Các
Tỳ-kheo thực hành pháp an cư, là biểu hiện mẫu mực đời
sống ly dục, tịch tịnh của một vị A-la-hán. Đời sống
ấy được thực hành miên mật đầy đủ bốn chất liệu
thanh tịnh.
Ý
Nghĩa và Duyên khởi
Sau
khi thành đạo, từ duới gốc cây Bồ-đề, đức Thế Tôn
đến vườn Nai, chuyển vận bánh xe chính pháp Tứ thánh đế,
độ năm anh em Kiều-trần-như (1), từ đó Phật, Pháp và Tăng
hiện hữu đầy đủ cả hai mặt lý và sự trong thế gian,
làm chỗ nương tựa phước đức và trí tuệ cho hai thế giới
nhân và thiên, nhằm hướng đến đời sống giải thoát, giác
ngộ.
Giới
luật hành trì đầu tiên của Tăng đoàn, theo Luật Tứ Phần,
trong mười hai năm đầu chỉ bao gồm những lời dạy căn
bản như sau:
“Khéo
phòng hộ lời nói, tâm ý tự lắng trong, thân không làm điều
ác, ba nghiệp đạo này tịnh, thực hành được như thế,
là đạo đấng Đại Tiên”(2).
Và
sau mười hai năm, kể từ khi thành đạo, đức Thế Tôn mới
dạy nhiều về giới luật và pháp an cư cho Tăng đoàn. Ngài
dạy pháp an cư cho Tăng đoàn, vì những lý do như sau:
- Do
một số cư sĩ than phiền nhóm sáu Tỳ-kheo luôn luôn du hành
trong dân gian, bất luận mùa nào, giẫm đạp làm chết vô
số côn trùng.
- Họ
còn than phiền rằng, những du sĩ ngoại đạo, một năm còn
có những tháng ở yên một chỗ để tịnh tu. Ngay cả những
loài vật, chúng cũng còn có những mùa trú ẩn, huống nữa
Tăng sĩ dòng họ Thích, tại sao không có đời sống như vậy.
Do
duyên cớ trên, đức Phật quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo ấy.
Và Ngài chế định pháp an cư cho Tăng đoàn (3).
Song,
an cư của Tăng đoàn không phải chỉ để tránh giẫm đạp
sâu bọ hay cỏ non, khiến làm thương tổn lòng từ bi đối
với muôn vật hay vì tránh những gì than phiền của hàng cư
sĩ, mà còn có những ý nghĩa và mục đích sâu sắc hơn nữa,
đó là:
- Nhằm
trau dồi và nuôi lớn pháp Tam vô lậu học là giới, định,
tuệ, để xứng đáng là “Chúng Trung Tôn” của bậc Trí,
Đức hoàn toàn.
- Nhằm
biểu lộ tinh thần thanh tịnh, hòa hợp và đồng bộ của
Tăng đoàn. Và khi nào Tăng đoàn biểu lộ được tính chất
ấy, thì chính pháp của đức Thế Tôn do Tăng đoàn tuyên
dương mới có hiệu quả và chứng nghiệm hiện thực.
- Và
nhằm củng cố niềm tin cho hàng đệ tử tại gia của đức
Thế Tôn, đối với ngôi vị thế gian trú trì Tăng bảo.
- Và
an cư là pháp truyền thống để trau dồi giới-định-tuệ
của Tăng đoàn, đệ tử đức Thế Tôn trong ba đời.
Ý
nghĩa pháp an cư như vậy, không phải chỉ được thực hành
bởi Thanh Văn Tăng mà còn phải thực hành bởi Bồ-tát Tăng
nữa (4).
Thanh
Văn Tăng là Tăng chỉ thọ và hành trì theo Biệt giải thoát
luật nghi, nhằm phòng hộ và giải thoát theo từng đối tượng
cá biệt của các loại phiền não do duyên xúc và thọ, mà
ái, thủ, hữu sinh khởi hay do duyên vô minh và hành, mà phiền
não và các đối tượng của phiền não khởi sinh làm vẩn
đục đời sống giải thoát hay đời sống chính mạng vốn
thiết lập trên nền tảng của Tứ thánh chủng. Tứ thánh
chủng là pháp hành của vị Tỳ-kheo, pháp hành ấy đã được
đức Thế Tôn cụ thể hóa từ bản thể tịch diệt, thanh
tịnh của Niết bàn.
Bồ-tát
Tăng, là Tăng không những chỉ hành trì đầy đủ Biệt giải
thoát luật nghi như Thanh Văn Tăng, mà còn thọ và hành trì
Đại thừa Bồ-tát giới, tức là giới làm lợi ích cho hết
thảy muôn loài, lấy bồ-đề tâm làm bản thể và tác nhân,
lấy bồ-đề quả làm định hướng cho bồ-đề nguyện và
bồ-đề hạnh.
Bất
cứ xứ sở nào, các Tỳ- kheo cùng nhau tu tập, cùng nhau hòa
hợp để an cư, sống bằng đời sống hòa hợp và thanh tịnh,
thì xứ sở ấy, xem như Phật, Pháp, Tăng, có mặt đúng ý
nghĩa, làm chứng cứ cho niềm tin của chư Thiên và loài người
đối với chính pháp.
Nội
Dung Pháp An Cư
Các
Tỳ-kheo thực hành pháp an cư, là biểu hiện mẫu mực đời
sống ly dục, tịch tịnh của một vị A-la-hán. Đời sống
ấy được thực hành miên mật đầy đủ bốn chất liệu
thanh tịnh, gồm:
- Thanh
tịnh về biệt giải thoát luật nghi: Ấy là hành trì đầy
đủ đối với các học giới của một vị Tỳ-kheo mà pháp
và luật đã quy định, khiến cho ngay cả những học giới
quy định những điều nhỏ nhặt như trăm pháp chúng học,
cần phải thực hành bởi một Tỳ-kheo cũng không bị tỳ
vết, rạn nứt và sứt mẻ.
- Thanh
tịnh về các căn môn: Vị Tỳ-kheo có đầy đủ giới hạnh,
vị ấy luôn hành trì thanh tịnh đối với các quan năng nhận
thức, khiến cho các quan năng nhận thức luôn luôn ở trong
sự phòng hộ và thanh tịnh. Chẳng hạn, khi mắt tiếp xúc
với sắc, vị Tỳ-kheo có đầy đủ giới hạnh, gồm có niệm
và giác, khiến cho sắc không thể khuấy động tâm ý và tâm
ý không khởi lên các cảm thọ thèm khát và chiếm hữu.
Cho
đến tai nghe thanh trần, mũi ngửi hương trần, lưỡi nếm
vị trần, thân xúc với xúc trần và ý tiếp xúc với pháp
trần, đều luôn luôn có niệm và giác, khiến cho các trần
tướng ấy, không thể khuấy động tâm thức qua các quan năng
nhận thức, khiến tâm thức luôn được an trú ở trong sự
thanh tịnh.
- Thanh
tịnh về mạng: Thanh tịnh về mạng, chính là thanh tịnh về
sự nuôi dưỡng đời sống, tức là sống theo Bốn thánh chủng.
Thánh
chủng là dòng giống cao quý của các bậc thánh hay của những
bậc giác ngộ. Xã hội Ấn Độ bấy giờ có bốn giai cấp.
Giai cấp Bà-lamôn hay giáo sĩ là giai cấp nuôi dưỡng đời
sống bằng sự tế tự thần linh; giai cấp Vua chúa nuôi dưỡng
đời sống bằng những vũ khí quyền lực và chính trị; giai
cấp Phệ-xá hay thương gia, nuôi dưỡng đời sống bằng sản
xuất, buôn bán cạnh tranh trao đổi hàng hóa và giai cấp Thủ-
đà-la nuôi dưỡng đời sống bằng nghề làm thuê hay nô lệ.
Đời
sống của các đệ tử Thế Tôn, nuôi thân bằng một bình
bát, khất thực ngày một bữa đúng ngọ, ngủ nghỉ qua đêm
dưới gốc cây, nơi rừng vắng hay ở những hang động, che
thân bằng ba y phấn tảo, trị bệnh của thân bằng các dược
liệu của cỏ cây. Sống cuộc đời ít ham muốn, biết vừa
đủ để tinh cần đoạn trừ các dục lậu, hữu lậu và
vô minh lậu ở nơi tâm, và nuôi tâm bằng các pháp vô lậu,
nhằm hướng tới đời sống ly dục, tịch tịnh tối thắng
của Niết-bàn.
- Thanh
tịnh về niệm: Thanh tịnh về niệm là thanh tịnh về chính
niệm, tỉnh giác. Nghĩa là vị Tỳ-kheo, luôn luôn có chính
niệm, tỉnh giác trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi.
Khi bước tới hay bước lui, đứng lại, nằm hay ngồi, hoặc
mọi động tác co duỗi của thân thể, vị ấy đều có chính
niệm tỉnh giác đối với chúng.
Khi
ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc các cảm thọ,
các chủng tử tâm, hành, nội pháp và ngoại pháp hiện khởi
và ẩn tàng như thế nào, vị Tỳ-kheo đều biết rõ chúng
đang diễn ra như thế ấy. Và do thực tập niệm thanh tịnh,
khiến cho đời sống của một vị Tỳ-kheo đệ tử của Thế
Tôn luôn luôn ở trong sự thanh tịnh với đầy đủ ba ngàn
oai nghi, tám muôn tế hạnh, có khả năng đoạn trừ tất cả
những loại phiền não thô phù và tinh tế, làm dẫn sinh các
thánh quả giải thoát.
Vậy,
pháp an cư của Tăng là cơ hội tốt để cho các Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni, thực tập bốn sự thanh tịnh nầy một cách miên
mật ở trong chính niệm tỉnh giác hay ở trong thiền định.
Nói cách khác, an cư là để cho các Tỳ-kheo và các Tỳ- kheo-ni
an trú tại một trú xứ nhất định để thực hành vững
chãi đối với bốn sự thanh tịnh.
Nên,
kinh Chính pháp Niệm xứ nói rằng: “Vào thời kỳ an cư mùa
mưa, các Tỳ-kheo ngoại trừ việc đi đại tiện và tiểu
tiện, còn tất cả đều ngồi kiết già tại chỗ để tu
tập thiền định”(5).
Kỳ
Hạn Thọ Và Xả Pháp An Cư
Kỳ
hạn an cư của Tăng đoàn đệ tử Thế Tôn, ngày nay không
nhất định, vì tùy theo khí hậu và lịch biểu từng vùng.
Tăng đoàn các nước Phật giáo Nam phương như Tích Lan, Miến
Điện, Thái Lan, Lào, v.v… bắt đầu an cư vào ngày mười
sáu tháng sáu, theo lịch Trung Quốc. Và Tăng đoàn Phật giáo
các nước Bắc phương như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên,
Việt Nam,… bắt đầu an cư vào ngày mười sáu, tháng tư
theo lịch Trung Quốc.
Tăng
đoàn Phật giáo Bắc phương an cư vào thời gian trên là do
dựa vào bản kinh Vu Lan. Theo kinh này, thì ngày rằm tháng bảy
là ngày Tự tứ của Tăng.
Theo
Luật tạng của Thanh Văn Tăng, chỉ qui định mỗi năm vào
mùa hạ là mùa an cư của Tăng và chỉ có một ngày tự tứ
cho Tăng, sau khi đã an cư mà thôi và các Tỳ-kheo lấy tuổi
hạ làm tuổi của giới đức.
Có
hai hạn kỳ an cư, gọi là tiền an cư và hậu an cư. Tiền
an cư là an cư vào phần đầu của mùa hạ, tức là an cư
vào ngày mười sáu tháng tư, theo lịch Trung Quốc, cho Tăng
đoàn Bắc phương. An cư từ mười bảy tháng tư đến hết
mười sáu tháng năm theo lịch Trung Quốc gọi là thời kỳ
hậu an cư. Hậu an cư cũng có hai thời kỳ, gọi là trung an
cư và hậu an cư.
Trung
an cư bắt đầu từ ngày mười bảy tháng tư, đến hết ngày
mười lăm tháng năm. Hậu an cư là bắt đầu ngày mười sáu
tháng năm.
Thời
hạn tiền an cư theo truyền thống Tăng đoàn Bắc phương là
bắt đầu từ ngày mười sáu tháng tư và đến mười lăm
tháng bảy âm lịch là kết thúc.
Nếu
hậu an cư, kể từ mười bảy tháng tư thì đến ngày mười
sáu tháng bảy âm lịch là kết thúc. Và nếu an cư sau ngày
mười bảy tháng tư, thì sau đó phải tính đủ chín mươi
ngày để kết thúc pháp an cư(6).
Tác
Pháp An Cư
Các
chùa hay các tự viện của Tăng, phần nhiều đều có tác
pháp yết-ma kết cương giới của trú xứ, để thuận tiện
cho sự tu học và tiến hành các pháp thuộc về tăng sự của
trú xứ, thì khỏi phải tác pháp yết-ma để kết đại giới
của trú xứ an cư. Nếu trú xứ nào chưa có kết đại giới
của trú xứ, thì khi Tăng an cư phải tiến hành pháp yết
ma kết đại giới của trú xứ an cư, trước khi tiến hành
pháp an cư của Tăng.
Nếu
cương giới trú xứ trước đó đã kết quá nhỏ, nay lượng
Tỳ-kheo an cư của Tăng trong trú xứ quá lớn, cần nới rộng
cương giới của trú xứ cho thích hợp, thì Tăng phải tiến
hành tác pháp giải cương giới cũ, sau đó mới tiến hành
tác pháp kết lại cương giới mới rộng hơn. Sau khi nhắc
lại cương giới cũ của trú xứ hoặc tiến hành tác pháp
yết-ma kết cương giới mới của trú xứ, Tăng mới tiến
hành tác pháp an cư như sau:
Tăng
tiến hành tác pháp an cư có hai loại:
1.
Tác pháp an cư của hàng Thượng tọa
Tác
pháp hàng Thượng tọa không có y chỉ luật sư, vì hàng Thượng
tọa là bắt buộc phải thông hiểu luật và phải trì luật
để làm chỗ y chỉ cho các hàng trung tọa và hạ tọa.
Hàng
Thượng tọa tác pháp thọ an cư bằng đối thú. Nghĩa là
vị thượng tọa nầy đối diện với vị thượng tọa kia
hoặc quỳ, hoặc đứng để tác pháp thọ an cư.
Văn
tác bạch thọ an cư của hàng Thượng tọa như sau:
“Đại
đức nhất tâm niệm. Tôi Tỳ kheo,… nay y (tên của trú xứ
an cư) Tăng già-lam, an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu
phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ”(7) (Bạch ba lần).
2.
Tác pháp an cư của đại chúng
Tác
pháp thọ an cư của đại chúng là phải có vị luật sư cho
đại chúng y chỉ, để vị luật sư luôn nhắc nhở, hướng
dẫn cho những Tỳ-kheo ở trong đại chúng chưa thông suốt
luật, phải y luật hành trì đúng theo pháp an cư và xử trị
đối với các Tỳ-kheo an cư không như Thọ an cư đại chúng
theo thứ tự lớn nhỏ, Tỳ-kheo có tuổi hạ lớn nhất trong
đại chúng tác bạch thọ an cư trước, tuần tự cho đến
vị Tỳ-kheo hạ tọa sau cùng. Vị thọ an cư đảnh lễ Thượng
tọa y chỉ luật sư một lạy, rồi quỳ xuống tác bạch,
văn tác bạch như sau:
“Đại
đức nhất tâm niệm. Con Tỳ-kheo… nay y nơi (nói tên của
trú xứ) Tăng già-lam an cư ba tháng đầu của mùa hạ, nếu
phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ”.
Thượng
tọa nói: “Vậy, hãy cẩn thận chớ buông lung”.
Người
thọ, đáp: “Y giáo phụng hành”. Thượng tọa hỏi tiếp:
“Y vị nào làm luật sư?”. Người thọ đáp: “Y (nói hiệu
của vị luật sư y chỉ) làm luật sư”. Thượng tọa nói:
“Có điều gì nghi ngờ, nên đến hỏi”. Người thọ đáp:
“Kính
vâng”. Và lễ Thượng tọa ba lễ, lui về chỗ cũ, đợi
những vị khác thọ xong và cùng hồi hướng.
Trong
trường hợp có những trú xứ chỉ một Tỳ-kheo, không có
ai để y chỉ, Tỳ-kheo ấy được phép tác pháp tâm niệm
an cư. Vị ấy đến trước hình tượng của đức Phật hay
chính điện, kính Lễ như pháp và tác bạch như sau:
“Con
Tỳ-kheo,… nay y nơi (nói tên trú xứ) an cư ba tháng đầu
của mùa hạ” (bạch ba lần).
Cảm
Nhận Và Kế Thừa
Ở
trên trời và dưới đất hay bất cứ ở đâu trên thế gian
này, không thể có một ai trồng quýt mà lại thu được quả
cam. Cũng vậy, ở trên trời và dưới đất không một ai có
quyền cho ta hạnh phúc, khi mà ta đã gieo nhân bất thiện và
không một ai có quyền làm cho ta đau khổ, khi ta đã gieo xuống
mảnh đất tâm của ta những hạt giống lành của Bồ-đề
và đại nguyện. Hạnh phúc của ta thực sự chỉ có mặt,
khi thân ta hành thiện, miệng ta nói thiện và tâm ta luôn luôn
an trú ở trong điều thiện của Bồ- đề và đại nguyện
ấy.
Giới
luật, uy nghi và các pháp hành khác của Tăng như bố-tát,
an cư, tự tứ cũng vậy, chúng có tác dụng giúp cho các Tỳ-kheo
thực hành đời sống xuất gia và sinh khởi các thiện pháp
giải thoát cho họ. Trong Tăng đoàn có nhiều Tỳ-kheo thành
tựu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát là Tăng đoàn
vững mạnh, làm chỗ quy tín cho hàng cư sĩ tại gia và khiến
cho ma quân chuyển đổi tà tâm, khởi sinh chính tín đối với
Tăng.
Vì
vậy, ở trú xứ nào có các Tỳ-kheo bố-tát, an cư và tự
tứ đúng pháp, đúng luật, đúng thời, thì ở trú xứ đó
có Tăng bảo thường trú, nhằm khẳng định sự có mặt của
chính pháp một cách hiện thực, làm ngọn đuốc soi đường
cho thế gian trong đêm dài tăm tối. Nên, pháp an cư của Tăng
không phải mang một ý nghĩa hình thức, mà đó là một pháp
hành, chuyển tải một nội dung thanh tịnh và trong sáng, đầy
đủ các chất liệu của Giới, Định và Tuệ mà phận sự
của các Tỳ- kheo phải miên mật hành trì, để kế thừa
dòng mạch tâm linh cao cả của chính pháp, khiến cho dòng chảy
ấy không bao giờ bị đứt đoạn giữa thế gian này.
1.
Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân kinh, Tạp, tr 504, Đại Chính
2.
2.
Giới kinh của đức Phật Thích-ca, mười hai năm đầu, kể
từ khi thành đạo, theo Tứ Phần Luật, Đại Chính 22.
3.
Tứ Phần Luật 37, An cư kiền-độ, tr. 830b, Đại Chính
22. Pàli, A, A, ii 97.
4.
Phạm Võng Kinh, tr 1008a, Đại Chính 24.
5.
Dẫn theo Tứ Phần Luật San Phiền Bổ Khuyết Hành Sự Sao,
tr 58a, Đại Chính 40.
6.
Theo Luật Tứ Phần 58, có ba thời kỳ an cư: -Tiền an cư –
Trung an cư –
7.
Tứ Phần 37, tr 380, Đại Chính 22. pháp.
Thích
Thái Hòa
Tập
San Pháp Luân Số 51 tháng 5 năm Mậu Tý
06-26-2008
10:23:13