A Di Đà Phật Hay A Mi Đà Phật

21/06/201112:00 SA(Xem: 82495)

NIỆM A DI ĐÀ PHẬT hay A MI ĐÀ PHẬT


Kính thưa Thầy Admin và Chư Vị đồng tu,

adidaphathayamidaphatGần đây qua tập sách "Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp" của tác giả Diệu Âm - Diệu Ngộ khuyên nên niệm Nam Mô A Mi Đà Phật thay vì Nam Mô A Di Đà Phật như trước đây.
Điều này nếu không khéo tự nhiên sẽ chia làm 2 nhóm trong cùng một pháp môn tu tịnh độ, chính vì lẽ đó kính mong Chư Tôn Đức lý giải vấn đề trên để hàng Phật tử tại gia yên tâm tu niệm.
Vấn đề này có liên quan đến tập sách "Hương Sen Vạn Đức" của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, hiện nay Hòa Thượng đang còn đương chức, nếu như niệm A Mi thật sự có lợi ích hơn niệm A Di thì thiết nghĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên phổ biến rộng rãi điều này một cách chính thức đến với các Phật tử, chứ để tình trạng này kéo dài mà Giáo hội không lên tiếng thì sẽ làm cho các Phật tử thêm hoang mang.
Còn một khía cạnh khác nữa là nếu thay A Di bằng A Mi thì không chỉ riêng câu niệm Phật mà các câu trong các bài chú (như chú Vãng Sanh chẳng hạn) đều phải thay đổi lại hết. Rồi liệu các danh hiệu Phật khác có gì phải sửa nữa không ? v.v. và v.v
Điều này quả thật có ảnh hưởng rất lớn đến các Phật tử Việt Nam, kính mong Chư Tôn Đức sớm xem xét vấn đề này.

Xin thành kính tri ân.

Phạn: अमिताभ Amitābha, Amitāyus
Trung: 阿彌陀佛(T) / 阿弥陀佛(S)
Bính âm: Ēmítuó Fó
Wade-Giles: E-mi-t’uo Fo
Nhật: 阿弥陀如来 Amida Nyorai
Hàn: 아미타불 Amit'a Bul
Mông Cổ: ᠴᠠᠭᠯᠠᠰᠢ ᠦᠭᠡᠢ ᠭᠡᠷᠡᠯᠲᠦ
Цаглашгүй гэрэлт
Tsaglasi ügei gereltu
Одбагмэд Odbagmed
Аминдаваа Amindavaa
Аюуш Ayush
Tây Tạng: འོད་དཔག་མེད་
od dpag med
Ö-pa-me yoong toog taaa
Việt: A di đà Phật

 

TẠI SAO NIỆM A MI ĐÀ PHẬT?

HT. Thích Trí Tịnh

 

thichtritinh_1Sáu chữ hồng danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc). Hai chữ đầu (Nam Mô) nguyên âm là Namo, ta quen đọc liền vần Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy y (về nương) và Quy mạng (đem thân mạng gởi về).

Chữ thứ sáu (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô), ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

Ba chữ giữa (A Mi Đà) là biệt danh của đấng Cực Lạc giáo chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong kinh, đức Bổn Sư tự giải thích rằng: “Đức Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở mười phương không bị cách ngại. Đức Phật ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên vô số kiếp “.

Trong Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng danh hiệu của Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp và được vãng sanh …”

Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe danh hiệu của Đức Phật đây mà chấp trì trong một ngày đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều thiện căn phước đức. Đức Phật ấy và Thánh chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp… “

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng danh hiệu thời đặng chứng Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.

Xem như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ phán trên đây, thời thấy rằng ba tiếng hồng danh của đức Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị. Muốn được kết quả to tát như lời trong kinh, hành nhơn phải chí tâm xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.

Ba chữ A- mi- Đà nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- mi- thô, và họ tụng xuôi là Á- mi -Thồ. Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho kinh sách Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó nên đọc là A-di-đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon (Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris (Pari).

Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa. Giá như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân thời thật là đáng buồn cười. Với A-di-đà để gọi đức Giáo chủ Cực Lạc cũng theo lệ đó.

Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận của sáu tiếng hồng danh. Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong sớ sao nói: “Hồng danh Nammô A-mi-đà Phật toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng với pháp trì chú của Mật tông đồng nhau”, lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.

Với vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự Điển.

Tôi đem ba chữ A-mi-đà ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-mi-thô.

Hai tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời quyết chắc đọc “di” là sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ ba, vì nếu dọc Amita như vần Anh, cùng A-mi-thô như người Tàu thời với tiếng Việt có hai điều bất tiện:

1. Nghe không nghiêm và không êm.

2. Khác với thông lệ từ xưa.

Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “đà” của tàu dùng phiên âm Phạn ngữ có hai giọng:

1. Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là “Bù Thồ”.

2. Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)

Với giọng “đa” để đọc chữ “thô”, nó mở đường cho tôi ghép 3 chữ lại: A-mi-đa và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền: A-mi-đà.

Ghép luôn cả sáu tiếng nam mô A-mi-đà Phật, tôi nhận thấy rằng tránh khỏi cái lỗi quá khác với nguyên Âm, dù vẫn chưa được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì trong sáu tiếng đây chỉ có đổi “di” thành “mi” mà thôi.

Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nammô A-mi-đà Phật, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả.

1. Sáu tiếng hồng danh đây nổi rõ nơi tai cũng như nơi tâm, khác hẳn sự mờ mờ lọt sót của tiếng “di” trong thời trước.

2. Khi niệm ra tiếng, từ năm ngàn câu mỗi thời trở lên, môi lưỡi càng lúc càng nhại, càng chuyên, càng lanh. Khác hẳn sự trệ môi cứng lưỡi của những ngày niệm khi xưa.

3. Niệm ra tiếng với A-mi khỏe hơi hơn niệm ra tiếng của A-di khi trước, nhờ vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.

Người chuyên niệm danh hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục. Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không nổi rõ nơi tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.

Biết rằng niệm A-mi-đà được nhiều phần đúng với nguyên âm, nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước đức giống như pháp trì chơn ngôn (thần chú) của Mật tông mà Tổ Vân Thê đã phán. Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi tâm. Nhất là niệm A-mi-đà được khỏe hơi, nhờ đó nên được niệm lâu và nhiều. Niệm Phật được thuần thục là nhờ niệm nhiều câu, nhiều giờ và tiếng niệm nhấn rõ nơi tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm vãng sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng niệm gần với nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh của Đức Giáo chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm thông với Phật. Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.

Nhưng trong kỳ kiết thất 49 ngày ở tịnh thất nơi chùa Linh Sơn Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng giới, và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-mi-đà Phật. Một người như thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc mắc:

1. Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.

2. Đem sự ngờ vực cho người đã niệm A-di khi những người này chưa hiểu thế nào là A-di và thế nào là A-mi. Và sự ngờ là điều rất chướng của pháp môn niệm Phật

Tôi tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần (tôi tự sửa đổi riêng tôi). Mình không có quan niệm lập phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàng quan”. Và với sự ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.

Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.

Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-mi nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..

Tối hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp. Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông người hòa: Nam mô A-mi-đà Phật! Tôi tự bảo: “Ủa lạ! Câu Nammô A-mi-đà Phật tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm. Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”. Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.

Do hai điềm trên đây (chữ A-mi hiện giữa trời và chiêm bao nghe xướng hòa nam mô A-mi-đà Phật), bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè…

Từ hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm A-di mà niệm A-mi. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người xuất gia cũng như hàng tại gia niệm A-mi-đà. Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.

Tôi viết bài này chỉ với mục đích giúp thêm sự nhận chơn về câu Nammô A-mi-đà Phật cùng lịch sử của nó, cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế. Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.

Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A-di-đà Phật, nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì mà họ có thể vướng phải.

HT. Thích Trí Tịnh
(Trích Hương Sen Vạn Đức)

__________________________________________________________

Kính thưa quí Phật tử,

Như đã thông báo cũng như phổ biến mà chúng tôi cố gắng đã trả lời về việc mà nó đã gây một ảnh hưởng rất lớn đối với người tu hành theo tông Tịnh Độ, giữa câu Phật hiệu " Nam Mô A Di Đà Phật" và " Nam Mô A Mi Đà Phật".

Theo lịch sử của Phật giáo cũng như từ điển Hán - Việt của Phật Học chưa bao giờ có ghi là "A Mi Đà", chắc cũng có lẻ sẽ không lâu đâu, chúng ta sẽ tìm thấy rải rác đâu đó sẽ được nhóm người tự cho thánh hiệu của Đức Từ Phụ A Di Đà nên sửa đổi là A Mi Đà mới đúng, và chính tay họ sẽ tự đưa vào từ điển. Sự việc trước mắt như vậy rồi, mà có một số người lại vô tri hùa theo tư tưởng cải mới???

Như chúng tôi đã giải thích, Phật thì chẳng có tướng làm gì có danh, mà lại là A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật. Nếu chúng ta là người thực hành chơn chánh, thì với tâm thanh tịnh thì niệm câu Phật nào cũng là Phật thôi, chứ không hề sai khác. Ở thế gian thì trọng cái danh, nhưng trong Phật Pháp thì trọng cái tâm. Còn nữa, mong rằng những ai chủ trương nên cải mới câu Phật hiệu A Di Đà Phật thành A Mi Đà đừng bao giờ mượn chữ chơi chữ nữa nhé. Vì sao? Vì sẽ có người bảo rằng: " Nhất thiết do tâm tạo?". Nếu bảo như vậy, thì chính bản thân của người thực hành cũng đừng xưng niệm danh hiệu Phật, hành bái sám, tụng kinh....v.v... để làm gì cho phiền toái. Cứ làm những chuyện đảo điên và khi xong rồi thì "Nhất thiết do tâm tạo" thì được rồi.

Đứa bé khi chào đời cũng phải theo thứ trình mà phát triển, từ bò, tập đi, rồi mới chạy, hoàn toàn không có thể nào chạy trước khi đi. Người mới học Phật cũng phải theo từng lớp mà hấp thụ tuỳ theo căn cơ của từng mỗi cá nhân mà chọn những pháp thích ứng cho chính bản thân, rồi tinh tấn hành trì. Nếu như đi đúng phương Pháp mà Đức Thế Tôn đã dạy thì may ra tâm mờ mịt kia sẽ được tỏa sáng đôi chút, chớ đâu thể nào có chuyện" Nhất thiết do tâm tạo". Người đồ tể sát sanh quá nhiều, khi nghe được người bảo hãy đọc "Nhất thiết do tâm tạo" là ông sẽ khỏi đọa vào đường ác. Quí vị có cho thật có đạo lý nầy? Người đồ tể kia nếu muốn được "Nhất thiết do tâm tạo" thì trước tiên người này phải hiểu thấu đáo câu "Nhất thiết do tâm tạo" mà quan trọng là ông ta phải biết cái tâm của mình đang ở đâu? Phải hiểu rõ ràng về cái tâm của ông ấy, thì may ra mới "Nhất thiết do tâm tạo". Còn chỉ biết đọc xuông theo người ta thì chúng tôi tin chắc rằng chỉ có thể là: "Nhất thiết do nghiệp lực" mà thôi.

Chúng tôi sẽ không nói nhiều về ở đâu đâu, những đạo lý thâm sâu như nói: "Nhất thiết do tâm tạo". Vì chúng tôi chưa lên bờ vẫn còn lênh đênh trên biển sanh tử thì phải ôm thuyền chứ không thể nào bỏ thuyền được. Nhưng nếu là người đã lên bờ thì thuyền cũng chỉ là vật chướng ngại mà thôi. Tuy nhiên, những ai tự cho mình đã lên bờ thì tất nhiên không cần thuyền nữa, nhưng xin nhớ một điều rằng, những người đang trên thuyền không như người đã lên bờ. Đừng bao giờ dùng phương pháp bỏ thuyền để dạy họ. Vì sao? Vì nếu không có thuyền, những người này sẽ rơi vào biển nghiệp, thật tội nghiệp thay. Xin hãy thận trọng.

Vấn đề thật giữa câu Phật hiệu A Di Đà và A Mi Đà thật là đơn giản, nhưng không biết tại sao có quá nhiều người lại hoang man và lo lắng (đối với người tu hành theo Tịnh Độ tông). Theo chúng tôi thì quí vị chưa có đủ lòng tin nơi Phật Pháp cũng như chưa có lòng tin đối với những bậc tiền bối đã đi trước. Lòng tin của quí vị chỉ là lòng tin tạm thời và lòng tin ấy phải theo một số đông thì quí vị mới cảm giác an toàn. Thử hỏi chỉ có bao nhiêu đó, thì sao quí vị muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc kia, để vĩnh viễn thoát khỏi vòng luân hồi? Muốn vãng sanh về thế giới kia, quí vị phải có lòng tin chắc chắn, phải hội đủ ba việc: TÍN, HẠNH, NGUYỆN, tròn đầy thì mới mong ra khỏi luân hồi. Thử nghĩ xem, Phật giáo đâu phải mới xuất hiện ở nước ta trong đôi mươi năm, nói cách khác tông Tịnh Độ đâu chỉ mới lập thành tông trong vài mươi năm, mà quí vị lại hoang man, mà Phật giáo và tông Tịnh Độ nói riêng đã là gốc rễ ăn sâu vào lòng của tín đồ Phật giáo, hay rộng ra là khắp mọi người.

Chữ Buddha là tiếng Phạn mà phải gọi cho đủ là Buddhabhardra - Phật đà bạt đà la nghĩa là giác Hiền, tóm lại là người giác ngộ. Có người bỏ rất nhiều công sức cũng như thời gian để khảo cứu để chứng minh rằng Phật là sai mà phải là Bụt. Tuy nhiên quí vị thử hỏi mọi người bình thường chẳng biết gì Phật lý chữ Bụt là gì. Tôi tin chắc rằng họ sẽ trả lời; Bụt là một vị thần tiên râu tóc bạc phơ. Vì sao vậy? Vì từ Bụt, trong văn hóa Việt Nam cũng như trong tâm thức của người Việt từ Bụt chỉ để chỉ một vị thần tiên mà thôi. Nhưng hỏi về từ Phật thì ai ai cũng biết ngay là Phật giáo. Như vậy, dù là đúng hay sai cũng không cần thay đổi.

Thầy Trí Tịnh bảo trong bài để biện minh cho ý tưởng mới của thầy, khi bảo: "Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên niệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng".

Xin hỏi ngay rằng niệm Phật để làm gì? Để cho vần với âm niệm hay để thoát luân hồi. Nếu như câu trả lời là để vần âm điệu thì hoàn toàn không gì để nói. Còn nếu câu trả lời là vì thoát sanh tử mà trì danh thì cần phải nói. Còn nữa, nếu thuận lòng là nên dùng từ BỤT thì phải niệm là Nam Mô A Mi Đà Bụt mới chính xác, thế thì sao lại đổi một từ mà giữ lại một từ mà không thể giữ nguyên như cũ như bao bậc tiền bối đã làm. Nếu cho chữ "DI" là sai thì hoàn toàn câu Phật A Di Đà phải đổi cho đúng chính xác hết.

Câu Phật hiệu này được người Trung Hoa viết như vậy:南無阿彌陀佛 - Nam Mô A Di Đà Phật, mà ai ai nếu là tín đồ Phật giáo cũng đều biết đến.

Nhưng hãy xem cho kỷ từ Mô (無) từ này không phải là VÔ (Không) sao? nếu nói là sai thì phải niệm như thế này: Nam Vô A Mi Đà Bụt. Nếu như bảo là sai mà sửa lại được như vậy thì hoàn toàn không có gì để nói. Nhưng ở đây chỉ sửa từ DI thành MI mà thôi. Rõ ràng là khi niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" thì từ DI này là chướng ngại cho âm điệu, vậy thì đây là sự chướng ngại từ nơi tâm, chớ hoàn toàn không phải chướng ngại do dùng sai danh từ. Quí vị bảo niệm Nam Mô A Mi Đà Phật nhanh hơn là niệm " Nam Mô A Di Đà Phật". Kỳ thật niệm Phật mà còn tâm tham ở đây nữa, phải nên biết, không phải niệm nhiều là được vãng sanh, mà người niệm ít thì không được vãng sanh. Phải nhớ cho kỹ điều này. Nếu như quí vị dùng tâm để niệm, xả bỏ vạn duyên chướng ngại, thì chỉ cần niệm 10 niệm cũng được vãng sanh. Ở đây không phải do nhiều hay ít mà được vãng sanh. Mà chú trọng nơi tâm lực của người hành trì. Tuy biết rằng, trong Kinh dạy, niệm danh hiệu của Đức Phật nhiều thì sẽ được sanh vào hoa sen lớn phẩm cao. Nhưng phải rõ rằng, đó là nói việc trì theo tâm lực của người đó. Quí vị niềm nhiều nhưng chẳng hiểu nghĩa của câu Phật hiệu thì cũng bằng không. Tâm tham, tam sân, tâm si, không xả thì niệm nhiều để làm gì? Nguyện thứ 18 có nói chỉ cần chúng sinh trong mười phương hết lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước của Ngài thì chỉ trong mười niệm, đều được vãng sanh.

Lại nữa chữ Di Lặc - 彌 (trong thánh hiệu của Phật Di Lặc), đã nói chữ DI là sai thì phải đổi luôn chữ Di Lặc thành Mi Lặc mới đúng. Chớ sao lại đổi hiệu của đức Từ Phụ A Di Đà mà không đổi hiệu của Đương Lai hạ Sinh Di Lặc Phật?

Câu Phật Hiệu A Di Đà Phật, tiếng Phạn là: Namo Amitabha, mà người Trung hoa dịch âm là Namo A Mi Tuo Fo, nếu chúng ta dịch theo âm tiếng Phạn thì có thể dịch như vậy: Nam Mô A Mi Thà (Đà) Phật, còn nếu dịch theo âm Hán thì phải dịch Nam Vô A Di Đà Phật. Do đó, có lẻ cổ đức hòa dung cả hai nên thành Nam Mô A Di Đà Phật.

Ở trên chỉ để giải thích cho xác nghĩa của câu Phật hiệu. Chớ để tâm chú trọng vào việc đúng sai. Ở đây chúng tôi chỉ giải thích để qúi vị có cái nhìn khái niệm. Quan trọng ở đây là những người niệm Nam Mô A Di Đà Phật thuở xưa cũng như ngày nay có được thanh tịnh hay không và có được vãng sanh hay không mà thôi. Nếu như lịch sử đã chứng minh, sách vở đã ghi chép đều có, thì cần chi họa thêm chữ MI vào? Thật là dư thừa và tội lỗi. Tại sao? Vì gây hoang man cho không biết bao người, còn nữa những người chưa thấu suốt giáo lý, đem ra bàn cãi, tranh chấp ..v.v... quí vị nghĩ có phải tội lỗi không?

Thầy Trí Tịnh lại mang sự Phật chứng để biện minh không thể thuyết phục được nếu dùng Giáo lý của Phật để đo thì không hợp lý. Phải nên biết giáo lý của Phật Đà là một giáo lý giác ngộ, chẳng phải thần quyền hay mê tín. Khi bảo rằng

"Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-mi nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn... "

Chúng tôi không dám bảo là không có thật hay có thật, mà chúng tôi chỉ nói theo nền giáo lý của Phật Đà. Nếu bảo là Phật cũng ấn chứng với ý nghĩ của thầy là nên dùng chữ Mi để thay cho chữ Di thì đức Phật còn là Đức Phật nữa không? Vậy thì những người niệm từ thưở xưa đến nay niệm Phật hiệu gì? Cũng như theo lịch sử những người niệm Phật vãng sanh thì chẳng phải Phật rước hay sao? Còn nếu nói không chấp vào danh tự, thì tại sao Đức Phật lại báo điềm lành cho nổi chữ A -mi trên trời xanh cùng với ý tưởng mới là cổ đức đã sai nên nay phải thay đổi. Trong khi đó, Đức Phật là bậc đại giác, vạn Pháp đều không, mà không cũng đều có. Thì tại sao lại còn phân biệt là có, không, sai và đúng ...v.v...., trong khi đó Ngài tất phải biết danh hiệu của Ngài là A Di Đà, Vì ai ai cũng niệm danh hiệu này, cho dù có sai, nhưng tâm thức của họ chính là đức Phật của thế giới Cực Lạc về Phương Tây. Quí vị thử nghĩ có mâu thuẫn không?

Lại nữa, nếu cho rằng có sức mầu nhiệm gia hộ của thánh chúng, mà chữ A-mi nổi lên trời xanh và chỉ nổi lên từ phương Tây, khi nhìn về phương khác khi không thấy chỉ thấy ở phương Tây. Nếu đã là điềm lành lẻ tất nhiên phải thấy bất luận ở phương nào, xin đừng bảo rằng vì Phương Tây là thế giới Cực Lạc. Vì Phật đâu còn mê như chúng sanh, và ích kỷ như vậy, nhìn về chỗ ở của mình thì thấy, khi nhìn về quốc độ khác thì không? trong Phật giáo đâu có đạo lý này.

Như chúng tôi đã nói, là không chú trọng vào đúng hay sai, mà là quan trọng ở nơi thật hành và quy cũ. Cổ đức từ xưa đã như vậy, bậy giờ cũng như vậy, vị lai cũng cố gắng như vậy, cần chi thay đổi để thêm rắc rối và gây ảnh hưởng đến nhiều người.

Tóm lại, nếu ai tha thiết muốn thoát vòng sanh tử luân hồi, thì cố gắng giữ tâm của mìinh và theo cổ đức mà hành, chứ nên đem đề tài này ra phiếm diện, mỗ xẻ đúng sai. Vì tất cả đều là vô ích, chẳng giúp ích gì cho việc tiến tu cũng như việc cầu vãng sanh của mọi người. Mà hãy thật hành y như pháp, hội đủ Tam Lương, TÍN- HẠNH- NGUYỆN, để vĩnh viễn thoát ra khỏi vòng ma lực giăng bủa khắp mọi nơi.

Như đã trả lời, nhưng còn có nhiều Phật tử còn thắc mắc, nên gởi mail về hỏi. Do đó, chúng tôi một lần nữa cố gắng trả lời như trên, hy vọng rằng sẽ giúp ích được một số người nào đó, đang cũng có tâm hoang man và thắc mắc như vậy.

Sau cùng, chúng tôi tha thiết kêu gọi quí vị, những ai đang hành và sẽ theo tông chỉ của Tịnh Độ thì hãy cứ yên tâm hành trì theo cổ đức, cứ việc niệm Phật hiệu là "Nam Mô A Di Đà Phật" hết lòng thành kính, tha thiết cầu vãng sanh, nếu như có một ai làm đúng như lời dạy của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, hành thiện tránh ác, nhưng lại đọa lạc, không được vãng sanh vì niệm Phật hiệu sai, thì tôi nguyện gánh hết những tội lỗi mà hôm nay tôi cố gắng giải thích để duy trì Phật hiệu là "Nam Mô A Di Đà Phật" gây nghịch duyên cho người mới phát chánh tín cầu vãng sanh đối với Phật hiệu.

Chúng tôi tha thiết kêu gọi mọi người rằng; cũng đừng đem đề tài này để bàn cãi nữa, vì sẽ không giúp ích gì cho việc tiến tu của mình. Ai làm sao thì cứ tùy họ vậy, còn đối với bản thân thì cứ y Pháp mà hành. Nếu như còn có người tự thắc mắc cho rằng nếu điều ấy là sai, thì sao lại có người theo v.v.... Thì hãy tự hỏi với mình rằng: " Hút thuốc thật sự có hại cho sức khỏe hay không? Sao lại có nhiều người dẫu biết là có hại mà vẫn cam tâm tình nguyện vướng vào". Tất cả cũng chỉ đều do nghiệp lực của mỗi cá nhân khác nhau mà thôi.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát!!

Trân trọng,
Tịnh Quang
(http://www.trangnghiemtinhdo.net/adidaphathayamidaphat.html)

Xem thêm: NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY - Tác giả: Lâm Thanh Huyền - Dịch giả: Phạm Huê

Nghe thêm: Giảng Sư Thích Trí Huệ Nhận Định Về Niệm A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật MP3

 

Kính thưa các đạo hữu,

Lướt qua các bài viết và ý kiến liên hệ, xin được ghi nhận vài ý mọn như sau - khi TIẾNG đã thoát ra từ TÂM thì mang đủ loại hình thái (sắc < thân khẩu ý) phản ánh bản chất cá nhân, thời gian (lịch đại) và không gian (địa phương, phương ngữ). Âm thanh con người cũng chịu ràng buộc (<tam phọc) bởi dây âm thanh và cấu trúc miệng . Không bàn chi tiết về gốc Phạn mà chỉ chú trọng đến sự khác biệt giữa Di và Mi trong câu niệm A Di Đà Phật 阿彌陀佛, Amit'a Bul (Hàn), Ēmítuó Fó (Quan Thoại/QT), Amida Butsu (Nhật) ... Đây là khuynh hướng ngạc cứng hóa (palatalisation) các âm Hán Việt: phụ âm m trở thành j-/d- giọng Nam VN khi đứng trước nguyên âm trước (front vowel) với độ mở miệng nhỏ (như i) - giọng Bắc VN đã xát hóa cao độ di để thành dạng zi. So sánh các cách đọc sau đây 民 mín (QT) dân (Hán Việt)
名 míng danh
滅 míe diệt (như cách dùng diệt đế, diệt độ, diệt pháp ...)
妙 miào diệu (thần diệu)
面 miàn diện (mặt)
彌 mí di (phiên âm Phạn me/mai như Di Lặc, Tu Di, Sa Di, Cù Đàm Di ...)
...
泯 mǐn mẫn, dân,miến (để ý có khả năng đọc m- hay d-) - hầu như chỉ có tiếng Việt mới cho thấy khuynh hướng này rõ nét khi so sánh với các giọng Quảng Đông, Hẹ, Mân Nam ... (A)
渺 miǎo miểu, diểu
緬 miǎn miễn, miến, diến - 緬甸 Miến Điện hay còn là Diến Điện (Myanmar bây giờ)
...v.v... Thành ra đọc Mi 彌 ngạc cứng hóa thành Di là quá trình tự nhiên, hiện diện đã lâu trong vốn từ tiếng Việt (thời tự điển Việt Bồ La/1651 đã có dân, danh, diệt ...), tương tự như từ Bụt (Phật) - xem thêm loạt bài "Bụt hay Phật?" về các biến âm liên hệ (cùng tác giả). Muốn đổi cách đọc Di (ngạc hóa, Việt hóa) trở lại âm Mi ta nên cẩn thận coi lại các trường hợp đã dẫn (Di Lặc, Sa Di, Tu Di .... Dân, danh, diệt ...). Vài ý mọn (rất vắn tắt) cùng đóng góp


Nguyễn Cung Thông

(A)泯 có thể đọc là vũ tận thiết 武盡切 (Đường Vận) hay nhi tận thiết 弭盡切 (Tập Vận, Chính Vận), hay dân kiên thiết 民堅切 (Vận Bổ). Các dạng sau thời Đường Vận (751) đều cho thấy khả năng nhạc cứng hóa (d-, nh-).

 

BÀI ĐỌC THÊM (LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ):

Từ “A Mi Đà Phật” lại nghĩ thêm về vấn nạn của Phật giáo VN

 

 



Ý kiến bạn đọc
23/07/20147:58 SA
Nguyễn minh hiếu pháp danh Thọ Đạo
Khách
Kính thưa các quý vị phật tử, các quỹ hữu đồng tu. A Di hay A Mi quan trọng với các vị vậy sao. Cái tâm phân biệt của các vị quá lớn rối. Thiết nghĩ tu để sửa lỗi cớ sao lại phải cố tìm ra cái lỗi mà phải phân tích. Vậy nói phật ở trong tâm ở tự tánh mà ra vậy sao phải đến chùa lậy phật. Tu mà tâm không thanh tịnh vẫn bị chấp trước thì làm sao sửa được lỗi. Trong tâm các vị có phật thì các vị không cần phải đi tìm sự đúng sai để đem phiền não vào người. Ai cũng muốn giữ chánh kiến của mình thì phiền não còn nhiều lắm. Chúc các quý vị thành tựu trên con đường tu đạo của mình. A Mi Đà Phật
23/07/20147:33 SA
Diệu Âm Quảng Trí
Khách
Thanh Tịnh - Bình Đẳng - Chánh Giác - Từ Bi…
Quý vị niệm Phật tu hành trí tuệ của mình mà quán xét lại xem ở tất cả các nước trên thế giới, nước nào cũng niệm 4 chữ đầu là Nam Mô A Mi, còn riêng ở Việt Nam thì 4 chữ đầu là niệm Nam Mô A Di. Còn về Việt Nam từ ngàn năm xưa các vị Tổ đều niệm Nam Mô A Di nhưng đều thành tựu cả. Bởi vì sao? Vì các vị Tổ một lòng tha thiết tu đạo, vì Phật pháp, vì chúng sinh, tâm các Ngài giữ thanh tịnh, không phân biệt chấp trước, các Ngài đã buông xả được cái chấp ngã của chính mình. Luôn giữ tâm cung kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Cho nên các Ngài tu hành luôn tương ưng với Phật vì vậy mới thành tựu. Chúng ta tu hành nếu thực sự muốn được thành tựu ngay trong đời này thì hãy giữ thân, tâm thanh tịnh, không nên phân biệt chấp trước, hãy lấy Hạnh của các Ngài mà noi theo giữ tâm hạnh thanh tịnh mà hành trì. Nếu chúng ta bàn luận chữ A Mi với A Di, chúng ta trách cứ ai mà không đúng thì chúng ta sẽ có tội với Phật pháp, làm suy yếu chánh pháp, tội này vô cùng nặng. Thời này là thời mạt pháp, Ma vương ở khắp mọi nơi, tà sư rất nhiều, Ma vương luôn đợi những ai khởi tâm động niệm phân biệt chấp trước là Ma vương sẽ ứng vào người đó để phá hoại chánh pháp. Thế nên người Phật tử tu hành chúng ta hàng ngày luôn cảnh tỉnh xem lại chính mình, khởi tâm động niệm không cẩn thận là tạo tội nghiệp mà không hay biết. Còn niệm A Mi hoặc A Di đó là tùy duyên của mỗi người đều được cả. Phật cần cái tâm chân thật của chính mình, niệm Di hay niệm Mi đều thành tựu. Nếu chúng ta tu hành thân tâm không tương xứng như các vị Tổ thì dù cho quý vị có niệm A Di hoặc A Mi cũng đều là tạo phước mà thôi, thật là uổng phí một kiếp người rồi lại phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi không biết bao giờ mới được làm lại thân người để mà được gặp Chánh Pháp mà tu hành tiếp. Con đường tu hành là phải phát Bồ Đề Tâm - Nhất hướng chuyên niệm, phải đầy đủ 2 tiêu chuẩn đó mới đủ thành tựu được. Nếu hàng ngày nhất hướng chuyên niệm Phật mà không phát Bồ đề tâm giữ Tâm thanh tịnh không phân biệt, chấp trước một lòng vì Phật pháp vì chúng sinh thì chưa chắc đã thành tựu. Chúng ta phải dùng trí tuệ chân thật của mình mà quán xét các sự việc, mỗi khởi tâm động niệm của mình đều có quỷ thần biết. Chúng ta niệm Phật cầu về Tây Phương Cực Lạc mà tâm phân biệt chấp trước thế này thì Hạnh - Nguyện của quý vị làm sao mà tương ưng với tâm hạnh của Phật được, thời mạt pháp này chúng sinh rất khó độ, thật thì coi giả, giả thì coi là thật, luôn nhìn thấy cái tốt cái xấu, làm thế nào để tâm nhìn thấy tốt xấu như nhau thật là quá khó, quá khó bởi vì không chịu Nhìn thấu, Buông xuống. Tốt nhất là chúng ta nên tự độ mình trước đi không nên bàn luận vì bàn luận thì thân tâm không thanh tịnh, vẫn còn phân biệt chấp trước thì rất khó để về Tây Phương Cực Lạc vì ở bên đó toàn là bậc thiện nhân, còn chúng ta tâm chấp ngã thì khó mà về được. Lời chia sẻ này chắc chắn nhiều người không hài lòng, con thành tâm sám hối nếu làm quý vị không hài lòng. Bài của con trước khi chưa được đăng trong lúc kiểm duyệt thì ít nhất cũng có người đọc qua và cũng hiểu thêm phần nào đó. Phật pháp tùy duyên… Nam Mô Chư Phật - Chư Bồ Tát - Chư Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.
23/07/20143:10 SA
Xuân Tiến
Khách
Quý vị niệm Phật tu hành trí tuệ của mình mà quán xét lại xem, như con nghĩ ở tất cả các nước trên thế giới, nước nào cũng niệm 4 chữ đầu là Nam Mô A Mi, còn riêng ở Việt Nam thì 4 chữ đầu là niệm Nam Mô A Di. Còn về Việt Nam từ ngàn năm xưa các vị Tổ đều niệm Nam Mô A Di nhưng đều thành tựu cả. Bởi vì sao? Vì Phật cần con người Tu cái Tâm, cái tâm của các vị Tổ một lòng tha thiết tu đạo, vì Phật pháp, vì chúng sinh, tâm các Ngài giữ thanh tịnh, không phân biệt chấp trước, các Ngài đã buông xả được cái chấp ngã của chính mình. Luôn giữ tâm cung kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Cho nên các Ngài tu hành luôn tương ưng với Phật vì vậy mới thành tựu. Chúng ta tu hành nếu thực sự muốn được thành tựu ngay trong đời này thì hãy giữ thân, tâm thanh tịnh, không nên phân biệt chấp trước, hãy lấy Hạnh của các Ngài mà noi theo giữ tâm hạnh thanh tịnh mà hành trì. Nếu chúng ta bàn luận chữ A Mi với A Di, chúng ta trách cứ ai mà không đúng thì chúng ta sẽ có tội với Phật pháp, làm suy yếu Phập pháp, tội này vô cùng nặng, Phật cũng không thể cứu nổi, chỉ có chính mình thành tâm sám hối mà tu hành đúng Pháp của Phật là tự mình cứu mình. Thời này là thời mạt pháp, Ma vương ở khắp mọi nơi, tà sư rất nhiều, Ma vương luôn đợi những ai khởi tâm động niệm phân biệt chấp trước là Ma vương sẽ ứng vào người đó để phá hoại Phật pháp. Thế nên người Phật tử tu hành chúng ta hàng ngày luôn cảnh tỉnh xem lại chính mình, khởi tâm động niệm không cẩn thận là tạo tội nghiệp mà không hay biết. Còn niệm A Mi hoặc A Di đó là tùy duyên của mỗi người chúng ta đều được cả. Phật cần cái tâm chân thật của chúng ta, niệm Di hay niệm Mi đều thành tựu. Nếu chúng ta tu hành thân tâm không tương xứng như các vị Tổ thì dù cho quý vị có niệm A Di hoặc A Mi cũng đều vô nghĩa, thật là uổng phí một kiếp người rồi lại phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi không biết bao giờ mới được làm lại thân người để mà được gặp Chánh Pháp mà tu hành tiếp. Con đường tu hành là phải phát Bồ Đề Tâm - Nhất hướng chuyên niệm: Phát Bồ Đê Tâm là phải hoằng dương Phật Pháp, Phổ độ chúng sinh thì phải giữ Tâm thanh tịnh không phân biệt, chấp trước. Chúng ta phải dùng trí tuệ chân thật của mình mà quán xét các sự việc, mỗi khởi tâm động niệm của mình đều có quỷ thần biết. Chúng ta niệm Phật cầu về Tây Phương Cực Lạc mà tâm phân biệt chấp trước thế này thì Hạnh - Nguyện của quý vị làm sao mà tương ưng với tâm hạnh của Phật được. Còn riêng con tu hành theo ý nguyện miễn sao một đời này phải về Tây Phương Cực Lạc, con chán cái thế giới Ta bà đầy ô nhiễm này lắm rồi, ai tu niệm thế nào thì tùy duyên của mỗi người, ai có duyên niệm A Di hoặc A Mi thì niệm, đó là thiện căn phước đức nhân duyên của mỗi người. Tốt nhất là chúng ta nên tự độ mình trước đi không nên bàn luận vì chúng ta bàn luận thì chính chúng ta thân tâm không thanh tịnh, vẫn còn phân biệt chấp trước thì không đủ tư cách để về Tây Phương Cực Lạc vì ở bên đó toàn là bậc thiện nhân, còn chúng ta tâm chấp ngã thì chắc chắn làm sao mà về nổi. Lời chia sẻ này chắc chắn nhiều người không hài lòng, con thành tâm sám hối nếu làm quý vị không hài lòng. Phật pháp tùy duyên… Nam Mô Chư Phật - Chư Bồ Tát - Chư Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.
15/07/20145:21 SA
gioidinhtue Quang Khánh
Khách
Chí thành kính lễ các Thầy cùng các đạo hữu,
Con tuy kiến thức rất cạn hẹp, nhưng cũng đã nghe qua nhiều về sự tranh kiến về chữ "DI" và "MI" trong sáu chữ Hồng-danh. Nay cũng xin được mạn phép “phát biểu” chút ít ạ….Nam-mô Hoan-hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát !!!.

Trước hết, nếu nói "Nhất thiết duy TÂM tạo", mà không hiểu ý câu này, thì coi như "Nghe Ta, mà không hiểu Ta, là phỉ báng Ta đó" rồi !!! Lời Phật Thích-Ca Mâu-ni khi xưa cũng đã từng dạy chúng Đệ-tử như vậy. Để hiểu hết rằng mọi thứ, Vạn-pháp được "TÂM tạo", thì không hẳn chỉ ngồi mà biện luận bằng miệng không không: “một hạt cát chứa cả Tam-thiên Đại-thiên Thế-giới”, “đứng ở một chỗ mà như ở khắp Thế-giới hằng thuận chúng sanh”…Lời nói này, hẳn chỉ có bậc Giác mới nói, hiểu, và mới làm được. Phàm-phu ngu muội như ta, nghe qua liệu có hiểu thấu chăng ???... TÂM này bản chất vốn trong sạch như gương, phẳng lặng như hồ…nhưng do tánh khí ngang bướng, u mê của chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp, mà nay TÂM bị làm nhơ bẩn bởi các dục trần, nhận giặc làm cha mẹ, phải bị đắm chìm trong bể khổ trầm luân. Chư Phật từ-bi sớm đã thấu rõ việc đó, nên đã không ngại gian khó mà phân thân làm trăm ngàn muôn ức, hóa hiện khắp nơi, nhằm chỉ bày cho mọi loài vô số phương cách để đi tìm lại cái Bổn-tâm trong sạch vốn có. Trong đó, Pháp niệm Phật là một trong những Pháp linh diệu, có thể truyền dạy cho mọi loài chúng sanh; từ bậc trí, đến bậc độn căn đều có thể thực hành Pháp này mà đến được giải thoát. Chính ý ở Pháp này là dùng từng câu, từng chữ trong danh hiệu Phật, làm cho hành giả không bị dính mắc bởi các Trần ở bên ngoài, chỉ chuyên TÂM vào một câu Di Đà mà được Định. Định đã có, từ đó Trí-tuệ phát sanh. Pháp niệm Phật cũng như Pháp Thiền vậy mà thôi, tuy khác SỰ nhưng đồng một LÝ.

Tuy ta không thể hiểu hết được vô lượng vô biên ý nghĩa của Pháp Phật dạy, nhưng cũng có thể y theo Pháp Như-lai của dạy bảo mà thực hành, để từ từ mà đi tìm lại cái TÂM của mình đã mất…..Vì sao bà lão niệm OM-MANI-PADME-NO mà vẫn được thành tựu, căn nhà phát ánh hào quang; nhưng khi người khác nghe thấy, rồi bảo bà sửa “NO” thành “HUM”, khi bà lão niệm lại, căn nhà không còn ánh hào quang như trước nữa (truyện cổ Tây Tạng) ??? Đó là do tuy niệm Thần-chú sai âm giọng, nhưng với lòng thành kính, chí tâm mà niệm của bà lúc nào cũng có, không hề sai biệt, nên cảm ứng ra như vậy…. Và vì sao, người trì chú Đại-bi của Ngài QuánThế Âm Bồ-tát, người Trung Quốc trì âm này, người Việt Nam trì âm kia; nhưng hai người vẫn có sự linh cảm như nhau ??? Tất cả, cũng đều do TÂM của họ khi Trì chú vậy. Trì với tâm thành kính, muốn chan rải lòng từ-bi đến khắp mọi chúng sanh đang đau khổ; với tâm niệm này, đã khế hợp với TÂM từ-bi của Ngài Quán Âm, nên có cảm ứng. Còn dù trì niệm muôn vạn biến Chú, nhưng trì với TÂM sân hận, ác độc, thì cũng chỉ mỏi miệng đọc đau gối quỳ, chứ chẳng được ích lợi gì !!!.

Mấy chuyện nhỏ trên đây, đủ thấy, dù “MI” hay “DI”, ta niệm với TÍN-NGUYỆN-HẠNH, với TÂM từ-bi, thì đều được an lạc, giải thoát cả….Chấp vào “MI” đúng, “DI”sai; “MÔ”phải, ”VÔ” trái; hay “BỤT” nên xài, “PHẬT” đừng dùng ….tất cả đều là bức tường chướng ngại cho ta trên con đường tu-học mà thôi. Đang niệm sáu chữ Hồng-danh, mà cứ nghĩ đến những việc này, nghĩ ta niệm sai hay là đúng, mình có được Vãng-sanh không ??? Hẳn là không được rồi !!!.

Bài viết ngắn ngủn, lủng củng câu từ, nếu có điều gì sai phạm trong đây, mong các Vị Tôn-túc sửa chữa & bổ khuyết lại cho.

Nam-mô Tây phương Cực-lạc Thế-giới, Đại-từ Đại-bi, Tiếp dẫn Đạo-sư A Di Đà Phật. _()_
04/02/20148:00 SA
Vô Thường
Khách
口念弥陀心散乱
喊破喉咙也枉然
Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn
Hàm phá hầu lung dã đồ nhiên
(Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, toạc hầu rách họng uổng công thôi.)
Mình đã là Phật tử,là con của Phật, đã tin vào những gì từ kim khẩu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni Phật nói ra. Thì sao còn phân biệt chấp trước là "Di" hay "Mi". Quan trọng là trong tâm ta có Phật hay không, niệm Phật mà còn vọng tưởng thì chừng nào mới đới nghiệp vãng sanh. Vô thường tấn tốc, tốn thời gian quí báo niệm Phật để mà tranh cải đúng sai ? Đức Phật đã dạy chúng ta là:
爱河千尺浪,
苦海万重波,
欲脱轮回苦,
早急念弥陀
Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba,
Dục thoát luân hồi khổ,
Tảo cấp niệm Di Đà.
(...Muốn thoát khổ luân hồi sanh tử, sớm gấp niệm A Di Đà Phật.)
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
18/05/20147:00 SA
bùi quốc anh
Khách
Adidaphat hay amidaphat cũng được. Niệm phật để đạt tới cảnh giới nhất tâm bất niệm.nhất tâm bất niệm rồi thì ngôn ngữ trên đời này còn là ý nghĩa gì nữa.ngôn ngữ chỉ dùng làm phương tiện.nhất tâm bất niệm rồi giác ngộ rồi thì đâu quan tâm những thứ o đời nữa chỉ là tạm sài thôi...
23/12/20138:00 SA
Diệu Anh
Khách
Mô Phật,

Là bậc đại trí thì không làm não loạn chúng sinh. Phật từ xưa đã thế, thuyết pháp độ sinh hay bất cứ điều gì thì cũng làm cho chúng sinh quy phục và tự giác trong sự tin tưởng và an toàn tuyệt đối, dẫn đến sự thật giác ngộ ở mỗi chúng sinh. Chưa có một bài pháp nào của Ngài làm cho tăng giới chia rẽ, Phật tử hoang mang. Ngài luôn mang đến cho chúng sinh những sự cảm nhận được lòng từ bi và được yêu thương, giáo hóa mỗi chúng sinh đều có phững pháp dụ lập danh siêu đối đãi để mỗi chúng sinh đi đến được sự nhận thức giác ngộ. Ngài đã từng nói "Hãy để dân chúng học tập giáo lý của Phật bằng ngôn ngữ của họ", điều này ngoài nghĩa đen về ranh giới ngôn ngữ và phạm vi quốc gia ra chúng ta còn thấy được tư tưởng và mật chỉ thâm sâu của Ngài, không làm cho chúng ta bị giới hạn hay thấy chướng ngại, tự đặt rào cản cho mình mà giúp chúng ta yên tâm để phát huy sự tu tập, phát huy trí tuệ mà tất cả là để đạt đến được sự tự thân giác ngộ và giải thoát theo con đường chánh pháp của Như Lai, con đường mà chúng ta phải "tự thắp đuốc lên mà đi" mà ngọn lửa được thắp lên đó được truyền trao từ ngọn lửa của Ngài, và đi trên con đường giải thoát mà Ngài đã tìm ra và trao cho nhân loại. Vậy thì chúng ta, hãy học Phật và hành chánh Pháp như thế nào mà điều đó sẽ đưa chúng ta đến giải thoát. Đừng chấp chặt vào các sự tướng bên ngoài và những giới hạn, dẫu cho chúng ta có chọn Pháp tu nào hay hành trì như thế nào thì cũng phải đi theo con đường của Phật và đích đến là giải thoát. 84000 Pháp môn là sự ước lệ cho các hình thức tu tập mà Đức Phật đã mật ý rằng Pháp môn là vô lượng, vì thế chẳng phải chúng ta phải tự thắp đuốc lên mà đi và tự thân hành Pháp hay sao? Và tất nhiên là đi trên con đường của Phật và đích đến là bờ giải thoát, là toàn giác, là Phật. Vậy há chi phải tự đặt giới hạn, rào cản cho chính mình như vậy? và gây não loạn cho người? Phải chăng là cái tự ngã vi tế nó luôn rình rập những cơ duyên để hủy hoại chính mình? hủy hoại một đời cống hiến và những thành quả tu tập?

Chúng ta cũng nhận thức được rằng cái lý vô thường có chừa một ai đâu, còn trong thân ngủ uẩn thì cũng còn lắm những khổ đau, phiền não. Vậy khi nhìn một sự việc bên ngoài chúng ta cũng không cần phải khắt khe hay để cho chấp trước chi phối quá như vậy.

Về vấn đề phát sinh thay đổi từ trong câu Phật hiệu A Di Đà Phật, chúng ta có phải là đã bị vọng động bởi chấp trước và giới hạn quá rồi không? Khi nhìn nhận sự việc đó phát sinh từ một vị Đại Lão Hòa Thượng mà chúng ta tôn kính và là một con người đã có những cống hiến to lớn cho Phật giáo. Cho nên chúng ta đã hoang mang? Mà chúng ta quên rằng Hòa Thượng cũng là một con người, cũng là một sinh linh đang còn trong thân ngủ uẩn, cũng bị chi phối bởi cái thân vật lý theo luật thành trụ hoại không, cũng là duyên sinh duyên diệt, cũng là vô thường. Điều trước tiên chúng ta cần không phải là dùng sự thấu hiểu về sự vô thường để nhịn nhận vấn đề này, tiếp đến là sự thấu đạt lý lẽ và từ bi để nhìn nhận, chia sẽ và thông cảm đối với một con người, một sự việc hay sao? Chúng ta sẽ hiểu gì về vấn đề này khi chúng ta cứ chấp chặt vào cái danh, sự chấp trước về Hòa Thượng? Chúng ta quên mất rằng Hòa Thượng đang ở trong giai đoạn nào của cuộc đời một con người, chẳng phải cũng đến lúc Hòa Thượng đang chịu sự chi phối của sự hoại trên thân vật lý rồi hay sao? Vậy thì sức khỏe và tinh thần của Hòa Thượng liệu có như chúng ta chấp trước không? Chúng ta không chấp nhận hay cho phép Hòa Thượng già đi hay sao? Và Hòa Thượng sẽ không bị già yếu hay cơ thể của Hòa Thượng không được phép hoại như bao người khác. Thiết nghĩ đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết mà chúng ta nên suy xét khi nhận thức về vấn đề này, cộng thêm những ngoại duyên của Hòa Thượng và tình hình các hội phái Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam trong những năm qua thì vấn đề có lẽ được sáng tỏ hơn. Vậy chúng ta nên khách quan nhìn nhận và thông cảm vấn đề này một cách có trí tuệ của người học Phật. Sau cùng điều quan trọng nh
28/10/20137:00 SA
DIỆU THUÝ
Khách
Ý NGHĨA BẤT Y NGỮ. Đó là một trong TỨ Y PHÁP mà Phật Thích Ca đã dạy cho đệ tử.
21/04/20147:00 SA
Trang Nguyen
Khách
Niệm Nam Mô A Di Đà Phật hay Nam Mô A Mi Đà Phật thì cũng tùy duyên, bạn có duyên với cái nào thì thực hành theo cái đó, từ xưa đến nay cổ nhận đã dịch và quy ước "A Di Đà Phật" là chỉ tên gọi của Đức Phật Vô Lượng Quang thì chúng ta chỉ là thế hệ hậu học cũng chỉ biết nghe và niệm theo y như vậy, chứ có ai diễm phúc được nghe từ kim khẩu của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói ra đâu mà biết là đúng hay sai? chính xác hay không chính xác? Cho nên không ai trong chúng ta cho dù có xuất gia hay tại gia cũng không có đủ trình độ có thể đánh giá câu Phật hiệu A Di Đà Phật là đúng hay A Mi Đà Phật là sai!

Tác giả Tịnh Quang có viết "Xin hỏi ngay rằng niệm Phật để làm gì? Để cho vần với âm niệm hay để thoát luân hồi", tất nhiên trong đời mạt pháp này ai ai cũng nghiệp dày mà phước lại mỏng thì không có pháp môn nào có thể cứu chúng ta ngoài pháp môn Niệm Phật cầu vãng sanh để thoát luân hồi. Tuy nhiên nếu bạn niệm A Di Đà Phật mà vẫn thấy nhất tâm thì bạn cứ tiếp tục hành trì như vậy, còn nếu bạn cảm thấy khi niệm A Mi Đà Phật nhất tâm hơn thì bạn có quyền thay đổi, đừng nên cố chấp vào ngôn ngữ mà quên rằng tu là phải tu từ trong tâm chứ không phải tu ngoài hình thức, bạn tu cho bạn chứ không ai có thể tu dùm bạn nên cái nào mình thực hành và thấy tốt thì cứ tiếp tục duy trì, đừng bị ngoại cảnh chi phối.

"Cổ đức từ xưa đã như vậy, bậy giờ cũng như vậy, vị lai cũng cố gắng như vậy, cần chi thay đổi để thêm rắc rối và gây ảnh hưởng đến nhiều người." Kính thưa tác giả! tôi xin mạo muội nói thế này, đừng nên đánh giá người khác bằng ý kiến chủ quan của mình, vì có chắc mình hay hơn, giỏi hơn chăng? HT Thích Trí Tịnh chỉ nói ra theo quan điểm và bằng sự thực hành chứng đắc của bản thân Ngài, và Ngài cũng không bắt ai thay đổi theo Ngài, chẳng qua những người gần gũi với HT cũng đã hành trì và thấy hiệu quả cho bản thân họ nên họ mới thay đổi như vậy, cho nên sự thay đổi này không hề gây rắc rối cũng như ảnh hưởng đến nhiều người như mọi người lầm tưởng.

Đức Phật chẳng trách chúng ta vì đọc sai tên Ngài đâu, mà chỉ có chúng ta cứ trách lẫn nhau mà thôi, chỉ cần chúng ta luôn tin tưởng, tha thiết mong cầu, thực hành chuyên cần để mong về bên Ngài thì chắc chắn Ngài sẽ mở rộng tay tiếp đón chúng ta.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Mi (Di) Đà Phật!
18/10/20127:00 SA
Thai Loc
Khách
Nam Mô Vô Lượng Thọ Phật.

Trong kinh Kim Cang, Phật dạy: "Bằng dùng sắc mà thấy Ta, Lấy âm thanh cầu Ta, Kẻ ấy hành tà đạo, Không thể thấy Như Lai". Mục đích muốn giải trừ mê chấp để khai ngộ cho chúng sanh, nếu còn chấp lầm vào âm thanh, sắc tướng thì sẽ bị chướng ngại trên bước đường giải thoát.

Nơi tâm thường nhớ nghĩa đến Đức Vô Lượng Quang Như Lai (Phật A Di Đà / A Mi Đà) tha thiết cầu Vãng Sanh.
Nơi khẩu thường niệm danh hiệu Đức Vô Lượng quang Như Lai tha thiết cầu an lạc, Vãng Sanh.
Nơi thân thường hành hạnh Bồ Tát hồi hướng được Vãng Sanh, thành tựu Thánh Đạo.

Tâm đã thành tín, chí nguyện, đặt để một lòng quyết hướng Tây Phương, nương tựa Đức Vô Lượng Phật thì Chư Phật đã cảm thông, ứng chứng cho chúng ta rồi. Dầu niệm hoặc phát âm có sai biệt đôi chút nhưng cũng không làm cho chứơng ngại được. đấy mới nói "Tâm vô quái ngại". Nếu chấp nơi phát âm đúng sai, thành tựu hoặc không thành tựu, thế này mới hiệu nghiệm, thế kia không hiệu nghiệm thì sẽ lọt vào đối đãi phân biệt, chấp thủ nơi "âm thanh, sắc tướng", hành trì như vậy chẳng khác gì đi từ vọng đến vọng, chẳng khác gì hành tà đạo như lời đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Kim Cang.

Huống chi, Chư Phật (Đấng Giác Ngô) với tâm đức vô lượng, viên mãn tròn đầy, thanh tịnh tột cùng, và lòng đại bi vô hạn thì không thể nào không cảm thông cho người niệm Phật. Vậy mới nói:
"Tâm Phật thanh tịnh tợ lưu ly,
Trí Phật sáng ngời, như trăng sáng.
Phật ở thế gian, thường cứu khổ.
Tâm Phật không đâu không từ bi."

Ngoài ra, Chư Phật với ngũ nhãn thuần tịnh siêu nhiên, nhĩ căn viên thông, tự tại, vô chướng ngại, viễn ly chấp trước, thấy biết như thật thì không có lý gì mà không cảm thông cho người niệm "A Di" hay "A Mi". chỉ có chúng ta còn mang tâm đối nghịch, chấp thủ nên mới thấy có điều chướng ngại đó.

Khi ta niệm "A Mi Đà Phật" hay "A Di Đà Phật" hay "A mi ta ba gia, Tát tha gát ta da" mà tâm ý có một sự tương nhất nghĩ nhớ đến đức Phật ở Cõi Tây Phương, đức Phật phát 48 lời nguyện, đức vô lượng thọ, vô lương quang Phật, nguyện được nương tựa, thành tựu như Ngài thì nào có chứơng ngại khác biệt trong sự niệm.

Nam Mô Vô Lượng Quang Minh, Công Đức Phật.
20/11/20128:00 SA
Thinh
Khách
Tuy thoi quen, quan trong la trong tam co Phat. Dung mat thoi gian cai nhau nua
20/04/20137:00 SA
Đức Minh
Khách
Lời phân định trên đây của tác giả là đúng theo Chánh pháp, Nhưng xin tác giả không nên quá đề cập đến việc Đại lão Hòa thượng Trí Tịnh niệm A Mi Đà Phật, vì đấy chỉ là những sự lợi ích mà các Ngài đã Khám phá ra được nên muốn chia sẻ, chớ các Ngái không hề có tâm Phân biệt. Do đó, ta cũng không nên chấp, ai có duyên Niệm A Mi Đà Phật được thì niệm, Không thì niệm A Di Dà Phật. Đơn giản vậy thôi.....
Namo Amitabha
12/05/20137:00 SA
phan hung
Khách
niem ma khong niem, khong niem ma niem. ai an nguoi ay lo, ai tu nguoi ay chung, thiet nghi o Viet Nam ta tu xa xua cac the he chu ton dai duc, thien nam tin nu deu niem theo truyen thong cau A DI Da PHat roi, biet bao nhieu vi Chu Bo Tat, A La Han da chung qua day thoi.dung lam thay doi gay hoang mang cho rat nhieu nguoi moi buoc chan vao dao PHat.
12/08/20117:00 SA
huynh sang
Khách
Tu theo tinh độ mà phan biet vao chu A MI hay A DI vay la ban chua that su tin sau chua buông bo vong tuong phan biet chap truoc ban còn mac ket.
12/08/20117:00 SA
chiếu pháp
Khách
nam mô a mi đà phật
22/06/20117:00 SA
tamnhulac
Khách
NAM MÔ BARACK OBAMA ?

Có người đặt giả thuyết và mong ước rằng:
-Cuộc sống ở xứ sở, đất nước con khổ quá , con muốn được “vé” về đất nước giàu đẹp, văn minh nhất của Ngài ?
:Có phải hằng ngày con phải “ niệm danh hiệu” hay gọi tên Tộc Ngài liên miên, rất tha thiết, khẩn cấp, vài trăm lần… vài ngàn lần ( Nam Mô Barrack ObaMa ?)…là được ?
Vậy Ngài sẽ cảm động, Ngài thương tình, sẽ cho chúng con được vé Thông Hành về nước Ngài , Có phải vậy không ?
Đại diện trả lời :
-Nếu dễ như vậy, đất nước của chúng Tôi còn đâu giá trị luật pháp của một nước Dân Chủ !
Quý vị phải biết nghiên cứu và tuân thủ, luật pháp, hiến pháp nhà nước chúng tôi quy định.
Mỗi công dân nước ngoài muốn định cư hay nhập quốc tịch đất nước chúng tôi, cần đáp ứng những nguyên tắc, thủ tục và diều kiện đủ.Chính Phủ và nhân dân chúng tôi OK ngay thôi !
-Thế à !!!???

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ?

Thầy tôi day: người niệm phật phải hiểu ?
Nam Mô là nương vào,
A Di Đà Phật là mở ra tầm nhìn, là phát huy ánh sáng hay gọi trí huệ, là tình thương bình đẳng của Phật tánh chính mình.
Dùng tầm nhìn này,dùng ánh sáng trí huệ này,với tình thương chân thật này, thương lấy được chính mình và thương lấy mọi người như một hợp thể của mình ,gọi là Nhất Tâm.
Nghĩa là tầm nhìn không bị vật chất ,ý tưởng ngăn che, vô ngại, tự tại( Vô ngã) sự nhìn thấy, tánh sáng của ta sẽ câu thông thế giới bên ngoài, vô tận vô biên. Kinh gọi là Vô Lượng Quang.
Tầm nhìn của con người có trí huệ và tình thương yêu tất cả chúng sanh, tình thương kết nối tình thương vô tận nó không chết ,không mất, Vô sanh bất diệt, vô lượng kiếp. Đó là con người thật,sự sống thật của mình, Kinh gọi là Vô Lượng Thọ.
Từ Tầm nhìn với hành động ánh sáng xuyên suốt , bao trùm cùng khắp, tạo nhiều phước báu và công đức, hạnh phúc đem cho tất cả chúng sanh, bất khả tư nghì.. Kinh gọi là Vô Lượng Công Đức.

Chín phẩm Hoa Sen chính là Chín Phẩm Công Đức ( Chứ không phải do niệm ít nhiều mà được vị thế ngồi ở Chín Phẩm nầy ?).
Hằng giờ…, hằng ngày…, hằng tháng…, hằng năm…,Cả đời….Ta có bao nhiêu người thương yêu ta?
Ta cứu giúp được bao nhiêu người ? Ta ban vui,cứu khổ được bao nhiêu người ?
Ta có thông cảm, có tha thứ được những ai lầm lở không ?..v.v…
Đó là những hành động BI- Trí- Dũng nuôi dưỡng huệ mạng ( Hoa Sen Lòng).
Quả vị cũng tính từ Công Đức và phước báu này tăng trưởng.
Đừng ngộ nhận, lầm lạc ý tưởng, phí đi một kiếp làm người.
Nếu không mở ra tầm nhìn hiện thực,và thể hiện được niềm an lạc thế giới này ?
Khó mà có “ Vé “ về thế gới Cực Lạc xa xôi khác!
Nay tôi xin chân tình ghi lại chia sẻ lời dạy của Thầy tôi, thông qua mạng TVHS để mọi người có nhận thức về thế giới A Di Đà Tự Tánh.
DPĐ không quên cầu nghuyện :

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT TỰ TÁNH, ĐỘ KHẮP CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LẠC.. (SĐ.22-06-2011. )


22/06/20117:00 SA
Trần Hoành
Khách
Kính thưa quý vị tự cho mình là hay ho là mới,

Xin hãy dem lòng từ bi, đem cái biết (đúng) của mình mà giảng kinh, giảng sách cho phật tử được nhờ. Sao lại cứ muốn "label" phật tử làm chi, tội nghiệp lắm thay! Mạng sống con người như hơi thở. Người cần chánh pháp như cần đồ ăn, thức uống; quý vị hãy ban cho phật tử chánh pháp, chớ có náo động tâm can của người trì niệm mà mang tội. Nam mô A Di Đà Phật!
16/05/20127:00 SA
Khong Ten
Khách
A Di Đà Phật và A Mi Đà Phật có gì là khác biệt. Nhân dân ở các quốc gia khác nhau đã xưng niệm tên Phật hoàn toàn khác nhau rồi thì hà cớ gì mình lại tự làm khó mình ở một chữ như vậy. Nếu đổi một chữ mà ngàn người vãng sanh thì cũng nên đổi nhưng đây lại khác, đổi một chữ gieo tạo sự khác biệt, chính sự khác biệt này là trở duyên của biết bao chúng sanh đã ngàn đời tu Phật. Phật môn mở ra cánh cửa phương tiện để độ khắp chúng sanh, nay chỉ vì một chữ mà cánh cửa kia khép lại thì quả là chuyện không nên làm. Chi bằng giữ nguyên không phải là hay hơn sao.
=================
Phần này dành riêng cho web designer: nếu mã code nhập sai mà dữ liệu đã nhập trong textbox không thể lưu lại thì đó là một bug lớn, mong được khắc phục sớm. Chân thành cám ơn.
21/06/20117:00 SA
hungtran
Khách
anh ban thientri nay la ai sao dam noi ra nhung loi nhu vay, minh la gi tu toi dau ha?
21/06/20117:00 SA
thientri
Khách
Nghe câu chuyện vừa kể trên, bản thân mình lại nghĩ đến câu chuyện: có một vị thiền sư vì trả lời sai một câu mà phải chịu luân hồi 500 năm, chắc câu chuyện này nhiều người biết. Bản thân tu chưa giác ngộ mà đã đi giảng pháp, làm chúng sinh hoang mang, thật đáng tội.
Nam mô a di đà Phật
29/09/20117:00 SA
Nguyễn Cung Thông
Khách
Kính thưa các đạo hữu,

Lướt qua các bài viết và ý kiến liên hệ, xin được ghi nhận vài ý mọn như sau - khi TIẾNG đã thoát ra từ TÂM thì mang đủ loại hình thái (sắc
28/09/20117:00 SA
Nguyễn Cung Thông
Khách
Kính thưa các đạo hữu,

Lướt qua các bài viết và ý kiến liên hệ, xin được ghi nhận vài ý mọn như sau - khi TIẾNG đã thoát ra từ TÂM thì mang đủ loại hình thái (sắc
09/07/20117:00 SA
green tara
Khách
MỘT ĐỜI THÀNH PHẬT

Pháp môn niệm phật là một pháp môn hết sức tối thắng có thể thành phật ngay trong một đời. Là pháp môn mà mười phương ba đời chư phật đều đồng thanh khen ngợi. Đây là pháp khó tin, khó hiểu bậc nhất mà Như-Lai chưa từng nói. Đây là pháp tối thượng Nhứt thừa, chứa đựng vô lượng vô biên ý nghĩa vi diệu mà Như-Lai đợi đến đúng lúc, đúng thời mới ban cho, tự như hoa Ưu-đàm-bát-la mấy muôn ngàn năm mới nở một lần. Đây là Tạng Pháp bí mật của chư Phật ba đời, ví như viên bảo châu trên búi tóc Luân-vương không thể khinh xuất giao cho người khác. Mà Như-Lai chỉ truyền giao cho bất cứ chúng sanh nào quyết chí hoàn thành địa vị Thiên Nhân Sư, tiếp nối hạt giống Bồ-đề. Những người niệm phật, để hiểu rõ thêm nên đọc qua Kinh Niệm Phật Ba La Mật.

Kinh Niệm Phật Ba La Mật dạy:

Chỉ có Danh Hiệu Phật là đầy đủ năng lực nhiệm mầu để chuyển hóa vô minh trở nên Giác Ngộ, chuyển hóa sinh tử trở nên Niết Bàn, chuyển hóa giả huyễn trở nên Chân Thật.

Vì sao vậy?

Khi xưng niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, hành giả dần dần thành tựu Chánh Định Như Lai, tự nhiên phát sinh Tuệ Giác Không Tánh, vì Danh Hiệu Phật là Hư Không Tạng, là Viên Giác Tánh, là Vô Cấu Tạng, là Tịch Tịnh Tạng... Nhờ vậy, hành giả biết các pháp đều như huyễn, thời tự nhiên lìa xa các huyễn hóa, sinh diệt. Ngay lúc ấy, bèn thâm nhập Viên Giác Tánh. Đó gọi là Tri Huyễn Tức Ly, Ly Huyễn Tức Giác.

Bởi vậy, phải nói rằng: Niệm Phật là pháp môn đệ nhất, sử dụng Danh Hiệu Như Lai mà thâm nhập Như Lai Tạng, mà chuyển biến huyễn hóa hư dối trở nên Viên Giác Tánh. Các hạng chúng sinh thời mạt pháp phải siêng năng thọ trì.

Tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay, bị phiền não chi phối ngày đêm không tạm dừng, nên nhận vọng tưởng làm tâm, bỏ quên Thắng Giải Trí, Vô Thượng Trí, rồi lại bị Tham Sân Si Mạn Nghi lôi cuốn. Cộng thêm vào Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Cấm Thủ Kiến chồng chất lấp vùi. Do đó, khởi tâm phân biệt, thấy có mừng giận, yêu ghét, vui buồn, vinh hoa, hủy nhục... Nếu tận trừ phiền não thì thân tâm vắng lặng, an nhiên tự tại, tức đồng với chư Phật không khác.

Muốn tận trừ phiền não, thì không chi hơn là phát huy năng lực Trí Giải Siêu Việt của Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Thật vậy, nhờ cần mẫn xưng niệm Phật Hiệu mà hành giả hiện bày Tự Tâm Quang Minh Hiện Lương, chuyển phiền não dữ dội ấy trở thành Bồ Đề Thật Tướng, đưa hành giả thẳng vào Cảnh Giới Thánh Tri Tự Chứng. Lúc bấy giờ, có khả năng bấm ngón chân xuống mặt đất, sử dụng Ấn Địa Xúc để cải biến Ta Bà thành Tịnh Độ Trang Nghiêm, niệm niệm tương ứng với Đại Địa Bồ Tát, niệm niệm du hành, giáo hóa xã hội chúng sinh khắp mười phương vi trần hằng hà sa thế giới.

Này Vi Đề Hy, Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn trọn đời giáo hóa điều phục chúng sinh, đa ban bố tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập. Nhưng, trong đó, Niệm Phật là thù thắng đệ nhất. Vi Đề Hy, trong quá khứ vô lượng vô biên na do tha kiếp, các Đức Phật Như Lai đa dùng hằng hà sa phương tiện, thí dụ, ngôn thuyết để diễn bày vô số pháp tu tập, đưa hết thảy chúng sinh vào Nhất Thừa Đạo. Nhưng, duy chỉ có Niệm Phật là viên đốn đệ nhất.

Vi Đề Hy, nơi đời vị lai, các Đức Phật sẽ xuất hiện thế gian, cũng dùng hằng hà sa phương tiện, ngôn thuyết, thí dụ, để diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sinh vào Cảnh Giới Giải Thoát Tối Thượng Nhất Thừa. Nhưng, duy chỉ có Niệm Phật là cứu cánh đệ nhất.

Vi Đề Hy, hiện tại nay nơi trăm nghìn muôn ức na do tha quốc độ khắp mười phương, các Đức Phật Chánh Đẳng Giác cũng đang dùng hằng hà sa phương tiện, ngôn thuyết, thí dụ, để diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sinh dung hóa vào không tánh, Niết Bàn Diệu Tâm Như Lai Tạng, nhưng duy chỉ có Niệm Phật là hữu hiệu, siêu việt đệ nhất. Bất cứ chúng sinh nào, hễ nhất tâm xưng niệm Danh Hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, dù chỉ một câu duy nhất, thì sẽ xuất sinh những món Năng Lực Bất Tư Nghị, như là:

Năng lực bất
23/06/20117:00 SA
nammoadidaphat
Khách
Cẩu trả lời là ở đây: http://nammoadidaphat.org/
23/06/20117:00 SA
Dieu Nhan
Khách
Thưa ông Hùng Trần

Tôi nghĩ là đạo hữu Thiên Tri đã tu tới mức không còn biết và cũng chẳng muốn biết mình tu tới đâu rồi. Người tu như vậy nên nói được những lời như vậy. Người cứ tính toán mình tu tới đâu thì làm sao hiểu thấu đáo cho được. Vì không thấu đáo nên mới nỗi tâm sân. Thật đáng thương lắm thay!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
facebookyoutubetwitter twitter
HỘI NHẬP / GHI DANH
thich-nu-dam-lan
Bạch Thày, thời gian gần đây có quá nhiều câu chuyện phiền não liên quan đến các nhà chùa, làm ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của người dân nói chung và những Phật tử nói riêng với cửa chùa và các công việc thiện nguyện. Hơn lúc nào hết, con thấy những năm trở lại đây công tác từ thiện được mọi tầng lớp trong xã hội đặc biệt quan tâm và nhiệt huyết. Đáng lẽ ra những việc làm tốt đẹp này sẽ phải được “chắp cánh” để thêm nhân rộng, nhân sâu hơn trong cuộc sống
donate-now
Đó là 3,029,500 bữa ăn mỗi năm, 8,300 bữa ăn mỗi ngày, và hơn 37,379,600 bữa ăn đã được cúng dường từ khi Quỹ Lương Thực này bắt đầu hoạt động.
quach-thi-trang
Theo tin trang mạng của Báo Giác Ngộ đăng ngày 24 tháng 7 năm 2014 thì chính quyền Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Thành phố HCM đã quyết định di dời tượng đài Danh Tướng Trần Nguyên Hãn và tượng đài Cố Liệt Nữ Quách Thị Trang trong Công Viên Quách Thị Trang trước Chợ Bến Thành đi nơi khác để xây dựng tuyến đường sắt.