|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW POSTING THÁNG
1-2005
 |
 |
Phật
Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại do ban biên tập của Bồ Đề
Học Xã biên soạn, là một tài liệu giá trị cho những ai
muốn tìm hiểu sự khác và giống giữa Phật Pháp và Tâm
lý Học Trị Liệu Tây phương. Phật pháp là những phương
pháp tu tập cụ thể và mầu nhiệm để giải quyết một
cách rốt rát sự khổ đau phiền não của con người. Do vì
sự khổ đau của mỗi một con người cụng như trình độ
hiểu biết, hoàn cảnh tiếp cận v.v.. ngàn sai muôn biệt,
nên giáo pháp do Đức Phật giảng dạy cũng có vô lượng
vô biên, và dù vô lượng vô biên nhưng cứu cánh vẫn quy
về một mối, đó là giải thoát tận gốc sự tử sanh thống
khổ của tất cả muôn loài. Đối với Phật Giáo thì phương
tiện chính là cứu cánh và ngược lại. Trong phương tiện
vốn có cứu cánh, trong cứu cánh vốn có phương tiện, phương
tiện và cứu cánh không hai, không khác, đó chính là điểm
sai biệt to tát giữa Phật Pháp và Tâm Lý Học Trị Liệu
Tây Phương.Xem Tiếp Phật
Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại, TT. Thích Viên Lý Việt dịch
Giá
trị của đạo Phật là con đường trí tuệ, là hiểu rõ
nhân, quả, duyên. Do đó chúng ta không mê tín sợ hãi, không
tham vọng, không cần cầu cạnh, ước mơ điều gì mà chính
ta nổ lực để nắm lấy hạnh phúc trong tay. Đạo Phật nhận
thức rằng tất cả các pháp do duyên sanh thì nhân quả tùy
theo duyên đó mà ứng dụng. Khi đủ duyên thì hợp, hết
duyên thì tan rã. Đạo Phật nhìn cuộc sống bằng pháp
như thị. Trí tuệ có nghĩa là sự nhận thức rằng các
pháp do duyên sanh và căn cứ vào nhân quả để sống một
đời sống thánh thiện, giúp mình và người, không có sự
sợ hãi vào thần linh. Câu: “Đức trọng quỉ thần
kinh” là người nào có đức thì quỉ thần cũng phải tôn
trọng. Khi ta có đức, có tu hành đàng hoàng thì có chư
thiên thường hộ vệ có nghĩa là có những người thích gần
gũi với thiện hữu thì hay đi theo mình và giúp đỡ, hổ
trợ khi mình gặp khó khăn, trở ngại cho nên gọi là hộ
vệ. Câu: “Chở che nhờ đức cao dầy, tu sao thế
mấy không bằng tu tâm” có nghĩa là cái đức của mình che
chở cho mình chứ không phải thần linh nào.Xem
Tiếp Trí
Tuệ và Nhân Bản của Đạo Phật, Thích Minh Hiếu
Quá
trình tu học của mỗi người chúng ta trải qua năm giai đoạn
là định vị, dấn thân, liễu tri tâm, thanh tịnh và hằng
hữu. Do chuyên cần dụng công mà người học Phật đạt
được sự bình an ngay trong cuộc sống nàyXem
Tiếp .Con
Đường Giác Ngộ, Thích Minh Hiếu
Đạo
Phật là tinh thần của trí tuệ cho nên khi học Phật ta phải
dùng tâm. Đầu tiên là phải phát khởi tâm. Tâm
là chủ yếu vì tất cả các pháp đều do tâm tạo.
Làm
thế nào để thanh tịnh tâm?
Khi
tâm đã ô nhiễm thì chúng ta dù có học Kinh nhiều đi nữa
cũng chẳng thể rửa sạch tâm ô nhiễm vì chất liệu của
tâm chưa được thanh tẩy sạch sẽ.
Làm
thế nào để ta dụng công tu mà được kết quả lớn?
Phật
nói: “Các điều ác chớ làm, các điều thiện chớ
bỏ.”
Câu
“Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” có nghĩa là tự
làm cho tâm thanh tịnh. Đây là quá trình tu tập của
mỗi người chúng ta.Xem
Tiếp Tâm
Kinh và Tứ Niệm Xứ, Thích Minh Hiếu
Hoà
Thượng Thích Nhất Hạnh đã rời Hà Nội vào Saigon sáng hôm
nay lúc 10 giờ ngày 23-1-2005. Dưới đây là hình ảnh đón
tiếp Hoà Thượng tại Phi cảng Tân Sơn Nhất. Theo ước tính
có trên 3000 Phật tử ra đón tiếp Hoà Thượng và Tăng Đoàn.
Tin
ảnh
Đối
với Phật giáo, không có ngày nào xấu, mà cũng không có ngày
nào tốt, mà cũng không có sao hạn xấu tốt. Nếu ta đi coi
xăm, bói quẻ, coi sao, coi hạn, thầy nói ngày ấy tốt mà
lại đi làm những chuyện không tốt lành, như ăn trộm, gây
gỗ, đánh nhau, giết người, chắc chắn chúng ta sẽ bị pháp
luật trừng trị và ngày tốt do ông thầy nói ấy trở thành
ngày xấu ngay. Như vậy ngày tốt, ngày xấu không có cơ sở,
chỉ là do con người bày ra mà thôi. Lại thí dụ có hai đạo
quân giao tranh, đều chọn ngày tốt và giờ hoàng đạo ra
quân, vậy mà chỉ có một bên thắng, và cả hai bên, dù thắng
dù thua, cũng đều có tử sĩ và thương binh. Chọn ngày tốt
mà làm việc giết người thì quả trổ ra sẽ có chết chóc
là vậy. Xem
Tiếp Cúng Sao Giải Hạn,
Hoàng Liên Tâm
Đường
từ Vân Nam chưa nghe có ai đi vì quá quanh co, hiểm trở, sương
mù dày đặc. Từ Urumqi đi Lhasa phải qua hai con đèo cao trên
6.000m, mất vài ngày. Đường 109 từ Thanh Hải đi Lhasa khả
thi nhất vì tốn ít thời gian hơn. Khi biết chúng tôi
dự định đi Tây Tạng, mọi người ai cũng bảo: “Hay đấy!
Nhưng... khùng”. Họ nói có cơ sở vì mùa xuân, hạ, thậm
chí thu là mùa du lịch. Nhưng gần như không có sách hoặc
người nào khuyên nên đi du lịch vào mùa đông, nhất là Tây
Tạng, nơi mà nhiệt độ xuống đến âm vài chục độ là
bình thường. “Đi giữa thảo nguyên bao la, hoang vu không
một bóng người, xa xa là dãy núi phủ tuyết trắng xóa. Biết
thêm về một Tây Tạng khác vào đông... chẳng phải có cảm
giác mạnh hơn sao?”. Nói vậy không có nghĩa là đi “mò”.
Càng gần ngày đi chúng tôi càng theo dõi liên tục Đài Phượng
Hoàng, CCTV4 (chương trình truyền hình Trung Quốc) để xem nhiệt
độ. Năm nay trời lạnh quá nhanh, mới cuối tháng mười mà
có nơi nhiệt độ đã xuống 00C. Trước đó vài ngày tuyết
đã phủ trắng xóa tại Thanh Hải, Cách Nhĩ Mộc (những địa
danh sẽ đi qua). Bò, cừu, người chết hàng loạt vì lạnh
đột ngột. Xem Tiếp :Đường
Lên Tây Tạng, Nguyễn Tập
Thế
rồi, vào ngày thứ năm 16.12.2004 chúng tôi đưa nhau đến San
Francisco, viếng thăm anh lần chót. Chúng tôi trang nghiêm đến
trước linh cữu anh, thành tâm thắp nén hương. Anh Điện hỏi
nhỏ : Mình lễ mấy lạy anh? Tôi đáp : Tôi sẽ lễ
ba lạy như lễ Phật, phần anh thì xin tùy tiện, sao cũng phải
cả!” Tôi đã bộc lộ lời lẽ nầy với tất cả lòng
thành thật của mình và đã lễ anh trang trọng như lễ một
vị Phật. Tôi vốn học hạnh kính trọng tất cả mọi loài
chúng sanh, ai cũng có Phật tánh và đều đáng quý cả, huống
chi là đối với một người đức hạnh, một bậc đàn anh
khả kính như anh Nguyên Cung Trần đại Khâm.Xem
Tiếp :Tưởng
Niệm Về Một Người Anh, Huỳnh Trung Chánh
TRUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được ghi chép trong Kinh Bổn Sanh (Jàtaka).
Đây là tập thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh. "Tiền thân" là những
đời sống trước, những kiếp quá khứ. Mỗi truyện thường
gồm: phần truyện hiện tại, phần truyện quá khứ, phần
kết hợp và một bài kệ..Tập TRUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
được coi là do các đệ tử của Đức Phật trước tác và
mượn tiếng là Phật dạy để phổ biến những lời giáo
huấn của Đức Phật. Người ta suy ra rằng các vị này sống
trong thời Đức Phật hoặc chỉ sau đó khoảng vài chục năm.
Đầu tiên truyện được truyền khẩu, về sau người ta sưu
tập lại và ghi chép thành kinh sách. Xem
Tiếp:Truyện
Thơ Tiền Thân Đức Phật Tập 1, Tâm Minh E-Book
(205KB)
Kiến
Tánh Thành Phật là tác phẩm của Thiền Sư Chân Nguyên, soạn
vào đời Hậu Lê. Phần đầu sách là lời Tiểu Dẫn và Lời
Tựa, phần trong sách nói về Kiến tánh thành Phật là phần
chánh, phần này nói thẳng về Thiền, vì Thiền Tông chủ
trương tu là phải kiến tánh mới thành Phật. Nhưng tại sao
trong sách Kiến Tánh Thành Phật dạy tu Thiền mà nói về pháp
môn tu Tịnh-độ ? Và, ngài Chân Nguyên lập ra đài Cửu phẩm
liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm, chùa Hoa Yên, chùa Linh Ứng để
làm gì ? - Trong sách có hai phần : Phần một chỉ thẳng để
cho người tu kiến tánh thành Phật, phần hai là phần phương
tiện nhằm để thích hợp với trình độ căn cơ của người
bình dân, Ngài dạy tu niệm Phật cầu vãng sanh. Đó là nói
sơ lược qua nội dung quyển sách. Xem
Tiếp: Kiến
Tánh Thành Phật Giảng Gỉai, HT. Thích Thanh Từ E-Book
(320KB)
Trong
số những kinh điển được du nhập vào Trung Hoa từ đầu
kỉ nguyên tây lịch, bộ kinh thù thắng nhất trực tiếp hiển
thị yếu môn Thiền, ít ra trong thời đại của Bồ Đề Đạt
Ma, là kinh Lăng Già. Thiền, theo tin tưởng của các bậc Thiền
đức, không dựa vào uy tín của bất cứ giáo điển nào,
mà chỉ trực tiếp gõ vào cái tâm giác ngộ của Phật. Thiền
khước từ tất cả liên hệ với hình thức chủ nghĩa, dưới
bất cứ sự tướng nào; cả đến kinh điển, hoặc tất cả
trước tác khác, thường được coi là thánh giáo, do chính
miệng Phật nói ra vẫn không được ưu đãi gì hơn, như ta
đã thấy, vì coi như không can hệ gì đến sự Thiền chứng.
Bởi vậy, Thiền chỉ quy vào cuộc đối thoại uyên áo giữa
đức Thế Tôn và tôn giả Ca Diếp về câu chuyện "niêm hoa".
Nhưng Bồ Đề Đạt Ma, tổ khai sáng Thiền Đông Độ, trao
kinh Lăng Già cho người đệ tử Trung Hoa đầu tiên là Huệ
Khả, coi đó là bản văn duy nhất đương thời ở Trung Hoa
dạy Pháp Thiền.. Xem
Tiếp: Thiền
và Kinh Lăng Già, Suzuki - Việt dịch: Trúc Thiên
Ở
Trung Hoa, kinh Quán Vô Lượng Thọ (Book on the Contemplation of
the Buddha of Immeasurable Life) đóng một vai trò quan yếu trong
giai đoạn đầu tiên của sự truyền bá Tịnh độ tông hơn
bất kỳ kinh văn nào khác của tông nầy.[1] Từ đời Tùy
cho đến đời Tống,[2] có ít nhất 40 luận giải về kinh
nầy được trước tác, phần nhiều được biên soạn trước
năm 800.[3] Như ngài Thiện Đạo, một vị tăng lỗi lạc xiển
dương Tịnh độ tông Trung Hoa đã viết một luận giải đặc
sắc về kinh Quán Vô Lượng Thọ để đánh dấu cho sự kiện
trung tâm nầy.[4] Trước đó nữa, các luận giải quan trọng
khác về kinh nầy của ngài Huệ Viễn, của ngài Trí Khải
(c: Zhiyi 智顗) Đại sư tông Thiên thai, đã để lại một
ảnh hưởng to lớn vượt qua giới hạn truyền thống Tịnh
độ tông Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên.[5]. Xem
Tiếp: Nguồn
Gốc Văn Bản Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Nhuận Châu Việt dịch
Quan
điểm của Phật giáo về sự "sinh" rất thoáng. Nó bao gồm
cả những chu kỳ rộng lớn của tình trạng chết, tình trạng
Bardo –thân trung ấm (khoảng trung gian giữa chết và tái sinh)
và tình trạng tái sanh. Thể nghiệm về Bardo là kết quả
của những hành động và thể nghiệm về cuộc sống –gọi
là nghiệp dẫn dắt –của chúng sanh nào đi vào trong cõi
trung ấm và chúng sanh đó có thể hoặc là rất sợ hãi, bơ
vơ, lạc lõng …hoặc là cảm thấy cực kỳ thỏa mãn Xem
Tiếp:.Thần
Thức Vào Thai Mẹ Như Thế Nào?, Định Hương
Khi
chúng tôi đặt vấn đề này, chúng tôi vẫn biết đây là,
một việc làm sai lầm ngốc nghếch; bởi vì vấn đề này
đối với Thiền tông chúng không can hệ gì. Hơn nữa, như
chính đức Phật đã dạy ngài Ma-ha Ca-diếp: “Ta có Chánh
pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết-bàn, thực tướng vô tướng,
nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp”. (Ngẫu kiến Đại Phạm Thiên
vương vấn Phật quyết nghi kinh), và cho đến Bồ-đề-đạt-ma
khi mới sang Trung Quốc tuyên bố rằng: “Chỉ thẳng tâm người,
thấy tánh thành Phật, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài
giáo”. (Huyết mạch luận trong Thiếu Thất lục môn). Rõ
ràng đã nêu tông chỉ và sự kế thừa của Thiền tông như
thế nào rồi. Nhưng ở đây, chúng tôi vẫn đặt ra vì chúng
có những nguyên nhân sâu xa, và cấp bách của chúng.. Xem
Tiếp: Công
án Thiền là Một Đối Tượng Nhận Thức? Đại Lãn
Bao
nhiêu cuộc tình đã đổ vỡ vì tri giác sai lầm. Cho nên bạn
phải cẩn thận lắm mới được. Những gì mình nghe, những
gì mình thấy có thể không phải là sự thực. Trong giới
y khoa ngày nay, người ta ưa nói: 'Dầu bạn có chắc chắn
là chẩn đoán của bạn đúng, bạn cũng nên kiểm chứng thêm
một lần nữa' (even if you are sure, please check it again). Bao nhiêu
bệnh nhân đã mất mạng vì những chẩn đoán sai lầm. Bạn
phải hỏi lại người yêu của bạn bằng một giọng trầm
tĩnh: 'Có phải là sự thực đã xảy ra như thế hay không?
Tại sao anh (em) đã làm như thế, đã nói như thế? Anh (em)
hãy nói cho em (anh) nghe đi?' Người yêu của bạn sẽ có cơ
hội để giúp bạn thấy rõ sự thực. Nếu đã vì vụng về,
mà đã làm đã nói những điều ấy thì người yêu của bạn
sẽ có dịp để xin lỗi. Và nếu bạn đã có hiểu lầm thì
bạn có cơ hội điều chỉnh nhận thức của bạn. . Xem
Tiếp: Thiếu
Phụ Nam Xương, Nhất Hạnh
Trong
rất nhiều pháp môn tu tập theo giáo lý Phật giáo, thì mỗi
một pháp môn tu tập là mỗi một con đường đi về với
quê hương của chính mình, là mỗi một con đường đi về
với quê hương chư Phật. Và, Tịnh độ cũng là một trong
những con đường giúp ta sớm trở về với quê hương ấy... Xem
Tiếp: Đường
Về Quê Hương Tịnh Độ, Thích Vân Pháp
Có
một điều rất đặc biệt mà có lẽ quý vị đã nhận thấy,
là tất cả Phật tử không phân biệt truyền thống hay tông
phái tu tập đều có chung một mẫu số. Đó là
điều tôn trọng và bảo vệ sự sống đồng thời thừa
nhận và chấp hành giới luật cấm sát sinh nhằm bảo vệ
sự sống ấy. Còn việc làm thế nào để bảo vệ
sự sống ấy thì có những sự khác biệt.
Điều
này thiết tưởng cũng không có gì khó hiểu. Sự khác
biệt này là do tâm chúng sinh khác biệt, do căn cơ và môi
trường sinh sống của chúng sinh khác biệt, lại do không gian
và thời gian khác biệt. Hoàn cảnh sống của Phật
tử Tây Tạng khác với hoàn cảnh sống của Phật tử Việt
Nam, lại càng khác hơn với Phật tử sống ở Hoa Kỳ.
Ngay như hoàn cảnh quý Tăng Ni theo truyền thống Bắc Tông
ở miền Nam Việt Nam (ăn chay) cũng khác với một số tăng
ni theo truyền thống Bắc Tông sống tại miền Bắc từ
năm 1954 đến năm 1975 (không ăn chay). Nếu quý vị hiểu
được những hoàn cảnh khác biệt như vậy thì sẽ thấy
không có vấn đề gì và dễ dàng cảm thông.
Còn
lý do tại sao trong tất cả kinh điển Nam Tông không có điều
luật ăn chay mà lại còn có điều luật cho phép ăn thịt
tam tịnh nhục và các kinh điển Bắc Tông lại có điều luật
không được ăn thịt.. Xem
Tiếp: Vấn
Đề ăn Chay, Bài Thuyết Trình của Cư Sĩ Tâm Diệu tại
Phật Học Đường Vạn Hạnh Chùa Quốc Tế Online Lúc 5 giờ
chiều giờ miền Tây Hoa Kỳ ngày 18-12-2004 (8 giờ sáng giờ
Việt Nam ngày Chủ Nhật 19-12-2004)

|