|
.
PHƯƠNG
PHÁP RÈN LUYỆN TÂM
Leonard
Bullen - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Khi
nghe một điều gì về Phật giáo trong bản tin tức hàng
ngày, bạn thường nghĩ đến một tôn giáo thờ nhiều
hình tượng to lớn, có các thầy tu áo vàng, với không
khí dầy đặc mùi khói nhang. Bạn có cảm giác
tôn giáo nầy không phải dành cho bạn, ngoại trừ có
thể đấy chỉ là một buổi trình diễn ly kỳ, hấp
dẫn.
Tuy
nhiên, chẳng lẽ Phật giáo chỉ có thế thôi ? Các tân
nhiếp ảnh gia không chụp được các ảnh thật sự Phật
giáo hay sao ? Các báo chí hào nhoáng trình bày cho bạn
thấy cái nền tảng của tôn giáo đó, hay chỉ là cái
dáng vẻ bề ngoài ?
Chúng
ta hãy nhìn rõ xem Phật giáo thật sự là gì, Phật
giáo được trình bày rành rẽ tận gốc rễ, vì Phật
giáo vẫn hiện hữu ngay cả dưới các trang sức bên
ngoài . Mặc dù Phật giáo, thông thường được
xem là một tôn giáo, căn bản của Phật giáo là trau
dồi, rèn luyện tâm. Thật sự thì với truyền
thống của tu viện và những yếu tố về mặc đạo
đức, Phật giáo sỡ hữu nhiều đặc điểm với ngoại
hình mà các người Âu Mỹ thường cho là thuộc về
tôn giáo. Tuy vậy, Phật giáo không tin vào một đấng
thượng đế, vì Phật giáo cho rằng vũ trụ được
hình thành và chuyển vận bằng những định luật không
có chủ thể, vũ trụ không phải là sáng tạo của một
đấng trời nào; phật giáo không chủ trương cầu xin,
vì đức Phật là một vị thầy, không phải là thượng
đế, và Phật giáo xem việc thờ cúng không phải là
một điều luật bắt buộc, nhưng đó là cách để
bày tỏ sự biết ơn đối với đức Phật và là phương
thức để trau dồi, phát triển thân tâm. Vì thế,
với những nhận xét như nói ở đây, Phật giáo không
phải là một tôn giáo.
Lại
nữa, Phật giáo hiểu rằng niềm tin không thể chỉ
gói gọn trong sự tin tưởng vào lời chỉ dạy của đức
Phật. Một người Phật tử không được tin vào bất
cứ điều gì chỉ vì điều ấy được đức Phật
nói ra, hoặc vì đó là điều được ghi trong sách cổ,
hoặc vì điều ấy được truyền xuống từ những
bậc cha ông, hoặc vì có nhiều người tin vào điều
ấy. Phật tử có thể xem lời dạy của đức Phật
như một giả thuyết, và truy cứu về điều ấy, nếu
đúng thì Phật tử hãy tin tưởng ; người Phật tử
không nên chấp nhận bất cứ điều gì nếu như thấy
nó không đúng lý lẽ. Điều nầy không có nghĩa
là mọi thứ đều phải được trình bày một cách
hợp lý, vì có những nhận thức nằm xa khung kính
tri thức và chỉ có thể nhận biết bởi sự phát
triển về mặt tâm linh. Nhưng yếu tố chánh vẫn là
không nên mù quáng tin về mọi điều trong lời dạy của
đức Phật.
Phật
giáo là cách sống dựa trên việc rèn luyện tâm. Mục
đích cao nhất là để đi trên con đường giải thoát
khỏi đau khổ, và đạt đến Niết Bàn, một trạng thái
xa hẳn cấp bậc của một tâm trí thông thường, chưa
được rèn luyện. Mục tiêu tức thời là đánh
ngay vào những gốc rễ của đau khổ trong cuộc sống
hàng ngày.
Mọi
hoạt động của con người được chỉ dẫn, ngay đó
hay xa hơn, để tiến đến hạnh phúc bằng cách nầy
hay cách khác; hoặc giả để bày tỏ một việc bằng
những chữ tiêu cực, tất cả hoạt động của con người
được chỉ dẫn để đạt giải thoát, vượt qua những
việc bất như ý, không hài lòng. Bất như ý, có thể
được xem như khởi điểm của hoạt động con người,
và hạnh phúc là mục đích cao cả nhất .
Bất
mãn hay bất như ý, khởi điểm hoạt động con người,
là điểm xuất phát trong Phật giáo; và điểm nầy
được bày tỏ bằng công thức của Bốn Câu Căn Bản,
yếu tố của sự bất mãn được chỉ rõ, nguyên nhân,
cách chữa , và phương thức để chữa .
Câu
Căn Bản Thứ Nhất như sau :
Trong
Đời Sống con người không thể tránh được sự bất
mãn
Nguồn
gốc ý nghĩa của câu nầy, chữ “bất mãn” thường
được dịch là “đau khổ”, bao gồm ý nghĩa không
chỉ là nỗi đau, buồn phiền, và bất mãn, nhưng mọi
thứ đều là không như ý, từ nỗi đau đớn thể xác
và sự khổ não về tâm bệnh , cho đến mệt mỏi chút
ít, chán nản hay chỉ một chút thất vọng .
Đôi
khi lại chỉ cho sự “bất mãn” hoặc “bất như ý”;
trong vài bài pháp có thể những từ nầy được dùng
một cách chính xác, và ở lúc khác từ “đau khổ”
lại được sử dụng. Vì lẽ nầy, chúng tôi sẽ dùng
cả hai từ “đau khổ” và “bất mãn” hay “bất
như ý” tuỳ vào nội dung của bài pháp thoại.
Trong
vài bài dịch từ bản gốc, thì sanh là khổ, bệnh
là khổ, già là khổ, và sung sướng là khổ. Trong
bản tiếng Anh, câu cuối cùng không có nghĩa gì; nhưng
nếu chúng ta sửa lại là “sự thoả mãn không được
như ý” thì có lẽ dễ hiểu hơn, vì mọi thoả mãn
đều vô thường, và mặt trái của sự sung sướng, thoả
mãn thường là đau khổ, và từ nhận thức nầy, chữ
không được như ý có lẽ đúng lý hơn.
Bây
giờ đức Phật dạy rằng sự bất mãn hoặc đau khổ
là việc không thể tránh khỏi, trong đời sống con người
có cái “ngã”; và “đời sống có cái ngã” cần
được giải thích. Tóm lại, kinh điển dạy rằng bản
ngã được xem là một linh hồn cố định, bất biến,
đây là một điều không có thực.
Trung
tâm cốt lõi của mỗi sinh vật không phải là một linh
hồn bất biến, mà là dòng sông cuộc sống, một nguồn
năng lượng luôn thay đổi, và phút giây kế tiếp không
bao giờ giống như phút giây vừa trôi qua. Cái ngã,
được xem như một linh hồn bất diệt, và đây là ảo
tưởng của bản ngã, nỗi đau khổ nhất bắt nguồn từ
nơi đây. Cuối cùng khi cái ảo tưởng về Tôi được
chuyển hoá thì đấy là sự giác ngộ, trạng thái
nầy cao nhất, và nằm xa hơn cái vũ trụ tương đối
mà chúng ta biết. Nơi trạng thái cao nhất nầy, đau khổ
bị dập tắt; khi bất cứ một cái gì về “ngã”
còn tồn tại, cho dù chỉ là một ảo tưởng nhỏ, đau
khổ vẫn còn hiện diện.
Vì
vậy, chúng ta phải hiểu rằng Câu Căn Bản Thứ Nhất
không có nghĩa là đau khổ không thể tránh được; nó
chỉ có nghĩa là trong cuộc sống nơi cái ngã ngự trị,
ta không thể tránh khỏi đau khổ, và nếu như ảo
tưởng cái ngã còn, thì đau khổ vẫn tiếp diễn.
Bây
giờ chúng ta nói đến Câu Căn Bản Thứ hai , như sau :
Nguyên
nhân của đau khổ (bất như ý) là ham muốn
Nếu
bạn trợt té trên sàn nhà trơn ướt và bị bầm mình,
bạn nói nguyên nhân cái đau mà bạn đang phải chịu đựng
là vì sàn nhà trơn trợt. Điều nầy đúng, và nếu
nói vết bầm của bạn là do ham muốn mà ra thì chắc
là không đúng rồi.
Nhưng
Câu Hai không nói đến trường hợp cá nhân, hoặc nguyên
nhân tức thời. Câu Hai muốn nói đến sức mạnh
hợp nhất để gìn giữ nguồn sống là sự ham muốn
cho chính bản thân; vì nguồn sống nầy – ảo tưởng
về cái ngã – chứa đựng những điều kiện cho đau
khổ, trong khi sàn nhà trơn trợt chỉ là một cơ hội
cho đau khổ xuất hiện .
Vì
bản chất của thế giới mà chúng ta đang sống, thật
là điều không tưởng khi muốn chữa đau khổ bằng cách
loại bỏ hết những cơ hội có thể mang lại đau khổ;
cũng như không thể đánh vào nguyên nhân hay cơ sở chánh
của cái khổ. Vì thế Câu Ba căn bản là :
Giải
thoát sẽ đạt được bằng cách tiêu diệt ham muốn
Sự
ham muốn của cái ngã là giữ chặt lấy đời sống;
dòng sông ý thức hiện hữu mà chúng ta gọi là ngã;
và chỉ vì cái si mê của ngã mà sự bất như ý và
đau khổ xuất hiện. Khi diệt trừ được sự nắm
giữ si mê về ngã, gốc rễ của đau khổ cũng bị tiêu
diệt.
Mục
đích cao nhất của thực tập trong Phật giáo là để
tiêu diệt bản ngã. Chính ngay nơi nầy sự hiểu
lầm xuất hiện, và đó là điều tự nhiên; nhưng một
khi nhận thấy rằng tiêu diệt cái ngã là huỷ diệt
si mê thì sự hiểu lầm nầy sẽ biến mất. Khi si mê
được tẩy trừ, thực tại xuất hiện; như vậy tiêu
diệt si mê là để thực tại hiển hiện. Khi si mê về
cái ngã vẫn tiếp tục che tối thực tại thì ta không
tài nào tìm thấy nó.
Giờ
đây khi si mê bị tiêu diệt thì thực tại nầy là gì.
Thực tại cao tột là Không Duyên Khởi, cũng được gọi
là Không Sanh, Không Cội Nguồn, Không Pha Lẫn. Với cách
thức diễn đạt không đầy đủ, không chính xác, chúng
ta có thể tạm diễn tả nó như một trạng thái khả
quan tích cực. Đó là nơi có hạnh phúc và tự do, hoàn
toàn thoát khỏi đau khổ và nó rất khác biệt với
trạng thái hiện hữu tầm thường và không thể nào
được diễn tả bằng lời nói. Trạng thái Không Duyên
Khởi có thể được chỉ dẫn – để đạt đến điểm
cao tột – chỉ bằng cách nói về những điều
mà trạng thái đó không có.
Trong
các bài pháp Phật giáo, Không Duyên Khởi thường được
giải thích là tâm không còn tham, sân, si. Đây cũng
nói đến sự hoàn hảo của các cá tính đối nghịch,
vị tha, từ bi, và trí tuệ.
Đạt
đến trạng thái Không Duyên Khởi là mục đích cao tột
của tất cả thực tập nơi Phật giáo, và cũng tương
đương như sự giải thoát rốt ráo khỏi đau khổ và
sự bất như ý. Sự việc nầy đưa chúng ta đến với
câu cuối cùng của 4 Câu Nói Căn Bản.
Con
đường giải thoát là Bát Chính Đạo
Con
đường có tám yếu tố sau đây :
1.
Hiểu biết đúng, sự hiểu biết về bản chất chân thật
của hiện hữu
2.
Suy nghĩ đúng, ý nghĩ không còn vướng vào nhục dục, sự
xấu xa, và độc ác.
3.
Nói lời chân thật, không bịa đặt, nói xấu, nói lời cộc
cằn thô lỗ, và không nói nhảm.
4.
Hành động chân chính, tránh việc sát hại, trộm cắp, và
tà dâm.
5.
Cuộc sống chân chính, nghề nghiệp không làm hại đến các
chúng sinh.
6.
Cố gắng chân chính, hoặc cố gắng tiêu diệt kiết sử nơi
tâm thức và nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp.
7.
Tâm thức chân chính, sự hoàn hảo của chính niệm.
8.
Tư duy chân chính, nuôi dưỡng tâm thức qua việc thiền định.
Bây
giờ bạn thấy trong Con đường Bát Chính Đạo, quan trọng
là nó không có tính chất tôn giáo; nó giống như khoa tâm
lý đạo đức.
Nhưng
con người ở phương Đông cũng như ở phương Tây, nói chung,
giống như sự đòi hỏi phiến diện bằng cách nầy hay cách
khác – ít nhất ở mặt bên ngoài – những cái không quan
trọng lại được xem là cần thiết.
Trong
khi những đặc điểm phiến diện trong thực tập Phật giáo
cần được thay đổi tuỳ vào hoàn cảnh xung quanh, những
đặc tính quan trọng, không thay đổi của thực tập được
tóm tắt trong bảng chỉ dẫn của Bát Chính Đạo, đức Phật
đã dạy về Trung Đạo, con đường trung dung giữa những trạng
thái cực đoan.
Mặc
dù thật bất tiện khi nói về những khía cạnh khác của
Bát Chính Đạo như là tám cấp bậc, không nên xem đó là
những cấp bậc riêng biệt, phải làm từng chặng. Ngược
lại, mỗi cấp bậc phải được thực tập cùng lúc với
những cấp bậc khác, và có lẽ sẽ tốt hơn nếu ta nhìn
nó như tám lằn ranh của một con đường hơn là tám cấp
bậc nối tiếp nhau.
Bước
thứ nhất của con đường, hiểu biết đúng, quan trọng nhất
là thấy mọi việc như nó là – hoặc ít nhất, thử làm
mọi việc với tính cách không trốn tránh, hoặc tự lừa
dối. Nghĩa là, hiểu biết đúng bắt đầu bằng sự
yêu thích trí tuệ, yêu bản chất tự nhiên của sự hiện
hữu, và như thế đấy được coi như là bước đầu của
con đường thực tập; nhưng khi đã đến cuối con đường,
sẽ đạt được tình thương và trí tuệ.
Trong
khi Chính Kiến có thể được xem như sự thấu hiểu hoàn
hảo nơi Phật Pháp, nó dựa vào sự hiểu biết ba đặc điểm
chánh yếu trong thế giới tương đối của vũ trụ, thời
gian, hình thể và vật chất. Ba đặc điểm nầy có thể tóm
tắt như sau :
1.
Vô thường : Tất cả mọi thứ trong thế giới tương
đối nầy luôn thay đổi liên tục.
2.
Bất như ý : Trong một mức độ nào đó của đau khổ
và bất như ý dính liền với cuộc sống « có bản ngã »,
hoặc liên hệ tới những giới hạn kinh nghiệm cá nhân trong
thế giới tương đối.
3.
Vô ngã : Không có thực thể -- không là con người hay
bất cứ chúng sanh nào – không sở hữu một linh hồn hay
bản ngã thường hằng, không thay đổi. Mỗi một chúng sanh
có một dòng sinh lực luôn thay đổi, sự thay đổi tuỳ thuộc
vào hiện tượng tinh thần và vật chất, giống như một dòng
sông luôn trôi chảy và không bao giờ đứng yên một chỗ
dù chỉ trong tích tắc.
Như
vậy, bản ngã, không phải là một thực thể tĩnh lặng mà
là một dòng thay đổi liên tục. Khái niệm năng động về
sự hiện hữu là một ý nghĩ sâu xa tiêu biểu trong Phật
giáo ; trong cuộc sống không có bất cứ vật gì là tĩnh lặng,
cuộc sống là một dòng trôi chảy liên tục mà ta cần phải
học để biết cách bơi theo dòng.
Một
khái niệm khác của Chính Kiến là nhận thức rằng vũ trụ
có tiến trình của nó với nền tảng nhân và quả, với hành
động và sự phản kháng, liên tục không cố định và nó
đều giống nhau trong thế giới đạo đức, tinh thần và vật
chất. Tuỳ vào hành động tốt mà người tạo tác có lúc
hưởng được sự sung sướng, và có lúc vì hành động xấu
ác mà kẻ tạo tác phải chịu đau khổ.
Các
ảnh hưởng tốt hay xấu – nghĩa là, hạnh phúc và đau khổ
là kết quả của những hành động đã tạo tác – thông
thường kết quả không theo liền sau nhân tạo tác ; thường
có sự chậm trễ trong vấn đề thời gian, kết quả của
hạnh phúc và đau khổ chỉ xuất hiện khi nhân duyên đầy
đủ. Kết quả có thể không xuất hiện trong hiện tại. Và
như vậy, cái chết thông thường là một sự thăng bằng về
mặt « hưởng phước », nếu như quả tốt chưa xuất hiện
kịp thời ; và đồng thời cũng là một sự thăng bằng về
mặt « chịu khổ », nếu như đau khổ là kết quả không
thể tránh khỏi.
Sau
khi chết, thân thể tan hoại, dĩ nhiên, dòng sinh lực vẫn
còn tiếp tục, không phải trong dạng của một linh hồn bất
biến, mà là trong dạng của dòng năng lực luôn thay đổi.
Tức thời sau khi chết, một chúng sinh mới bắt đầu cuộc
sống trong dòng đời ; nhưng chúng sinh nầy không nhất thiết
phải là một người, và trong tích tắc sự đầu thai có thể
xảy ra ở một tầng hiện hữu khác. Tuy vậy, chúng sinh mới
hiện hữu đó vẫn phải chịu đựng một ảnh hưởng trực
tiếp từ chúng sinh vừa mới qua đời.
Như
vậy, chúng sinh mới nầy hiện hữu là sự tiếp tục không
ngừng nghỉ của chúng sinh kia, mà dòng đời vừa đứt đoạn.
Chúng sinh mới thừa hưởng phần phước đức còn lại của
chúng sinh đã chết, và như vậy, phần phước đó sẽ mang
lại cho chúng sinh mới nầy sự sung sướng trong tương lai.
Đồng thời, chúng sinh nầy cũng phải chịu luôn phần ác
báo còn lại của kẻ kia, và như vậy, sẽ phải chịu đựng
sự đau khổ nào đó trong tương lai.
Tóm
lại, trong ý nghĩa của sự liên tục, chúng sinh mới giống
như chúng sinh đã chết. Cũng như vậy – chỉ trong ý nghĩa
của sự liên tục – một ông già không khác với cậu thanh
niên lúc trẻ, cậu thanh niên không khác với đứa bé con lúc
trước, và đứa bé con không khác với đứa bé mới sanh khi
xưa đó. Cá tính của ông già với cậu thanh niên, với đứa
bé con, và đứa trẻ sơ sanh, chỉ là một sự liên tục ;
không có cá tính nào khác.
Tất
cả mọi vật trong vũ trụ thay đổi ngày nầy sang ngày khác,
từ phút nầy tới phút khác, như vậy một chúng sinh lúc nầy
chỉ khác với chúng sinh lúc sau chút xíu thôi ; Cá tính duy
nhất là sự liên tục. Cũng như vậy, một chúng sinh được
tái sinh thì khác với chúng sinh vừa chết kia ; nhưng do sự
liên tục mà cá tính hôm nay vẫn không khác cá tính lúc trước.
Những
lời giảng dạy nầy là điều căn bản của phật pháp –
bản chất thật về bản ngã là một ảo giác, quy luật nhân
quả trong phạm vi đạo đức, và sự tái sinh của những năng
lượng trong đời sống – nhưng không cần mọi người phải
chấp nhận bất cứ điều gì nếu cảm thấy không đúng lý
với bản thân. Chấp nhận bất cứ lời giảng dạy nào cũng
không quan trọng ; quan trọng là sự cố gắng không ngừng
nghỉ để nhận thấy mọi vật như nó là, không trốn tránh,
không tự lừa dối.
Dàn
bài ngắn gọn của bài pháp coi như khá đầy đủ với Chính
Kiến dẫn đầu. Bước kế tiếp, suy nghĩ hoặc mục đích
chân chính, giải thoát các khả năng tri thức khỏi những
yếu tố xúc cảm có hại, như tham dục, ác ý, và hành động
bạo tàn, làm bất lợi cho những quyết định sáng suốt,
không thiên vị.
Chính
ngữ, Chính mạng, và Chính nghiệp tạo nên một phần của
con đường đạo đức, chúng giúp cho những nhiễm ô của
tâm thức bị nằm dưới sự điều khiển và không cho nó
trồi lên để tạo thành những hành động có hại. Tuy vậy,
những nhiễm ô nầy không thể bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ
nhờ vào sự đạo đức, và như vậy những bước khác của
con đường cần được áp dụng để tẩy rửa những nhiễm
ô của tâm thức một cách sạch sẽ hoàn toàn.
Bây
giờ bước kế tiếp – Chính tinh tiến – chúng ta bước
vào phạm vi của tâm lý thực tiễn, Chính tinh tiến trong bài
nầy nghĩa là sự cố gắng của ý chí. Cũng có nghĩa là,
bước thứ sáu trên con đường trau dồi bản thân, luyện
tập ý chí để phòng ngừa và khắc phục những trạng thái
tâm thức có thể làm cản trở sự phát triển tâm linh, và
bồi dưỡng cũng như khuyến khích những trạng thái tâm thức
có thể mang lại sự phát triển về tinh thần.
Bước
thứ bảy trên đường cũng là môn tâm lý thực tiễn ; bước
nầy gọi là Chính niệm, và nó bao gồm sự phát triển tối
đa nơi khả năng bình thường của sự chú tâm. Sự phát triển
về mặt chú tâm – sự hiểu biết lan rộng và mạnh mẽ
-- tâm thức dần dà có thể phân biệt mọi vật và thấy
rõ mọi vật như nó là.
Hoạt
động cơ bản của bước thứ bảy, Chính niệm, là phát triển
sự chú tâm về bản chất không thực của bản ngã. Tuy vậy,
cần phải liên tục cải thiện khả năng chú tâm bình thường,
và như vậy, tâm thức được trang bị tốt hơn để đối
diện với những vấn đề căng thẳng trong sinh hoạt hằng
ngày nơi thế gian.
Phương
cách của đức Phật, sự chú tâm bao gồm sự phát triển
về khả năng tập trung, để tạo nên chính niệm liên tục
trong tất cả những ý nghĩ chợt xuất hiện, tất cả những
chữ đã được thốt ra, tất cả những hành động đã làm,
với cái nhìn buông xả, không tham đắm, không thiên vị, và
không mê lầm.
Chính
niệm có nhiều cách áp dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Thí
dụ, chính niệm có thể được sử dụng để có một cái
nhìn thấu đáo, sự hiểu biết rõ ràng, của những động
lực nằm sau các hoạt động, và sự hiểu biết rõ ràng về
động lực nầy là một điều thật quan trọng.
Chính
định, bước cuối cùng trong tám cấp bậc, trau dồi tâm thức
ở những trạng thái cao hơn – đến lúc hấp thụ mọi thứ
trong chính niệm – những trạng thái tâm thức cao tột nầy
được sử dụng để thống nhất, thanh tịnh hoá, và làm
mạnh mẽ tâm thức để đạt đến sự giải thoát, sáng suốt.
Khi
đạt được giải thoát thì ảo giác về bản ngã, với những
tham đắm, đau khổ cũng được chuyển hoá và bị dập tắt
hoàn toàn.
Sự
hiểu biết xuyên suốt là mục đích tối hậu của tất cả
các thực tập Phật giáo, và với sự sáng suốt đó, sự
hiểu biết về bản chất thực của đời sống cũng sẽ hiện
diện, tột bậc của sự hiểu biết về Không Duyên Khởi.
Không Duyên Khởi là sự dập tắt bản ngã, không hẳn là
không hiện hữu hoặc huỷ diệt, bởi vì sự tiêu diệt bản
ngã chỉ là sự tiêu diệt si mê. Mỗi sự miêu tả về Không
Duyên Khởi đều thất bại, bởi vì nó nằm xa hẳn thế giới
chữ nghĩa, và ý nghĩ ; và cách duy nhất để biết về Không
Duyên Khởi là thực hành Bát Chính Đạo từ đầu đến cuối.
Như
vậy, đây là nguyên gốc của Phật giáo; đây là Phật giáo
của Bát Chính Đạo, của con đường đưa đến giải thoát,
thoát khỏi bản ngã và đạt đến sự hiểu biết thấu đáo
về thực tại.
Buddhist
Publication Society (BPS)
Bodhi
Leaves BL 42
________________________________________
Vài
hàng về tác giả
Leonard
A. Bullen là một trong những nhà tiên phong về hoạt động
Phật giáo tại Úc. Ông là chủ tịch đầu tiên của Hội
Phật Học Victoria, được thành lập vào năm 1953, và ông là
người đầu tiên trong Ban Điều Hành của Hội Đoàn Phật
giáo Úc. Ông cũng là phó chủ bút của tờ nhật trình Phật
giáo Metta. Ông mất vào năm 1984, hưởng thọ 76 tuổi.
Những
sách báo của ông được BPS xuất bản :
Kỹ
thuật Sống (A Technique of Living – Wheel No. 226/230) và “Tác
dụng và Phản tác dụng trong Phật pháp” trong Nghiệp và
Kết Quả (Action and Reaction in Buddhist Teaching –in Kamma and Its
Fruit -- Wheel No. 221/224).

THẤY
MỌI VẬT NHƯ NÓ LÀ
Zoketsu
Norman Fischer - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Zazenkai,
Khoá Tu ngày 22 tháng 11, năm 1997,
Thiền
viện Karuna, Vancouver, B.C.
Thật
là vui vẻ khi cuối tuần nầy đa số chúng ta đã buông bỏ
mọi âu lo, thành tựu và vấn đề, để có thời gian ngồi
thiền ở nơi đây. Tôi vừa bước ra ngoài đi dạo một lát
và gặp một cơn mưa phùn. Và rồi tôi nghĩ, việc thực tập
thiền của chúng ta cũng giống như mưa vậy, vì mưa liên tục
nuôi dưỡng, cũng như thấm nhuần vào cuộc sống của chúng
ta. Mưa làm ẩm ướt hạt giống đã lâu bị chôn vùi trong
lòng mỗi chúng ta, và khi hạt giống nẩy mầm nó sẽ đâm
chồi kết lộc. Cho dù thiền tập đôi lúc gặp trở ngại
và mưa đôi lúc có thể thay thế bằng bão giông. Tuy vậy,
mưa và thiền tập đều cần thiết. Mưa rơi vì bản chất
tự nhiên của nó, mưa không cần đấu tranh hoặc tự đặt
câu hỏi, mưa không nghi ngờ hoặc than vãn, nó chỉ đơn giản
rơi, từ đầu đến cuối. Và thiền tập của chúng ta cũng
giống như vậy.
Khi
chúng ta ngồi thiền một thời gian lâu, chúng ta nhận thấy
rất nhiều, rất nhiều thứ trong vòng tròn nhỏ của chính
niệm. Chúng ta nhận thấy hơi thở đến và đi, chúng
ta thấy các ý tưởng xuất hiện rồi biến mất, chúng ta
nhận diện các cảm giác, nhận diện những cảm xúc của
thân, nhận diện sự hoạt động của cái thấy, cái nghe,
sự xúc chạm, và vị giác. Như Dogen đã nói, « Chúng
ta nhận thấy rất nhiều thứ, thấy tất cả những gì mà
mắt chúng ta có thể nhìn thấy được. » Nhưng mọi
thứ mà chúng ta có thể thấy và cảm nhận với các giác
quan ; trong Phật giáo, tâm thức được coi là một giác quan,
mọi thứ mà chúng ta cảm nhận được nhờ các giác quan không
phải là tất cả những gì mà chúng ta đang trải nghiệm qua.
Đây là sự thách thức đối với con người, và các vấn
đề của con người bắt nguồn từ nơi đây, bởi vì con người
được sanh ra với chút tự kiêu. Chúng ta nghĩ rằng chúng
ta nhận thấy và hiểu biết về chính bản thân mình, và chúng
ta nhìn thấy cũng như hiểu rõ thế giới của chúng ta. Và
rồi chúng ta tự cho rằng chúng ta đã nhìn thấy và hiểu
đúng về thế giới nầy, chúng ta có thể đánh giá nó, và
chúng ta nhận thấy sự khiếm khuyết của thế giới và ngay
cả chính bản thân chúng ta nữa. Và như vậy, chúng ta nghĩ
rằng chúng ta cần phải thay đổi thế giới, hoặc thay đổi
chính bản thân, và chúng ta trở nên đau khổ vì sự khiếm
khuyết, rối loạn, cùng với những ham muốn, tham đắm .
Nhưng
tất cả chỉ dựa vào sự đánh giá rất giới hạn trong đời
sống con người. Chúng ta tin tưởng vào ước định nầy,
vì nó đã nằm sâu trong tâm tư chúng ta, nhưng thật ra không
phải như vậy, tôi có thể nói, sự thật không hẳn như vậy.
Thế giới mà chúng ta thấy bằng mắt rất chân và rất thật,
chỉ có điều chúng ta không nhìn thấy thế giới với tất
cả mọi mặt của nó ; chúng ta không có khả năng thấy rõ
kích thước toàn diện của nó. Các giác quan của chúng
ta không thế vượt xa để mà thấu hiểu. Tuy nhiên, khi
chúng ta quyết tâm ngồi thiền, quyết tâm trở về với giây
phút hiện tại, dẹp bỏ mọi việc, mang toàn tâm tư trở
về giây phút hiện tại, không gián đoạn, không xa cách, chúng
ta có thể nhận thức được cái cảm giác chân thật của
sự bao la chứa đựng trong vòng tròn nhỏ chính niệm. Khi chúng
ta nhận thấy các ý nghĩ của chúng ta không hẳn chỉ là những
ý nghĩ, những cảm giác của chúng ta không hẳn chỉ là những
cảm giác, cái thấy và nghe không hẳn chỉ là cái thấy và
cái nghe hạn chế… Tất cả mọi thứ đều ở ngay nơi
đây, từng giây từng phút. Trong một thế giới có những
thế giới được tạo thành và bị huỷ diệt với từng hơi
thở ra vào.
Khi
chúng ta thấy rõ sự kiện nầy, chúng ta sẽ không còn bị
vướng bận bởi các vấn đề cá nhân. Tất nhiên chúng ta
vẫn còn những vấn đề, và chúng ta vẫn phải giải quyết
các vấn đề nầy. Chúng ta vẫn phải chọn lựa, vẫn phải
ứng phó về các lựa chọn của chúng ta, và phải chịu đựng
những hậu quả, nhưng chúng ta sẽ có khả năng thấy tất
cả mọi việc một cách đầy đủ hơn, và chúng ta biết đánh
giá sự việc một cách sâu sắc hơn, và như vậy năng lực
và sự an lạc của chúng ta cũng sẽ gia tăng.
Tôi
biết rằng trong đa số chúng ta, cuối tuần ngồi thiền ở
đây để tiếp nhận Mười Sáu Giới Bồ Tát, chúng ta học
và suy ngẫm về các điều nầy. Các giới luật như thế nầy
: một vật thật nhỏ, thật đơn giản sẽ mở ra một chân
trời bao la. Giới luật mới nghe tưởng như là luật lệ hoặc
sự ngăn cấm, nhưng thật ra giới luật cũng giống như thực
tập thiền, xuyên qua các giới luật nầy, chúng ta sẽ thấu
hiểu về cuộc sống vô cùng của chúng ta.
Ba
giới đầu tiên của Mười Sáu Giới Bố Tát là Tam Bảo,
như chúng ta đã tụng kinh tối qua, và chúng ta sẽ tụng mỗi
buổi chiều sau khi xả thiền, đó là Quy y Phật, Pháp, và
Tăng. Tam Bảo là giới luật căn bản trong Mười Sáu Giới,
và tất cả những giới khác đều nằm trong ba giới đầu
nầy. Khi chúng ta nói quy y Phật – Pháp – Tăng, nghĩa là,
chúng ta quay về nương tựa nơi Phật – Pháp – Tăng, chúng
ta quay về với căn bản ban đầu, chấp nhận rằng Phật,
Pháp, và Tăng không khác gì với thân và tâm của chúng ta.
Lần nữa, chúng ta cảm kích bản chất, và thực chất của
thân và tâm, rồi đến các vấn đề của chúng ta, những
lo âu, cho dù nó vẫn hiện diện trong cuộc sống của chúng
ta, chúng ta không nghĩ về nó, và không xem nó quan trọng như
trước đây nữa.
Vừa
rồi ở Tassajara, thiền viện của chúng ta, chúng ta thực hành
một bài tập đã từng được hướng dẫn bởi thầy Uchiyama
Roshi tại Nhật bản, thực tập nầy gọi là « khoá thiền
yên tịnh » . Nghĩa là khoá thiền không có pháp thoại, không
có độc tham, không có tụng kinh, không có gì hết. Mọi người
ngồi đối diện với bức tường, không có sự giúp đỡ
nào khác. Tôi có nói chuyện với một thiền sinh ở Tassajara
về việc nầy, và cô ta nói sau khi đã thực tập một thời
gian, mỗi khoá thiền đều có một bài pháp thoại, cô ta để
ý và thấy rằng mỗi lần sắp sửa đến giờ pháp thoại
là cô ta chờ đợi pháp thoại, rồi chờ đợi giờ giải
lao, giờ nghỉ ngơi sau khi ngồi thiền. Và tôi chợt nhận
ra rằng, trách nhiệm của tôi là nói pháp thoại, như cho giải
lao và giúp đỡ các thiền sinh một chút, và mong rằng bài
pháp thoại đóng góp phần nào về khía cạnh giáo dục.
Giờ
đây, tôi xin ngưng pháp thoại một lát để các vị giải
lao và gửi đến các vị bài phê bình về một quyển sách
có tính cách giáo dục. Có lẽ các vị đã biết rồi. Quyển
sách ấy có tên là « Kết cấu của Thực Tại : Khoa học
về các vũ trụ song song và Những Liên Quan mật thiết của
chúng », của tác giả David Deutsch. Các vị có biết quyển
sách nầy không ? Nghe tựa sách không cũng đã thấy quá hấp
dẫn rồi. Đây chỉ là một bài phê bình nhỏ, sau khoá thiền,
nếu các vị cần đọc một quyển sách, hãy đọc quyển sách
nầy.
Bài
phê bình sách bắt đầu với một thí nghiệm thông thường
về vật lý học mà mọi người đều biết, ở đây tác giả
muốn nói đến « Thí nghiệm Chia Hai xa xưa cũ rích ». Tất
cả các vị dĩ nhiên đã biết về Thí nghiệm Chia Hai nầy
đúng không nào ? Cá nhân tôi thì chưa nghe qua bao giờ, nhưng
tác giả nhấn mạnh rằng mọi người đều biết về điều
nầy.
Cũng
may là nhà phê bình đã giải thích về Thí Nghiệm Chia Hai
: « Nếu các vị nhắm bắn một tia phân tử (photon) vào phim
hình, kế đó dùng một tấm cạc-tông đã bấm hai lỗ, chắn
ngang đường đi của các phân tử. Kế đó, anh bít một trong
hai lỗ, và các phân tử sẽ tự động đi xuyên qua lỗ hổng
còn lại, và để lại một đốm trên phim hình. » Tới
đây cũng dễ hiểu, phải không nào ? Cũng có lý lắm – các
phân tử đi xuyên qua đó và để lại một đốm. « Việc
gì sẽ xảy ra khi anh không bít lỗ trống thứ hai ? » A, anh
nghĩ rằng các phân tử sẽ di chuyển xuyên qua hai lỗ hổng
và anh có thể nhận thấy hai đốm, bên cạnh nhau, tương ứng
với hai lỗ hổng trên tấm cạc-tông. Thật ra, anh không thấy
hai đốm đâu. « Mở cả hai lỗ hổng làm cho các phân tử
đi theo một mô hình đối lập rắc rối, và một dạng hình
xen nhau giữa các dải băng tối và sáng, mô tả sự hiện
diện và vắng mặt của các phân tử. » Điều nầy thật
là lạ lùng. Tại sao lại như vậy ? Ông ta nói rằng, « Mở
cả hai lỗ hổng sẽ ngăn chận một phân tử đi theo tiến
trình ban đầu của nó. »
Nhà
vật lý John Bell đã nói về tình trạng rắc rối nầy, nhưng
bây giờ đã trở nên thông thường một cách kỳ quặc ( trừ
chúng ta), nghĩa là « chỉ cần có khả năng đi xuyên qua lỗ
hổng kia, sẽ làm ảnh hưởng đến sự chuyển động và ngăn
chận các hướng đi của phân tử đó. » Điều nầy
được giải thích một cách dễ hiểu bằng học thuyết lượng
tử , ít nhất là về mặt toán học. Thuyết lượng tử có
thể giải thích điều nầy, cho dù khi anh cố gắng chuyển
dịch nó vào ngôn từ và kinh nghiệm hằng ngày, nó thách thức
sự lý luận (logic), và chắc chắn rằng nó thách thức cả
ngôn ngữ nhân loại. Việc nầy làm cho nhà vật lý Neils
Bohr nói, « Chúng ta cần phải hiểu rõ rằng, khi nói đến
các nguyên tử, ngôn ngữ chỉ có thể được sử dụng như
thi ca. »
Tuy
nhiên, trong quyển sách « Kết cấu của Thực Tại », David
Deutsch đã cố gắng để giải thích bằng ngôn ngữ với các
từ thông thường, hiện tượng nầy và hiện tượng khác.
David Deutsch cãi lẽ trong sách như sau, « Nếu chúng ta đánh
giá bề ngoài của thuyết lượng tử, chúng ta sẽ đi đến
kết luận là vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong những
khối vũ trụ song song, mà các nhà vật lý gọi là « Multiverse.
» (nhiều vũ trụ). Deutsch tin rằng một vài phần của các
phân tử trong Thí Nghiệm Chia Hai bị cản trở và xáo trộn
bởi « những bóng vô hình cuả phân tử ở một vũ trụ khác.
» Điều nầy không phải là khoa học giả tưởng, nếu anh
nghĩ đến toán học và lượng tử cơ học, điều nầy được
hình thành dựa vào các thí nghiệm và toán học.
Sự
giải thích về ĐaThế Giới là một cách giải thích về lượng
tử cơ học, đã được nhà vật lý Hugh Everett trình
bày lần đầu mấy mươi năm trước đây. Thí dụ, anh muốn
đo chiều hướng của một hạt hạ phân tử. Theo thuyết lượng
tử, một phân tử không bị xáo trộn giống như nó đang trong
trạng thái bị giam cầm. Đây là lúc trước khi anh đo lường
nó. Ở tất cả mọi chiều hướng mà phân tử có thể
hiện hữu, trước khi anh đo lường, các phân tử ấy nằm
trong trạng thái bị giam cầm.
Chỉ
khi phân tử được đo lường, nó mới nằm ở một vị trí
nhất định. Không có lý do gì một phân tử chọn vị trí
nầy mà không chọn một vị trí khác, sự chọn lựa thật
là bừa bãi. Ông Everett đã đề nghị cách khác, theo toán
học đều có vẻ hợp lý, nhưng so với cách suy nghĩ về trạng
thái thì nó đối lập với trực giác. Nghĩa là khi phân tử
được đo lường, thế giới bị chia ra thành nhiều thế giới
khác nhau. Trong mỗi một thế giới nầy điện tử (electron)
nằm ở một vị trí khác. Chúng ta chỉ là bị kẹt trong một
thế giới của vô số Thế Giới đa dạng nầy.
Dù
sao đi nữa, tôi cũng nghĩ là các vị nên biết về việc nầy,
nếu như các vị về nhà tối nay, và có người hỏi, « Anh
có cảm thấy phí phạm thời gian không ? » , anh có thể trả
lời, « Không, không đâu, tôi vừa học chút xíu về lượng
tử cơ học. »
Trong
Phật giáo, sự thực tập về cái thấy chân thật của kết
cấu thực tại, xa hẳn cái thấy hữu hạn của chính nó,
chúng ta gọi là Thực Tập về cái Thấy Rỗng Không của Tất
cả Bản Chất Hiện Tượng. Đôi lúc chúng ta gọi sự thực
tập nầy là Như Thế đó, hoặc Như Vậy đó. Hoặc giả chúng
ta chỉ nói theo lối nói bình thường hàng ngày, chúng ta nhìn
thấy mọi vật như nó là, không phải nhìn thấy nó với sự
hình thành cụ thể có giới hạn.
Trong
Phật giáo có một nhân vật thần thoại, là Bồ Tát Manjusri,
hiện thân của sự thực tập, nhìn mọi vật như nó là. Bồ
Tát Manjusri là một hành giả phi thường. Tôi không biết anh
có bao giờ nhìn những bức tranh hay hình tượng của Bồ Tát
Manjusri ? Chúng tôi có một tượng Bồ Tát Manjusri, có lẽ
lớn như người thật, ở đền thờ Green Gulch. Tượng Bồ
Tát Manjusri ở Green Gulch, và tất cả những bức vẽ về Bồ
Tát Manjusri, tất cả đều mô tả Bồ Tát Manjusri trong tư
thế ngồi. Hãy nghĩ rằng Bồ Tát Manjusri đang ngồi nơi chỗ
của anh : Bồ Tát Manjusri đang ngồi thiền nguyên cuối tuần,
để thấy mọi vật như nó là. Để đánh giá đúng nhưng
không bị giới hạn bởi vòng tròn chính niệm.
Tất
cả những hình tượng vẽ Bồ Tát Manjusri rất đẹp, rất
xinh. Bồ Tát Manjusri luôn đẹp và phúc hậu. Bởi vì tầm
nhìn của chúng ta bị giới hạn, nên chúng ta xấu xí. Một
khi chúng ta tiến xa hơn, một khi chúng ta chiêm ngưỡng các
hình ảnh đẹp đó dưới ánh sáng muôn màu của thế giới
chân thật, chúng ta cũng sẽ trở nên đẹp đẽ. Một việc
nữa là Bồ Tát Manjusri luôn luôn ăn mặc rất sang trọng.
Quần áo của Bồ Tát luôn được trang hoàng thật đẹp. Tôi
không biết ở Canada, các vị có mốt nầy không, nhưng chỗ
chúng tôi sinh sống, có một mốt về xâu chuỗi rất thịnh
hành. Ở đây các vị có tiệm bán chuỗi không ? Nhà tôi là
một người xâu chuỗi rất giỏi. Cô ta có nhiều hộp đựng
các hạt nhỏ để xâu lại thành chuỗi. Các vị có thể tỉ
mỉ làm ra những xâu chuỗi rất đẹp, các xâu được bện,
đan vào nhau một cách phức tạp. Cô ấy làm ra những chuỗi
rất đẹp, nhất là những xâu chuỗi phức tạp, nhưng không
có chuỗi nào đẹp mắt bằng các chuỗi đeo của Bồ Tát
Manjusri. Những chuỗi đeo trên ngực Bồ Tát với những hạt
thật là đẹp. Bồ Tát Manjusri với tóc dài, mặc áo choàng
có trang hoàng và đính kim tuyến. Bồ Tát Manjusri luôn có tóc
dài, được bới lên đỉnh đầu với trang sức cài tóc thật
lạ. Bồ Tát Manjusri làm tôi nhớ đến một bài thơ nổi tiếng
của Anne Waldman, tựa là « Trang điểm cho Hư Không », bởi
vì Bồ Tát Manjusri là hư không, và chúng ta cũng là hư không,
thật là một điều ngoạn mục, lý thú với ý nghĩ chúng
ta trang hoàng hư không.
Thật
sự chúng ta là hư không. Chúng ta nhìn vào tự thân và chúng
ta nhận thấy đối tượng chính là bản thân. Thật vậy,
giữa mỗi một phân tử và mỗi một nguyên tử trong thân
thể của chúng ta, theo khoa học, có rất nhiều khoảng trống
trong thân, rất nhiều khoảng hư không. Cả nguyên sự hiện
hữu của thân thể chúng ta cũng là dựa vào sự bao la của
hư không.
Bữa
nọ, tôi đang đọc báo Khoa Học, và tôi không hiểu DNA hoạt
động ra sao, nhưng báo nói về DNA và sự cấu tạo của nó,
nói về thể nhiễm sắc hoặc cái gì đó. Về những thành
phần đan chéo vào nhau để tạo thành một mảnh DNA. Bài báo
cho biết người ta có thể lấy mẫu DNA trong thân thể một
em bé, và thay vì để các thành phần ấy kết chặt trong mỗi
tế bào, họ trải các xâu DNA ra, nếu DNA của em bé có thể
trải ra kiểu nầy, thì nó sẽ trải dài từ Mặt Trời đến
hành tinh Pluto (hành tinh xa Mặt Trời nhất) gấp mười bảy
lần. Tôi không biết rõ là bao nhiêu dặm (miles), nhưng thật
là lạ lùng khi nghĩ đến điều nầy.
Trong
thiền đường của chúng ta tượng Bồ Tát Manjusri tay cầm
một cây gậy giống như thế nầy : Bồ Tát không quơ hay vung
gậy, Ngài cầm gậy một cách khéo léo để nó không bị rơi
xuống đất. Dường như Ngài chẳng hề nghĩ gậy ấy là của
Ngài. Đặc trưng hơn cả là các hình tượng của ngài Manjusri,
một tay đang vung kiếm khỏi đầu. Đây là thanh kiếm nổi
tiếng thường được nhắc đến trong trường Thiền, thanh
kiếm có thể lấy đi sinh mạng cũng như cứu lấy sinh mạng.
Thanh kiếm lấy mạng hoặc cứu mạng, bởi vì thanh kiếm chặt
xuyên qua cái nhìn giới hạn của chúng ta, giữa ta và người,
sống và chết, tốt và xấu. Như tôi đã nói qua, Ngài Manjusri
ở thiền đường Green Gulch của chúng ta thì cầm một thiền
trượng với một đoá hoa nhỏ ở đầu gậy.
Một
sự việc khác về Bồ Tát Manjusri, Bồ Tát là hiện thân của
sự thực tập « thấy mọi việc như nó là » , xa rời hẳn
những khái niệm giới hạn, Ngài thường được diễn tả
là một người trẻ trung. Tuổi 16 là tuổi điển hình của
Bồ Tát Manjusri. Ngài được diễn tả như là một người
trẻ tuổi, vì trí tuệ của Ngài. Trí tuệ thấy được tất
cả mọi vật như nó là, đấy là trí tuệ không phải do đạt
được. Đấy không phải là trí tuệ đạt được sau khi kinh
nghịêm qua. Thông thường thì khi có tuổi, trí tuệ được
tăng trưởng, cái nầy cũng tốt, nhưng trí tuệ của Bồ Tát
Manjusri không phải như thế. Trí tuệ của Bồ Tát Manjusri
là trí tuệ tựa như mưa rơi : trí tuệ mát mẻ, và bất ngờ.
Nó không phải là kết quả của việc học hành lâu dài hoặc
cố gắng hết sức.
Suzuki-roshi,
người đã dựng nên Trung tâm Thiền San Francisco, ông đã sử
dụng một câu đề tựa cho tác phẩm của ông, và bây giờ
câu ấy rất là phổ biến, gọi là trí tuệ của Bồ Tát
Manjusri, trí tuệ của Tâm thức lúc ban đầu. Đó là thấy
mọi thứ một cách mới mẻ, thấy mọi vật trong kích thước
hoàn toàn của chúng, với sự kỳ diệu, không phán đoán,
và không thành kiến. Thông thường các trẻ nhỏ có thể thấy
như vậy một cách rất tự nhiên. Chúng có thể thấy phép
lạ trong bất cứ trường hợp nào, thấy sự liên hệ vô
cùng, trong mỗi vật, mỗi thứ mà chúng đối diện. Cũng trong
cách nầy mà Bồ Tát Manjusri nhìn thấy mọi sự vật, chỉ
là Ngài Manjusri thì lớn tuổi hơn một chút, vì vậy Ngài
có khả năng để hành động với lòng nhiệt huyết, hăng
say và chính xác.
Chữ
Mansjuri có nghĩa là « cao quý, lịch sự » . Trí tuệ và tuổi
trẻ của Bồ Tát Manjusri đã tạo nên hình tướng của ngài,
và tôi biết rằng Ngài Manjusri cũng đang ngồi ngay chỗ của
anh, cao quý, và lịch sự. Ngài Manjusri biết gốc cao quý
của Ngài, ấy là biết rõ bản chất tự nhiên của thân và
tâm, thân và tâm không khác mọi vật, không có giới hạn,
và hoàn toàn trống không. Sự hiểu biết nầy mang lại cho
Bồ tát Manjusri một vẻ nghiêm trang trầm lặng và sức
chịu đựng, có khả năng nhận thấy sự vịêc rõ ràng và
sự kham nhẫn của tất cả trạng thái tinh thần, kể cả
đau khổ, biết rằng tất cả các vấn đề đã được giải
quyết, và không có gì đến hay đi, chẳng lo âu về sanh tử.
Nhờ vậy Bồ Tát Manjusri mang dáng vẻ lịch sự và cuộc sống
của Ngài toát lên vẻ quý phái cao sang. Prajna Paramita (Bát
nhã ba-la-mật), khi nói về trí tuệ của Ngài Manjusri, kinh
nói rằng, «Chỉ có trí tuệ mang đến cho chúng ta sự kiên
nhẫn ». Đây là thế giới của chúng ta, đầy đủ mọi
vật mặc dù nó chưa bao giờ được cấu tạo ra.
Có
một bài kinh gọi là « Lời tiên tri về Ngài Manjusri đạt
quả vị Phật ». Trong kinh nầy, một người hỏi ngài Manjusri,
« Giác ngộ là gì ? » hoặc « Làm thế nào để đạt
giác ngộ ? » Ngài cho một câu trả lời rất sáng suốt và
nhẹ nhàng. Ngài nói, « Tôi không hối thúc bất cứ chúng
sinh nào tiến đến Giác Ngộ, bởi vì chúng sinh không khi nào
hiện hữu, và không có bản ngã. Bằng chứng là Giác Ngộ
và chúng sinh đều giống nhau, không khác. Cái không khác nầy
chúng ta gọi là Không. Trong cái Không, chẳng có gì để mà
tìm kiếm. »
Vị
Manjusri đang ngồi nơi chỗ của anh, trong một vũ trụ song
song, ở trên, ở dưới và ở xung quanh anh, Ngài ngồi với
dáng thật đẹp, an lạc, yên ổn trong sự hiểu biết về
cái Không. Điều chúng ta cần làm là bước một bước vào
đời sống, hoàn toàn tỉnh thức trong quá trình trải nghiệm
của chúng ta, không khoảng cách, không bám víu, không suy diễn,
không ham muốn, không sửa chữa. Chỉ là bước vào đời với
kinh nghiệm sẵn có, bất cứ là kinh nghiệm gì. Và khi chúng
ta làm như vậy, Bồ Tát Manjusri có thể xuất hiện để tiếp
xúc với chúng ta, thể hiện sự thực tập của Ngài một
cách hoàn hảo xuyên suốt qua cuộc sống và hoạt động của
chúng ta.
Như
vậy, tôi tin rằng trong vài giờ còn lại của buổi thiền
toạ hôm nay, và ngày mai, và trong quãng đời còn lại, kể
cả trong tương lai, chúng ta có thể tuyên thệ, một cách nghiêm
trang, tiếp tục sự thực tập của Bồ Tát Manjusri. Thật
vậy, tôi nghĩ thiền tập làm cho đời sống của chúng ta
có giá trị hơn. Nó làm cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp,
và lợi ích.
Tất
cả chúng ta chỉ cần - rất đơn giản – là ngồi thẳng,
hoàn toàn tỉnh thức trong tư thế nầy và hít thở, cố gắng
theo dõi mỗi hơi thở ra vào, để ý mỗi ý nghĩ và cảm giác
một cách rõ ràng mỗi khi chúng xuất hiện, và rồi từ tốn
quay về với tư thế và hơi thở.
Chỉ
cần thực tập như vậy thôi. Rất là đơn giản : bất cứ
cái gì xuất hiện trong lúc thực tập, bất cứ gì xảy ra,
đều tốt. Bất cứ cái gì, đó chỉ là một chặn trên con
đường của chúng ta đi, và trong mỗi giây phút, bất kể
giây phút ấy mang đến việc gì, biết đâu đó là một cơ
hội vô tận.
Colin
MacDonald ghi chép lại vào ngày 08 tháng 10, năm 2000.

THIỀN
NGAY LẬP TỨC
Thầy
Dickwelle Mahinda Thera – Tây Đức
Dịch
sang tiếng Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Theo
kinh Dhammapada (Pháp Cú) và lời chú giải, sự hiện hữu
cuối cùng của con người là đạt đến tầng cuối cùng (
A-la-hán hay Thanh Văn), với một đối tượng giản dị làm
đề tài cho thiền định, để nhận biết sự vật như nó
là. Họ có thể hiểu về ba đặc điểm của tất cả mọi
vật hiện hữu, tính chất vô thường, đau khổ, và vô ngã.
(Anicca, Dukkha, và Anatta), nhổ tận gốc rễ nguyên nhân của
đau khổ, đó là ham muốn. Có rất nhiều vị Tỳ khưu , Tỳ
khưu ni, và cư sĩ đã từng đối diện với các đề tài thiền
định khác nhau, và họ thực tập ngay tức thời. Một trong
những đề tài ấy như sau :
Một
vị tu sĩ nhận một đề tài thiền quán từ nơi Đức Phật,
và rồi đi vào rừng để thực tập. Nhưng khi vị ấy không
thể nào tiến triển tốt trong việc thực hành thiền (Jhana).
Vị ấy quyết định trở về gặp thầy của mình. Trên đường
đến gặp đức Phật, vị ấy thấy một ảo giác. Vị ấy
tự nghĩ, « Như là khi mùa nóng bắt đầu, ta thấy những
ảo giác hiện diện từ nơi xa, nhưng khi ta đến gần thì
chúng tự dưng biết mất, như vậy tính chất của sự hiện
hữu chỉ là sanh và diệt » . Như thế, vị ấy đã thực
hành thiền xuyên qua một ảo giác. Sau khi tắm trong dòng sông,
vị ấy ngồi bên bờ sông, dưới bóng cây, gần một thác
nước. Vị ấy thấy bong bóng nổi lên và vỡ tan. Vị ấy
tự nghĩ, « Đây là sự hiện hữu có mặt và mất đi. »
Và như vậy, vị ấy đã biết sử dụng đề tài thiền quán.
Sau đó, đức Phật mới nói bài kệ như sau :
Phenupamam
kaayamimam viditvaa
Mariicidhammam
abhisambudhaano
Chetvaana
maarassa papupphakaani
Adassanam
maccuraajassa gacche
Ý
nghĩa của bài kệ trên là :
Người
nào biết rõ thân mình như bọt nước, người ấy hiểu rõ
thực chất của ảo giác là gì, người ấy có thể tiêu diệt
những cuống hoa ham muốn và rời xa thần chết.
Vào
câu cuối của bài kệ, vị tu sĩ chứng ngộ, trở thành một
vị A-la-hán (Dhammapada Puspha Vagga)
Con
một người thợ bạc trở thành tăng sĩ dưới sự hướng
dẫn của Đại Đức Sariputta Maha Thera. Thầy Sariputta
ra đề cho vị tăng sĩ thiền định, ấy là sự ô uế của
thân thể. Vị tăng sĩ suy ngẫm về đề tài rất lâu, nhưng
không thấy tiến bộ chút nào, dù chỉ là một thoáng sơ thiền
(Jhana). Sau đó, Thầy Sariputta đưa vị tăng sĩ ấy đi gặp
đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhìn thấy trong vòng năm trăm
kiếp sống, vị tăng sĩ ấy luôn sanh ra trong gia đình thợ
bạc nầy. Đức Phật thấy rằng thiền định về sự ô uế
của thân thể không thích hợp cho vị nầy, và đức Phật
tạo ra một hoa sen bằng vàng, và bảo thầy hãy nhiếp tâm
thiền về đề tài nầy. Lập lại những chữ « Máu - đỏ,
máu – đỏ (Lohitakan, lohitakan) ». Khi vị tu sĩ thiền
quán về đoá hoa sen bằng vàng, đức Phật làm phép cho hoa
sen ấy bị héo đi. Vị tu sĩ trẻ nghĩ, « nếu mọi vật không
bám víu vào thế gian mà vẫn bị phân rã và tàn hoại, vậy
thì con người nếu bám víu vào thế gian sẽ cũng phân rã
và tàn hoại. » Như thế, vị ấy đã giác ngộ rốt
ráo những đặc tính của tất cả sự vật, đó là, sự vô
thường, đau khổ và vô ngã (Anicca, Dukkha, and Anatta, và chứng
quả A-la-hán. ~, Vagga 9 )
Vị
A-la-hán Maha Panthaka Thera đuổi người em tu sĩ của mình khỏi
tu viện, bởi vì em của ngài không thể nhớ thuộc lòng nổi
một bài kệ. Đức Phật liền hiện ra trước người em, đưa
cho ông một miếng vải và bảo ông hãy suy ngẫm về đề
tài nầy, lặp đi lặp lại những chữ « phủi bụi trừ dơ
» (Rajoharanam). Khi ông nầy quay mặt về hướng đông dùng
miếng vải để lau chùi thì miếng vải bị dơ vì mồ hôi
trên trán của ông.
Đức
Phật hiện ra trước ông trong một linh ảnh, và nói « Bụi
dơ là sự ganh ghét, si mê, hãy chùi sạch đi. » Cullaphanthaka
liền chứng quả A-la-hán tức thời. (Appamada Vagga 3).
Truyện
kể rằng có năm trăm vị tu sĩ nhận được đề tài thiền
quán từ nơi đức Phật, họ liền lui vào rừng để tham thiền,
nhập định. Trong khi những vị tu sĩ nầy đang thiền quán,
họ thấy hoa lài rơi xuống. Họ liền dùng đề tài nầy để
thiền quán và họ nghĩ, « Như thế, không biết chúng ta có
thoát khỏi sự kềm chế của Tham, sân, si hay không.. » Và
cuối cùng thì họ đều chứng quả A-la-hán (Bhikkhu Vagga 8).
Kisa
Gotami sau khi trở thành nữ tu. Ngày nọ bà nhìn thấy ánh nến
lung linh và bà nghĩ đến sự vô thường của cuộc sống.
Đức Phật cho bà thấy hình dung của Phật ngay trước mặt,
và nói kệ, nhờ đó bà chứng quả A-la-hán (Sahassa Vagga 13).
Một
phụ nữ bị bệnh và chết đi. Gia đình và bạn bè đưa thi
thể của bà tới khu đất để thiêu xác. Đức Phật thấy
xác chết thích hợp cho đề tài thiền quán và chỉ cho Thầy
Maha Kala xem. Thầy Maha Thera đến và quan sát xác chết. Khi
người ta đốt xác, xác ấy giống như con bò có vằn. Đôi
chân thò ra lòng thòng. Đôi tay cuộn lại phía sau. Cái trán
mất da. Thầy Maha Thera suy ngẫm về sự chết và mục nát,
rồi thầy chứng quả A-la-hán, đạt lục thông. (Yamaka Vagga
6).
Một
tu sĩ vào rừng để thiền định nhưng thầy đã thất bại
trong thiền tập. Thầy nhất định gặp đức Phật để xin
một đề tài thiền quán thích hợp hơn. Thầy sửa soạn lên
đường gặp đức Phật. Trên đường thầy gặp đám cháy
rừng. Thầy leo lên một ngọn đồi trọc và nhìn ngọn lửa,
chú tâm suy nghĩ, « Khi ngọn lửa lan tràn, thiêu đốt tất
cả những chướng ngại vật, lớn cũng như nhỏ, như vậy
ta cũng phải tiến bước, dẹp bỏ hết chướng ngại vật,
lớn và nhỏ bằng ngọn lửa Trí tuệ của con đường chánh
pháp. » Vừa nghĩ tức thì vị ấy đạt quả vị A-la-hán
(Appamada Vagga 8)
Patacara
là con gái của một thương gia giàu có ở Savatthi. Patacara
trốn đi xây tổ uyên ương cùng với người giúp việc cho
gia đình cô. Hai vợ chồng sinh sống trong một làng nọ. Sau
cái chết của hai người con trai, chồng, cha mẹ, bà Patacara
trở nên điên loạn. Sau khi thiền quán về một bài kệ của
đức Phật, bà Patacara đạt quả vị Dự Lưu. Sau đó, bà
xuất gia và trở thành một vị ni.
Ngày
nọ bà đang rửa chân. Khi bà dội nước, bà làm đổ một
ít nước trên đất. Nước chảy thành một đường nhỏ và
biến mất. Lần thứ hai, nước chảy xa hơn một chút … Lần
thứ ba nước chảy xa hơn một chút nữa. Sau đó, bà thiền
quán về đề tài nầy, suy ngẫm về ba lần nước chảy, bà
ngẫm như sau : « Lần đầu làm đổ nước, nước chảy chút
xíu rồi biến mất, cũng như đối với chúng sanh ở thế
gian nầy, chết khi tuổi còn trẻ. Lần thứ hai, nước chảy
xa hơn một chút, cũng như chúng sanh ở thế gian nầy chết
trong khi tuổi đang xuân. Lần thứ ba, nước chảy xa hơn một
chút, cũng như chúng sanh ở thế gian nầy, chết khi về già.
»
Đức
Phật liền hiện ra trước mặt bà trong một linh ảnh, và
nói như sau, « Tốt nhất là sống trong từng giây phút của
một ngày, nhận thấy sự hiện hữu và hoại diệt của đời
sống, còn hơn là sống cả trăm năm mà chẳng thấy gì. »
Ngay
sau câu cuối của đức Phật, bà Patacara đạt quả vị A-la-hán
với những phép thần thông. (Sahassa Vagga 12).
11-11-2007
11:24:46
|