Đừng Nghĩ Quá Khứ, Đừng Nghĩ Tương Lai

09/01/201112:00 SA(Xem: 152849)



ĐỪNG NGHĨ QÚA KHỨ, ĐỪNG NGHĨ TƯƠNG LAI

Cư Sĩ Nguyên Giác

nguyen_giac2Năm cũ trôi qua, năm mới bắt đầu... Đầu xuân là những ngày ông bà mình gọi là thời điểm cần để “ôn cố tri tân” – nghĩa là ôn lại các chuyện cũ và tìm biết cái mới, hay nói bằng ngôn ngữ thời nay là, để rút kinh nghiệm năm cũ và vạch hướng đi cho năm mới.

Chuyện đời thì như thế, nhưng trong chuyện đạo thì nghe âm vang nhiều người nói rằng đừng nên nghĩ nhớ chuyện cũ, và đừng nên mơ tưởng suy tính chuyện tương lai, và rằng chỉ nên sống với hiện tại thôi. Có thực rằng sống đạo phảỉ là sống “một kiểu hiện sinh” như thế? Có thực rằng cần phải xóa sổ những ngày hôm qua, và phải dẹp hết những bữa hôm kia trong đầu... mới gọi là tu? Có thực rằng cần phảỉ dẹp bỏ mọi suy tính về ngày mai, về tuần sau, về năm sau... mới gọi là tu?

Người ta có thể dẫn ra bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch... và nói rằng thôi hãy bỏ hết chuyện của hôm qua và ngàỳ mai đi, và chỉ nên sống với hiện tại thôi.

Trong nhiều diễn đàn Phật Giáo và tuổi trẻ cũng nghe âm vang những lời khuyên tương tự. Cách viết tuy khác biệt chút ít, nhưng tư tưởng kể như là một. Sau đây là cách diễn đạt ở ba diễn đàn tuổi trẻ Phật Giáo:

- Đừng nhớ chuyện quá khứ, đừng mơ chuyện tương lai, hãy sống vì hiện tại.

- Đừng gặm nhấm quá khứ. Đừng vọng tưởng tương lai. Hãy sống tốt ở hiện tại.

- Đừng nuối tiếc quá khứ, đừng quá lo lắng cho tương lai, và hãy sống tốt ở hiện tại.

Có thực rằng, Đức Phật đã dạy đơn giản như thế không? Chắc chắn là có những gì nhầm lẫn nơi đây. Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, tại sao nhiều lần Đức Phật kể chuyện tiền thân của ngài và của nhiều vị tăng ni? Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, tại sao Đức Phật nhớ tới 5 người bạn đồng tu ở vườn Lộc Uyển, nên đã tìm lại để thuyết Tứ Diệu Đế và đưa 5 vị trở thành các đệ tử đầu tiên? Nếu không nghĩ nhớ quá khứ, vậy thì những gì thuộc về ký ức và trí nhớ để làm chi? Nếu không nghĩ nhớ chuyện quá khứ, tại sao Chư Vị A La Hán hơn hai ngàn năm trước đã mấy lần kết tập kinh điển, đã cùng vận dụng trí nhớ để tụng đọc lại lời Đức Phật dạy trong quá khứ và bây giờ chúng ta còn có giáo pháp là nhờ khả năng “nhớ chuyện quá khứ” tuyệt vời của các vị Thánh Tăng thuở đó?

Mặt khác, nếu không bàn chuyện tương lai, tại sao Đức Phật tiên tri về Đức Di Lạc sẽ lên cõi trời Đâu Suất, tiên tri về các thời mạt pháp tương lai, tiên tri về tuổi thọ chúng sanh đời vị lai? Nếu không dặn dò chuyện tương lai, tại sao Đức Phật dạy trong Kinh Di Giáo: “Các thầy Tỳ kheo, sau khi Như Lai diệt độ phải trân trọng tôn kính tịnh giới...” (bản dịch của Hòa Thượng Trí Quang).

Có thực rằng Đức Phật dạy là chỉ nên tập trung vào giây phút hiện tạị hay không?

Câu trả lời nên là: Không đúng hoàn toàn như thế.

Đọc lại Trung Bộ Kinh, trong kinh thứ 131, đúng là Đức Phật có nói gần gần như thế. Bản dịch từ tiếng Pali sang Anh ngữ của đại sư Thanissaro Bhikkhu dịch với nhan đề là “Bhaddekaratta Sutta: An Auspicious Day,” và Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là “Kinh Nhất Dạ Hiền Giả.”

Bản Anh ngữ của đại sư Nanananda lại dịch là “Bhaddekaratta Sutta: The Discourse on the Ideal Lover of Solitude.” Cả hai đều là một kinh thôi.

Đây là một kinh dạy pháp thiền quán tuyệt vời. Khi đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng Đức Phật nơi đây đã dạy pháp an tâm, trong đó tâm sẽ hoàn toàn không dính mắc, không trụ vào bất kỳ pháp nào – cho dù là quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Trong kinh, Đức Phật dạy, “Quý vị không nên theo đuổi quá khứ và mơ tưởng tương lai.”

Bản của đại sư Thanissaro dịch là, “You shouldn't chase after the past or place expectations on the future.

Bản của đại sư Nanananda dịch là, “Let one not trace back the past or yearn for the future-yet-to-come.”

Bản HT Minh Châu dịch là, “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng.”

Tất cả chỉ có một nghĩa: giữ tâm vô sở trụ, đừng dính mắc tâm vào quá khứ hay tương lai.

Hoàn toàn không có nghĩa là đừng nghĩ tới quá khứ hay đừng nghĩ tới tương lai. Thực tế, ngay khi bạn suy nghĩ tới quá khứ thì lập tức hành động suy nghĩ là việc của hiện tại; tương tự, ngay khi nghĩ chuyện tương lai, hành động nghĩ đó chính là cái hiện tiền trước mắt và trong thân mình.

Bản kinh này ghi rõ thêm lời Đức Phật rằng, học nhân đừng nên để tâm nuối tiếc các niềm vui gì về sắc, về thọ, về tưởng, về hành, về thức của quá khứ.

Kế tiếp, kinh này ghi lời Đức Phật dạy rằng, học nhân đừng nên mơ tưởng các niềm vui gì về sắc, về thọ, về tưởng, về hành, về thức của tương lai.

Bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả trong khi dạy pháp an tâm, sau khi phá bỏ các trường hợp học nhân dính mắc tâm vào pháp quá khứ, và sau khi phá bỏ cách dính mắc pháp tương lai, liền tiếp theo là yêu cầu phá bỏ luôn các tâm dính mắc vào pháp hiện tại.

Đặc biệt, đây cũng là một pháp đốn ngộ: có một trường hợp tích truyện Pháp Cú, sau khi nghe Đức Phật nói là hãy buông “bỏ quá, hiện, vị lai...” chàng diễn viên nghề xiếc có tên là Uggasena còn đang lơ lửng đứng trên đầu cột hát xiếc giữa phố đã lập tức đắc quả A La Hán và được thần thông, khi chưa hết màn biểu diễn xiếc. Không hề trải qua thời gian tu học hay ngồi thiền nào? Đúng vậy, theo kinh thì như thế. Có nghĩa rằng, Đức Phật đã dạy pháp môn phá bỏ tâm quá khứ, phá bỏ tâm vị lai, phá bỏ tâm hiện tại. Hoàn toàn không có nghĩa gì như chúng ta thường nghe là đừng nghĩ quá khứ, đừng nghĩ tương lai và hãy nghĩ hiện tại...

Như thế, Kinh này cũng gợi nhớ tới một công án về Thiền Sư Đức Sơn (782-865) chuyên giảng Kim Kim Cang, không tin chuyện các sư dạy pháp thiền đốn ngộ, nên đã về phương Nam để tìm tranh luận. Khi tới Lễ Châu, gặp một bà già bán bánh rán, mới hỏi mua cho đỡ đói. Thấy sư gánh bộ Thanh Long Sớ Sao, bà già nói là sẽ hỏi một câu, nếu sư trả lời được thì sẽ được cúng bánh.

Sư Đức Sơn đồng ý, bà liền hỏi: “Trong kinh Kim cương có nói ‘Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.’ Vậy Thầy muốn điểm tâm nào?”

Sư Đức Sơn lặng thinh, không đáp được. Bà già mới chỉ Sư đến tham vấn Thiền sư Long Đàm.

Câu chuyện về Sư Đức Sơn cho thấy các thiền sư cổ thời đã không để dính mắc một tâm nào hết, dù là tâm hiện tại. Trong khi đa phần lời khuyên thời nay lại bảo là chỉ nên nghĩ chuyện hiện tại; rõ ràng là ngộ nhận lớn.

Nơi đây, chúng ta sẽ trích bản Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do ngài Thích Minh Châu dịch, các đoạn văn Đức Phật dạy về ba tâm này:

... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc, hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ; hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Đa văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại...”(hết trích)

Trong Kinh Pháp Cú, nơi kệ ngôn 348, Đức Phật cũng đã dạy cho chàng cư sĩ Uggasena tương tự. Và ngay khi vừa nghe, trong còn lơ lửng trên đầu cột biểu diễn xiếc, chàng Uggasena lập tức đắc quả A La Hán và được thần thông.

Bản dịch từ Tạng Miến Điện bởi ngài Daw Mya Tin là: “Verse 348: Give up the past, give up the future, give up the present. Having reached the end of existences, with a mind freed from all (conditioned things), you will not again undergo birth and decay.”

Có thể dịch là: “Bài kệ 348: Buông bỏ quá khứ, buông bỏ tương lai, buông bỏ hiện tại. Đạt tới bờ bên kia (Pali: bhavassa paragu: người qua bờ bên kia, kết thúc sanh hữu, tức A La Hán), với tâm giải thoát mọi pháp dính mắc, con sẽ không còn sinh tử nữa.”

Bài kệ này trong bản Hán Văn của Pháp Sư Thường Bàn Đại Định là: “Xả tiền, xả hậu, Xả gian-việt hữu. Nhất-thiết tận xả, Bất thụ sinh tử.” (Nguồn: phapluan.com)

 

Trong cuốn Tích Truyện Pháp Cú Tập 3, xuất bản bởi Thiền viện Viên Chiếu, câu chuyện “Chàng Trai Có Cô Vợ Diễn Viên Nhào Lộn,” đã kể về trường hợp Đức Phật dạy pháp buông bỏ cho chàng trai Uggasena, trích:

“...Hôm ấy, từ sớm đức Thế Tôn quan sát thế gian và Uggasena xuất hiện trong tầm quán sát của Ngài. Thế Tôn tự nghĩ: "Người thanh niên ấy sẽ ra sao?” Ngay sau đó, Ngài biết được: "Con trai quan Chưởng khố sẽ đứng lơ lửng trên đầu sào kia để biểu diễn màn xiếc của chàng và đông đảo khán giả sẽ tụ tập xem. Vào thời điển ấy ta sẽ đọc bài kệ bốn câu. Nghe xong tám vạn bốn ngàn người sẽ được Pháp nhãn thanh tịnh, còn Uggasena thì đắc quả A la hán.”

Ngày hôm sau, lựa đúng giờ thích hợp, đức Thế Tôn cùng các Tỳ kheo lên đường vào thành Vương Xá khất thực.

Trước khi Phật đặt chân vào thành, tại chỗ biểu diễn, Uggasena đưa tay ra dấu chào trả tiếng vỗ tay của khán giả. Và giữ thăng bằng trên đầu cột, chàng bay lộn bảy vòng trong không, đặt chân trở lại trên đầu cột và đứng giữ thăng bằng ở đấy. Đúng lúc này, đức Thế Tôn vào thành, và do sự xếp đặt của Ngài, khán giả quay nhìn Ngài thay vì nhìn Uggasena biễn diễn. Thấy khán giả không còn quan tâm đến mình nữa, Uggasena vô cùng thất vọng. Chàng nghĩ: "Ta phải mất một năm mới luyện được màn biểu diễn này. Thế mà đức Thế Tôn vừa đặt chân đến thành, khán giả đã bỏ ta quay lại chiêm ngưỡng Ngài. Buổi biểu diễn của ta thế là hoàn toàn thất bại. "Phật đọc được tư tưởng của chàng liền bảo Trưởng lão Mục- kiền liên:

- Ông hãy đến bảo con viên Chưởng khố ta muốn xem chàng biểu diễn tài nghệ.

Tôn giả đến bên cây cột nói với chàng diễn viên:

Này, Uggasena

Diễn viên xiếc tài ba!

Hãy phô trương tài nghệ,

Cống hiến dân thành ta.

Uggasena nghe vậy vô cùng hoan hỉ: "Chắc đức Thế Tôn muốn xem tài năng của ta.” Nghĩ vậy, chàng liền đáp, trong lúc vẫn đứng lơ lửng trên đầu cột:

Hãy xem tôi, Mục Kiền Liên Tôn giả!

Bậc đại trí, bậc đại thần thông!

Tôi trổ tài cống hiến đám đông

Và làm họ cười reo thỏa thích

Từ trên đầu cột chàng tung mình lên không, quay lộn mười bốn vòng rồi đặt chân trở lại, giữ thăng bằng trên đầu cột.

Đức Thế Tôn bảo:

- Này Uggasena, người trí phải biết cởi bỏ buộc ràng của thân ngũ uẩn trong quá khứ, hiện tại và vị lại. Như vậy, người ấy mới thoát được sanh, già, bệnh, chết.

Ngài nói kệ:

(348) Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.

Phật nói xong, tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh, con trai quan Chưởng khố đắc quả A la hán và được thần thông ngay khi chàng còn đứng lơ lửng đầu cột.

Chàng tụt xuống, tiến tới trước đức Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ Phật và xin được gia nhập Tăng đoàn. Phật đưa tay nói: "Hãy đến, Tỳ kheo!" Chàng liền biến thành một vị Trưởng lão chừng sáu mươi tuổi, với đầy đủ tám vật dụng tùy thân. Các Thầy Tỳ kheo hỏi Trưởng lão:

- Này huynh Uggasena, huynh leo từ cây cột ba chục thước xuống mà không sợ sao?

Uggasena đáp:

- Chư huynh đệ, tôi chẳng sợ chút nào. Chúng Tỳ kheo bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, Uggasena nói "Tôi chẳng sợ chút nào" là nói điều không thật. Ông ấy phạm việc dối trá.

Phật bảo:

- Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo như Uggasena đã diệt trừ tham ái, không còn lo âu sợ hãi gì nữa.”(Nguồn: thuvienhoasen.org)

Tới đây, chúng ta có thể thắc mắc, rằng vì sao trong các bản kinh xưa, Đức Phật dạy xả ly tất cả các pháp dính mắc ở ba thời quá, hiện, vị lai... mà bây giờ bỗng nhiên trở thành cách nói đầy hiện sinh kiểu như “đừng nghĩ chuyện quá khứ, đừng nghĩ chuyện tương lai, chỉ nên nghĩ tới hiện tại tuyệt vời...”

Ai đã biến hóa lời dạy của Đức Phật trở thành lời khuyên kiểu thế gian như thế? Ai đã xóa đi lời dạy của Đức Phật rằng phải qua bờ bên kia, rằng phải xả ly buộc ràng ngũ uẩn (trong quá, hiện, vị lai), rằng phải thoát khỏi sanh già bệnh chết... để rồi dính mắc vào cái hỷ lạc của tâm hiện tại?

 Mới biết, không dễ gặp những bà già bán bánh như thời Thiền Sư Đức Sơn.

Cư Sĩ Nguyên Giác

Kinh sách liên quan:

KINH NHẤT DẠ HIỀN GỈA - Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


Ý kiến bạn đọc
03/11/20127:00 SA
Hạ Đế
Khách
Kính thưa quý đạo hữu cùng quý độc giả,
Tôi xin cảm ơn đạo hữu Nguyên Giác đã có bài trả lời trên tinh thần thiện chí, nhưng tôi mong muốn nhiều hơn ở sự trao đổi học hỏi của chúng ta phải đi đến “chí thiện”, chứ không nên lao mãi theo đường mê của các thầy Tổ.
- Điều chúng ta đáng quan tâm trong toàn bộ giáo lý của đức Phật dạy là TỨ DIỆU ĐẾ, BÁT CHÁNH ĐẠO, 37 PHẨM TRỢ ĐẠO, 12 NHÂN DUYÊN… như thế là tạm đủ để người hành giả vững bước trên con đường tiến tới giải thoát. Cần gì đến 84.000 pháp môn, một con số tào lao.
- Điều tiếp theo (trong ngữ cảnh các ý kiến của bài viết này), chúng ta cần phải hiểu cho rõ, đức Phật dạy những người con tiến bước theo chân Ngài “cắt áo ly gia…” từ bỏ hết mọi dục lạc thụ hưởng vật chất thế gian, thiểu dục tri túc. Vậy mà Ngài lại dạy phương cách “Bố thí” như ý kiến của An Truong đã dẫn ra để cho: Ai Bố Thí và Bố Thí Cho Ai? Toàn những thứ mà người Phật tử phải lánh xa thế mà các vị cứ hiển nhiên chấp nhận một cách rất ngây thơ.
- Đây nữa, An Truong dẫn: "Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'" (Trung Bộ Kinh, Kinh Đại Bổn, 29, Thích Minh Châu dịch).
Chẳng lẽ một bậc siêu nhân như vậy mà sau này còn phải cực khổ suốt 6 năm trời nhiều khi gần như muốn chết mà vẫn chưa thấy đạo? Vô lý thế mà các vị nhân danh Phật tử vẫn thấy là đúng thật ư?
- Tôi muốn lưu ý quý đạo hữu học tập kinh Pali (Nikàya) do HT Minh Châu chuyển ngữ, trước tiên phải học hiểu kỹ lời giới thiệu của HT cho hai lần in kinh Trung Bộ để có đồng một quan điểm với Ngài. “…Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là Nguyên Thủy, đoạn nào không phải Nguyên Thủy…”… “…Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành.”… Như vậy chưa đủ nói lên ngay trong kinh gọi là Nguyên Thủy nhất nhưng cũng vẫn chứa đầy dẫy những lời của ngoại đạo Bà la môn xen lẫn, chất nguyên thủy được bao nhiêu %?
- Đối với các ngài Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Dalai Lama và nhiều vị khác… tôi không có ý bất kính với quý ngài đó, nhưng việc cần phải nói thẳng ra rằng các vị này chưa bao giờ thấy đạo bằng sự thực hành, mà chỉ nói đạo bằng sự học thuyết và luận tưởng, không thực tế, không giúp ích gì cho người Phật tử trên con đường giải thoát. Nếu nói thẳng hơn, các Ngài đang ra sức phá đạo Phật vì các ngài không hiểu đạo Phật. (Việc này tôi nói thẳng nơi đây, chắc sẽ có nhiều vị độc giả sẽ bất bình, nhưng đó là sự thật).
- Kinh sách, pháp môn mà đạo hữu Chân Diệu Mỹ dẫn ra cho thấy rất mênh mông của các vị thầy tổ xưa nay làm ra, điều này rất nhiều lợi cho các vị học giả nghiên cứu để lập luận án tiến sĩ để có danh với đời, nhưng rất ít ích lợi cho người học tu giải thoát.
Mong quý đạo hữu và quý độc giả hãy trở về với đạo Phật chân chánh,
02/11/20127:00 SA
hung0
Khách
Nếu có ai bỏ thì giờ nghiên cứu con số 84,000 nầy chắc chắn sẽ được bằng tiến sĩ stupidity :-)
Không những 84,000 pháp môn mà là hằng hà sa số pháp môn giống nhữ chữ dùng 
"hằng hà sa số chư Phật" trong các kinh. Sau đây là một vài pháp môn để đại chúng tìm hiểu, học tập:
Cành Mai đêm qua sân trước -- pháp môn 1
Cành Mai đêm nay sân sau -- pháp môn 2 ̣̣̣̣ṿ.v.
02/11/20127:00 SA
Nguyen Giac
Khách
Kính cảm ơn đạo hữu Chân Diệu Mỹ.
Và cảm ơn các thông tin rất sáng tỏ từ anh Bình Anson. Tuyệt vời là các thông tin như thế. Trong phản hồi trước, tự nhiên bị trang web cắt ngắn một đoạn, thôi thì cũng là nhân duyên, có lẽ là vì phương châm "đừng nghĩ tới quá khứ" nên chư hộ pháp muốn cắt ngắn câu chuyện. Xin chúc lành cho tất cả.
Nguyên Giác
02/11/20127:00 SA
Chân Diệu Mỹ
Khách
l- Sớ giải của Tam Tạng được giảng giải bởi các vị thầy giáo thọ về sớ giải, có số lượng tụng phẩm là sáu trăm ba hai (632).
m- Sớ giải của Tam Tạng có số lượng từ là một trăm năm mươi tám ngàn (158.000).
n- Sớ giải của Tam Tạng có số lượng mẫu tự là năm triệu không trăm năm mươi sáu ngàn (5.056.000).
Các con số về các bài giảng trong Kinh Tạng cũng được đề cập trong quyển Chú giải bộ Pháp tụ (Atthasālīnī), nhưng không nhiều chi tiết.
Ngày nay, các bộ Tam Tạng Pāli, Chú giải và Sớ giải đã được số hóa từ các nguồn Sri Lanka, Myanmar và Thái Lan, và đã được phổ biến rộng rãi qua dạng đĩa CD-ROM. Chúng tôi không biết đã có những công trình nghiên cứu nào để minh chứng các con số thống kê nêu trên, bằng cách viết các chương trình vi tính để xử lý nguồn số hóa trên CD-ROM, hay không? Theo thiển ý, đó là đề tài rất thú vị và cũng rất quan trọng, rất xứng đáng để cho các vị nghiên cứu sinh Phật học lưu tâm và thực hiện trong các bài luận văn hay luận án tốt nghiệp.
http://www.paliviet.info/VChuong/VChuong_GhiChu.htm
02/11/20127:00 SA
Chân Diệu Mỹ
Khách
Trong sách báo Phật giáo, chúng ta thường thấy cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉ tính đa dạng, đa phái của đạo Phật. Có nhiều người dùng cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉ các pháp môn, các truyền thống khác nhau trong đạo Phật, và cho rằng bất kỳ pháp môn nào, bất kỳ truyền thống nào rồi cũng đưa đến mục đích cuối cùng của giác ngộ giải thoát. Đức Phật có giảng dạy như thế không?
Theo sự hiểu biết thô thiển của chúng tôi, trong kinh điển Pāli nguyên thủy không thấy có cụm từ "84 ngàn pháp môn" trong ý nghĩa nêu trên, mà chỉ có một đoạn văn do Trưởng lão Ānanda trả lời ông Moggallāna người chăn bò, khi ông ấy hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có tất cả là bao nhiêu pháp. Ngài đáp: "Trong 84 ngàn pháp, chính tôi được nghe đức Phật giảng 82 ngàn, còn 2 ngàn kia là do các vị tỳ khưu khác thuật lại" (Trưởng Lão Tăng Kệ, 1025, Tiểu Bộ).
Xin ghi nhận vài điểm sau đây:
(1) Con số "84.000" hay cụm từ "tám mươi bốn ngàn" hay "tám vạn bốn ngàn" là một thành ngữ thường thấy trong nhiều bài kinh, như: 84.000 đại kiếp, 84.000 năm, 84.000 thị nữ, 84.000 cỗ xe, 84.000 con voi, 84.000 con bò, 84.000 chén bạc, 84.000 thước vải v.v. Đây chỉ là một thành ngữ phổ thông tại Ấn Độ trong thời đó, là cách nói tổng quát để chỉ một số lượng rất lớn, rất nhiều, không phải là một con số chính xác.
(2) Chữ "pháp" (dhamma) trong câu trả lời của ngài Ānanda có nghĩa là gì? Giáo sư K. R. Norman, dịch giả bản dịch Anh ngữ Theragatha (Trưởng Lão Tăng Kệ), cho biết rằng ngài luận sư Buddhaghosa, trong Chú Giải Trưởng Lão Tăng Kệ, có giải thích "pháp" ở đây được hiểu như là "pháp uẩn" (dhammakhandha), nghĩa là đoạn văn về giáo pháp.
Trong quyển Saddhammasangaha (Diệu Pháp Yếu Lược) do Trưởng lão Dhammakitti Mahāsāmi soạn ra tại Sri Lanka vào khoảng thế kỷ 13 DL, Ngài có giải thích về "Pháp Uẩn" như sau:
... Thế nào là có tám mươi bốn ngàn phần khi nói về Pháp Uẩn? Bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn. Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đến chủ đề. Trong những phần Kệ (gāthā), mỗi câu hỏi hay chất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một Pháp Uẩn. Trong tạng Vi diệu pháp, mỗi một phần chia chẻ gồm có một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻ theo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luật thì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (mātikā), có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phần không phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này, cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế, khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần (theo bản Việt dịch của Tỳ khưu Indacanda).
(3) Cũng trong quyển Saddhammasangaha, ngài Dhammakitti Mahāsāmi có đưa ra các con số thống kê về Tam Tạng kinh điển như sau:
a- Trong 84.000 pháp uẩn, Tạng Kinh có 21.000 pháp uẩn, Tạng Luật có 21.000 pháp uẩn, và Tạng Vi diệu pháp có 42.000 pháp uẩn.
Ngày nay, các con số này cũng thấy được trích dẫn trong nhiều tác phẩm Phật học. Đây có phải là con số chính xác và khả tín không? Đã có vị Tăng Ni học giả nào nghiên cứu tường tận để chứng minh các con số này, hay không?
b- Tam Tạng Pāli gồm có một ngàn một trăm tám mươi ba (1.183) tụng phẩm (bhānavāra).
c- Tam Tạng Pāli có số lượng từ là hai trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm năm mươi (295.750).
d- Tam Tạng Pāli có số lượng mẫu tự là chín triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn (9.464.000).
Về Tạng Kinh, ngài liệt kê:
e- Trường Bộ có 34 bài kinh.
f- Trung Bộ có 152 bài kinh.
g- Tương Ưng Bộ có 7.762 bài kinh.
h- Tăng Chi Bộ có 9.557 bài kinh.
Ngoài ra, ngài cũng có đưa ra các con số thống kê về các bộ Chú giải và Sớ giải:
i- Tất cả Chú giải Tam Tạng do luận sư Buddhaghosa giảng giải có số lượng tụng phẩm là một ngàn một trăm sáu mươi ba (1.163).
j- Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng từ là hai trăm chín chục ngàn bảy trăm năm mươi (290.750).
k- Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng mẫu tự là chín triệu ba trăm lẻ bốn ngàn (9.304.000).
l- Sớ giải của Tam Tạng được giảng giải bởi
01/11/20127:00 SA
Nguyen Giac
Khách
Kính thưa quý đaọ hữu
Cảm ơn về những sự góp ý của các đaọ hữu. Tôi luôn luôn đọc và lắng nghe những góp ý về Phật Giáo, vì hạnh lắng nghe vừa là pháp học và pháp hành. Nơi đây xin thưa vài điểm.
Trước tiên, đaọ hữu Hạ Đế thắc mắc (1) về con số 84.000; (2) sao đắc A La Hán nhanh thế. Thực ra, con số 84.000 có nhiều chỗ trong Tạng Pali. Dĩ nhiên, tôi không thắc mắc vì không nghĩ tới chuyện đếm như bán vé (chữ của Mr. Hạ Đế, hình như cách nói này không nhã). Thứ nhì, chuyện đắc quả A La Hán nhanh như thế là bản dịch Pháp Cú của Thiền Viện Viên Chiếu, nhưng thực ra lúc đó tôi cũng đã đọc từ bản Anh ngữ ở đây: http://www.tipitaka.net/tipitaka/dhp/verseload.php?verse=348. Nghĩa là Tạng Pali do quý ngài Miến Điện dịch. Mr. Hạ Đế gọi đó là "chuyện bịa đặt vô căn cứ để mê dụ người Phật tử" thì tôi nghĩ nên tránh nói như thế. Khi Đức Phật nói như thế, cũng như chuyện hài nhi sinh ra đi 7 bước là có ý nghĩa khác hơn là chuyển biến trong cái cõi vật lý này.
Tiếp theo, đaọ hữu Tôn Quế Chân đề nghị đọc Kinh Pali do ngài Thích Minh Châu dịch. Thực sự, tôi đã đọc các bản Việt dịch của ngài, và cũng đọc Tạng Pali qua các bản Anh ngữ dịch bởi sư Mỹ, sư Úc, và sư Miến Điện (xin đọc kỹ trong bài Đừng Nghĩ Quá Khứ, Đừng Nghĩ Tương Lai sẽ thấy dẫn chứng nhiều bản Anh dịch từ Tạng Pali khác nhau).
Bản tâm tôi không có gì dị ứng với Kinh Pali. Thực sự tôi mang ơn Thầy Minh Châu. Tôi từng khuyên đứa em gái ruột là phải tới ngồi Thiền với Sư Apati Tinh Cần ở Garden Grove, một phần vì tôi có cơ duyên giao tình với vị sư Nam Tông này từ 2 thập niên nên có nhiều tin cậy, phần nữa biết rằng sư này đã đi Miến Điện học về Thiền Tứ Niệm Xứ.
Gần đây, khi Thầy Minh Châu tịch, tôi có viết bài ngợi ca ngài, dẫn Kinh Tương Ưng Bộ về nhiều pháp giải thoát, xem: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-16872_5-50_6-1_17-42_14-2_15-2_10-426_12-1/
Tôi không muốn liên hệ vào cuôc tranh cãi Nam Tông, Bắc Tông vì điều đó mệt quá, và chỉ làm hại cho sự sinh tồn của PG tại VN, nơi PG chỉ còn thịnh hành ở thành phố nhưng đang mất tín đồ ở các vùng quê.
Cần cảm ơn về lời nhắc của đaọ hữu Thượng Minh về Khổ, Vô Thường, Vô Ngã. Thưc ra, Tam Pháp Ấn này là điều tôi luôn giữ trong tâm, và qua đây nhìn thấy cả Nam Tông và Bắc Tông chỉ là một pháp thôi, đó là qua Tam Pháp Ấn. Còn nói bảo tìm 200 pháp giaỉ thoát thì, nói thực tôi không tìm ra. Và tôi cũng không muốn tìm, vì mệt quá, đời mình còn bận với chuyện mưu sinh và bao nhiêu chuyện khác, nên chỉ muốn bận tâm chuyện khẩn cấp nhất là tu học. Vì tôi luôn tự nhủ, trong khi tôi đang ngồi viết về Việt Nam (hàng ngày, tôi phảỉ viết rất nhiều về VN) rủi mà đứng tim chết, hay ra phố bị đụng xe chết, thì có thể tái sinh ngay vào VN, và không biết ba mẹ đời sau của mình đang ở Sài Gòn hay Hà Nội. Bởi vậy mới lo tu. Nhưng theo tôi biết là có nhiều pháp giaỉ thoát.
Trên Tự Điển Bách Khoa Wikipedia thì dẫn Kinh Pali ra nói Phật dạy 6 pháp giải thoát: http://en.wikipedia.org/wiki/Nirvana
Tương Ưng Bộ Kinh có chỗ nói có ít nhất là 7 pháp giảỉ thoát (xin đọc chỗ tôi viết về ngàì Minh Châu). Riêng bản thân tôi, tôi đã thấy từ lâu rằng có những pháp giaỉ thoát có thể tập được, như Đức Phật đã dạy Thiền Chỉ Quán, hay chỗ khác là dạy Tứ Niệm Xứ.
Nhưng rồi tôi thấy, tận cùng chỉ là một pháp, vì thấy bất kỳ pháp giảỉ thoát nào, cũng là Niệm Tâm. Ngay khi niệm hơi thở, hay niệm thọ, thực ra cũng là Niệm Tâm. PG Tây Tạng cũng chỉ dạy thế, dù là đưa ra nhiều pháp. Có một chỗ tôi nghĩ rằng đaọ hữu Hạ Đế không nên nhắc tới quý ngài Dalai Lama, Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh với ngôn ngữ bất kính. Như thế không có lợi có phát triển PG tại VN. Và tôi tin rằng, 3 vị này đã đọc Tạng Pali, Tạng A Hàm, và tôi đã từng ca ngợi 3 vị này cũng như đã ca ngợi Ngàì Minh Châu.
Riêng với Ngài Dalai Lama, tôi có một số nhân duyên, và đã vẽ chân dung Ngài nhân Lễ Sinh Nhật thứ 75 của Ngài, xem: http://www.youtube.com/watch?v=MOFJfT_QFkE
Và tôi đã từng ca ngợi 2 Thầy Nhất Hạnh và Thanh Từ ở đây:
http://
29/10/20127:00 SA
Hạ Đế
Khách
An Truong nên suy nghĩ xem:

"Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc.
Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng.
Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu.
Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng.
Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc.
Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu.
Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía.
Vị ấy bố thí 84.000 thước vải,... "

Khủng hoảng mất rôi An Truong ơi! Người "Bố Thí" kiếm đâu ra nhiều cái 84.000 đến thế? Và người nhận không biết chất đống vào đâu?.
Chỉ có những ông thầy Bà la môn tham ngút trời cao mới tưởng ra như vậy. Thế giới khoa học ngày nay cũng khó có thể tạo ra, khó kiếm được quá nhiều 84.000 cái mong cầu ấy. Hành tinh của chúng ta, nay còn được mấy con voi?

Người học Phật nên biết Tư Duy bạn nhé!
29/10/20127:00 SA
Tôn Quế Chân
Khách
Lời giới thiệu Kinh Trung Bộ của HT Thích Minh Châu lần xuất bản thứ nhất năm 1973 và lần thứ hai năm 1986:

... “Chúng tôi dịch Kinh Pàli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu những Kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dầu là Ấn Độ, Trung Hoa hay Việt Nam. Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là Nguyên Thủy, đoạn nào không phải Nguyên Thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, từ mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình tìm hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy.

Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì Đạo Phật là Đạo đến để mà thấy chớ không phải Đạo đến để nhờ người thấy hộ, Đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải Đạo của người nhắm mắt; Đạo của người thấy, của người biết (Passato Jànato), không phải là Đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.”
--- ---

“Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch”.

Mong những người Phật tử học theo Chánh Pháp hãy học bằng đôi mắt sáng và nương vào trí tuệ của Bậc Thiện Tri Thức (Bậc tu chứng) giảng dạy. Không nên tròng vào mắt mình chiếc "Kính Vạn Hoa" mà học kinh Phật thì chỉ thấy muôn sắc cầu vồng. Vô ích.
29/10/20127:00 SA
An Truong
Khách
KINH TĂNG CHI BỘ
Anguttara Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Chín Pháp
Phẩm 01-03
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-1173_5-50_6-1_17-56_14-1_15-1/
4. Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải len mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. "Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông".
28/10/20127:00 SA
Tôn Quế Chân
Khách
HaiAu biết tiếng Việt, sao lại thể hiện nửa Việt nửa Anh? Có phải HaiAu muốn "khoe" trình độ của mình?
Theo tôi, đây là trang thư viện bằng tiếng Việt, ta nên dùng thuần tiếng Việt thì ai cũng hiểu được. Đặc biệt, ngôn ngữ, danh từ của Phật giáo bằng tiếng Việt mà nhiều chỗ còn chẳng hiểu mô tê răng rứa chi, thế mà dịch ra tiếng Anh nữa thì sự hiểu sẽ sai lạc đến đâu? (Tiếng Anh chỉ dùng dẫn để cho ai muốn tìm hiểu thêm).

HaiAu viết: "84.000 pháp môn. Ẩn dụ luôn được sử dụng trong tất cả các tôn giáo và các Masters, không sử dụng nó như là hoa ngôn ngữ. Nó chỉ có ý nghĩa với một người thực sự hiểu"... (Đây theo bản dịch Google nên không rõ có đúng ý của HaiAu hay không).

Tui xin hỏi:
- "84.000 pháp môn" rõ ràng chân thực nghĩa như vậy ("Phật nói xong, tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh..."), sao HaiAu còn nói nó ẩn dụ cho cái gì? Phải chăng nó chỉ chung cho sự còn lại của quá nhiều cái "hư huyễn" không biết được nên gom vào thành 84.000 cho gọn. Nếu ẩn dụ thì dùng 100.000 hay 1 tỷ cũng không khác nhau phải không?
- Tui thấy khái niệm 84.000 pháp môn chỉ có trong giáo lý Phật giáo phát triển (lời các Thấy Tổ dạy) như Tịnh Độ, Thiền Tông... (được coi là nhiều như lá trong rừng cây), còn Phật giáo Nguyên Thủy không thấy khái niệm này, có lẽ chỉ ít ỏi (lời Phật dạy) như "nắm lá trong lòng bàn tay".

Và tiếp theo: "nó chỉ có ý nghĩa với một người thực sự hiểu". Nói vậy, chắc chắn HaiAu rất hiểu 84.000 pháp môn ý nghĩa cụ thể ra sao, mong HaiAu hạ cố giải thích giúp để tui và độc giả được hiểu thêm nghe.
Xin cảm ơn.
28/10/20127:00 SA
HaiAu
Khách
84000 Pháp môn. Metaphor is always used in all religions and the Masters don't use it as flowery language. It only makes sense to someone who truly understands. I admire Cư Sĩ Nguyên Giác, a great Buddhist Monk. Thanks to him for His quiet works.
26/10/20127:00 SA
Hạ Đế
Khách
Bài viết này đã có 49210 lượt người đọc, vậy mà hôm nay tôi mới có dịp đọc lần đầu.

Than ôi, xưa nay người viết nhiều, bài viết nhiều, chỉ dựa theo một vài lời kinh rồi tha hồ phóng tác làm cho có vẻ "linh thiêng", "huyền bí", "cao siêu". Nhưng sờ sờ trước mắt những điều vô lý sao chẳng ai hay, cứ hùa vào mà tin vô căn cứ.

Như đây, trong bài dẫn: "Phật nói xong, tám vạn bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh, con trai quan Chưởng khố đắc quả A la hán và được thần thông ngay khi chàng còn đứng lơ lửng đầu cột".

- Thử hỏi, ngày nay với bao nhiêu phương tiện truyền thanh hiện đại mới có thể làm cuộc thông tin quảng đại như thế. Vậy mà từ thời đức Phật, không có phương tiện hỗ trợ nào mà cả 84.000 người đều nghe được thấu suốt hay sao? Dù có gào lên trong hội trường khoảng 1.000 người (nếu không có phương tiện hỗ trợ) thì cũng chẳng thể tất cả mọi người đều nghe được. Vậy mà đây những 84.000 người, mà sao ai thống kê chính xác thế? Phải chăng là do bán vé vào xem?
- Lại nữa, sau một thời pháp ngắn mà con trai Trưởng khố liền đắc quả Alahán. Như thế chẳng hóa ra quả Alahán đạt được một cách dễ dàng quá vậy sao? Thế mà suốt mấy ngàn năm sau, biết bao người cố công tu hành đến chảy máu mắt mà chẳng thấy ai là người chứng quả Alahán.

Câu chuyện "Tràng trai có cô vợ diễn viên nhào lộn" của Thiền viện Viên Chiếu xuất bản là một câu chuyện bịa đặt vô căn cứ để mê dụ người Phật tử. Người Phật tử hãy sáng suốt không nên tin vào những chuyện như vậy. Những loại chuyện như vậy xưa nay nhiều như món hàng rong giữa chợ, chớ có tin.

Hãy chọn lựa những "Món ăn" thực sự hữu ích mà dùng, thưa quý vị.

Bài viết hay, tư tưởng tốt nhưng tác giả dẫn những câu chuyên phịa vào minh họa nên nó mất tính chân thật đi. Thật tiếc.

14/08/20127:00 SA
Udo
Khách
At last! Someone who udnsertadns! Thanks for posting!
31/10/20127:00 SA
Thượng Minh
Khách
Theo ý kiến của Cư sĩ Nguyên Giác, tôi có mấy lời.
Nếu chúng ta hiểu toàn thể các Pháp trên hành tinh này đều là Pháp thì pháp là nhiều vô số kể, không thể tính đếm được.
Nếu chúng ta hiểu Pháp Phật dạy như Pháp Môn Giải Thoát thì chỉ có 12 Pháp Môn. Đó là 12 Nhân Duyên tạo nên hằng hà sa số các pháp trên thế gian. Trong 12 Pháp Môn này (như 12 mắt xích trói buộc muôn loài hữu tình và vô tình), nếu người Phật tử phá tung được 1 trong 12 mắt xích (Pháp Môn) này là người được giải thoát.

Người học và tu theo Phật là người biết chọn lựa và vượt qua các pháp. Tất cả các pháp đều Vô Thường, cái gì vô thường là Khổ, cái gì khổ là Vô Ngã. Cho nên đừng bám dính. Đức Phật chỉ dạy cô đọng mà đầy đủ ý nghĩa như thế.

Còn ai nói đức Phật dạy 84.000 Pháp Môn là không đúng, là vu khống, là phỉ báng Phật, bởi vì Phật không dạy kiểu như vậy. Vạn Pháp như lá trong rừng, Pháp Môn giải thoát như nắm lá trong lòng bàn tay. Dù ai có dẫn chứng kinh này Phật thuyết, kinh kia ngài Anan giảng… cũng chớ vội tin chứ đừng nói đến các vị thầy Tổ hậu lai, sự sai đi cả trời cách vực.

Nếu có thể, xin Cư sĩ Nguyên Giác vui lòng dẫn chứng khoảng 200 (hai trăm) Pháp Môn để đại chúng tìm hiểu, học tập.
Xin cảm ơn.
31/10/20127:00 SA
Hạ Đế
Khách
Thân ái chào An Trương,
Chúc mừng bạn đã đạt được tâm như đất, thật tuyệt vời. Ai là người đạt được tâm như đất thì rất xứng đáng được tôn trọng, cung kinh, cúng dường.

Nhưng sao bạn bảo tâm bạn như đất mà tôi thấy chưa giống đất bao nhiêu. Hẳn là trước khi viết ý kiến phản hồi bạn đã đọc ý kiến của Tôn Quế Chân rồi, sao tâm như đất mà bạn vẫn chưa nhận ra vấn đề ư?

Chắc bạn không biết, trước khi Tôn Quế Chân gửi ý kiến phản hồi cho bạn, tôi đã đọc kiểm nội dung (chúng tôi là những bạn đồng pháp mà), thấy còn thiếu sợ bạn chưa rõ nghĩa nên tôi gửi thêm để nhấn cho bạn rõ. Vậy mà bạn…!!!

Bạn là người có đọc nhiều kinh sách, nhưng hiểu thì chưa được bao nhiêu. Bởi kinh sách Phật không phải ai đọc là hiểu ngay được, như ngài Nhất Hạnh, Thanh Từ, Dalai Lama… là những vị được coi là cao tăng nhưng chưa hiểu nổi kinh Nguyên Thủy đâu bạn ạ.

Bạn hãy suy nghĩ kỹ lời HT Minh Châu giới thiệu cho 2 lần in kinh Trung Bộ nhé để hiểu thêm Phật pháp, Tổ pháp xưa nay. Bạn muốn hiểu được kinh Nguyên Thủy, hãy tìm và học hỏi bậc tu chứng thì mới được chân thật nghĩa.

Chào bạn. Chúc bạn giữ gìn tâm như đất thật vững bền.
31/10/20127:00 SA
Nguyên Giác
Khách
Con số 84.000 pháp môn là do Phật nói, xin đọc chương PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA, bài CẨM NANG QUY Y TAM BẢO (TISARAṆA) link:
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-nentangpg/cntb-03.htm
Tạng Luật có 21.000 pháp môn
Tạng Kinh có 21.000 pháp môn
Tạng Vi Diệu Pháp có 42.000 pháp môn
Trọn bộ Tam Tạng có tất cả là 84.000 pháp môn.
Trong chú giải này, Đức Phật giải thích rằng (...):
“Như vậy, 84.000 pháp môn này vẫn tồn tại, chỉ có một mình Như Lai tịch diệt Niết Bàn. Thật ra, bây giờ chỉ có một mình Như Lai giáo huấn, dạy dỗ các con; khi Như Lai tịch diệt Niết Bàn rồi, 84.000 pháp môn này sẽ giáo huấn, dạy dỗ các con”.
Căn cứ vào những đoạn kinh và chú giải trên; hiện nay, Đức Phật chính là Pháp và Luật hoặc 84.000 pháp môn. Mỗi pháp môn chính là một vị Tôn sư giáo huấn, dạy dỗ người đệ tử chúng ta. Sở dĩ, có nhiều pháp môn như vậy là để cho phù hợp với căn duyên của mỗi đệ tử chúng ta. Ví như mỗi loại thuốc để cho phù hợp với căn bệnh của mỗi bệnh nhân.
(hết trích)
30/10/20127:00 SA
An Truong
Khách
Kính thưa bác Hạ Đế
Cháu viết là với tâm như đất, vững bền, do vậy, không giận gì bác, dù bác la cháu là khủng hoảng, chưa biết tư duy. Vì cháu phải vâng lời Đức Phật dạy:
- Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân.(KINH TĂNG CHI BỘ - Anguttara Nikàya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt - II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - (I) (11) Sau Khi An Cư)
Con số 84.000 là từ Kinh Tăng Chi, do ngài Anana kể, do HT Thích Minh Châu dich, không phải là Kinh PG phát triển, sao bác lại bảo là khủng hoảng, là chưa biết tư duy? Thế còn câu này do HT Thích Minh Châu dịch:
"Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'" (Trung Bộ Kinh, Kinh Đại Bổn, 29, Thích Minh Châu dịch)
Kinh này do ngài An nan nói, do HT Thích Minh Châu dịch. Còn bí mật hơn con số 84.000 nhiều.
10/03/20118:00 SA
KHÔNG TÊN
Khách
GỬI BÁC CƯ SĨ NGUYÊN GIÁC . TÔI ĐỌC BÀI NÀY CỦA BÁC MÀ THẤY BUỒN LÒNG NHỚ LẠI MỘT CÂU MÀ KHÔNG BIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC ĐƯỢC Ở ĐÂU ĐÓ NÓ THẾ NÀY BÁC Ạ :SỐNG Ư CHẾT Ư TA KHÔNG NÓI .CÓ NGƯỜI HỎI TẠI SAO KHÔNG NÓI . TRẢ LỜI KHÔNG NÓI LÀ KHÔNG NÓI . TRÂN TRỌNG KÍNH CHÀO
03/11/20127:00 SA
Nguyen Giac
Khách
Kính thưa ngài Hạ Đế:
Bời vì ngài viết:
"...ngài Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Dalai Lama và nhiều vị khác… tôi không có ý bất kính với quý ngài đó, nhưng việc cần phải nói thẳng ra rằng các vị này chưa bao giờ thấy đạo bằng sự thực hành, mà chỉ nói đạo bằng sự học thuyết và luận tưởng, không thực tế, không giúp ích gì cho người Phật tử trên con đường giải thoát. Nếu nói thẳng hơn, các Ngài đang ra sức phá đạo Phật vì các ngài không hiểu đạo Phật..."
cho nên tôi xin phép im lặng, ngưng phản hồi nơi thread này. Bời vì thời này đang có nhiều người tự xưng là A La Hán, xưng là Vô Thượng Sư, xưng là đắc Tam Minh Tuệ để quán sát khắp vũ trụ... và tôi đều tránh né họ, kể cả học trò của họ. Tôi rất tiếc, khi đọc thấy những dòng chữ nói rằng các "ngài Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Dalai Lama... đang ra sức phá đạo Phật" và nghĩ rằng mình đành phải im lặng là hợp lẽ. Xin từ biệt. Nguyên Giác.
10/01/20118:00 SA
Nguyen Thanh Ut
Khách
Phan Tan Hai oi. Bai viet hay lam.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
12/01/2012(Xem: 38090)
18/01/2011(Xem: 65895)
19/01/2014(Xem: 4940)
18/01/2011(Xem: 43263)
facebookyoutubetwitter twitter
HỘI NHẬP / GHI DANH
obama-thein-sein
Sáng nay, hàng trăm vị giáo thọ sư Phật giáo phương Tây đã gửi một bức thư ngỏ đến Tổng thống Obama, yêu cầu ông hãy quan tâm đến người Hồi giáo Miến Điện.
chua-huong-sen
Chùa Hương Sen sẽ tổ chức truyền Năm Giới, Thập Thiện và Bồ Tát Giới nhân khóa tu Tam Bộ Nhất Bái vào Ngày Lễ Vía Đức Phật A Di Đà (nhằm ngày 17/11/âm lịch năm giáp Ngọ).