kế
đó ngài Văn-thù kể lại chuyện xảy ra trong quá khứ: cũng
có đức Phật phóng quang, thuyết kinh đại thừa vô lượng
nghĩa cho vô số Bồ-tát, mà trong số ấy có Bồ-tát Diệu
Quang cùng 800 vị đệ tử nghe Phật thuyết pháp trải qua 60
tiểu kiếp mà vẫn an toạ một chỗ, thân tâm an lạc, không
biết mệt mỏi; đặc biệt có Bồ-tát Đức Tạng được
Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật hiệu là Dīpaṇkara (Nhiên
Đăng). Trái lại, cũng có Bồ-tát tên là Cầu Danh, tham trước
lợi dưỡng, tuy có đọc tụng kinh điển nhưng không nhớ
nghĩa lý; sau nhờ hành thiện nghiệp, tu tập đầy đủ lục
độ Ba-la-mật, thấy được chư Phật, hết lòng cung kính
cúng dường chư Phật; nhờ tích tập vô lượng công đức,
cho nên sẽ được thành Phật hiệu Maitreya (Di-lặc), rộng
độ và cứu giúp vô số chúng sanh.
Phẩm
Phương Tiện thứ 2 là phần Chánh Tông. Nó nhấn mạnh đến
sự vận dụng phương tiện thiện xão để khai thị cho chúng
sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Nó mô tả lại đức Phật từ
tam-muội khởi, rồi bảo tôn giả Xá-lợi-phất rằng ‘trí
tuệ của chư Phật sâu xa vô lượng, rất khó giải khó nhập
đến nổi tất cả hàng Thanh-văn và Bích-chi-Phật không thể
hiểu thấu. Vì từ khi thành Phật cho đến nay, Ngài đã dùng
vô số nhân duyên, vô số thí dụ, rộng diễn giáo hoá, dùng
vô số phương tiện để dắt dẫn chúng sanh, khiến họ lìa
khổ được an lạc. Hơn nữa, Như Lai khi vận dụng phương
tiện, đều đã thấy biết rõ các pháp như thật và đầy
đủ Ba-la-mật rồi; tri kiến sâu xa rộng lớn của Như Lai
đầy đủ Thập lực, Tứ vô sở uý, thiền-định giải thoát
tam-muội vô lượng vô ngại, thâm nhập không bờ mé, thành
tựu tất cả pháp xưa nay chưa từng có. Như Lai có khả năng
phân biệt các pháp khéo léo, thuyết các pháp bằng những
ngôn từ nhu nhuyến khiến tâm của chúng sanh vui thích’.
Khi
Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng thỉnh Phật giải nghi, Ngài
dạy:
“Này
Xá-lợi-phất, vô số ngôn từ bí yếu, vô lượng vô biên
pháp xưa nay chưa từng có, chư Phật thảy đều thành tựu.
Thôi! Xá-lợi-phất, không nên nói nữa. Vì sao? Vì Phật đã
thành tựu pháp đệ nhất rất khó giải, xưa nay chưa từng
có. Duy chỉ có Phật cùng với Phật mới có đủ khả năng
thẩm thấu cùng tột thật tướng của các pháp. Đó là: như
thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như
thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như
thị báo, như thị bản mạt cứu cánh bình đẳng”.
Điều
này cho thấy “chư pháp thật tướng” chính là nội dung
cốt lõi của phần Tích môn trong kinh Pháp hoa.
Pháp
mà Phật chứng đắc rất sâu xa khó giải, ý hướng ngôn
thuyết rất khó biết, đến nổi tất cả Thanh-văn và Bích-chi-Phật
không thể hiểu thấu... Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng
ba lần cầu thỉnh đức Phật giải bày. Đức Phật cũng ba
lần dạy rằng “Thôi thôi Xá-lợi-phất, chớ nên nói nữa!
Dẫu có nói chăng nữa thì tất cả thế gian chư Thiên và
loài người càng thêm nghi ngờ kinh sợ”. Khi nghe nói lời
như thế, trong hội chúng có 5.000 Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc
và Ưu-bà-di, v.v... rời chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật rồi
lui ra. Khi quán xét thấy hội chúng thanh tịnh, Ngài bảo: “Xá-lợi-phất,
những kẻ tăng thượng mạn như thế, lui ra cũng tốt!”.
Rồi căn dặn Xá-lợi-phất khéo lắng lòng nghe kỹ rằng vì
giáo pháp cao sâu vi diệu, cho nên chư Phật Như Lai lúc đúng
thời mới nói; cũng như hoa Udumbara (Ưu-đàm-bát) đúng thời
mới xuất hiện mà thôi.
Ngài
lại cân nhắc và khuyên tứ chúng muốn phát tâm cầu đạo
vô thượng Bồ-đề phải hết lòng giữ tín tâm cho kiên cố
mới có thể hiểu nổi giáo nghĩa thâm áo vi diệu của chư
Phật. Ngài dạy:
“Ta
dùng vô số phương tiện, vố số nhân duyên thí dụ ngôn
từ để diễn thuyết các pháp. Pháp ấy chẳng phải tư lường
phân biệt mà có thể hiểu được, mà chỉ có chư Phật cùng
với Phật mới có khả năng thẩm thấu. Vì sao? Vì chư Phật
Thế Tôn, chỉ vì một nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện
ở đời... Đó là vì muốn chỉ bày tri kiến Phật cho chúng
sanh, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến cho chúng sanh
ngộ được tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời; muốn
khiến cho chúng sanh thể nhập vào tri kiến Phật, cho nên xuất
hiện ở đời. Xá-lợi-phất, đó là chư Phật chỉ vì một
nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện ở đời”.
Xa
hơn nữa, đức Phật bảo Sāriputra (Xá-lợi-phất) rằng chư
Như Lai luôn giáo hoá Bồ-tát: chỉ dùng tri kiến Phật để
chỉ bày cho chúng sanh chứng ngộ. Như Lai chỉ dùng Eka-buddha-yāna
(nhất Phật thừa) mà vì chúng sanh thuyết pháp, chứ không
có thừa thứ hai hoặc thừa thứ ba nào khác cả; vì hết
thảy pháp của chư Phật trong mười phương cũng như vậy.
Ngài lại dạy Xá-lợi-phất rằng mười phương chư Phật
trong quá khứ hiện tại và vị lai đã đang và sẽ dùng vô
lượng vô số phương tiện, vô số nhân duyên, thí dụ, ngôn
từ mà vì chúng sanh diễn thuyết các pháp; pháp ấy chính
là nhất Phật thừa. Các chúng sanh theo chư Phật nghe pháp,
rốt ráo đều đắc được Nhất thế chủng trí. Ngài bảo:
“Ta
nay cũng như vậy, biết các chúng sanh có tâm tham đắm dục
vọng sâu xa, nuông chìu theo bản tánh của mình, cho nên phải
dùng vô số nhân duyên thí dụ ngôn từ, phương tiện lực
mà vì họ thuyết pháp. Xá-lợi-phất, như hội chúng này đều
đắc được nhất Phật thừa, nhất thiết chủng trí. Xá-lợi-phất,
mười phương trong thế giới hai thừa mà còn không có huống
gì là có ba! Xá-lợi-phất, chư Phật xuất hiện ở đời
ác năm trược, đó là: kiếp trược, phiền não trược, chúng
sanh trược, kiến trược và mạng trược. Như vậy, Xá-lợi-phất,
thời kiếp trược loạn lạc, chúng sanh cấu nhiễm nặng nề;
vì xan tham tật đố tạo nên những căn bất thiện. Chư Phật
nơi nhất Phật thừa dùng phương tiện lực nói có ba. Xá-lợi-phất,
nếu đệ tử của Ta, tự xưng là A-la-hán hay Bích-chi-phật
mà không nghe không biết việc chư Phật Như Lai chỉ giáo hoá
Bồ-tát, thì những người ấy chẳng phải là đệ tử của
Phật,
chẳng phải là A-la-hán, chẳng phải là Bích-chi-phật. Lại
nữa, này Xá-lợi-phất, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tự xưng
đã đắc A-la-hán rồi, là thân cuối cùng, rốt rào vào Niết-bàn,
mà không cần cầu quả vô thượng Bồ-đề, nên biết những
hạng này đều là những kẻ tăng thượng mạn”.
Đây
nhấn mạnh đến “nhất Phật thừa” là cái đích duy nhất
của phương tiện, chứ không có thừa thứ hai hoặc thừa
thứ ba nào khác.
Phẩm
Thí Dụ 3 kể lại việc đức Phật thuyết kinh Đại thừa
vô lượng nghĩa và nhắc lại bổn nguyện hành đạo mà Xá-lợi-phất
và hội chúng đã được nghe trước đó nhưng vì họ quên
mất, nay nhớ lại và tự biết rõ họ là đệ tử của Phật.
Đây là đức Phật giáo hoá cho hàng Trung căn. Kế đó Phật
thọ ký cho Xá-lợi-phất sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang
Như Lai. Đối với hạng căn cơ thấp, Ngài lại đưa ra ví
dụ “ngôi nhà lửa” để chỉ bày cho họ.
Chuyện
kể về một Đại Trưởng giả vô cùng giàu có ở một nước
nọ, tuổi đã già, tiền tài của cải nhiều vô lượng, đất
đai, nhà cửa, ruộng vườn, tôi tớ, lại đông con. Nhà tuy
rộng lớn nhưng chỉ có một cửa ra vào rất hẹp, trong đó
có nhiều người cùng sống chung. Song nó đã quá cũ, tường
vách lung lay, cột kèo ruỗng mục, mái và những đòn tay nghiêng
vẹo. Ngày nọ, đột nhiên nó bốc lửa, cháy lan tứ bề;
thấy vậy Trưởng giả vội nghĩ, ta có thể ra khỏi nhà này
an toàn, nhưng còn những đứa trẻ thì đang hăng say đùa giỡn
chẳng hay biết gì lửa đang cháy. Thế rồi, ông gọi chúng
hãy nhanh chóng ra khỏi nhà lửa, nhưng vì quá ham chơi, cho
nên chúng không nghe. Thoáng suy nghĩ tìm phương kế, ông liền
bảo chúng rằng ngoài ngã tư đường có ba loại xe trang hoàng
những đồ quí giá rất đẹp và hiếm thấy, như là: xe dê,
xe nai và xe trâu. Nghe thế chúng chạy ùa ra khỏi ngôi nhà
ấy và hỏi cha của chúng xe để đâu; sau một lát phân bua
với chúng, ông ta cho chúng một chiếc xe trâu trắng. Đây
gọi là dụ “tam xa, hoả trạch”. Tam xa chỉ cho Tam thừa:
Śrāvaka (Thanh-văn), Pratyekabuddha (Duyên-giác hoặc Bích-chi-phật)
và Bodhisattva (Bồ-tát); còn hoả trạch chỉ cho ba cõi bất
an; và trâu trắng chỉ cho Đại thừa thuần tuý. Dụ về ngôi
nhà lửa nhằm gợi lên đức tin cho hàng trung căn.
Phẩm
Tín Giải thứ 4 dụ về “trưởng giả và người cùng tử”
để nhân cách hoá đức tin. Nó nói về sự thất lạc giữa
cha và con, ngụ ý trỏ sự lãng quên tâm Đại thừa trong khoảng
thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng trở về trước.
Phẩm
Dược Thảo Dụ thứ 5 nhấn mạnh đến pháp bình đẳng vô
phân biệt, tức là pháp nhất tướng nhất vị bình đẳng
mà đức Thế Tôn vận dụng để giáo hoá, có công năng đem
lại lợi ích và an lạc cho tất cả chúng sanh; ví như trận
mưa lớn không phân biệt, mọi thảo mộc đều được thấm
nhuần.
Trong
Phẩm Thọ Ký thứ 6, đức Phật thọ ký cho bốn vị Thanh-văn,
đó là: ngài Đại Ca-diếp thành Phật hiệu là Quang Minh Như
Lai; Tu-bồ-đề, Danh Tướng Như Lai; Ca-chiên-diên, Kim Quang
Như Lai; và Mục-kiền-liên, Chiên-đàn Hương Như Lai. Điều
đáng lưu ý rằng thông thường đức Phật chỉ thọ ký cho
hàng Bồ-tát, nhưng ở Kinh này bốn vị Thanh-văn cũng đã
được thọ ký; đây là điểm đặc thù của kinh Pháp Hoa.
Phẩm
Hoá Thành Dụ thứ 7 kể lại sự xuất hiện của đức Phật
Đại Thông Trí Thắng trong quá khứ mà Ngài đã diệt độ
cách đây vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ
kiếp nhưng tri kiến của Ngài hoàn toàn không khác với tri
kiến của chư Phật đương thời; rồi mô tả lại thời hiện
tại sự thành đạo của đức Đại Thông Trí Thắng, Ngài
dạy rằng “Ta dùng năng lực tri kiến của Như Lai để quán
xem năng lực tri kiến lâu xa của đức Phật kia thì cũng (giống)
như ngày nay”. Đức Phật ấy lúc chưa xuất gia có 16
vương tử. 16 vị này khi nghe vua cha xuất gia và thành đạo
Vô thượng Bồ-đề, tất cả họ cũng như Thích-đề-hoàn-nhơn
cùng với trăm ngàn đại thần và trăm ngàn vạn ức Phạm
thiên đều đến chỗ Phật Đại Thông Trí Thắng đảnh lễ
cúng dường và thỉnh Phật thuyết pháp. Sau khi quán căn cơ
của họ, Ngài đã giảng rộng nghĩa về pháp Tứ đế và
Thập nhị Nhân duyên theo Tam chuyển thập nhị hành pháp luân.
Nhưng khi 16 vị này xin xuất gia làm Sa-di, đức Phật ấy sau
khi xét thấy căn tánh của họ thông lợi, lại tinh tấn tu
hành, nghiêm trì tịnh giới, bèn thuyết Kinh Pháp hoa và giáo
Bồ-tát pháp Phật sở hộ niệm, xong Ngài vào thất nhập
định.
Còn
16 vị này, sau khi được nghe giảng, đã thọ trì và lãnh
hội được nghĩa lý cao sâu và nhận biết rõ được bản
hoài của chư Phật. Khi biết đức Phật đã nhập định,
họ thăng toà giảng kinh này trải qua 84.000 kiếp, độ vô
số chúng sanh và giúp họ phát tâm cầu đạo Vô thượng.
Xuất định sau 84.000 kiếp, đức Phật ấy đã tán thán 16
vị Sa-di Bồ-tát trước hội chúng và khuyến họ cúng dường
cũng như nói rõ về sự chứng quả Vô thượng Bồ-đề của
16 vị ấy tính đến nay đã lâu xa. Mỗi một của 16 vị này
đều thành Phật, vị đầu tiên thành Phật hiệu là A-sơ
cho đến vị thứ 16, Thích-ca Mâu-ni hiện trị vì cõi Ta-bà
này. Đức Phật lại dạy:
“Khi
chư Phật còn là Sa-di, mỗi người đều giáo hoá vô lượng
trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chúng sanh. (Họ) theo Ta nghe pháp,
sẽ được quả Vô thượng Bồ-đề, nhưng chúng sanh này đến
nay vẫn còn ở trong hàng Thanh-văn. Ta thường giáo hoá họ
chứng Vô thượng Bồ-đề. Những người này phải hành đúng
theo chánh pháp, dần dần mới có thể nhập vào đạo. Vì
sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, mà bấy giờ
vô lượng hằng hà sa chúng sanh được giáo hoá. Các ông,
những Tỳ-kheo, sau khi Ta diệt độ, trong đời vị lai là những
đệ tử Thanh-văn...; lại có đệ tử không được nghe kinh
này, không biết không hiểu Bồ-tát hạnh, tự mãn với công
đức đã đạt được, sinh ý tưởng diệt độ, sẽ nhập
Niết-bàn. Ta hành Phật sự ở nước khác, có tên khác, có
người tuy sanh ý tưởng diệt độ, nhập vào Niết-bàn mà
ở cõi kia, cầu trí tuệ Phật, được nghe kinh này, thời
chỉ dụng Phật thừa mà được diệt độ, chứ không có
thừa nào khác; trừ các đức Như Lai phương tiện thuyết
pháp. Này các Tỳ-kheo, nếu Như Lai tự biết đến thời nhập
Niết-bàn, liền triệu tập chúng Bồ-tát và Thanh-văn vì họ
thuyết Kinh này. Thế gian không hề có hai thừa mà được
diệt độ, chỉ có nhất Phật thừa mới được diệt độ
mà thôi”.
Sau
cùng, Ngài minh hoạ bằng “Hoá Thành Dụ”. Có bậc Đạo
sư thông tuệ, biết chỗ có kho báu; chúng sanh muốn đến
chỗ lấy châu báu phải đi qua con đường hiểm. Giữa đường
gặp nhiều chướng ngại và nguy hiểm họ bèn thối tâm trở
lui; thấy họ đáng thương, vị Đạo sư ấy biến hoá ra một
cái thành để cho họ tạm an nghỉ và khích lệ họ đừng
thối tâm. Sau khi thấy họ được an ổn, liền diệt hoá thành
ấy. Đạo sư dụ cho đức Phật; châu báu, quả Phật; hoá
thành, phương tiện dắt dẫn Tam thừa; mục đích là để
dắt họ vào trí tuệ Phật. Nói chung, Tam thừa là phương
tiện, chỉ có nhất Phật thừa là chơn thật mà thôi.
Cũng
như Phẩm Hoá Thành Dụ thứ 7, cả Phẩm thứ 8 và 9 đều
nói về việc đức Phật thọ ký cho hàng hạ căn.
Phẩm
Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Ký thứ 8 nói về Phú-lâu-na là bậc
thuyết pháp đệ nhất. Ông theo Phật được nghe về trí tuệ,
phương tiện, tuỳ nghi thuyết pháp, việc thọ ký, những nhân
duyên đời trước và lực thần thông đại tự tại của
chư Phật, thảy đều là những điều chưa từng có trước
đây. Vị ấy đã tán thán đức Phật là bậc tôn quý lạ
thường, hiếm có; vì chúng sanh mà Ngài đã dùng vô số phương
tiện để chỉ bày tri kiến và tuỳ cơ thuyết pháp giúp họ
được an lạc và phát tâm cần cầu Vô thượng Bồ-đề,
cho nên công đức ấy không gì sánh nổi. Kế tiếp là việc
đức Phật tán thán Phú-lâu-na là vị thuyết pháp đệ nhất
trong hàng đệ tử của Ngài. Ông thông suốt các pháp ‘không’
như chư Phật đã thuyết và đắc tứ vô ngại trí, đủ pháp
thần thông, thường tu phạm hạnh, và được Phật thọ ký
sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai.
Tiếp
theo là việc thọ ký cho 1.200 vị A-la-hán; và cuối cùng là
500 A-la-hán được Phật thọ ký và họ đã bày tỏ lòng tôn
kính đối với Phật bằng cách kể lại chuyện bạn bè thân
quen đã tặng viên ngọc quý trong chéo áo, nhưng vị ấy không
biết. Sau thời gian cách biệt, gặp lại anh ta ở một nước
khác mà vẫn thấy còn trong tình cảnh nghèo khổ, bèn nhắc
lại viên ngọc quý mà mình đã tặng cho anh ta. Lấy ngọc
đem bán và anh ta trở thành người giàu có. Dụ này ngụ
ý họ đã tự trách chính họ vì tự mãn với quả vị A-la-hán
và ý tưởng diệt độ, nay mới biết chính họ thực sự
là những Bồ-tát được thọ ký và chứng đắc Vô thượng
Bồ-đề. Rồi họ sanh tâm hoan hỷ mà trước đây chưa từng
có.
Phẩm
Thọ Học Vô Học Nhân Ký thứ 9 mô tả chuyện Phật thọ
ký cho A-nan và La-hầu-la được thành Phật hiệu là Sơn Hải
Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai và Đạo Thất Bảo Hoa Như
Lai cũng như 2.000 vị Hữu học và Vô học được thọ ký
cùng danh hiệu Bảo Tướng Như Lai.
Phẩm
Pháp Sư thứ 10 nhấn mạnh đến công năng mầu nhiệm của
Kinh và khuyến hoá phổ truyền trong nhân gian để chúng sanh
có được lợi ích, an lạc và phát tâm cầu Vô thượng Bồ-đề.
Nó kể lại chuyện Bồ-tát Dược Vương nói về 80.000 đại
sĩ, trong đó có người cầu Thanh-văn, có người cầu Bích-chi-phật,
cũng có người cầu Bồ-tát đạo hoặc Phật đạo. Nhân việc
này, đức Phật bảo những người như thế hễ khi được
nghe một câu kinh hay một bài kệ, hoặc chỉ một niệm tuỳ
hỷ, thì Ngài đều thọ ký Vô thượng Bồ-đề. Đức Phật
bảo Dược Vương:
“Nếu
có người thọ trì, đọc tụng, giải thích, viết chép Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa cho đến một kệ; đối với quyển kinh
này cung kính như thấy Phật, cúng dường những thứ hương,
hoa, anh lạc..., cho đến chắp tay cung kính, Dược Vương nên
biết, những người đó đã từng cúng dường 10 vạn ức
Phật, nơi các cảnh giới Phật, thành tựu đại nguyện; vì
thương xót chúng sanh, cho nên sanh ở cõi này”.
Ở
một đoạn khác, Ngài dạy:
“Này
Dược Vương, nếu có người thiện nam, thiện nữ nào, sau
khi Như Lai diệt độ, muốn vì tứ chúng thuyết kinh Pháp Hoa,
phải nên nói thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải
vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi toà Như Lai, như thế
mới nên vì tứ chúng rộng thuyết kinh ấy. Thất Như Lai ấy
là tâm đại từ bi trong hết thảy chúng sanh. Áo Như Lai là
tâm nhu hoà nhẫn nhục. Toà Như Lai, tất cả pháp không. Trong
sự an trú như thế, về sau dụng tâm không biếng nhác mà
vì các Bồ-tát và tứ chúng rộng thuyết Kinh Pháp Hoa này”.
Phẩm
Hiện Bảo Tháp thứ 11 mô tả về tháp Đa Bảo từ đất vọt
lên để tán thán đức Thích-ca và chứng minh cho lời đức
Phật Thích-ca thuyết pháp từ trước đến nay là chơn thật
cũng như lời tán dương của Phật Đa Bảo đối với đức
Thích-ca. Trong tháp ấy cả đức Đa Bảo và đức Phật Thích-ca
cùng ngồi chung một toà; còn đại chúng nương vào sức thần
của Như Lai đều được dự hội trên hư không. Những ai
thấy bảo tháp ấy đều sanh lòng hoan hỷ, phát tâm cầu đạo
vô thượng và cho đó là điều hy hữu. Đức Thích-ca tập
hợp những vị đại sĩ lại và khuyến khích họ rộng lưu
truyền kinh này cũng như sau khi Phật diệt độ và nói rõ
về việc phó chúc. Đặc biệt là sự tán thán việc hoằng
truyền kinh Pháp Hoa và nhấn mạnh rằng nơi đâu có người
trì tụng kinh này, đức Đa Bảo đều hiện bảo tháp nơi
đó. Nó ngụ ý chỉ cho Phật tánh (tức ngụ ý chỉ Bảo Tháp)
khi gặp kinh này thì hiển lộ.
Phẩm
Đề-bà-đạt-đa thứ 12 nói đến việc đức Phật Thích-ca
thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa_dù ông là một người phá hoại
Phật pháp, tạo nhiều trọng tội: xuất Phật thân huyết,
phá hoà hiệp Tăng_sẽ được thành Phật hiệu Thiên Vương
Như Lai và “Long Nữ của Diêm hải Long vương mới 8 tuổi,
trí tuệ lợi căn, khéo biết các hành nghiệp của chúng sanh,
đắc đại Đà-la-ni. Chư Phật thuyết bí tạng rất sâu xa
thảy đều có khả năng thọ trì, thâm nhập thiền-định,
liễu đạt các pháp, nơi khoảnh khắc sát-na, phát tâm
Bồ-đề, đắc bất thối chuyển, biện tài vô ngại...”
Điều này cho thấy rằng ngay cả những hạng Nhất-xiển-đề
và kẻ độc ác nhất như Devadatta cũng được đức Phật
thọ ký; vì Phật tánh đã có sẵn trong loài hữu tình, mà
chuyện Long Nữ thành Phật đã là một trong những minh hoạ
vô cùng độc đáo.
Phẩm
Khuyến Trì thứ 13 nhấn mạnh đến lời giáo huấn khẩn thiết
của đức Thế Tôn, cho nên lúc ban đầu trong hội chúng có
vô số Bồ-tát và A-la-hán cũng như những Tỳ-kheo-ni, như:
Kiều-đàm-di, Da-du-đà-la đều phát tâm hoằng truyền kinh
Pháp Hoa này ở những cõi khác. Sau đó cũng có “tám vạn
ức na-do-tha Bồ-tát, chứng bất thối chuyển, đắc Đà-la-ni,
đối trước đức Phật, phát nguyện hành trì và hoằng truyền
kinh này trong đời mạt pháp, không tiếc thân mạng, khiến
cho chúng sanh viết chép, thọ trì, đọc tụng, giảng giải,
diễn thuyết ý nghĩa của kinh này, nhằm nhớ nghĩ chơn chánh,
như pháp tu hành...”
Phẩm
An Lạc Hạnh thứ 14 kể lại do sự thỉnh cầu của Bồ-tát
Văn-thù đức Phật đã thuyết về 4 pháp an lạc hạnh. Bốn
pháp này là: thân an lạc hạnh, khẩu an lạc hạnh, ý an lạc
hạnh
và nguyện an lạc hạnh. Đối với thân an lạc hạnh gồm
có hành xứ và thân cận xứ. Hành xứ là nhấn mạnh đến
sự nhiếp tâm chánh niệm, nghiêm trì tịnh giới, đối ngoại
cảnh tâm không phan duyên, nơi nội tâm luôn tự soi xét. Thân
cận xứ ở đây ngụ ý chỉ thật tướng của các pháp. Như
đức Phật dạy:
“Bồ-tát
quán chiểu tất cả các pháp đều là không, như thật tướng,
không có điên đảo, không động, không thối, không chuyển,
như hư không vốn không có tánh, hết thảy đường ngôn ngữ
đoạn tận, không sanh, không xuất, không khởi, không tên,
không tướng, vốn không thật có, vô lượng vô biên, vô ngại,
vô chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ nơi điên đảo mà
sanh, nói thường vui thích quán chiếu pháp tướng như vậy”.
Phẩm
Tùng Địa Dõng Xuất thứ 15 là sự phụng mệnh, nhận lãnh
yếu chỉ, bảo trì và phát đại nguyện diễn giảng và phổ
biến rộng kinh Pháp Hoa trong đời ác ngũ trược để những
người khác khi được nghe hoặc hành trì biên tụng sao chép
hay giảng giải kinh này tránh khỏi những tai ách và đạt
được sự an lạc cũng như có thể đạt được những công
năng thù thắng và đặc biệt là được thần lực vi diệu
mầu nhiệm của chư Bồ-tát từ đại địa xuất hiện thường
hỗ trợ và gia trì cho người lưu hành kinh này.
Kế
tiếp là Phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 tán thán sự thọ
mạng vô lượng của đức Như Lai; vì để củng cố đức
tin cho tứ chúng, đức Phật Thích-ca dạy: “Ta thật sự đã
thành Phật, vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha
kiếp lâu xa về trước” mà điều này Bồ-tát Di-lặc
đã bảo rằng không thể nào dùng toán số thí dụ để so
sánh mà có thể biết được. Cũng ý tương tợ này, ở một
đoạn khác như vầy:
“Ta
khi còn nhỏ xuất gia đã chứng đắc quả vô thượng Bồ-tát,
song Ta thật sự thành Phật đã lâu xa ngần ấy, chỉ là vì
dùng phương tiện để giáo hoá chúng sanh, khiến họ nhập
vào Phật đạo, nói lời như vậy, các thiện nam tử, Như
Lai diễn giảng kinh điển đều vì độ thoát chúng sanh, hoặc
nói về thân mình, hoặc nói về thân khác, hoặc thị hiện
thân mình, hoặc thị hiện thân khác, hoặc chỉ bày việc
mình, hoặc chỉ bày việc người. Những lời nói như vậy
đều thật sự không hề hư dối. Vì sao? Vì Như Lai thật
sự thấy tướng của tam giới, không có sanh tử hoặc thoái
hoặc tiến, cũng không phải tại thế cũng không phải diệt
độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như,
chẳng phải khác, cũng không như tam giới thấy tam giới, những
việc như thế, Như Lai thấy rõ không có sai lầm; vì các chúng
sanh có nhiều thứ tánh, nhiều thứ dục, nhiều thứ hành,
nhiều thứ nhớ tưởng phân biệt, muốn khiến cho họ sanh
các thiện căn”.
Giống
như thầy thuốc giỏi, tuỳ bịnh cho thuốc; bịnh không thuyên
giảm là do không uống thuốc, hoặc dùng thuốc không đúng
như lời dạy của lương y. Vậy lỗi không do nơi thuốc mà
do nơi người bịnh. Cũng như người cha đương là một thấy
thuốc giỏi, biết những đứa con của mình đang mắc bịnh,
dỗ dành và khuyên răn chúng uống thuốc để trừ bịnh, nhưng
có lẽ vì thuốc quá đắng hoặc vì biếng nhác không nghe
lời cha dạy; do đó, người cha bèn tìm cách đi nơi xa, rồi
để thuốc lại và căn dặn chúng nhớ uống cho khỏi bệnh.
Lúc người cha vắng nhà, chúng quên lời cha dặn uống nhầm
thuốc độc, ngã lăn trên đất rên xiết quằn quại; người
cha về thấy vậy liền lấy thuốc cho chúng uống, uống xong
bịnh lành. Người cha đang là vị lương y dụ cho đức Phật;
còn những người con ấy chính là chúng sanh; và thuốc hay
chính là giáo pháp của Ngài vậy. Phẩm này cho thấy việc
thành Phật của đức Như Lai đã từ vô lượng kiếp về
trước nhờ thành tựu vô lượng công đức nhằm khuyến hoá
chư Bồ-tát tinh tấn tu tập không sanh tâm mệt mỏi đối
với việc phụng sự chúng sanh một cách tuỳ hỷ mới có
thể đạt được những công đức thù thắng như thế.
Phẩm
phân biệt công đức thứ 17, tức là phần chánh tông, đã
kể lại chuyện đức Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
“Nếu
có người nào nghe được sự thọ mạng lâu dài của chư
Phật như thế, cho đến có khả năng sanh một niệm tin hiểu,
thì sẽ đạt được công đức vô hạn lượng. Nếu có người
thiện nam thiện nữ nào vì cầu Vô thượng Bồ-đề, nơi
80.000 ức na-do-tha kiếp, hành năm Ba-la-mật, trừ bát-nhã Ba-la-mật,
thì công đức trước kia so với công đức này không bằng
một của trăm phần cả trăm ngàn vạn phần, cho đến dùng
toán số thí dụ cũng không thể biết được".
Ở
một đoạn khác, Ngài dạy:
“Nếu
như có người được nghe nói về sự thọ mạng lâu dài mà
hiểu được ý hướng của việc nói về sự thọ mạng lâu
dài ấy, thì người này đạt được công đức vô hạn, có
khả năng phát sinh được trí tuệ vô thượng của Như Lai,
huống gì được rộng nghe kinh này; hoặc giáo hoá người
nghe, hoặc tự mình thọ trì, hoặc giáo hoá người thọ trì,
hoặc tự mình viết, hoặc giáo hoá người viết; hoặc dùng
hoa hương, anh lạc, tràng phan bảo cái... mà hiến cúng quyển
kinh ấy, thì công đức người này vô lượng vô biên, có
khả năng phát sinh nhất thiết chủng trí.”.
Phẩm
này nhấn mạnh đến công đức thù thắng có thể đạt được,
tuỳ theo cấp độ tu tập để cho những vị Bồ-tát mở rộng
trí giác nhằm phân biệt công đức vô lượng ấy.
Phẩm
Tuỳ Hỷ Công Đức thứ 18 kể lại chuyện đức Phật dạy
Bồ-tát Di-lặc rằng sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai trong
tứ chúng và những người có trí dù lớn hay nhỏ, khi được
nghe Kinh này xong tuỳ hỷ, rồi đến nơi khác nói lại pháp
ấy cho cha mẹ, họ hàng, thiện hữu tri thức, những người
này nghe xong tuỳ hỷ, rồi họ nói lại pháp ấy cho người
khác nữa, người khác nghe xong cũng tuỳ hỷ, tương tự như
thế, cho đến người thứ 50 được nghe kinh này rồi tuỳ
hỷ, thì công đức tuỳ hỷ của người thứ 50 còn hơn cả
công đức của người cầu phước mà vị này đã đem những
thứ vui thú để cúng dường cho vô số vô lượng chúng sanh
trong tứ sinh lục đạo cho đến những người này chứng được
quả A-la-hán.
Phẩm
Pháp Sư Công Đức thứ 19 ca ngợi công đức của người hoằng
truyền kinh này. Như đức Phật dạy:
“Nếu
có người thiện nam, người thiện nữ nào thọ trì kinh Pháp
Hoa này, hoặc đọc tụng, hoặc giải thích, hoặc viết chép,
thì người ấy sẽ được 800 công đức của mắt, 1200 công
đức của tai, 800 công đức của mũi, 1200 công đức của
lưỡi, 800 công đức của thân và 1200 công đức của ý. Chính
nhờ công đức trang nghiêm, mà sáu căn đều được thanh tịnh”.
Kế
tiếp là Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát thứ 20. Nó đề cao
đức tánh khiêm cung luôn tôn trọng và quí kính người khác,
một trong những hạnh Bồ-tát mà rất hiếm người làm nổi.
Được mệnh danh là Thường Bất Khinh là vì “có một Tỳ-kheo,
hễ khi nào thấy Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di
thảy đều lễ bái tán thán, thưa rằng “Tôi kính trọng
quí ngài, chứ không dám khinh mạn. Vì sao? Vì quí ngài đều
hành Bồ-tát đạo, sẽ được thành Phật”.
Phẩm
Như Lai Thần Lực thứ 21 tán thán công hạnh và tinh thần
vô ngã của Bồ-tát xuyên qua sự hỗ trợ và năng lực thần
diệu của Như Lai.
Phẩm
Chúc Luỵ thứ 22 nói về sự giao phó việc hoằng truyền kinh
này cho các vị Bồ-tát. Khi đức Phật Thích-ca dùng tay phải
xoa đảnh những vị Bồ-tát rồi dạy:
“Ta
trải qua vô lượng trăm ngàn A-tăng-kỳ kiếp, tu tập khó
khăn lắm mới có thể chứng được pháp vô thượng Bồ-đề
này. Nay Ta đem giao phó cho các ông, các ông phải nên hết
lòng lưu truyền rộng rãi khiến cho hết thảy chúng sanh đều
được lợi ích”.
Sau
ba lần xoa đảnh những vị Bồ-tát như vậy, rồi Ngài lại
dạy:
“Ta
trải qua vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, tu tập khó khăn lắm
mới có thể chứng được pháp vô thượng Bồ-đề này. Nay
Ta đem giao phó cho các ông, các ông phải nên thọ trì đọc
tụng diễn giải rộng rãi pháp này, khiến cho hết thảy chúng
sanh đều được nghe biết. Vì sao? Vì Như Lai có lòng từ
bi lớn, không tiếc lẫn cũng không sợ hãi, hay ban cho chúng
sanh trí tuệ của Phật, trí tuệ của Như Lai, trí tuệ tự
nhiên. Như Lai là bậc Đại thí chủ của hết thảy chúng
sanh, các ông cũng nên tuỳ thuận học theo pháp của Như Lai,
chớ nên sanh lòng tiếc lẫn. Trong đời vị lai, nếu có người
thiện nam kẻ thiện nữ nào tin tưởng trí tuệ của Như Lai,
thì các ông phải nên vì người ấy mà diễn thuyết pháp
kinh Pháp Hoa này khiến được nghe biết, khiến cho người
tin trí tuệ của Như Lai có thể chứng đắc trí tuệ của
Như Lai. Nếu có chúng sanh nào không tin tưởng thọ trì, các
ông phải vận dụng trong giáo pháp sâu xa khác của Như Lai
để chỉ bày giáo hoá, khiến họ được lợi ích hoan hỷ.
Các ông nếu làm được như thế, tức là đã báo đáp được
ân đức của chư Phật”.