Lý
Thường-Kiệt sống trong thịnh-thời của đạo Phật. Ông
từng chịu Phật-giáo chi-phối một phần. Quả như lời đại-sư
Hải-chiếu nói trong bia LX: " ông tuy thân vướng cõi tục,
nhưng lòng đã quy-y".
Không
biết ông theo đạo Phật đến mực nào. Có điều chắc-chắn
là ông che-chở cho các vị sư có danh như Trì-bát, Chân-không
(TUTA), Ðạo-dung (HN) và Sùng-tín (LX).
1.
Sư Ðạo-dung. Chùa Hương-nghiêm
Năm
1077, Lý Thường-Kiệt đã giúp sư Ðạo-dung chữa chùa Hương-nghiêm
ở Thanh-hóa.
Sách
TUTA có chép chuyện vị sư này. Nhưng những bản, nay còn,
đều chép hiệu sư là Pháp-dung. Ấy vì đời Trần, kiêng
húy Trần Hưng-Ðạo (2)
Chùa
Hương-nghiêm nay vẫn còn ở xã Phủ-lý, phủ Ðông-sơn, tỉnh
Thanh-hóa. Chùa mới được trùng-tu. Chùa còn có hai tấm bia.
Một tấm bia lớn, rất xưa. Bia ấy nguyên dựng năm 1124, đời
Lý Nhân-tông. Niên-hiệu ở bia là Thiên-phù-duệ-vũ thứ 5,
Giáp-thìn. Nhưng sáu trăm năm sau, năm 1726, đời Lê Bảo-thái
thứ 7, Bính ngọ, có vị sư ở chùa, là Lê Văn-Nghị, đã
thuê thợ đục lại, theo nét chữ xưa. Nhờ đó, bây giờ
chữ vẫn rất rõ. Nhưng nhìn kỹ, ta sẽ thấy, có chữ không
theo hẳn nét cũ, và có chữ lại đục hơi sai.
Bia
ấy dựng trong hạ-đường chùa, tựa vào tường, ở phía
trái nếu ta nhìn vào phật-điện. Không biết mặt áp tường
có chữ hay không? Còn mặt ngoài có 30 dòng chữ cũ, và một
dòng niên-hiệu mới. Mỗi dòng, nhiều nhất, có 45 chữ.
Văn
bia kể sự-tích chùa khá kỹ. Về thiền-sư Ðạo-dung, sự-tích
chép ở bia khá phù-hợp với sách TUTA, và bổ-túc cho sách
ấy. Ðó là một chứng rất quí cho sự cổ-truyền và xác-thực
của cuốn sách TUTA.
Bia
lại còn nói đến một vị thái-phó họ Lưu, tùng-huynh sư
Ðạo-dung, và sống đồng-thời với Lý Thường-Kiệt. Xét
rõ, thấy đó là Lưu Khánh-Ðàm, mà ta thấy tên chép ở sử
(3) và ở mộ-chí dựng đời Lý, nay vẫn còn ở làng Lưu-xá,
huyện Hưng-nhân, tỉnh Thái-bình. Như thế thì vì một sự
ngẫu-nhiên đặc-biệt, ta còn có hai bia đời Lý, một sách
đời Trần, chép những chuyện về đời Trung-cổ ở nước
ta, có liên-quan với nhau. Sự ấy thật là quí. Nhất là, sự
các sử-liệu ấy không trái với các sách Việt-sử-lược
và Ðại-Việt sử-ký toàn-thư, nó làm tăng giá-trị hai cuốn
sử này.
Sau
đây, tôi theo bia HN, các sách TUTA, TT và VSL, sẽ kể lai-lịch
chùa Hương-nghiêm, thân-thế sư Ðạo-dung và sự liên-quan
giữa Lý Thường-Kiệt và Lưu Khánh-Ðàm.
Chùa
Hương-nghiêm ở núi Càn-ni. Ðó là theo bia HN; còn sách TUTA
chép núi Ma-ni, vì chữ Càn húy đời Trần. Chùa ở giáp Bối-lý,
bây giờ là làng Phủ-lý, phủ Ðông-sơn, tỉnh Thanh-hóa. Ðời
Hậu-Ðường (923-937), Lê Lương dựng chùa ấy (HN). Lê Lương
thuộc một cự-tộc ở quận Cửu-chân, châu Ái. Ông làm đến
chức Trấn-quốc bộc-xạ. Nhà ông giàu, rất có thế-lực
trong xứ. Thóc ông trữ đến 110 lẫm. Trong nhà ông nuôi 3.000
người khách. Ông dốc một lòng thiện, rất sùng đạo Phật.
Ông là người trước nhất dựng chùa ở giáp Bối-lý. Các
bia chùa Hương-nghiêm, Trinh-nghiêm, Minh-nghiêm đều có khắc
chép công ông (HN).
Bấy
giờ, dân ở châu quận này bị mất mùa đói khó. Ông đem
thóc nhà phát-chẩn để cứu dân.
Ðến
sau lúc vua Ðinh Tiên-hoàng lên ngôi (968-979), nghe tiếng ông
có đạo-đức, vua phong cho ông chức Ái-châu Cửu-chân đô-quốc
dịch sứ, tức là chức quan đứng đầu giúp nước ở Ái-châu,
quận Cửu-chân. Vua lại ban cho ông hàm Kim-tử quang-lộc đại-phu,
và phong ấp ở trong giới-hạn sau này : đông đến Phân-dịch,
nam đến Vũ-long, tây đến đỉnh núi Ma-la, bắc đến Kim-cốc
(4), và cho đời đời con cháu làm quan coi đất ấy (HN). Sách
TUTA cũng có chép rằng ông làm châu-mục Ái-châu đời Ðường
và suốt mười lăm đời, họ ông nổi tiếng ở đó.
Ðến
khi vua Lê Ðại-hành tuần-du ở Ngũ-huyện-giang, tức là triền
sông Lương, sông Mã ở Thanh-hóa, Vua thấy chùa đổ nát bèn
chữa lại (HN). VSL có chép : Vua đi chơi Hoan-châu năm 1003,
có lẽ vua qua Thanh năm ấy.
Ðến
đời Lý, vua Thái-tông đi chơi về phương nam, tới Ái-châu,
có qua chùa ấy. TT và VSL chép rằng năm 1031 Lý Thái-tông đi
đánh Hoan-châu về, phát tiền thuê thợ chữa nhiều chùa quán
ở các hương-ấp (XIV/ cth 5). Chắc rằng vua tới thăm chùa
ấy. "Trải mấy đời thờ cúng, rường cột đã đổ nát,
vua bèn sai chữa lại. Vua lại ban cho cháu ông bộc-xạ, là
Ðạo-quang trưởng-lão làm thiền chủ, cấp cho năm tên giúp
việc và sai trụ-trì ở đó." (HN).
Hai
tiếng trưởng-lão là một mỹ-hiệu tặng những tăng hay tăng-quan
được vua kính-trọng. Tuy tăng-quan ấy coi chùa, nhưng vẫn
có gia-đình con-cái.
Theo
TUTA thì trưởng-lão này hiệu là Tăng-phán, tên là Huyền-nghi.
Trưởng-lão là thân-phụ thiền-sư Ðạo-dung. (HN)
Thiền-sư
Ðạo-dung tên gì ? TUTA không chép. Nguyên bia HN có ghi, nhưng
nay mòn không thấy chữ nữa.
Thiền-sư
có một tùng-huynh là Lưu Khánh-Ðàm, cũng là người Ngũ-huyện-giang,
ở Cửu-chân, thôn Yên-lãng (Mộ-chí). Nay ở phủ Thọ-xuân
và phủ Thiệu-hóa có hai làng Yên-lãng gần nhau ở hai bờ
sông Lương. Có lẽ quê ông là vùng ấy. Ông nội Lưu Khánh-Ðàm
có năm con trai. Trong đó có Huy-Triết, dời nhà tới ngụ cư
ở khách-quán, có lẽ tới ở làng Lưu-xá huyện Hưng-nhân,
tỉnh Thái-bình bây giờ. (Bia HN và Mộ-chí Lưu-xá).
"Bấy
giờ, vua Lý Thái-tông chọn dân ở quận để cho vào hầu
vua. Lưu Khánh-Ðàm "phi thường khác chúng" nên được chọn
vào chầu ở nội đình". Kịp đến khi Lý Thánh-tông lên ngôi,
ông chầu bên cạnh, rất được vua yêu. Sau khi Nhân-tông lên
ngôi, vua nghĩ đến công ông giúp-rập ba đời, có nhiều công,
vậy phong cho ông chức thái-phó, kiêm chức nội-dịch trưởng-quan,
coi hết các việc quân và việc thường trong cung-dịch. Vua
lại ban cho ông chức tước sau này : Nhập-nội nội-thị tỉnh-đô
đô-tri, kiểm-hiệu thái-phó, kiêm cung-dịch-sứ, đại-tướng-quân,
kim-tử quang-lộc đại-phu, thực ấp 6700 hộ, thật phong 3000
hộ. (HN).
"Thiền-sư
Ðạo-dung có hình-thần lạ đẹp, tư khí thanh-cao. Kinh kệ
thì không gì không đọc tới (TUTA). Năm Bính-thìn 1076, sư
bỏ gia-hương đi tìm bạn. Cưỡi thuyền ra bể, rồi tới
Thăng-long. - đó, thiền-sư gặp một vị tăng, hiệu là Cao-tăng.
Sư cảm-phục bèn theo học." (HN). Vị Cao-tăng ấy là ai ? Sách
TUTA có nói : Lúc nhỏ, sư theo tăng thống Nguyễn Khánh-Hỉ
để xuất-gia. Tăng-thống người Cổ-giao, quận Long-biên (thuộc
Bắc-ninh bây giờ), trụ-trì ở Từ-liêm, gần phía tây thành
Thăng-long. Có lẽ Cao-tăng kia chính là hiệu của tăng-thống
Khánh-Hỉ trước năm 1133, khi chưa được triệu vào kinh và
chưa được ban chức tăng-thống (5).
"Cao-tăng
Khánh-Hỉ để ý đến Ðạo-dung, cho là một kỳ-nhân và dạy
cho Phật-pháp (TUTA). Ðạo-dung hỏi : "Ðiều gì cốt yếu trong
Pháp ?" Cao-tăng trả lời :"Pháp vốn không phép, ta lấy gì
mà bảo ngươi." Bỗng nghe, sư thấy lòng nở-nang, bèn giác-ngộ".
(HN).
Một
hôm, sư Ðạo-dung hỏi Cao-tăng :"Tôi đã hiểu rõ nghĩa chữ
không và chữ sắc. Sắc là bởi kẻ phàm thấy, không là bởi
kẻ Thánh thấy. Có phải thế không ?" Cao-tăng trả lời bằng
một bài kệ phỏng-dịch như sau này:
Ở
đời chớ hỏi sắc và không,
Học
đạo chẳng qua tìm Tổ Tông.
Trồng
quế trên trần sao được rậm.
Tìm
Tâm ngoài Phật khó lòng mong.
Bao-hàm
nhật-nguyệt trong hạt cải,
Thu
hết càn-khôn đầu mũi lông.
Ðại-dụng
rõ-ràng tay nắm chặt,
Ai
hay phàm thánh, biết đâu cùng.
"Từ
đó sư thích dạo núi sông, không đâu ngại đến." (TUTA).
"Sư
bèn ngược sông Lô (Nhị hà), trèo núi Thứu-đài. Ngắm xem
cảnh đẹp ấy, sư dừng chân lại, cho là rất vừa ý. Sư
sai thợ chọn hướng, ghép đá làm nền, mà dựng nên chùa.
Ðặt tên là chùa Khai-giác". Trên đây là theo bia HN, còn TUTA
chép : "Sư đi đạo-hóa, dừng chân ở núi Thứu-phong, tại
chùa Khai-giác và dạy học-trò". Sư được công-chúa Thụy-thành,
có lẽ là con vua Thái-tông, và Thái-phó Lưu Khánh-Ðàm cấp
cho khí-dụng để làm chùa. (HN).
Sư
dạy học-trò. Người tới học đầy nhà. (TUTA).
"Năm
sau, Ðinh-tị 1077 (bia HN, khi khắc lại, lầm ra Ðinh-mão), sư
trở về ấp cũ, thấy chùa Hương-nghiêm đã đồi-hoại. Sư
bèn nói với Lưu Khánh-Ðàm rằng : "Kẻ nhân-hiền không quên
dấu-tích tiên-tổ. Xin anh chữa lại cho." Lưu-công nghe nói,
vui lòng mà thuận." (HN).
Bấy
giờ, quân ta vừa đánh lui quân Tống. Lý Thường-Kiệt vừa
lập đại-công. Lưu-công, và em là Lưu Ba, cũng vừa được
chia phần vinh-dự. Lưu-công thấy chùa chiền bị chiến-tranh
làm hư đổ, đang lo sửa-sang tự-tháp. (Mộ-chí Lưu-xá).
"Lưu-công
bèn nói với quốc-tướng thái-úy Lý Thường-Kiệt rằng :
"Chùa Hương-nghiêm là do tiên-tổ tôi sửa-chữa. Nay đã đổ
nát. Ông cùng tôi, chúng ta hãy chữa lại." (HN).
Theo
chương trên, ta biết rằng bấy giờ Thường-Kiệt còn ở
Thăng-long. Có lẽ Thanh-hóa là thực-ấp của ông từ trước,
cho nên Khánh-Ðàm mới bàn cùng ông chữa chùa Hương-nghiêm
ở đó. Thường-Kiệt bèn tìm gỗ, sai thợ tới sửa chùa.
Năm
Tân-dậu 1081, hai phò-ký-lang, họ Thiều và họ Tô (6), tâu
vua xin ruộng đất của bộc-xạ Lê Lương. Vua xét lời tâu,
bèn định trả giáp Bối-lý cho họ hàng Lê-công.
Mùa
thu năm ấy, Lý Thường-Kiệt đi Thanh-hóa trả ruộng. Ông
lập bia đá chia ruộng cho hai giáp. Từ nửa đầm A-lôi trở
lên, cho giáp Bối-lý ; từ nửa đầm trở xuống, cho giáp
Viên-đàm. Ông lại dặn đi dặn lại hai giáp không được
hái một lá lau-lách ở hai bên bờ đầm, vì đó là giới-hạn.
(HN).
Hai
tên giáp ấy nay đã thay đổi, nhưng đất còn có thể tìm
được. Chùa Hương-nghiêm nay ở làng Phủ-lý. Nếu ta xét
bản đồ Thanh-hóa ngày nay, ta thấy rằng bên cạnh làng Phủ-lý
có những làng Nhân-lý, Mỹ-lý. Theo tục đổi tên ở xứ
ta (7), ta có thể chắc rằng ba làng ấy khi xưa là một và
sau mới chia ra. Vả làng Phủ-lý có tên nôm là làng Kĩ. Chắc
đó là tên giáp Bối-lý cũ. Bên cạnh phía tây làng Phủ-lý,
ta lại thấy có hai làng liền nhau, tên là Viên-quang và Hồ-đàm.
Ta cũng có thể đoán đó là do làng Viên-đàm cũ mà phân-tách
ra. Xem vậy, ta có thể nhận dấu hai giáp Bối-lý và Viên-đàm.
Nhưng đầm A-lôi thì không thấy nữa. Ruộng vùng ấy là ruộng
sâu. Có lẽ đó là đầm cũ.
Năm
Ðinh-mão 1087, sư Ðạo-dung được vua Nhân-tông triệu tới
kinh, lập đạo-tràng trong cung (HN).
Năm
Nhâm-dần 1122, sư trở về thăm quê cũ. "Nhân vật tuy đổi,
non nước như xưa. Chùa đã đổ nát, nền móng vẫn còn."
Sư liền sai thợ chữa lại. Tô tượng Phật ngồi trên Bàn-đà.
Ðào hồ. Giữa hồ, xây bệ ; đặt tượng Phật trên. Chùa
cao, cửa rộng, mái ngói. Mé tả có lầu chuông, mé hữu dựng
bia đá ghi công. Xung quanh đều xây tường. Vườn trồng hoa
cỏ. (HN).
Chữa
xong chùa, sư đặt tiệc mừng ; lập đàn cầu tự cho vua,
và cầu phúc cho quần-chúng. Sư mời người làm bài ký, khắc
vào bia. Chính là bia dựng năm 1124 mà nay hãy còn. Nhưng tên
tác giả thì mờ hẳn không đọc được nữa. Có lẽ cũng
là vị Hải-Chiếu đại-sư, làm bia Linh-xứng dựng năm 1126
và bia Sùng-nghiêm-diên-thánh dựng năm 1118.
Sau
đó sư ở lại chùa cho đến lúc mất. TUTA chép rằng :"Rồi
sư trở về nhà, dựng chùa để ở đến lúc già. Sư mất
ngày mùng 5 tháng 2 năm Giáp ngọ 1174, đời Thiên-cảm-chí-báu".
Chép như vậy chắc lầm, vì rằng năm 1076, sư đã ra Thăng-long.
Nếu sống đến năm 1174, thì sư phải ít nhất cũng một trăm
hai mươi tuổi. Sau khi sư mất, học-trò là sư Tăng Ðạo-lâm
làm lễ hỏa-táng và xây tháp ở núi Càn-ni. (TUTA).
Ngày
nay, làng Phủ-lý không có núi. Núi Càn-ni, chép ở bia, có
lẽ chỉ là mô đất cao hơn cánh đồng chung quanh.
Chùa
nay hoàn toàn mới. Các vật trong chùa đều mới, trừ quả
chuông đúc đời Gia-long. Trong vườn không thấy có tháp cổ.
Còn có hồ. Nhưng trong chùa và ngoài chùa không thấy vật
cổ nữa. Nếu bới đất tìm, trong nền hay dưới hồ, may
chi còn thấy cái bia xưa, dựng đời Hậu-Ðường ghi công-đức
Lê Lương.
2.
Núi An-hoạch. Chùa Báo ân.
Chừng
hai cây-số phía tây thành Thanh-hóa, có làng An-hoạch, kề
đường cái đi làng Sim. Hiện nay, làng có một ngôi chùa cổ,
ở phía bắc con đường ấy. Cửa tam-quan cũng là lầu chuông.
Cửa khi nào cũng đóng. Nhìn qua rào thưa, ta thấy vườn rộng.
Trong xa có nhà bái-đường lợp tranh. Ðường lên chùa có
bậc đá. Trông vào thì bên tả thấy có hai bia, một bia to
cao, dựng gần bên lối vào.
Bia
rất mòn, nhưng ở ngạch còn tám chữ to và rõ : AN-HOACH-SƠN
BÁO-ÂN TƯ BI-MINH, nghĩa là bài minh của bia chùa Báo-ân ở
núi An-hoạch.
Ðó
là một ngôi chùa dựng lên trong lúc Lý Thường-Kiệt còn
trấn Thanh-hóa. Bia tuy mờ mất niên-hiệu và mất tên người
dựng. Nhưng cũng còn đọc được. Nó cho ta biết nhiều điều
rất quý về Lý Thường-Kiệt.
Núi
An-hoạch thuộc núi Nhồi, là dãy núi lèn ở phía tây-nam thành
Thanh-hóa. - chân núi, có làng Nhồi, tên chữ là Nhuệ-thôn.
Dân làng chuyên-môn làm nghề lấy đá ở núi để làm bia,
khánh, cối xay, trục lăn, tượng. Nghề ấy có đã lâu đời.
Ðời Tấn (265-418), thái-thú Dự-chương là Phạm Ninh sai sứ
tới Cửu-chân lấy đá làm khánh; tức là lấy ở đó.
Theo
bia Báo-ân, thì "Năm Nhâm-tuất (1082), vua Lý Nhân-tông đặt
riêng một quận ở Thanh-hóa, ban cho Lý Thường-Kiệt, để
làm phong-ấp. Thường-Kiệt ra đó, coi việc quân dân. Các
đầu-mục đều theo bóng, tất cả dân gian đều mến đức.
"Ông
thấy ở phía tây-nam quận-lỵ, có quả núi cao và to, tên
là An-hoạch. Núi sẵn một thứ đá đẹp. Ðá rất quí cho
thợ. Màu sáng như ngọc lam, chất xanh như khói mới lên. Tạc
làm đồ dùng rất dễ, làm khánh đánh rất kêu, làm bia rất
bền. Ông bèn sai một người quản-giáp tên là Vũ Thừa-Thiết
đem dân Cửu-chân tới núi ấy để lấy đá.
"Ông
coi quận trong 19 năm (1082-1101) nay. Dân kính-mến. Giặc sợ-hãi.
Dân tự nghĩ rằng, đó là nhờ Phật tế-độ cho dân qua bể
khổ, mà dân chưa lấy gì báo-đáp. Bèn chọn chỗ này; xẩy
cỏ dựng chùa, đặt tên chùa là Báo-ân. Ðắp tượng, vẽ
đồ. Chùa bắt đầu làm năm Kỷ-mão (1099) đến năm sau Canh-thìn
(1100) thì xong.
"Chùa
ngoảnh mặt về hướng nam. Ðất là huyện Cổ-chiến. Sau
chùa có núi Tường-phượng. Gần mé sau có núi Bạch-long.
Trước chùa có sông chảy ngang ; phía tả chảy về phương
đông, tới xứ Phân-dịch ; phía hữu chảy về núi Nghiêu-nhạc.
Trước cửa có giếng đá, trông ra có hai tảng đá nhọn đứng.
Bên cạnh có cầu." (BA) (8).
Trên
đây là theo văn bia mà tả. Ngày nay con sông lại chảy quanh
sau chùa; có lẽ bị chữa vì địa-lý. Phía đông, sông chia
ra hai nhánh, một nhánh xuống qua làng Bố-vệ, cạnh đền
vua Lê rồi ra sông Mã, một nhánh chảy về phía nam, hợp với
Hoàng-giang. Phía tây, sông bị lấp tại làng Phủ-lý. Sông
ấy là sông Bồn. Theo sách Thanh-hóa kỷ thắng chép lại, thì
khi xưa, sông ấy thông với Lễ-khê chảy từ Lương-giang ra.
Tục truyền rằng có một bà thái-hậu đời Trần, thấy nước
Lễ-khê ngọt, cho rằng đất ở đó có thể phát vua, bèn
lấp sông ấy.
Tuy
rằng bia Báo-ân mất niên-hiệu, nhưng theo năm làm chùa xong
là năm 1100, và theo câu nói Lý Thường-Kiệt coi quận trong
19 năm nay, thì ta thấy rằng bài bia làm năm Hội-phong thứ
9, Canh-thìn 1100. Vậy bia này là bia bằng chữ Hán xưa nhất
còn thấy ở nước ta.
Mà
chùa cũng rất đáng chú-ý, vì trong chùa còn những tượng
rất xưa. Như trên đã nói, hạ-đường chỉ là một nhà tranh,
nhưng thượng-đường lợp ngói. Trong có một pho tượng rất
cao gần hai mét, xưa thiếp vàng, nay lớp vàng đã phai hết,
chỉ còn lớp sơn đen, nhưng trông rất đẹp. Pho tượng lại
ngồi trên tòa sen. Tòa sen đặt trên lưng một con vật bằng
đá, điêu-khắc rất tinh-xảo. Con vật ấy đầu hình đầu
lợn, có nanh, mắt hung-dữ; chân có vuốt nhọn, đuôi to có
hình lông xoắn ốc. Cả pho tượng và con thú ấy đặt trên
một bệ đá, có lẽ mặt trước có điêu-khắc, nhưng nay
đã bị người ta xây một bệ khác che khuất. - hai góc, còn
lòi ra một phần, và ở góc ấy có hình agudo, tức là vị
thần, thân người đầu chim, có cánh, chân có vuốt, tai đeo
khuyên, ngực đeo chuỗi hạt, lấy đầu và hai cánh đỡ mặt
trên bệ. Kiểu điêu-khắc ấy y như kiểu nay còn thấy ở
cổ-vật Chàm, mà ta cũng thấy ở một vài chùa ta. Chắc rằng
đó là do ảnh-hưởng của các thợ Chàm, mà ta bắt đem về
đời Lý Thái-tông, và đời Lý Thánh-tông. Những bức chạm
ở đây rất có thể là do người Chàm mà Lý Thường-Kiệt
đã đem về năm 1069, hay là những học trò thợ ấy. Ðó là
một chứng cho ta tin rằng bệ đá, và có lẽ tượng đất,
là từ đời Lý để lại.
Trong
chùa còn có nhiều bệ con; trong số ấy, có một cũng chạm
aguda ở góc. Các đá tảng kê cột cũng chạm hình hoa sen.
Chắc xưa chùa to, nay những đá tảng còn lại, to không hợp
với những cột nhỏ bé ngày nay. Nếu phá được cái bệ
mới thêm vào trước bệ chính ở chùa, thì ta có lẽ thấy
những bức chạm khác hay là những dấu chữ xưa.
Ngoài
sân đền, còn có một cái khánh đá cũ, nhưng nay bị vỡ.
Xem kỹ, không thấy có nét chữ gì. Tên chùa này có nghĩa
là báo ơn Phật, mà thật thì cũng để nhắc công Thường-Kiệt
như ta đã thấy trong lời tán-dương ông ở một chương trên
(XIII/8).
3.
Núi Ngưỡng-sơn. Chùa Linh-xứng
Hai
chùa trên, tuy có liên-quan mật-thiết với Lý Thường-Kiệt,
nhưng không phải tự ông dựng lên. Các bia ở hai chùa ấy,
tuy có ghi công ông, nhưng cũng không chuyên để tán-dương
ông. - Thanh-hóa còn có một chùa mà tự ông dựng lên, và
ta có thể gọi là chùa Lý Thường-Kiệt. Ấy là chùa Linh-xứng.
Chùa
Linh-xứng ở núi Ngưỡng-sơn, cạnh đền Lý Thường-Kiệt,
mà tôi đã tả (XIII/7). Núi Ngưỡng-sơn là một núi nhỏ,
đất đá hỗn-tạp, ở bờ phía bắc sông Lèn (tên chữ là
Chùy-giang), cách phía tây cầu hỏa-xa Ðò-lèn chừng hai cây-số.
Núi ở làng Ngọ-xá, xưa thuộc huyện Vĩnh-lộc, nay thuộc
phủ Hà-trung. Núi thấp không dính với núi xung-quanh. Phía
nam núi có đường đê và sông. Phía bắc núi là một cánh
đồng sâu, xung-quanh toàn núi. - giữa cánh đồng ấy có vài
núi nhỏ, có tiếng nhất là núi Chương-các. Phía đông núi
là đồng bằng, kéo dài cho đến dãy núi nhỏ ở phủ Hà-trung.
Còn phía tây thì rất gần dãy núi cuối-cùng của dãy Kim-sơn
thuộc Vĩnh-lộc. Ðứng phía tây ngắm lại, núi có hình người
đàn bà nằm ngửa. Người ta nói vì vậy mới đặt tên là
Ngưỡng-sơn.
Ðối
với Trấn-lị Thanh-hóa đời Lý, Ngưỡng-sơn khá gần, "chỉ
cách năm dậm, phảng-phất như ở trong thành quận" (LX). Tên
làng sở-tại, đời Lý, là làng Ðại-lý. Tên Ðại-lý bây
giờ còn, ấy là làng ở phía nam sông Lèn, đối-ngạn với
làng Ngọ-xá. Ðời Lý, làng ấy rất to (LX), chắc nó gồm
cả vùng bắc và nam sông. Ðến đời Trần, phần bắc đã
đổi tên ra Ðại-lại (9).
Chùa
Linh-xứng nay không còn nữa. Nhưng bia chùa, dựng đời Lý,
vẫn còn. Dân xã đã đem để trên thềm đền Lý Thường-Kiệt.
Bia ấy dựng năm Thiên-phù duệ-vũ thứ 7, năm Bính-ngọ (1126),
nghĩa là 21 năm sau khi Thường-Kiệt mất. Tác giả bài văn
bia là đại-sư Hải-chiếu, tên Pháp-Bảo, trụ-trì chùa Phúc-diên-tư-thánh,
kiêm coi công-sự ở Thanh-hóa. Ðại-sư là một thuộc-hạ
ông. Bia chép khá rõ sự nghiệp ông, và kể rất tường-tận
sự ông xây-dựng lên chùa Linh-xứng. Văn bia lại rất dài,
bia khắc hai mặt, chữ chân-phương rất tốt, nét rất rõ.
Tuy bia không có chạm-trổ trang-sức như các bia khác đồng-thời,
nhưng hàng chữ triện đề trán bia khá đẹp, và con rùa đội
bia rất đơn-giản nhưng mỹ-thuật.
Nay
theo lời bia, ta biết gốc-tích chùa Linh-xứng và lòng sùng
Phật của Lý Thường-Kiệt khi ở Thanh-hóa thế nào.
"Ban
đầu đời Anh-vũ-chiêu-thắng, vua Lý Nhân-tông ban cho ông
hiệu Thiên-tử nghĩa-đệ. Ông ra coi các việc quân, dân ở
Ái-châu, quận Cửu-chân, trấn Thanh-hóa (theo bia BA thì năm
1082, Anh-vũ-chiêu-thắng thứ 7, ông ra Thanh-hóa). Tuy thân vướng
tục, nhưng lòng đã qui-y. Ấy vì vua và mẫu-hậu (thái-hậu)
tôn-sùng đạo Phù-đồ: ông vâng ý hai thánh giúp-đỡ đạo
trời rất nhiều" (LX).
Bấy
giờ có vị sư hầu thái-hậu, là Sùng-tín trưởng-lão, từ
kinh tới thăm quận.
Vì
trưởng-lão ấy là ai? Xét sách TUTA, thì có lẽ trưởng-lão
là Mãn-giác đại-sư. (10)
Ðại-sư
sinh năm 1052, là con viên-ngoại-lang Lý Hoài-Tố, người đi
sứ Tống năm 1073, (TUTA chép họ Nguyễn, vì kiêng húy đời
Trần; đây theo TB). Lúc nhỏ, học Nho và Thích đều giỏi.
Vào khoảng năm 1071, được chọn vào cung dạy hoàng-tử Càn-Ðức
mới lên 6 tuổi. Ông bấy giờ mới 20 tuổi, nhưng đã nổi
tiếng là học rộng nhớ nhiều. Tuy còn trẻ, ông đã có ý
đi tu. Sau khi Càn-Ðức lên ngôi, thái-hậu ban cho ông hiệu
Hoài-tín. Trong đời Anh-vũ-chiêu-thắng, ông dâng biểu đi
tu, chừng vào năm 1077. Chẳng bao lâu nổi tiếng, và thành
vị lãnh-tụ các sa-môn. Vua và thái-hậu dựng chùa bên cung
Cảnh-hưng, mời sư về ở, để tiện việc hỏi-han về đạo.
Vua và thái-hậu thường không gọi tên, mà chỉ xưng là trưởng-lão,
tuy rằng sư mới chừng hơn 30 tuổi mà thôi. (TUTA)
Năm
đầu đời Quảng-hữu (1085), trong nước vô-sự. Thái-hậu
(TT chép Hoàng-hậu, chắc sai) đi chơi khắp núi sông. Ý muốn
dựng chùa xây tháp. Bấy giờ, Thường-Kiệt ra Thanh-hóa đã
được ba năm. Trong lúc thái-hậu ngao-du, có lẽ đại-sư được
theo hầu. Thái-hậu sai đại-sư vào Thanh-hóa, thăm ông, và
bảo dựng chùa. Bấy giờ đại-sư mới 34 tuổi.
Vậy
năm 1085, Sùng-tín trưởng-lão vào chơi Thanh-hóa, thăm Lý Thường-Kiệt,
"Nhân khi rảnh việc, ông và sư, ngược dòng đi chơi cửa
bể Phấn-đại, dừng thuyền ở chân núi Long-tị." (LX)
Cửa
bể Phấn-đại và núi Long-tị ở đâu? Không sách nào chép
rõ. Nhưng ta có thể nhận rằng cửa Phấn-đại và núi Long-tị
là cửa sông Mã và núi Hàm-rồng (11). Ta có thể dò lại cuộc
hành-trình của Lý Thường-Kiệt đi cùng Sùng-tín trưởng-lão.
Ông
và sư xuất-hành từ quận-lị Cửu-chân; xuống thuyền trên
sông Ngu-giang (Lạch-trường); "ngược dòng" tới sông Mã, đến
ngã-ba Tào-xuyên, rồi xuống cửa bể Phấn-đại. Thuyền qua
dưới chân núi Long-tị. Ông sai ghé thuyền để lên ngắm
cảnh núi.
"Ý
sư là tìm nơi thắng-cảnh để dựng chùa. Nhưng, bấy giờ,
ở núi Long-tị đã có chùa rồi. Chắc là chùa ở trong động
Linh-quang trên núi Hàm-rồng. Thường-Kiệt bèn bảo xây một
đình nhỏ trên mỏm đá, xung-quanh bọc tường, để làm nơi
ngồi ngắm cảnh.
"Sư
bèn nói với ông rằng: "Núi này đẹp lạ! Ðã có kẻ dựng
chùa ở đây rồi. Còn có chốn nào thanh-u, có tiếng là thanh-tịch
từ xưa, thì nhờ đưa tới thăm chơi." Ông khen sư là người
có công to với Phật, rồi sai kẻ hầu chèo thuyền về phương
tây" (LX).
Vậy
thuyền rời núi Long-tị, ngược dòng sông Mã, đến ngã ba
Bông (xem bản đồ IV). Thuyền "qua sông trong Nam-thạc, đến
ấp lớn Ðại-lý" (LX). Nam-thạc chắc là sông Lèn ngày nay.
Từ ngã-ba Bông, đi về phương đông, xuôi sông Lèn, thì đến
làng Ðại-lý.
"Ông
và sư ghé thuyền lên bến. Ðưa mắt ngắm trông. Thấy một
núi nhỏ, tên là Ngưỡng-sơn; chỉ cách quận-lị năm dậm,
phảng-phất như ở trong thành. Chân núi gần sông; ít kẻ
lên đó, nhưng cũng dễ trèo. Hơi mù bám cây-cối um-tùm, màu
lam ngùn-ngụt. Sau lưng (phía bắc) có dãy núi Giao-lĩnh, làng
Hoàng-hương ôm-bọc. Phía trước có núi Nhâm-phong, đồi Nê-phụ
nhô cao" (LX).
Núi
Giao-lĩnh chắc là dãy núi Mông-cù, Kim-âu; làng Hoàng-hương
chắc nay là tổng Hoàng-xá. Núi Nhâm-phong có lẽ là nhỏn
núi ở phía đông làng Oai-hổ, phía nam làng Bạch-thỏ; vì
nhỏn núi này cao 229 mét, là cao nhất trong các núi ở trước
Ngưỡng-sơn, và cách đó không xa. Còn đồi Nê-phụ phải
chăng là núi tại làng Chi-nê, Sơn-đông ngày nay?
Bia
LX chép tiếp: "- đấy, nguyên đã có một ẩn-giả làm am,
ở lánh một mình, và đi giáo-hóa những vùng lân-cận. Gọi
là khai-thác, nhưng tĩnh-giới chưa được nghiêm-trang. Ông
cùng bộ-thuộc bèn lần đường, nối gót mà lên núi. Chỉ
thấy cổ-thụ um-tùm, yên-hà ràng-rịt. Bồi-hồi dẫn bước,
ngưỡng cúi mà nhìn không chớp mắt. Lòng thấy thích vui,
ý muốn xây-dựng". Bia LX không nói rõ đây là cuộc đi chơi
cùng sư Sùng-tín hay cuộc khác. Có lẽ, sau lúc sư về Kinh
rồi, Thường-Kiệt trở lại núi Ngưỡng-Sơn với bộ-thuộc.
Trong số bộ-thuộc, có Hải-chiếu đại-sư, là người làm
văn bia này.
"Ông
bèn nói với bộ-thuộc: "Kẻ nhân-trí vui là vui với núi sông.
Ðời đời truyền lại là danh với đạo. Nếu không dựng
chùa ở nơi này để mở đạo, thì danh núi đâu là đủ quí."
(LX)
"Rồi
ông sai xảy cỏ hoang, đập đá lớn. Thầy xem bóng lấy hướng,
thợ trình kiểu làm chùa. Kẻ giúp của mang đồ ăn tới,
kẻ đi học đua nhau đến xem. Kẻ giúp sức thì đục-đẽo,
kẻ lành nghề thì xây-dựng." (LX)
Sau
đây là cảnh chùa, khi đã hoàn-thành.
"Chùa
ở phía nam núi. Trai-phòng ở hai bên. Tượng đức Phật Như-lai
sơn vàng, ngồi cao trên tòa sen, nổi lên trên mặt nước.
Trên tường chung-quanh, vẽ mười sáu La-hán và các biến-tướng,
thiên hình vạn trạng. Không thể kể xiết.
"Sau
chùa, xây bảo-tháp, đặt tên là tháp Chiêu-ân. Tháp cao chín
từng, đều trương bày lưới. Bốn mặt mở cửa, xung-quanh
có bao-lơn. Bốn góc treo chiêng vàng, rung trước gió, cùng
chim núi kêu êm; phía trước dựng cột biểu, ánh bóng mai,
cùng tượng vàng chói sáng Bao-lơn quanh bọc, hoa cỏ đầy
thềm. Trước có cửa chính, dựng để treo chuông. Chày kình
gõ đánh, tiếng chuyển bay xa: thức kẻ mê, phá kẻ tục,
khuyên kẻ thiện, răn kẻ ác. Trước cửa một đường thẳng
xuống sông. Hai bên có rãnh nước; giời mưa thì nước chảy
theo mà xuông. Kề sông có một đình nhỏ. Thường-thường,
thuyền bè qua lại, dừng đó nghỉ-nơi. Hoặc Chiêm-thành,
Chân-lạp sang sứ, tới đó mà quì gối qui-y. Hoặc nước
lạ, đất xa về chầu, qua đó cũng cúi mình rạp trán." (LX)
Thật
vậy, chùa ở trên đường xung-yếu bấy giờ. Từ nam tới,
thuyền qua sông Mã, sông Lèn, qua trước chùa Linh-xứng, đến
sông Hội-thủy, sang Tống-giang và ra cửa Thần-phù, để tới
Thăng-long.
Lúc
lạc-thành, có lập hội. Các sư tụ-tập rất đông.
Lý
Thường-Kiệt có người cháu gái họ (có lẽ con Lý Thường-Hiến),
tên là Lý Thị-Cậu, lấy Văn-thị hiệu là Sùng-chân xử-sĩ.
Bà cũng qui Phật, hiệu là Bà-di Diệu-tính. Bà sinh được
ba trai. Người đầu theo đạo Nho, tên là Văn-Hai, tự là Bành-tổ.
Hai con sau theo đạo Phật: là sư Viên-giác hiệu Pháp-trí,
và sư Minh-ngộ hiệu Pháp-tư. Hai người này xuất-gia đời
Thần-vũ (1069-1072), phụng chiếu được xóa tính-danh, không
biên vào công-điển. Bấy giờ hai người đã tới làm nhà
ở núi này mà ở. Hai người lại làm chùa riêng ở phía đông
núi, đặt tên là chùa Thánh-ân. (LX)
Công
xây-dựng bốn năm mới thành. Lý Thường-Kiệt gọi sư Hải-chiếu
mà bảo: "Hưng-công đã lâu, nay chùa đã xong. Nếu không khắc
bia chép lại sự-tích thì người đời sau biết đâu mà tìm.
Sư hãy lựa lời văn, kể lại sự sáng-tác. Khiến cho rằng
tuy vật đổi dời, nhưng lời lành truyền mãi-mãi." (LX)
Ðại-sư
bây giờ trụ-trì ở chùa Phúc-diên-tư-thánh, có lẽ ở trấn-lị,
kiêm coi công-sự ở quận Cửu-chân, và làm việc dưới quyền
Lý Thường-Kiệt. Sư nghe lời ông dạy, bèn viết bài bia và
bài minh.
Trong
bài văn bia, đoạn đầu tán-dương công-đức Phật. Rồi chuyển
sang khen ngợi công Lý Thường-Kiệt đối với chùa. Lời bia
nói:
"Vì
thế nên hễ có danh-sơn, thắng-cảnh, thì có chùa-chiền;
nhưng nếu không có kẻ vương-công đại-nhân thì không dựng-nổi.
Chùa Linh-xứng ở núi Ngưỡng-sơn là do Thái-úy-lệnh-công
sáng lập."
Ðoạn
sau nói sự-nghiệp Lý Thường-Kiệt, và kể rõ việc xây chùa,
như đã chép lại trên. Cuối cùng là bài minh tóm-tắt đại-ý
bài văn bia. Lời minh sẽ phỏng-dịch ra sau:
" Tam-giới
luân-hồi; Tứ-sinh lăn-lóc.
Lầm-lỡ
đời mình; đảo-điên tâm-sắc.
Tham
chơi, chuộng giận; Kéo dài ái-dục.
Há
dễ yên đâu; Không thể đủ được.
Cao
thay! Chân-như: Thể, lượng mông-mù!
Thần
không lường nổi; Hóa rồi vẫn dư.
Mưa
nhuần một trận, Ba cõi được nhờ.
Cờ
Pháp dựng lên, Mối tà liền trừ.
Việt
có Lý-công, Theo dấu người cổ.
Coi
quận, dân yên; Ðánh đâu được đó.
Tiếng
động Chiêm-thành; Danh lừng Trung-thổ.
Dựng
chùa chốn nầy. Qui sùng Phật-tổ.
Núi
cao thay, hề! ngất từng không.
Hiền-tể
coi, hề! đã mở công.
Ðiện
tháp cao, hề! lớp chập-chồng.
Tượng
vàng nghiêm, hề! vẻ tráng-hùng.
Ðiềm
tốt nhiều, hề! chúc Thượng-hoàng.
Trị-vì
lâu, hề! đời xương-long.
Biến-tích
khắp, hề! đến hang cùng.
Bia
đá bền, hề! với núi sông."
Chùa
làm xong năm nào? Bài văn bia viết năm nào? Suy lời bia, thì
biết rằng năm ấy Thường-Kiệt còn ở Thanh-hóa, vì trong
bia không hề nói đến việc ông lại trở về triều. Nhưng
bia, thì 21 năm sau khi ông mất, mới dựng lên. Niên-hiệu bia
là Thiên-phù-duệ-vũ thứ bảy Bính-ngọ (1126).
Nay
chùa Linh-xứng không còn nữa, tháp cũng không còn dấu-tích.
Có lẽ chùa tháp đều làm bằng gạch, chắc nay nát hết rồi.
Hay rằng hãy còn di-tích chôn lấp dưới đất. Phải bới
tìm, may còn thấy chăng? May sao bia còn vẹn, nay để ở thềm
đền thờ Lý Thường-Kiệt (XIII/7). Nhờ vậy đỡ được
mưa nắng ăn mòn. Nhưng sát cạnh đền, về phía đông, và
cao hơn đền một ít; còn có một cái miếu nhỏ, có lẽ nền
chùa xưa ở đó.
*
Tuy
chùa cũ không còn, nhưng tấm bia xưa còn đủ làm toại lòng
Lý Thường-Kiệt muốn để người đời sau biết đến sự
sáng-tạo của ông, theo như lời ông dặn sư Hải-chiếu.
Với
ba
tấm bia đã nói trên, ta biết rằng ông đã có công với Phật-giáo
không phải ít.
Nhưng
ông là một vũ-tướng. Trong khi đánh Chiêm, chống Tống, ông
đã làm thiệt mạng biết bao sinh-linh. Kẻ mộ Phật, như vua
Lý Thái-tông, lúc thấy quân ta vào kinh-đô Chiêm-thành, sát-hại
nhân-dân, còn có lòng thương-xót, và đã hạ-lệnh "không
ai được giết bậy người Chiêm-thành. Ai giết sẽ không
tha tội" (TT). Còn Lý Thường-Kiệt, khi vào đánh Ung, đã để
quân mình giết gần sáu vạn người, chất đầu thành đống,
mà không có một lời ngăn. Hẳn ông không phải là một Phật-tử
được gương đức Phật từ-bi theo giọi.
Ông
giúp Phật-giáo, chẳng qua là theo phong-trào đương-thời mà
thôi. Lại thêm thái-hậu và vua mộ Phật. Ông dựng chùa chỉ
vì "vâng ý hai Thánh" mà thôi chăng?
Hoặc-giả,
công-đức với Phật của ông, lúc về già, mới có. Nếu
thật như vậy, thì biết đâu đó chẳng là vì lòng sám-hối
tội hiếu-sát của ông đương lúc tráng-thời hay sao?
Chú
thích
(*)
Trích từ: "Lý Thường-Kiệt" của Hoàng Xuân-Hãn, nhà xuất-bản
Sông-Nhị, Hà-nội, 1949.
BA
: Bia chùa Báo Ân (Lý)
HN
: Bia chùa Hương-nghiêm (Lý)
LX
: Bia chùa Linh-xứng. Hải-chiếu đại-sư Pháp-Bảo (Lý)
TB
Tục-tư-trị thông giám trường-biên. Lý Ðào (Tống)
TUTA
:Thiền-uyển tập-anh ngự-lục (Trần)
TT
: Ðại-việt sử-ký toàn-thư. Ngô Sĩ-Liên (Lê)
VSL
: Việt-sử-lược (Trần)
(2)
Húy đời Trần. - Ðời Trần, không những tên các vua, và
cha mẹ vua đều phải kiêng mà thôi. Sau khi cướp ngôi Lý,
Trần ban miếu-húy. Vì "Nguyên-tổ tên Lý cho nên đổi họ
Lý ra họ Nguyễn, để tuyệt lòng mong nhà Lý của dân" (TT
1232). Ta thấy rằng trong sách, sử viết đời nhà Trần, như
VSL, và TUTA, họ Lý đều bị đổi ra họ Nguyễn. Vả trong
bia BA, chữ Lý cũng bị đời Trần đục xóa đi.
Ngô
Sĩ-Liên còn cho ta biết rằng: "Vua Trần Minh-tông đối với
họ-hàng rất hậu, mà đối với người họ thuộc bậc tôn-quí,
thì lại càng tôn-kính. Phàm bầy tôi có ai trùng tên, thì
bắt đổi đi. Ví như tên Ðộ thì đổi ra Sư-Mạnh, (chắc
là Phạm Sư-Mạnh), vì kiêng tên Trần Thủ-Ðộ; Tung thì đổi
ra Thúc-Cao vì kiêng tên hầu Hưng-Ninh. Vả mỗi khi nói chuyện,
để tránh nói đến tên các bực chú, bác, cô, cậu, vua lại
soạn tấm thiếp nhỏ kê những tiếng kiêng nói, để trao
cho các con-cái và cung-nhân." (TT 1315)
Vì
lẽ ấy, cho nên chữ Càn phải kiêng. Sách TT (1312 đời Trần
Anh-tông) có chú-thích rằng: "Cửa Cần ở huyện Quình-lưu,
thuộc Nghệ-an, vốn tên là cửa Càn, vì húy nên đổi." Cũng
vì lẽ ấy mà điện Càn-nguyên, đời Trần đổi ra điện
Triều-nguyên; núi Càn-ni đổi ra núi Ma-ni. Mà chính-âm của
chữ ấy là Kiều, nay ta thường đọc Càn có lẽ cũng là
tị-húy từ đời Trần.
Chữ
Ðạo chắc cũng vì tên của Trần Hưng-Ðạo mà đổi. Không
những Ðạo-dung thành Pháp-dung, mà tên Lý Ðạo-Thành trong
VSL (1073), đã đổi ra Nguyễn Nhật-Thành. Có lẽ cũng vì kiêng
húy, mà trong tên Tô Hiến-Thành, VSL (1139) đã đổi chữ Hiến
ra chữ Linh, và hiệu Sùng-Tín của đại-sư Mãn-Giác đã bị
TUTA (21b) đổi ra Hoài-Tín.
3)
Tên Ðàm mỗi nơi chép một khác. Mộ-chí và TT 1161 đều chép
với chữ Ðàm là nói chuyện; nhưng vào năm 1127, 1129, 1136,
sách TT lại chép với chữ Ðàm là sâu dài, tức là nửa bên
phải chữ Ðàm kia.
Sách
TT có chép những chuyện sau này về Khánh-Ðàm:
Năm
1127, vua Nhân-tông triệu thái-úy Lưu Khánh-Ðàm để trao di-chiếu.
Năm 1129, Thần-tông sai thái-úy Lưu Khánh-Ðàm đi bắt hươu
trắng ở rừng Giang-để. Năm 1135 ông chết. Nhưng đến năm
1161, TT lại chép thái-úy Lưu Khánh-Ðàm chết một lần nữa.
Có lẽ đó là em Lưu Khánh-Ðàm, tức là thái-úy Lưu Ba.
(4)
Các tên đất này, nay không còn. Nhưng ta cũng biết được
một vài điều. Phân-dịch có lẽ là phần đất huyện Quảng-xương,
ở bờ nam sông Mã. Bia Báo ân cũng nói tới đất ấy (XV/1)
- Tên núi Ma-la, về cuối đời Trần vẫn còn. Sách Lam-sơn
thật-lục chép rằng Lê Lợi trốn quân Minh ở đó, gặp xác
một người đàn bà mặc áo trắng.
(5)
TUTA chép rằng Khánh-hỉ mất ngày 27 tháng giêng, năm Ðại-định
thứ ba, Nhâm-tuất 1142, thọ 76 tuổi. Theo đó mà tính, thì
ông sinh năm 1067, và ông mới có 10 tuổi, lúc Ðạo-dung tới
Thăng-long. Làm sao ông làm thầy cho Ðạo-dung được? Sách
TT lại có chép, vào năm 1135, việc hầu Khánh-hỉ mất. Chắc
rằng nguyên là chữ tăng, mà TT chép lầm ra chữ hầu. Người
chú-thích sách TUTA, in đời Vĩnh-thịnh, cũng nói rằng: theo
Sử-ký thì tăng Khánh-hỉ mất năm 1135. Nếu theo thoại sau
thì lúc bấy giờ Khánh-hỉ cũng chỉ mới 17 tuổi mà thôi.
Tôi nghĩ rằng TUTA chép lầm năm mất và tuổi thọ. Có lẽ
thọ 96 tuổi, vì chữ Cửu và Thất rất dễ lẫn. Với chữ
Cửu, thì lúc sư Ðạo-dung ra học với Khánh-hỉ, vị này
đã 37 tuổi. Như thế mới hợp lý.
(6)
Phò-ký-lang là một chức quan có lẽ gần như phò-mã. - Thanh-hóa
có họ Thiều lớn ở làng Doãn-xá, thuộc phủ Ðông-sơn.
Ðời Trần, họ này có Thiều Thốn làm quan Lạng-giang phòng-ngữ-sứ.
Ðời Lê có Thiều Qu -Linh đậu hoàng-giáp khoa 1505. Trong vùng
này, còn có vài làng tên Thiều-xá, nghĩa là làng họ Thiều.
(7)
Ở nước ta, lúc đổi tên một xứ nào, thường vẫn giữ
lấy một phần tên cũ, để dễ nhớ và dễ nhận trong giao-thời.
Tên đất thường gồm hai tiếng; lúc đổi thì hoặc giữ
tiếng trên, hoặc giữ tiếng dưới. Cho đến chữ bị đổi,
trong tên mới, cũng thường được giữ lấy hoặc hình-dáng,
hoặc nghĩa, mà nhiều khi được giữ cả hình, cả nghĩa.
Ví dụ chữ Minh đổi ra chữ lãng. Hai chữ đều nghĩa là
sáng và tự-dạng hơi giống nhau.
Sự
đổi tên có nhiều cớ. Cớ thường là vì kiêng chữ húy
của các đời vua; ví dụ đời Lê, đổi An-bang ra An-quảng,
Thanh-đàm ra Thanh-trì; đời Nguyễn đổi Kim-hoa ra Kim-anh, Nam-chân
ra Nam-trực Một cớ rất thường là để trừng-phạt hay khen-thưởng
đất ấy. Ví-dụ làng Trung-lễ ở Hà-tĩnh đã bị đổi ra
Qui-nhàn. Có lúc vì dân làng tự cho tên làng mình không hay,
cho nên dân tự xin đổi. Như làng Bần-điền ở Nghệ-an đã
đổi ra Phú-điền. Một cớ rất thường là vì phân-tách
một đơn-vị to ra nhiều mảnh, rồi thay tên cũ bằng nhiều
tên mới. Trong trường hợp chia đôi đất, người ta thường
lấy chữ đầu nguyên-danh làm chữ đầu cho một tên mới,
và chữ cuối nguyên-danh làm chữ cuối cho tên mới thứ hai.
Lúc họp hai đơn-vị thì lấy chữ đầu của một tên và
chữ cuối của tên kia mà chắp lại, ví dụ tổng-đốc Hà-Ninh
là tổng-đốc Hà-nội, Bắc-ninh. Trong trường-hợp chia ra
nhiều mảnh, thì người ta lấy một chữ làm gốc (ví dụ
tên tục) có sẵn trong nguyên-danh, rồi thêm một chữ mới
lên trên hay xuống dưới để làm chỉ-định-tự, để mà
phân-biệt. Ví-dụ làng Sét thành Thịnh-liệt, Thanh-liệt,
Tử-liệt; làng Mơ thành Bạch-mai, Hoàng-mai, Tương-mai, Mai-động.
(8)
Sách ANCL có chép rằng phủ Thanh-hóa có giáp Cổ-chiến. Theo
bia BA, thì giáp ấy là đất Ðông-sơn.
(9)
Cuối đời Trần, sử chép tên sông Lèn là Ðại-lại, làng
ở phía bắc sông là làng Ðại-lại. Chắc đó là biến-danh
của Ðại-lý. Làng Ðại-lại là quê của Hồ Quí-Ly. Năm
1398, Quí-Ly dựng cung Bảo-thanh ở dưới chân núi Ðại-lại,
để ép vua Trần Thuận-tông ở (TT). Sau khi Quí-Ly lên ngôi,
thường hay về nghỉ mát ở đó. Dựng cung gọi là Ly-cung.
Có bể tắm, xây đá, có trạm trổ rất đẹp. Bể tắm, thì
lấy nước suối cho vào. Nay vết-tích bể tắm còn. Nếu bới
đất tìm vùng này, ta sẽ biết rõ nhiều điều về đời
Trần-mạt. Cũng ở đó, có chùa Kim-âu, dựng đời Trần,
nay còn bệ đá điêu-khắc rất đẹp, và một pho tượng Phật
cổ, có lẽ từ đời Trần. 3.
(10)
Mãn-giác là tên được vua ban cho, sau khi sư đã mất. Húy
của sư là Trường. Lúc bé sư vào hầu Càn-đức. Thái-hậu
rất yêu. Cho nên sau khi Càn-đức lên ngôi, thái-hậu lại
ban hiệu cho ông là Hoài-tín. Sau khi sư đi tu nổi tiếng, thái-hậu
lại mời vào ở chùa Giáo-nguyên trong cung. Thái-hậu không
gọi sư bằng tên, mà chỉ gọi là trưởng-lão. Theo những
điều mà TUTA chép trên, thì đang lúc sinh-thời, Mãn-giác mang
hiệu Hoài-tín trưởng lão. Hiệu ấy so với hiệu Sùng-tín
trưởng-lão, chép trong bia LX, có khác chữ Hoài. Nhưng hai hiệu
nghĩa như nhau. Ta có thể đoán rằng, hai trưởng-lão kia chỉ
là một. Có lẽ, đời Trần có kiêng tiếng Sùng cho nên TUTA
mới đổi ra Hoài như thế.
Xét
tên, xét chức, xét địa-vị của Sùng-tín trưởng-lão và
Hoài-tín trưởng-lão, ta có thể tin rằng hai người là một.
Vậy, vị sư tới thăm Lý Thường-Kiệt, năm 1085, ở Thanh-hóa,
chính là Mãn-giác đại-sư.
(11)
Theo Lê Tắc là người Thanh-hóa đời Trần, viết trong ANCL,
thì Thanh-hóa có lèn Long-đại, mà cũng gọi là Bảo-đài.
Cảnh lèn u-uất, đẹp, có động thờ Phật, ngoài có lầu
gác trên sườn núi. Trước mặt có sông, sau có lối đi và
ngòi nước. Rừng thông vài dặm, núi đá vạn trùng. Xưa truyền
rằng trong hang có thứ dơi lớn. Cho nên tên tục là núi Hang-dơi.
Những
sách, ANCL của Cao Hùng-Trưng, Việt-kiệu-thư, và Minh-chí chắc
đều chép theo một gốc mà ra, gốc ấy là Lê Tắc. Nhưng
vì sao lầm, in lầm, cho nên có khác nhau ít nhiều. Ngày nay
còn có động Bạch-ác ở làng Trị-nội, huyện Nga-sơn, cũng
có tên tục Hang-dơi. Nhưng tôi tưởng tên ấy, các hang thường
có. Theo trên, núi Long-tị không phải ở dó.
Sách
Minh-chí cũng có chép núi Long-đại vào hàng danh-sơn. Sách
ÐNNTC XIV/31a nói rằng núi Long-đại là núi Hàm-rồng ngày
nay, mà tên chữ là Long-hàm.
Xét
hai tên Phấn-đại, Long-tị, ta có thể ngờ rằng cửa bể
ấy và núi ấy cũng chẳng xa núi Long-đại đời Trần. Tôi
tưởng rằng núi Long-tị là núi Long-hàm (Hàm-rồng), và cửa
bể Phấn đại là cửa sông Mã. Núi Long-hàm hay Hàm-rồng
là nhỏn cuối của một dãy núi, chạy dài trên hữu-ngạn
sông Mã từ làng Dương-xá đến cầu Hàm-rồng, dài trên khoảng
5 cây-số. Núi là núi đất lẫn đá, nhưng nhỏn Hàm-rồng
thì toàn đá. Trên cao có động, tên động là Long-quang. Ðộng
có hai cửa hai bên, hình như hai mắt rồng, mà thường gọi
là Long-nhãn. Núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra
như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long-tị. Gần mặt nước
có hai lớp đá trồng nhau như hàm rồng, đó là Long-hàm. Toàn
hình, trông từ phương bắc, giống như đầu rồng đương
uống nước. Bên kia sông có nhỏn đá tròn, người ta gọi
là núi Hỏa-châu. Cảnh chung gọi là Long hí châu (rồng vờn
hạt ngọc châu). Chắc rằng đời Lý, cửa sông Mã gần núi
Long-tị hơn bây giờ. Vả bờ bể từ đó ra đến cửa Thần-phù
mỗi năm bồi thêm không ít. Cửa Thần phù nay ở trong đất
ngót 10 cây số, cửa Bạch-câu ở huyện Nga-sơn, xưa cũng
gần núi Vân-hoàn, như thơ Phạm Sư-Mạnh, đề ở động năm
1372 còn chứng.
Núi
này cũng đất đá lẫn nhau, trừ phần cuối về phía nam là
toàn đá. - đó có động, có chùa. Trước cửa động có bia
đời Trần. Trên bia có khắc thêm một bài thơ của Phạm
Sư-Mạnh tả cảnh chung-quanh, thơ nói: Trèo lên động nhìn
xuống thấy sóng nổi ngàn vạn dặm, giữa trời nổi nước,
giữa nước nổi núi. Ðó là tả cửa bể Bạch-câu.
Nguồn:
http://cusi.phapviet.com