|
.
BÁO ĐỘNG
ĐỎ:
SỐ
LƯỢNG PHẬT TỬ NGÀY CÀNG SUY GIẢM MẠNH TẠI MÔNG CỔ
Michael
Kohn - Thích Minh Trí dịch
 |
 |
Thủ
đô Ulan Bator, Mông Cổ, ngày 18/9/2008.
Tín
lý Thiên chúa giáo càng ngày càng tăng nhanh tại Mông Cổ.
Các người truyền bá Thiên chúa giáo đã dụ dỗ cải đạo
hàng ngàn Phật tử, trong khi đó Phật giáo lo sợ mất văn
hóa truyền thống.
Mitch
Tillman là kẻ cứu rỗi hữu danh vô thực. Cách đây 6 năm,
kẻ truyền giáo của hội thánh Baptist này đã mòn mỏi bóc
lịch trong nhà tù Alabama, đối diện với bản án cáo trạng
buôn bán ma túy. Ngày nay, ông ta xây bệnh viện, nuôi trẻ
em lang thang hè phố, và cứu rỗi các linh hồn tại Mông Cổ.
Đối
với những người truyền giáo Thiên chúa giáo như Tillman,
Mông Cổ là tân El Dorado (Mảnh đất vàng). Từ khi sự cai
trị của cộng sản kết thúc năm 1990, khoảng 60 ngàn người
Mông Cổ đã cải đạo theo Thiên chúa giáo, - theo ghi nhận
của các hội thánh Đa Thê (Mormon) hội thánh Tin lành Phục
Lâm Ngày thứ Bảy (Seventh-day Adventist), và các hội thánh Tin
lành khác, và Cơ-đốc-giáo.
L.Chimgee,
18 tuổi, một sinh viên Đại học Kỹ thuật ở thủ đô Ulan
Bator, nói.“Nhiều bạn em đang trở thành tín đồ Thiên
chúa giáo, cho nên em quyết định học một cái gì đó từ
tôn giáo này, em vừa tham dự buổi cắm trại của Thiên chúa
giáo trong ngày nghỉ cuối tuần ở miền quê. Nó có rất nhiều
trò chơi, và em cảm nhận được ý nghĩa thực tế của cộng
đồng. Vì vậy, em theo nhà thờ.”
Tillman,
- kẻ được tha bổng tội sở hữu ma túy năm 2002, - tin vào
những buổi cầu nguyện mà đã có được tự do. Trước đây,
khi mới ra tù, cư dân Chattanooga đã bán cửa hàng xác ô tô
của hắn và chuyển đến Mông Cổ, nơi mà cha hắn là mục
sư của hội Baptist, đã thành lập một hội truyền giáo.
Tillman, - 53 tuổi, cha của 06 đứa con, trong đó có 3 đứa
trẻ Mông Cổ được hắn nhận làm con nuôi, - nói: “Vì
Mông Cổ vừa bước vào kỷ nguyên mới của tự do và
dân chủ, nên người dân Mông Cổ đang tìm kiếm một cái
gì khác. Họ đang tìm kiếm hy vọng và một cuộc sống tốt
hơn cho các con trẻ của họ. Tôi nghĩ, chúa Ki-tô sẽ ban cho
họ điều đó.”
Các
lạt-ma bật đèn đỏ
Nhưng
cuộc vận động đối với người cải đạo đã được bấm
chuông báo động trong các hành lang cổ kính của Tu viện Gandan,
một khu liên hợp Phật giáo lớn nhất nước với 800 tu sỹ.
Trưởng lão Khunhur Byambajav nói, ông lo rằng, người Mông Cổ
đang đến tu viện của ông ngày càng ít hơn.
Trưởng
lão Byambajav nói: “Đó là một vấn đề về tiền. Những
hội truyền bá (Thiên chúa giáo) có tiền để xây trường
và giáo dục giới trẻ. Họ dụ dỗ Phật tử bằng mọi cách
khác nhau, liên quan đến những món quà mà các nhà thờ dâng
tặng như thực phẩm, quần áo, và học bổng du học nước
ngoài. Chúng tôi không có đủ tài chính, nhưng chúng tôi phải
cố gắng, mặt khác chúng tôi hẳn sẽ không có đủ người
trẻ để trở thành Phật tử”.
Chẳng
hạn, Hội Truyền bá Phúc âm Quốc tế của Tillman hoạt động
tại hai bệnh viện, một trại trẻ mồ côi, một địa điểm
phát chẩn, và một chương trình phục hồi sức khỏe cho người
nghiện rượu trong một quốc gia, nơi mà rượu uống thay nước,
thậm chí vài tu sỹ Phật giáo cũng uống, - vài người quan
sát nói.
“Các
tự viện Phật giáo của chúng tôi quá yếu, L. Odonchimed,
nguyên nghị sỹ quốc hội, nói. “Họ thu tiền của
nhân dân, nhưng họ không cho lại nhiều. Các hội truyền bá
Phúc âm phát đồ miễn phí và giúp nhân dân – đó là cái
mà một tổ chức tôn giáo nên làm”.
Những
nhóm chưa đăng ký
Trưởng
lão Byambajav nói, ông lo lắng nhất là những nhóm Thiên chúa
giáo chưa đăng ký, - ý mà ngài muốn nói là những thanh niên
nam nữ tình nguyện truyền giáo, - thuyết phục Phật tử đốt
báo tôn giáo, và thậm chí phá hủy cả các bảo tháp (kiến
trúc giống như ngọn núi, biểu tượng của giác ngộ). “Không
có quyền điều kiển những nhóm này, và không ai để tâm
chú ý đến cái mà chúng đang làm”.
Trong
một quốc gia tách rời giữa giáo hội và nhà nước như Hoa
Kỳ, lạt-ma Byambayav đề nghị chính phủ làm cho Phật giáo
trở thành quốc giáo. Ngài lý luận rằng, đất nước cần
một giới luật của tu sỹ, nên nhà nước tài trợ và cho
phép giảng dạy Phật Pháp trong các trường công. Byambajav
nói: “Chúng tôi đã gửi thư đến chính phủ để
thay đổi luật về tôn giáo, nhưng các tổ chức tôn giáo
hải ngoại rất mạnh và giàu có. Họ chi phối các quyết
định của các nhà chính trị bởi vì họ cho các nhà chính
trị ấy tiền. Vì vậy, nó đặt chúng tôi vào vị thế bất
lợi”.
Trở
lại vấn đề Phật giáo
Odonchimed,
- cựu nghị sỹ quốc hội, - nhất trí rằng, nhiều người
Mông Cổ bị các dịch vụ biếu xén của các nhóm nhà thờ
thu hút. Nhưng ông tiên đoán, cuối cùng người dân sẽ phớt
lờ nó khi kinh tế đất nước phát triển.Ông nói: “Khi
thời gian trôi qua, người dân sẽ có nhu cầu ít hơn
đối với các hội truyền giáo này, và họ sẽ bị bỏ quên.
Hầu hết mọi người sẽ quay về theo Phật giáo”.
Trong
khi chờ đợi, Liên đoàn Bảo tồn Truyền thống Đại thừa
(FPMT), - một tổ chức Phật giáo bất vụ lợi trụ sở tại
Oregon, - đang vận dụng lối tiếp cận Tây phương để thu
hút tín đồ. Liên đoàn này đã khai giảng các khóa học trong
các tu viện và tại trung tâm thủ đô Ulan Bator. “Tôn
giáo Mông Cổ cần phải thích nghi với thời đại,”
Ueli Minder, lãnh đạo Liên đoàn tại Thụy Sỹ, nói. Giới
trẻ Mông Cổ có ít kiến thức về Phật giáo bởi vì các
tự viện không giảng dạy giáo lý cho cư sỹ. Mục đích của
chúng tôi là giúp cho mọi người hiểu nguồn cội văn hóa
và tôn giáo”.
Một
ngôi chùa Phật giáo tại thủ đô Ulan Bator
Phương
pháp Tây phương
Trưởng
lão Byambajav nói, tu viện Gandan cũng vận dụng phương pháp
Tây phương, như một chương trình phát thanh, các kế hoạch
mở vài trường tư thục và khai trương một kênh truyền hình.
Tuy
nhiên, Minder thừa nhận rằng, giới tu sỹ Phật giáo đang
đối diện với một thách thức nản lòng khi bị buộc chống
lại các hội truyền giáo: Sự cải đạo là một khái niệm
xa lạ đối với hầu hết trong số họ. Minder nói: “Phật
giáo không nên trở thành một tôn giáo truyền bá, nhưng chúng
tôi cần phải có can đảm vượt qua lối hoằng pháp thụ
động trong quá khứ, và phổ cập công tác hoằng pháp, các
lạt-ma (tu sỹ Tây Tạng/Mông Cổ) cần phải học
để bảo vệ đức tin của họ, và để lấy lại niềm tin
của mọi người.”
Tín
lý Thiên chúa giáo nằm trong đất nước Mông Cổ của Phật
giáo
Cho
đến khi tôn giáo bị chế độ cộng sản cấm năm 1921, hầu
hết người dân Mông Cổ theo đạo Phật của Tây Tạng. Tự
do mới từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản năm 1990
đã hợp thức hóa Phật giáo và các tự viện đã mở cửa
trở lại. Nhưng đồng thời, nó cũng mở rộng các cửa cho
các tôn giáo khác.
Hiện
nay, 50% người dân Mông Cổ là Phật tử theo truyền thống
Phật giáo Tây Tạng, 6% là tín đồ của Hoàng giáo (Shamanism)
và Thiên chúa giáo, và 4% là tín đồ Hồi giáo. Khoảng 40%
nói, họ thực hành phi tôn giáo, theo số liệu của CIA.
Thách
thức để giữ Phật tử đầy niềm tin từ sự cải đạo
sang Thiên chúa giáo là chướng ngại về ngôn ngữ. Các tu
sỹ tụng kinh tiếng Tây Tạng, - thứ ngôn ngữ mà phần đông
người Mông Cổ không hiểu. Các bài giảng và Phúc âm của
Thiên chúa giáo đã được đọc và viết bằng tiếng Mông
Cổ.
Theo
ghi nhận của các đoàn thể hội thánh hoạt động ở Mông
Cổ, có 60 ngàn tín đồ Thiên chúa giáo- gia tăng 20% trong 8
năm qua. Chính phủ không nắm các số liệu thống kê về tình
trạng sáp nhập tôn giáo này.
Tại
thủ đô Ulan Bator, nơi mà một nửa tín đồ Thiên chúa giáo
sinh sống, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, các nhà
thờ tọa lạc nổi bật ở các vùng ngoại ô, trong đó có
một nhà thờ của hội thánh Đa thê Năm chuyện (Five-story
Mormon) nằm cạnh khách sạn sang trọng nhất của thành phố.
Khách trọ có thể xem chương trình Thiên chúa giáo qua kênh
truyền hình Đại Bàng (Eagle TV), - một kênh truyền hình vệ
tinh được tài trợ bởi các tín hữu Tin lành giáo.
Quay
về với lối sống Mỹ cũng là ‘chuyện thường ngày ở
huyện’, kể cả những mục sư danh tiếng giảng những bài
giảng sinh động cho các sảnh đường ắp đầy lối sống
ấy. Các dịch vụ này bao gồm nhạc rock, ánh sáng đèn chói
chang, và video kỹ thuật cao chiếu qua màn ảnh rộng. Những
chai nước trắng bố thí tràn ngập, và các cô cậu choai choai
có thể đăng ký tham gia “cắm trại Thiên chúa” ở nông
thôn.
Mitch
Tillman, mục sư Tin lành Baptist Mỹ nói:“Nó là một sự
giải thoát nguyên trạng. Vì quá nhiều năm rồi, người dân
Mông Cổ sống theo đạo Phật, và lúc ấy họ bị đàn
áp bởi cộng sản. Họ muốn một cái gì mới và họ tìm
thấy nó trong chúa Ki-tô.
Tác
giả: Michael Kohn
Thích
Minh Trí dịch (Theo sfgate.com)
09-21-2008
11:34:55
Xem
bản tiếng Anh:
Christianity
growing fast in Mongolia
Missionaries
convert thousands
while Buddhists
fear losing traditional culture
Michael
Kohn, Chronicle Foreign Service
Thursday,
September 18, 2008
Mongolians
pray at the Living Word Christian Church, an evangelical church with around
1,000 members in Ulan Bator. (By Michael Kohn / Special to The Chronicle)
(09-18)
04:00 PDT Ulan Bator, Mongolia -- Mitch Tillman is an unlikely savior.
Six years ago, the Baptist missionary languished in an Alabama jail, facing
a prison sentence on drug charges. Today he builds hospitals, feeds street
children and saves souls in Mongolia.
For
Christian missionaries like Tillman, Mongolia is the new El Dorado. Since
communist rule ended in 1990, some 60,000 Mongolians have turned to Christianity,
according to records kept by Mormons, Seventh-day Adventists, other Protestant
churches and Catholics.
"A
lot of my friends were becoming Christian, so I decided to learn something
about the faith," said L. Chimgee, 18, a student at Ulan Bator's Technical
University. "I went on a weekend retreat to a Christian camp in the countryside.
It was a lot of fun and I felt a real sense of community. So I joined the
church."
Tillman,
who was acquitted of cocaine possession in 2002, believes prayers secured
his freedom. Once out of jail, the Chattanooga native sold his auto body
business and moved to Mongolia where his father, a Baptist pastor, had
established a mission.
"As
Mongolia enters a new era of freedom and democracy, people are looking
for something different," said Tillman, a 53-year-old father of six, whose
family includes three adopted Mongolian children. "They are looking for
hope and a better life for their children. I think that Christ will give
them that."
Monks
alarmed
But
the campaign to convert Mongolians has set off alarm bells in the ancient
hallways of Gandan Monastery, the nation's largest Buddhist complex with
800 monks. Senior monk Khunhur Byambajav says he is concerned that fewer
Mongolians are coming to his monastery.
"It's
a problem of money. (Christian) missionaries have money to build schools
and educate young people. They entice them by various means," said Byambajav,
referring to gifts offered by churches such as food, clothing and scholarships
to study abroad. "We cannot financially compete, but we have to try, otherwise
we won't have enough young people becoming Buddhist."
Tillman's
Harbor Evangelism International, for example, operates two hospitals, an
orphanage, a soup kitchen and an alcohol recovery program in a country
where alcoholism is rampant even among some Buddhist monks, some observers
say.
"Our
Mongolian Buddhist monasteries are weak," said L. Odonchimed, a former
member of parliament. "They get money from people but don't give much back.
Missionaries give things away for free and help people - that is what a
religious organization should do."
Unregistered
groups
Byambajav
says he is most concerned about unregistered Christian groups, which he
says indoctrinate children, convince Buddhists to burn religious articles
and even destroy stupas (a mound-like structure that symbolizes enlightenment).
"There is no control over these groups and no one is paying attention to
what they are doing."
In
a nation that separates church and state like the United States, Byambajav
has asked the government to make Buddhism the state religion. He argues
that the nation needs a law giving monks state funds and allowing the teaching
of Buddhism in public schools.
"We
sent a letter to the government to change the law on religion, but foreign
religious organizations are very strong and wealthy," said Byambajav. "They
influence the decisions of politicians because they give them money. So
it puts us at a disadvantage."
Back
to Buddhism
Odonchimed,
the former legislator, agrees that many Mongolians are attracted by the
services offered by church groups. But he predicts they will be eventually
ignored as the nation's economy develops.
"As
time passes, people will have less need for these missionaries and they
will be forgotten," he said. "Most people will turn back to Buddhism."
In
the meantime, the Federation for the Preservation of the Mahayana Tradition,
an Oregon-based nonprofit Buddhist organization, is using a Western approach
to win converts. The group has opened schools in monasteries and at its
center in Ulan Bator.
"Mongolian
religion needs to adapt to modern times," said Ueli Minder, the Swiss head
of the federation. "Young Mongolians have little knowledge of Buddhism
because the monasteries don't teach the faith to laypeople. It's our goal
to help people understand the roots of the culture and the religion."
Western
methods
Byambajav
says Gandan monastery is also using Western methods, including a radio
program, and plans to open several private schools and launch a television
station.
Minder,
however, concedes that Buddhist monks are facing a daunting challenge when
going up against Christian missionaries: proselytizing is an alien concept
for most of them.
"It
should not become a missionary religion, but we need to have a strategy
to overcome the negative propaganda of the past and the propaganda of missionary
work," said Minder. "The lamas (Tibetan/Mongolian monks) need to learn
to defend their beliefs ... regain the people's confidence."
Christianity
in Buddhist Mongolia
Until
religion was banned in 1921 by a Communist regime, most Mongolians followed
Tibetan Buddhism. New freedom following the collapse of communism in 1990
legalized Buddhism and reopened monasteries. But it also opened the gates
to outside faiths.
Currently,
50 percent of Mongolians are Tibetan Buddhists, 6 percent are Shamanist
and Christians and 4 percent are Muslims. About 40 percent say they practice
no religion, according to CIA data.
The
challenge to keep the Buddhist faithful from converting to Christianity
is hampered by language. Monks chant in Tibetan, which most Mongolians
do not understand. Christian sermons and bibles are given and written in
Mongolian.
According
to records kept by church groups operating in Mongolia, there are 60,000
Christians - a 20 percent increase over the past eight years. The government
keeps no statistics on religious affiliation.
In
the capital, Ulan Bator, where half the nation's Christians reside, according
to a U.S. State Department report, churches are located in prominent neighborhoods,
including a five-story Mormon tabernacle situated next to the city's most
luxurious hotel. Residents can also watch Christian programs via Eagle
TV, a satellite channel funded by American Protestants.
U.S.-style
revivals are also common, including charismatic pastors giving fiery sermons
to packed halls. These services include rock music, flashing neon lights
and high-tech videos beamed across large screens. Clear plastic boxes overflow
with donations and teens can sign up to participate in rural "Jesus Camps."
"It's
a release from the status quo," said American Baptist minister Mitch Tillman.
"For so many years they were under Buddhism and then they were oppressed
by communism. They want something new and they find it in Jesus Christ."
E-mail
Michael Kohn at foreign@sfchronicle.com.
This
article appeared on page A - 19 of the San Francisco Chronicle
|
Bài
đọc thêm:
PHẬT GIÁO
TẠI MÔNG CỔ
Thích
Nguyên Tạng
Mông
cổ (Mongolia), một quốc gia Cộng hòa nằm phía Ðông trung
tâm Châu Á, xứ sở này gồm hầu hết các vùng cao nguyên
với sa mạc Gobi ở phía Nam, một quần hồ lớn phía Tây Bắc
và núi Altai, Khangai ở phía Tây. Ngôn ngữ: tiếng Mông Cổ
(Khalkha). Tiền tệ: tugrik. Thủ đô: Ulan Bator. Diện tích: 1.565.000
Km2. Dân số: 2.190.000 người. Tuổi thọ trung bình: 62,5 tuổi.
Tôn giáo: Phật giáo là quốc giáo, hai tôn giáo nhỏ khác là
Thiên chúa giáo và Hồi giáo.
Mông
Cổ là một quốc gia kế thừa“Vương quốc những đồng
cỏ” của Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan, 1162-1227). Ðộc lập
năm 1911 và theo chế độ Cộng Sản vào năm 1924, có quan hệ
mật thiết với Liên Xô (cũ). Từ năm 1989, tiến trình dân
chủ hóa đã bắt đầu và đưa tới sự cải tổ sâu rộng
về các mặt kinh tế và chính trị. Các ngành kinh tế chính:
công, nông nghiệp. Tài nguyên khoáng sản có: than đá, than
nâu, dầu mỏ, vàng, bạc, chì, thạch cao.... Ngành chăn nuôi:
cừu, lừa, lạc đà. Các ngành công nghiệp có: khai thác than,
chế biến thực phẩm, sản xuất len. Thu nhập bình quân đầu
người: 803 đô la/năm.
Theo
nhà nghiên cứu sử học người Anh Andrew Skilton[1], Phật giáo
được truyền vào Mông Cổ từ Ấn Ðộ, Trung Á và Trung Hoa
vào đầu thế kỷ thứ 4 trước Tây Lịch bằng con đường
tơ lụa (Silk Road) qua các nhà buôn người Aán. Từ đó PG dần
dà phát triển đến thế kỷ thứ 13 Tây lịch với nhiều
đợt truyền giáo của Phật Giáo Tây Tạng và Phật Giáo Trung
Hoa. Tuy nhiên, PG Tây Tạng chiếm ưu thế và ảnh hưởng mạnh
mẽ vào đời sống của người dân Mông Cổ. Ðỉnh cao của
sự ảnh hưởng này là Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 4 là người
Mông Cổ (1588). Trước khi PG được truyền vào Mông Cổ, tôn
giáo bản địa là Shamartistic, một tôn giáo chịu ảnh hưởng
từ truyền thống tâm linh của người Ba Tư.
Thời
kỳ hưng thịnh của Phật Giáo Mông Cổ:
PG
Mông Cổ trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm, trôi nổi theo
vận nước, thời kỳ thứ nhất xảy ra vào thế kỷ thứ
13 theo sau các cuộc xâm lăng của Mông Cổ trên khắp Á Châu.
Kết quả của sự mở rộng bờ cõi này đã mang về Mông
Cổ các truyền thống văn hóa và tôn giáo từ ngoại quốc,
trong số đó, Phật giáo Tây Tạng (Phái Thích Ca - Sakya Order)
chiếm phần ưu thế, được người dân Mông Cổ ưa chuộng
và ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống của người dân.
Trong số những Hoàng đế Mông Cổ thời bấy giờ có Kublai
Khan (Hốt Tất Liệt, 1216-94) là cháu nội của Thành Cát Tư
Hãn, là người kế thừa và hoàn thành việc chinh phục hoàn
toàn Trung Hoa bằng cách lật đổ triều đại nhà Tống (1279)
và lập nên triều Nguyên (Yuan, 1279-1368). Kublai Khan là người
ngưỡng mộ và quy y theo Ðạo Phật, đặc biệt ông từng
tham dự lễ điểm đạo quan trọng về pháp tu Mật tông Kalachakra[2]
và ông là người có công lao trong việc khuyến khích và bảo
trợ công việc phiên dịch Kinh điển sang tiếng Mông Cổ.
Thời
kỳ Phật giáo hưng thạnh thứ hai bắt đầu từ triều đại
của Hoàng đế Altan Khan (1507-83), khi Mông Cổ có cuộc tiếp
xúc mới với Tây Tạng, chính vì thế mà phái Hoàng Giáo (Gelugpa)[3]
của Tây Tạng được chính thức truyền vào Mông Cổ và phát
triển rất nhanh trên đất nước này qua sự bảo trợ của
hoàng đế Altan Khan , và từ đó trở đi, Hoàng Giáo phái (Gelugpa)
đã thay thế vị trí của phái Thích Ca để lám công tác truyền
giáo ở Mông Cổ. Trong thời điểm ấy, một sự kiện quan
trọng xảy ra cho Phật giáo Tây Tạng là sau cuộc chinh phục
hoàn toàn Tây Tạng vào 1614, để lấy lòng dân, triều đình
Mông Cổ đã ban hành một pháp lệnh rằng Ðức Ðạt Lai Lạt
Ma của phái Hoàng Giáo là vị “đế sư”, đứng đầu ở
thủ đô Lhasa, có quyền quản lý thế quyền và giáo quyền
ở Tây Tạng.
Cả
dân tộc Tây Tạng lẫn Mông Cổ đều tin tưởng rằng Ðức
Ðạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara),
nên việc điều hành chính trị và tôn giáo ở Tây Tạng được
người dân tin tưởng vào khả năng của vị tái sinh và được
thừa nhận là Dalai Lama.
Thời
kỳ thứ ba, dưới triều đại nhà Thanh (1662-1911), là triều
đại ủng hôï Phật giáo ở Trung quốc, khi họ xâm chiếm
Nội Mông (Inner Mongolia) họ có những ưu đãi cho Phật giáo,
nhiều tông phái của Phật giáo Trung Quốc cũng được truyền
vào Mông Cổ. Từ năm 1622 đến năm 1749, có nhiều Kinh điển
được dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Mông Cổ.
Thời
kỳ suy đồi của PG Mông Cổ:
Thế
kỷ 20, Mông Cổ chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh, xung đột
chính trị từ các cường quốc bên ngoài, sau Trung quốc (1912),
Nhật Bản đánh chiếm vào Manchuria vào năm 1931, và sau thế
chiến thứ 2 vào năm 1945, Hồng quân của Liên Xô bắt đầu
cuộc giải phóng cho Mông Cổ. Và từ đó trở đi, với chính
sách không khoan nhượng tôn giáo của chính quyền Xô Viết,
có 20 ngàn tăng ni và cư sĩ Phật tử trí thức bị giết,
40 ngàn người khác bị tống giam, thanh thiếu niên dưới 18
tuổi không được xuất gia, hơn 800 tự viện bị phá hủy
hoàn toàn trên khắp Mông Cổ.
Từ
năm 1989 đến nay, quốc gia Mông Cổ trở nên độc lập, các
rào cản về sinh hoạt tín ngưỡng được tháo bỏ, các hoạt
động của Phật giáo đã từng bước trở lại bình thường,
có hơn 160 ngôi Tu Viện được xây dựng hoặc mở cửa trở
lại và rất nhiều người xuất gia tu học và làm công tác
truyền giáo.
Hai
sự kiện nổi bật trong thế kỷ 20 của Phật Giáo Mông Cổ:
Ðiều
đáng chú ý trong thế kỷ 20, tại Mông Cổ có Hội Phật giáo
thế giới ra đời là Hội Phật Giáo Châu Á vì Hòa Bình (Asian
Buddhist Conference for Peace) được thành lập vào năm 1970 và
đặt trụ sở trung ương tại thủ đô Ulan Bator, các quốc
gia thành viên của Hội này gồm có: Tây Tạng, Mông Cổ, Ấn
Ðộ, Nga, Tích Lan, Việt Nam, Nhật Bản, Campuchia, Thái Lan,
Bangladesh, Trieàu Tiên, Hồng Kông, Lào, Nepan, Singpapore,
Thái Lan, Ðài Loan... Người đồng sáng lập Hội này là vị
trụ trì Chùa Gandatechebling, Hòa thượng Khambo Lama Gambojav (1901-1980),
người Mông Cổ. Ngài sinh năm 1901, xuất gia năm 9 tuổi, một
người làu thông Kinh điển và trở thành nhà lãnh đạo Phật
Giáo Mông Cổ trong thời hiện đại. Ngài là người có công
gìn giữ các Tàng Kinh Các của Mông Cổ trong thời gian chiến
tranh của Mông Cổ. Ngài là giáo sư triết học thuộc đại
học quốc gia Mông Cổ. Vì hiểu được sự thống khổ của
chiến tranh, nên Ngài đã kêu gọi chính quyền Xô Viết cho
thành lập Hội ABCP để vận đôïng các cường quốc trên
thế giới bãi bỏ vũ khí hạt nhân nguyên tử, loại vũ khí
giết người hàng loạt, và kết quả Hội ABCP đã thành lập
và hoạt động như ước nguyện của Ngài. Hội ABCP cũng cho
ra một tờ đặc san Buddhist for peace ( Phật giáo vì hòa
bình) bằng tiếng Anh, để phổ biến rộng rãi lời dạy của
Phật về hòa bình và dân chủ.
Sự
kiện thứ hai là Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã viếng thăm
Mông Cổ vào năm 1982 và ngài đã truyền dạy pháp tu Mật
tông Yamantaka[4] cho 140 vị Lạt Ma Mông Cổ tại Chùa Gandatechebling.
Trong dịp này một buổi thuyết giảng quần chúng, có trên
20 ngàn Phật tử tại gia đến tham dự. Lần viếng thăm gần
đây nhất là năm 1995, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã truyền dạy
pháp Mật tông Kalachakra cho nhiều ngàn Tăng tín đồ, đây
là lễ điểm đạo đầu tiên xảy ra kể từ năm 1934 tại
Mông Cổ.
Phiên
dịch Kinh Ðiển ở Mông Cổ:
Ðỉnh
cao của nền Phật học Mông Cổ là Tam Tạng Kinh Ðiển PG
(Tipitaka) đã được dịch sang tiếng Mông Cổ. Bản dịch
Ðaïi Tạng Cam Thù (Kanjur)[5] gồm 108 quyển được phiên dịch
từ Tạng ngữ (Tibetan) vào năm 1628-1629 và bản sớ giải của
bộ Ðại Tạng này gồm 220 quyển từ các vị học giả Ấn-Tạng
cũng đã hoàn thành việc chuyển ngữ. Một vài phần của
Cam Thù, như bộ Bodhisaryvatara (Nhập Bồ Ðề Hạnh Luận) được
dịch thẳng từ bản tiếng Sanskrit.
Ngoài
bản dịch quan trọng trên, Phật giáo Mông cổ còn có nhiều
nhà Phật học nổi tiếng khác như Khaikha Zaya Pandit Lubsangperenici
(1642-1775); Sumbo Khampo Ishbaljir (1794-1788); Agvandandar Ikharamba
(1758-1830); Lubsangdagva Darjaa (1734-1803); Agvankhaidub (1779-1838);
Avanbaldan (1797-1864); Chakhor Bebshi Lubsang Chultem (1740-1810), những
tác phẩm của họ được viết bằng cả tiếng Mông Cổ và
tiếng Tây Tạng về các lĩnh vực triết học và sử học
PG và được phổ biến rộng rãi ở Tây Tạng và Mông Cổ.
Về
mặt nghiên cứu Phật học, Phật học viện Gandatechebling được
xây dựng năm 1838 và được xem là một trường Ðại học
Phật giáo ở Mông Cổ thời bấy giờ, là nơi đào tạo tăng
tài cho Mông Cổ. Từ thế kỷ thứ 17, trường này đã đào
tạo hơn 200 nhà Phật học Mông cổ để nghiên cứu và sáng
tác nhiều tác phẩm tiêu biểu bao gồm 93 học giả về nghi
lễ, 53 vị nghiên cứu về triết học, 8 vị về logic học,
11 vị về văn học, 12 vị về triết học, 7 vị về sử học,
12 vị về thiên văn học PG, và 12 vị về dược học và có
40 từ điển Tạng, Mông, Ấn ngữ cũng được ấn hành.
Một
số địa chỉ cần thiết để liên lạc với các tổ chức
Phật Giáo tại Mông Cổ hiện nay:
Asian
Buddhist Conference for Peace
C/o
Gandan Thekchenling Monastery
Ulaanbaatar
Mongolia
Secretary:
Bulgan
Tel:
360 0690
Dashi
Choiling Monastery
PO
Box 363
Ulaanbaatar
20
Mongolia
Tel:
97611 350 007
Fax:
97611 352 006
Trụ
Trì : Ven Dambajav
Deputy
Head Abbot: Ch Tsedendamba
Trung
Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Phật Giáo
C/o
The Research Centre for Buddhist Culture
Mongolian
National University
PO
Box 46 / 386
Ulaanbaatar
Mongolia
Hội
Pháp Luân
Dharma
Wheel Association
Mongolian
National University
Ulaanbaatar
Mongolia
Head:
Dr N Dorjgotov
Email:
zaanhuu@magicnet.mn
Viện
Triết Học Ðông Phương
Institute
of Oriental Philosphy
Ulaanbaatar
Mongolia
Head:
Dr Sarantuya
Tel:
97611 361 461
Tugs
Bayasgalant Buddhist Centre
Ulaanbaatar
Mongolia
Head:
Gantamur Natsagdorj
Tel:
97611 364 111
World
Fellowship Buddhists Youth
(Mongolian
Regional Center)
PO
Box 233, Ulaanbaatar 20, Mongolia
Tel:
(976 1) 352 006
Fax:
(976 1) 352 006
President:
Ven. Tsedendamba
Email:
galsanbat@yahoo.com
Affilliation:
World Fellowship of Buddhists (Youth)
Zanabazar
Buddhist University
Gandanthekchenling
Monastery
Ulaanbaatar
Mongolia
Tel:
97611 360164
Zanabazar
Mongolian Institute of Buddhist Art
Gandan
Thekchenling Monastery
Ulaanbaatar
Mongolia
Head:
Ven Purevbat
Tel:
97611 363 831
Lời
kết, nhìn chung, sau gần một thế kỷ dậm chân tại chỗ,
nay Phật giáo Mông cổ đang dần dà ổn định lại các sinh
hoạt truyền thống. Ngày nay đất nước Mông Cổ đang ở
trong một giai đoạn khó khăn sau khi giành lại được quyền
độc lập. Hoï phải làm lại từ đầu. Mông cổ vẫn phải
chịu sự chi phối của Nga (Russia) về kinh tế và hiện còn
mắc nợ Nga khoảng 6 tỷ đô la. Xứ sở này cũng đang
đối diện với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và mọi
thử thách trong công cuộc phục hưng văn hóa và tôn giáo.
Tuy nhiên, người Mông cổ vẫn có một cái nhìn lạc quan về
tương lai với niềm an ủi vì rằng trí tuệ và lòng từ bi
vô biên đang ẩn tàng trong giáo lý của Ðạo Phật, và chính
hai yếu tố này sẽ giúp cho Mông cổ thoát khỏi cuộc khủng
hoảng hiện nay. Như người Tây Tạng, Phật giáo là máu, là
thịt, là hơi thở của người Mông Cổ. Sự phục hưng
lại sức mạnh của Phật giáo là việc làm tất yếu và phải
xaûy ra để mang lại nền hòa bình và thạnh trị cho đất
nước này.
Tài
liệu tham khảo :
-
Tibetan Bullertin, October-December 1998
-
George Wehrfritz, Disrupting the faith , Newsweek, January 13, 1997
-
Andrew Skilton (1994), A Concise History of Buddhism, Windhorse Publications.
-
Nagendra Kr. Singh (Ed, 1998), International Encyclopaedia of Buddhism,
Vol.47, Anmol Publications Pvt.Ltd, New Delhi, India.
[1]
P193. Andrew Skilton (1994), A Concise History of Buddhism, Windhorse Publications.
[2]
Kalachakra : là một pháp tu luyện thiền định của Phật giáo
và được liệt vào hàng cao nhất trong cách luyện của Mật
giáo Yoga
[3]
Là một trong những tông phái Phật giáo lớn của PG Tây Tạng,
các phái khác là Phái Hồng giáo (Nyingma); Phái Bạch giáo (Kagyudpa);
Phái Thích Ca (Sakya); Phái Ca Ðương (Kadampa).
[4]
Yamantaka :Trì Minh Kim Cương, hóa thân của Bồ Tát Văn Thù
Sư Lợi, vị minh vương hàng phục diệm ma, giải trừ trói
buộc của chúng sinh
[5]
Kanjur: Cam Thù [một trong 2 bộ Ðại Tạng Kinh Ðiển của Tây
Tạng: Cam Thù & Ðan Thù (One of the two Great Sutra Canons in
Tibet: Kanjur and Tanjur)]
|
09-20-2008
04:23:46
|