A.
Bề Lưng của bán đảo Ấn Trung:
Việt Nam là cái lưng của bán đảo
Ấn Trung, vị trí của bán đảo nầy nằm giữa Ấn Ðộ và
Trung Hoa. Vì địa thế nằm giữa hai nước lớn có nền văn
hóa cổ xưa nhất của nhân loại nên đương nhiên Việt Nam
có ảnh hưởng cả hai nền văn hóa đó, kể cả tôn giáo.
Từ
phương Bắc, Trung Quốc đã tràn xuống chiếm cứ đất đai
với âm mưu đồng hóa dân Việt, biến Việt Nam thành một
phần lãnh thổ của họ. Do đó dân Việt chiến đấu không
ngừng để sống còn và giữ gìn sự độc lập của mình,
thế nhưng không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại về ngôn
ngữ, văn hóa và tôn giáo ...
Từ
phía Tây, Ấn Ðộ trong cao trào bành trướng văn minh văn hóa,
tôn giáo của họ ra các nước chung quanh có tính cách ôn hòa,
hòa bình, vì lúc đầu chỉ là mục đích giao thương qua lại,
sau đó nhờ giáo lý cao sâu bất bạo động của Phật Giáo
đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, dễ dung hợp với
các nền văn hóa địa phương. Do đó người Ấn Ðộ đã
gây được ảnh hưởng rất sâu rộng ra các nước chung quanh.
Bằng chứng cho thấy rằng Phật Giáo có số tín đồ đông
nhất trên thế giới hiện nay.
Từ
trước đến nay có rất nhiều giả thuyết về thời điểm
và phương hướng của sự du nhập Phật Giáo vào Việt Nam.
Thông thường có nhiều sách sử cũ tin rằng Phật Giáo từ
Trung Hoa truyền vào Việt Nam. Ðiều đó không đúng.
Khởi
nguyên Phật Giáo Việt Nam phải nói là được thương nhân
theo đạo Phật và các Tăng sĩ người Ấn Ðộ trực tiếp
truyền vào Việt Nam.
Sau
đây xin được dẫn chứng các dữ kiện lịch sử, các tài
liệu để minh chứng những tuyến đường và thời điểm
du nhập của Phật Giáo từ Ấn Ðộ vào Việt Nam.
B.
Phương cách và các tuyến đường du nhập
Sau
khi bình phục được toàn cõi Ấn Ðộ, vua A-Dục (Asoka) lên
ngôi năm 273 trước Tây lịch làm vua được 37 năm. Ông là
một Phật tử rất thuần thành trị nước an dân bằng tinh
thần Bi Trí Dũng của Phật Giáo. Ấn Ðộ dưới thời ông
trị vì rất thái bình thịnh vượng. Ông rất hăng say trong
việc chấn hưng Phật Giáo nên đã cho dựng trên 84.000 tháp
thờ Phật trên toàn cõi Ấn Ðộ. Ðồng thời nhà vua cũng
cho dựng vô số những trụ đá tại những nơi di tích của
Ðức Phật như tại vườn Lâm Tỳ Ni nay nằm trong địa phận
nước Nepal nơi Ðức Phật Ðản Sanh, tại Bồ Ðề Ðạo Tràng
nơi Ðức Phật thành đạo, tại Lộc Uyển nơi Ðức Phật
thuyết pháp lần đầu tiên, tại rừng Ta La Song Thọ nơi Ðức
Phật nhâp Niết Bàn ...
Nhờ
những trụ đá A-Dục các nhà khảo cổ mới xác định được
một cách rõ ràng các thánh tích của Ðức Phật. Ngoài ra
các nhà khảo cổ còn tìm được 35 di tích ngự chỉ có đánh
số của vua A Dục dặn dò con cháu mai sau phải tiếp tục
phụng thờ Ðức Phật và phát huy truyền bá Phật Pháp. Trong
số đó có ngự chỉ số 4 tìm được tại núi Kandahar ngày
nay thuộc địa phận Afghanistan có ghi những lời dạy của
nhà vua là phải tổ chức đại lễ Phật Ðản hằng năm cho
trọng thể và truyền bá lời dạy của Ðức Phật đến mọi
người... Ngự chỉ số 6 được tìm thấy tại núi Gimar miền
tây Ấn Ðộ có ghi rõ hơn lời dặn về việc phụng thờ
Ðức Phật bằng cách tổ chức rước tượng Ðức Phật và
di tích trọng thể trong ngày đản sanh...
Sử
Tích Lan (Sri-Lanka) Mahavamsa có ghi rằng vua A Dục (Asoka) cho
Hoàng tử Mahinda qua Tích Lan để truyền bá Ðạo Phật và
kể từ đó về sau mỗi năm đại lễ Phật Ðản được tổ
chức trọng thể. Mặc dầu Tích Lan đã bị Anh xâm lăng và
bị áp lực của hội truyền giáo Thiên Chúa Tây phương bỏ
ngày lễ Vesak từ năm 1815 nhưng Phật tử Tích Lan đã tranh
đấu và đã đòi lại được ngày nghỉ lễ Phật Ðản từ
ngày 17.4.1885. Kể từ đó Ðạo Phật rất hưng thịnh tại
đảo quốc nầy.
Từ
phong trào chấn hưng Phật Giáo dưới thời vua A Dục, Phật
Giáo có đầy đủ năng lực, nhiều nhân tài trí thức kể
cả Phật tử tại gia và nhiều trí thức lỗi lạc thuộc
hàng tăng lữ nên đã là thuận duyên cho việc truyền bá đạo
Phật ra nước ngoài.
Nói
tiếp từ thời A Dục, theo nhiều sử liệu được kiểm chứng
cho thấy rằng vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên tại
Ấn Ðộ có tư trào Phật Giáo Ðại Thừa rất phóng khoáng,
rất năng động, rất hăng say hoạt động truyền giáo trong
nước và truyền sang nước ngoài nhất là theo đường biển
truyền sang các nước chung quanh.
Sự
truyền bá Ðạo Phật từ Ấn Ðộ cùng trong tư trào truyền
bá văn minh Ấn ra các nước chung quanh. Trong thập hùng ca Ramayana
của Ấn Ðộ có nói đến tên các xứ như Sumatra, xứ của
vàng (Suvanna Bhumi), Java ...
Theo
các tư liệu của W. Cohn trong Buddhha in der Kunst des Ostens, Leipzig
1925; F.M. Schnitger trong The Archaellogy of Hindoo Sumatra, Leyde 1937
và G. Ferrand trong tạp chí Journal Asiatique Juillet - Aout 1919 ...
Người ta đã tìm thấy các dòng chữ Sanskrit của Mulavarman
tại các vùng Kutei ở Borneo và các bia đá khắc chữ Sanskrit
của Purnavarman ở Tây Java. Các tượng Phật thuộc trường
phái Amaravati được tìm thấy ở Sampaga (Célèbes) phía nam
tỉnh Giember (Ðông Java) trên đồi Se Guntang ở Pelembang (Sumatra)
là xưa nhất có thể là trước công nguyên. Do đó người
ta đã kết luận rằng những bước đầu văn minh và tôn giáo
từ Ấn Ðộ đã truyền qua Indonesia phải xảy ra trước công
nguyên. Do đó hệ luận đương nhiên là nền văn minh và tôn
giáo từ Ấn Ðộ xuôi buồm đến Giáo Châu cũng cùng thời
điểm và cùng đi theo đường biển lên phương Bắc.
Văn
minh và tôn giáo từ Ấn Ðộ cũng đã truyền qua Mã Lai tại
các vùng như Perak, Xêlebơ ..., qua Thái Lan, Campuchia, Miến Ðiện
... Tại Campuchia các nhà khảo cổ đã tìm thấy được 4 bia
đá có khắc chữ Sanskrit.
Theo
V. Rougier trong sách Nouvelles Découvertes Chames au Quang Nam, Befeo
XI, đã viết rằng các nhà khảo cổ đã tìm thấy tượng
Phật Ðông Dương một trong những tác phẩm điêu khắc đẹp
nhất thuộc trường phái Amaravati Ấn Ðộ. Ðiều nầy cho
thấy chính người Ấn Ðộ đã truyền đạo Phật thẳng vào
Việt Nam chứ không phải từ Trung Hoa truyền vào.
Theo
H.G. Quaritch Wales trong A. Newly Explored Route of Ancient Indian Cultural
Expansion Indian Art and Letters, các nhà truyền giáo và thương
nhân người Ấn còn dùng những con đường vừa thủy vừa
bộ từ nam Ấn thay vì phải qua eo biển Malacca về phía nam
xa xôi họ đã qua eo đất Kra và bán đảo Mã Lai, họ có thể
vượt mấy tiếng đồng hồ đường bộ là có thể từ biển
Ấn Ðộ để vào biển Mã Lai. Họ dùng thủy đạo giữa Andaman
và Nicobar, hoặc dùng thủy đạo giữa Nicobar và Achin để
đến Kedah, tại những địa điểm nầy các nhà khảo cổ
đã tìm thấy nhiều đồ vật cổ của nền văn minh Ấn Ðộ.
Họ tiếp tục đường bộ nầy đến Thái Lan, Campuchia và
vào Viêt Nam.
Ðồng
thời những người Ấn phát xuất từ Trung Ấn còn dùng tuyến
đường bộ quang qua đèo Hasse Des Trois Pagodes, theo sông Kanburi
xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất
Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và đến Luy Lâu của Giao Châu.
Trên tuyến đường nầy các nhà khảo cổ cũng đã tìm được
các cổ vật của nền văn minh Ấn Ðộ và di tích Phật Giáo.
Về
Thiền Tông nếu phân tích các văn thơ thiền sớm nhất tại
Việt Nam như các dòng thiền thuộc hệ Tỳ Ni Ða Lưu Chi (Vinitaruci,
năm sanh không rõ như Sư mất năm 594, Sư người miền nam Ấn
Ðộ, qua Việt Nam truyền bá thiền tông. Thiền sư hành đạo
tại chùa Pháp Vân thường gọi là chùa Dâu tại Luy Lâu hiện
nay vẫn còn tại xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh
Hà Bắc. Ðây là một trong những ngôi chùa được thành lập
sớm nhất tại trung tâm Phật Giáo Luy Lâu) và dòng thiền
Vô Ngôn Thông (năm sanh không rõ chỉ biết Thiền sư mất năm
826) chẳng hạn ta thấy rõ ràng là trực tiếp ảnh hưởng
tư tưởng Bát Nhã từ Ấn Ðộ.
Trong
sách Thuyền Uyển Tập Anh, có ghi đoạn văn Thiền sư Tỳ
Ni Ða Lưu Chi gọi đệ tử Pháp Hiền bảo rằng:
"Ðại
phàm tâm ấn của chư Phật không lừa dối ta. Tâm ấn tràn
đầy như thái hư, không thiếu, không thừa, không đi, không
tới, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng
thường chẳng đoạ; vốn không ở chỗ sinh, cũng không ở
chỗ diệt, không lìa xa mà cũng chẳng không lìa xa vì phải
đối lập các nhân duyên hư vọng mà phải đặt giả ra các
tên như vậy. Cho nên chư Phật ba đời đều do đó mà đắc
pháp, Tổ các đời cũng do đó mà đắc pháp, ta cũng do đó
mà đắc pháp, ngươi cũng do đó mà đắc pháp. Ðến như những
loài hữu tình hay vô tình cũng do đó mà đắc pháp".
Ðó
là tư tưởng Bát Nhã, nếu ai đã từng nghiên cứu kinh Bát
Nhã đều rõ, như đối chiếu với Bát Nhã Tâm Kinh ta cũng
hiểu được điều đó.
Theo
K. Mukerji trong sách Indian Literature in China and the Far East, ở
Trung Hoa phải đợi đến đầu thế kỷ thứ V, Cưu Ma La Thập
(Kumarajiva) đến Trung Hoa dịch kinh Bát Nhã và sau đó mới
có ảnh hưởng sâu rộng của bộ kinh nầy. Trong khi đó bộ
Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasahasrika) do Khương Tăng Hội dịch
tại Giao Châu vào đầu thế kỷ III được các nhà Phật học
đánh giá là bộ kinh từ Ấn Ðộ xuất hiện xưa nhất trong
toàn bộ văn hệ Bát Nhã. Trong khi đó kinh Bát Nhã Damasahasrika
do Lokasema dịch tại Trung Quốc cuối đời nhà Hán là bộ
kinh xuất hiện chậm hơn nhiều, có thể nói là vào thời
kỳ thứ hai của văn hệ Bát Nhã tại Ấn Ðộ (tham khảo
Jaidava Singh trong sách An Introduction to Hadhyamaka (Trung luận)
Philosophy).
Ðiều
nầy cho thấy bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã do Khương Tăng Hội
dịch ra chữ Hán là do các Tăng sĩ từ Ấn Ðộ trực tiếp
đưa sang Giao Chỉ vào thời điểm sớm hơn lúc dịch kinh rất
nhiều. Vì để có đủ trình độ ngôn ngữ và kiến thức
về Bát Nhã để có thể dịch kinh được, chắc chắn tại
Giao Chỉ phải có các viện nghiên cứu và giảng dạy Phật
Pháp nhất là về kinh Bát Nhã và dạy tiếng Pali, Sanskrit do
các Tăng sĩ người Ấn giảng dạy.
Có
nhiều lối giải thích về nguyên nhân của sự truyền bá
văn minh và tôn giáo từ Ấn Ðộ ra các nước chung quanh trong
đó từ việc di dân từ Ấn Ðộ ra nước ngoài cũng là những
nguyên nhân quan trọng.
Vào
những năm đầu công nguyên có các cuộc xâm lăng của người
Kushans cũng có thể là nguyên nhân gây ra những đợt di tản
người Ấn ra nước ngoài. Những người Ấn ra nước ngoài
đã truyền bá tôn giáo và văn minh của họ cho dân địa phương
trên quê hương mới đó là lẽ đương nhiên và nó đã trở
thành như vết dầu loang dần dần rộng ra khắp các vùng lân
cận.
Thế
nhưng theo G. Coedes tác giả sách Histoire Ancienne Des États Hindouisée
d'Extrême Orient, 1944, thì nguyên nhân sâu xa của sự bành trướng
nền văn minh và tôn giáo của Ấn Ðộ trước công nguyên
là kinh tế, thương mại, sự giao dịch giữa Viễn Ðông và
Ðịa Trung Hải. Kế đến là sự đông tiến của Alexandre,
sự thành lập triều đại Maurya, sau đó là triều đại Kaniskha
ở Ấn Ðộ... Nhất là đế quốc La Mã ở phương Tây đã
kích thích mạnh mẽ nền goại thương Ấn Ðộ (tham khảo
E.H. Warminton trong sách The Commerce Between The Roman Empire and India,
Cambridge 1928). Những món hàng giao thương chính yếu là tiêu,
quế, gỗ trầm hương và vàng...
Từ
những thế kỷ trước công nguyên Ấn Ðộ vẫn mua được
vàng ở Xibêri đi bằng con đường xuyên qua Bactriane nhưng
từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên vì các đợt di dân
lớn ở Trung Á đã làm chướng ngại con đường chuyên chở
đó. Sau đó họ chuyển hướng nhập vàng từ La Mã thế nhưng
chẳng bao lâu La Mã không bán vàng ra nước ngoài nữa nên
Ấn Ðộ mới chuyển qua các nước phía Ðông và lên tận
Giao Châu để mua những tiêu, quế, gỗ trầm hương, vàng bạc
và các loại ngọc thạch. (Tham khảo sách Roman coins found in
India của R. Sewell, 1904).
Vì
địa thế của Việt Nam nằm trên trục giao thông từ Nam Á
lên Bắc Á và gần như nằm giữa các nước Ðông Nam Á nên
các tàu buôn Ấn Ðộ theo gió Tây Nam lên trước khi đến
Trung Quốc họ phải ghé qua Giao Châu như trạm dừng chân để
nghỉ ngơi cũng như học Hán văn và làm quen với phong tục
của Việt Nam và Trung Hoa trước khi đi sâu vào lục địa
Trung Quốc.
Ðể
có đủ những thương phẩm kể trên cung ứng cho thị trường
rộng lớn ấy, các thương gia Ấn phải theo gió mùa Tây Nam
dong thuyền đến các nước như Mã Lai, Indonesia, Việt Nam...
Chuyến về họ phải đợi năm sau mới có gió mùa Ðông Bắc
để xuôi buồm về Ấn Ðộ.
Những
thương gia Ấn Ðộ cố nhiên họ không phải là những Tu sĩ
Phật Giáo nhưng vì đường đi quá xa và lênh đênh trên biển
cả lâu ngày nên họ thường thờ và cầu nguyện Ðức Quán
Thế Âm (Avalokitedvara) Bồ Tát và Ðức Phật Nhiên Ðăng (Dipankara)
để cầu che chở cho tai qua nạn khỏi trên biển cả. Những
người Ấn Ðộ rất tin tưởng vào Ðức Phật Nhiên Ðăng
che chở cho họ khi họ chí thành niệm danh hiệu của Ngài
(Tham khảo A. Fouchet trong sách Iconographie Bouddhique)
Phẩm
Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa có những câu như sau: Trì niệm
danh hiệu Quan Âm Ðại Sĩ thì vào lửa dữ, lửa ấy không
đốt được, và đó là thần lực của vị Ðại Sĩ nầy.
Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà trì niệm danh hiệu Quan
Âm Ðại Sĩ, thì tức khắc được vào chỗ nước cạn. Trăm
ngàn vạn ức người, vì kiếm bạc, vàng, lưu ly, xa cừ, mã
não, san hô, hổ phách, trân châu, và những thứ quí báu khác...,
phải ra biển cả; giả sử bị trận gió lớn trong bầu trời
u ám thổi bạt thuyền tàu sa vào đảo quốc la sát, trong những
người ấy đến nỗi chỉ có một người trì niệm danh hiệu
Quan Âm Ðại Sĩ, những người ấy cũng vẫn thoát được
cái họa la sát. Vì những lý do như vậy mà vị Ðại Sĩ nầy
có danh hiệu là Quán Thế Âm".
Bởi
lẽ những thương thuyền Ấn Ðộ luôn luôn đem những tượng
Phật và Bồ Tát theo họ để thờ phụng nên khi họ đến
Giao Châu lưu lại để chờ đến năm sau xuôi theo gió Ðông
Bắc trở về, trong khoảng thời gian dài hăng năm đó họ
đã gây ảnh hưởng một cách tự nhiên đến dân bản xứ
Giao Châu. Ngoài ra còn có một số người đã định cư ở
lại Giao Châu làm ăn lấy vợ lấy chồng. Những người Ấn
đó đã là những hạt nhân truyền bá Phật Giáo tại Giao
Châu trong thời kỳ phôi thai ban đầu.
Ngoài
ra cũng vì lý do cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi trên biển
nước mênh mông đầy sóng to gió lớn nguy hiểm như vậy nên
những thương gia người Ấn thường mời một vài vị tu sĩ
Phật Giáo cùng đi trên thuyền với họ để cầu nguyện.
Chính những vị tu sĩ Phật Giáo nầy đã lưu lại Giao Châu
và do những sinh hoạt tín ngưỡng của họ đã dần dần ảnh
hưởng một cách tự nhiên đến dân địa phương mà họ có
dịp tiếp xúc. Như thế là Phật Giáo đã được thâm nhập
vào dân Việt Nam một cách rất ôn hòa và được đón nhận
đầy thiện cảm của dân địa phương. Do đó mà Phật Giáo
đã phát triển nhanh chóng và được lan dần ra các địa phương
khác của Giao Châu lúc bấy giờ. Nhờ những thuận duyên như
vậy nên trung tâm Phật Giáo Luy Lâu được hình thành tại
Giao Châu rất sớm.
Sau
đó Phật Giáo từ Luy Lâu được truyền sang Trung Quốc, từ
Trung Quốc truyền qua bán đảo Triều Tiên và từ bán đảo
nầy truyền qua nhật Bản. (Tham khảo sách Trung Quốc Phật
Giáo Thông Sử của nhà sử học Nhật Bản Kamata, Tokyo 1981).
C.
Thời gian và sự hiện hữu của Phật Giáo tại Việt Nam
Hai
thế kỷ trước công nguyên các trung tâm Phật Giáo tại miền
duyên hải Ðông Nam Ấn Ðộ như Amaravati và Nagarjunakonda...
đã trở thành những trung tâm Phật Giáo Ðại Thừa rất hưng
thịnh. Chính từ phong trào Phật Giáo Ðại Thừa hưng thịnh
tại Ấn Ðộ các vị Tăng sĩ đã lên các thương thuyền qua
truyền đạo Phật và do đó trung tâm Phật Giáo Luy Lâu tại
Giao Chỉ (Việt Nam thời bấy giờ) được thành lập. Hiện
nay tại Luy Lâu còn những di tích lịch sử trong đó chùa Dâu
còn gọi là chùa Pháp Vân, nơi mà sau nầy vào khoảng năm
580 Thiền sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi (người Ấn Ðộ) đã hành đạo
tại đây.
Phật
Giáo từ Ấn Ðộ được truyền trực tiếp qua Việt Nam trước
rồi sau đó mới truyền qua Trung Quốc chứ không phải Phật
Giáo từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam như những sách cũ
đã ghi (Theo sách "Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển I, của
Nguyễn Lang, 1994).
Theo
sử gia Nhật Bản, ông Kamata, trong sách Trung Quốc Phật Giáo
Thông Sử, xuất bản tại đại học Ðông Kinh năm 1981, đã
nhiều lần xác nhận rằng Phật Giáo đã du nhập vào Trung
Quốc từ Việt Nam, có đoạn ông gọi là Việt Nam, có đoạn
gọi là Giao Chỉ. Ðề cập đến Phật Giáo Giao Chỉ tức
là đề cập đến trung tâm Phật Giáo tại Luy Lâu.
Do
đâu mà có từ Luy Lâu ? Tiếng Việt gọi là Dâu, tiếng Hán
phiên âm ra Luy Lâu còn gọi là Liên Lâu, nằm ở trung tâm
đồng bằng sông Hồng nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Hà
Bắc, Bắc Việt.
Ngày
xưa Việt Nam có 3 thị trấn cổ là Luy Lâu, Long Biên và Cổ
Loa. Riêng Luy Lâu nằm trên bờ sông Dâu cách sông Ðuống 5
cây số về phía Bắc. Dân Luy Lâu có nghề trồng dâu nuôi
tằm và dệt lụa rất nổi tiếng.
Về
địa thế, có nhiều đường thủy bộ chạy ngang qua Luy Lâu
khiến nơi đây thành một trung tâm giao dịch rất quan trọng.
Có những đường bộ như con đường đi Phả Lại, Ðông Triều
đến biên giới Việt Trung (nay là đường số 18). Ðường
thủy từ Dâu nối sông Ðuống, sông Hồng ra biển, hoặc nối
với sông Lục Ðầu, sông Thái Bình rồi ra biển.
Vì
địa thế thuận lợi cho việc giao thông như thế nên Dâu
là trung tâm thương mại rất sầm uất đương thời. Các thương
gia Ấn Ðộ và Trung Quốc đều đổ về đây để mua bán
các nông sản, lâm sản, vải vóc và các hàng công kỹ nghệ
khác rất thạnh hành. Họ mua hàng tại đây để đem về nước
hoặc trên đường buôn bán tiếp tục qua các nước khác trong
vùng.
Luy
Lâu còn là trung tâm chính trị, là thủ phủ của Giao Châu
qua nhiều thời đại của chính quyền đô hộ từ phương
Bắc. Thủ phủ nầy có thể được xây dựng từ thời Triệu
Ðà, 179 năm trước công nguyên. Sau khi nhà Hán chiếm được
Nam Việt của Triệu Ðà, họ vẫn giữ nguyên Luy Lâu làm trị
sở của Giao Chỉ. Trong sách biên niên của nhà Hán ghi 10 huyện
của quận Giao Chỉ trong đó Luy Lâu là đứng đầu.
Nhờ
vào vị thế như vậy nên chẳng những các thương nhân mà
các vị Tu sĩ Phật Giáo Ấn Ðộ cũng đến đây để truyền
bá Phật Giáo, học chữ Hán và dịch kinh điển từ tiếng
Phạn ra Hán văn trước rồi mới tiếp tục công việc công
việc truyền bá dễ dàng hơn để đi sâu vào lục địa Trung
Quốc.
Từ
Luy Lâu Phật Giáo được lan truyền ra khắp vùng đồng bằng
sông Hồng, và khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc bấy giờ.
Phật Giáo đã tạo cho Luy Lâu một phong tục tốt đẹp, một
hình ảnh thân thương mà dân chúng nơi nầy rất tự hào không
bao giờ quên qua những câu ca dao như sau :
"Dù
ai buôn bán trăm nghề
Nhớ
ngày mùng tám thì về hội Dâu"
hay
là
"Dù
ai đi đâu về đâu
Hễ
trông thấy tháp Dâu thì về"
Như
thế là Phật Giáo Luy Lâu đã gắn liền với tín ngưỡng
dân gian, được dân gian hóa và phong tục hóa. Nó thể hiện
tâm lý dân gian, thế giới quan và lòng mong ước, tính hiền
hòa của dân quê vùng Dâu và cả vùng đồng bằng Bắc Việt
cho mãi đến ngày nay vẫn giữ được nét đặc thù của Phật
Giáo dân gian.
Ngược
về quá khứ lúc bấy giờ tại Ấn Ðộ nhằm thời kỳ vua
A Dục (Asoka lên ngôi vào năm 273 trước Tây lịch và làm vua
được 37 năm, theo Phật Giáo Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn)
bình phục được toàn cõi Ấn Ðộ, đóng đô tại Pâliputra,
Ngài mời hàng ngàn vị Thánh Tăng để lo việc kết tập Kinh
Luật Luận và cử nhiều phái đoàn ra nước ngoài truyền
đạo đến các nước phương Tây, phương Ðông cũng như vùng
Ðông Nam Á.
Sử
liệu Miến Ðiện có chép rằng, một phái đoàn do hai Cao Tăng
Uttara và Sona đã đến Miến Ðiện để truyền bá Ðạo Phật.
Sử liệu Phật Giáo Thái Lan cũng có ghi hai Cao Tăng nói trên
cũng đã qua Thái Lan để truyền bá Ðạo Phật. Thế nhưng
hai Cao Tăng đó tiếp tục hành trình đến Việt Nam và Trung
Quốc hay không, không thấy sử liệu nào ghi lại.
Theo
sử liệu Trung Hoa có ghi rằng ở Giao Châu tại thành Nê Lê
(chính là Ðồ Sơn hiện nay) có bảo tháp của vua A Dục. Ðiều
đó có thể nói lên rằng Phật Giáo được truyền trực tiếp
từ Ấn Ðộ qua Việt Nam rất sớm có thể vào thời vua A
Dục bên Ấn Ðộ.
Chúng
ta vẫn biết rằng từ Bắc Ấn Ðộ có những đường bộ
có thể qua Trung Quốc nhưng đến Lạc Dương, Bành Thành và
các thành phố khác của Trung Quốc rất xa xôi, đường đi
qua núi non hiểm trở đầy thú dữ và tiếp đến phải qua
những sa mạc mênh mông, mùa hè rất nóng bức và mùa đông
thì băng giá cực lạnh, rất nguy hiểm về nhiều mặt không
tiện lợi cho việc giao thương. Hơn nữa lúc bấy giờ đi
đường bộ chỉ có thể dùng ngựa, do đó việc chuyên chở
hàng hóa không thuận tiện. Bởi những lý do đó mà đường
bộ không được các thương nhân và các Tu sĩ Phật Giáo sử
dụng.
Theo
George Coedes trong sách "Histoire ancienne des états hindouisés d'Extrême
Orient" viết rằng: Hầu hết các vùng ở Ấn Ðộ đều tham
gia vào việc truyền bá nền văn minh Ấn Ðộ ra ngoài lục
địa Ấn, nhưng phần tham gia lớn nhất thuộc về vùng Nam
Ấn.
Khi
nhìn vào bản đồ thế giới, ta thấy rằng sự truyền bá
trên phải đi bằng đường biển mới có thể đến Việt
Nam và các nước trong vùng Ðông Nam Á được.
Giáo
sư Louis De La Vallée Puossin trong sách "Dynasties et histoire de l'Inde"
viết rằng: Tất cả các hải cảng vùng Ðông Ấn đều có
tham gia vào sự nghiệp chung truyền bá nền văn minh Ấn Ðộ
ra các nước ngoài, nhưng các hải cảng Nam Ấn cống hiến
nhiều nhất cho sự nghiệp đó.
Cả
hai sử liệu trên đều cho ta thấy rằng sự truyền bá nền
văn minh Ấn Ðộ, đương nhiên là trong đó có cả Phật Giáo,
ra các nước lân cận phải là đường biển, có nghĩa là
Phật Giáo phải được truyền vào Việt Nam trước rồi mới
vào Trung Quốc sau.
Vào
thế kỷ thứ V có Pháp Hiển và vào cuối thế kỷ thứ VII
có Nghĩa Tịnh của Trung Quốc đều lên thuyền tại Tamralipti
cũng gọi là Tamluk, cửa sông Hằng để trở về Trung Hoa.
Như vậy không phải những thế kỷ trước kỷ nguyên mà mãi
về sau đến thế kỷ thứ VII đường biển vẫn là phương
tiện giao thông thuận lợi nhất từ Ấn Ðộ đi Ðông Nam
Á và lên đến Trung Quốc.
Những
điều kể trên nói lên rằng sự truyền bá nền văn minh Ấn
trong đó có cả Phật Giáo được truyền ra các nước lân
cận bằng đường biển thuận lợi hơn là đường bộ. Như
vậy càng làm rõ nét hơn sự truyền bá Phật Giáo từ Ấn
Ðộ qua Việt Nam lúc bấy giờ bằng đường biển và như
thế hệ luận đương nhiên là sớm hơn qua Trung Quốc rất
nhiều năm.
Trong
sách "Lĩnh Nam Chích Quái" có câu chuyện Ðồng Tử và Tiên
Dung như sau:
"Ðồng
Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán, giao thiệp với nhiều
nhà buôn nước ngoài. Một hôm Ðồng Tử theo một khách buôn
ngoại quốc đi bằng thuyền ra khỏi xứ. Họ ghé lại một
hòn núi tên là Quỳnh Viên để lấy nước ngọt. Dưới núi
Quỳnh Viên, Ðồng Tử gặp một nhà sư Ấn Ðộ ở trong một
túp lều. Nhà sư giảng cho Ðồng Tử nghe, Ðồng Tử phát
tâm ở lại đảo để học đạo, giao vàng cho bạn để bạn
đi buôn dùm mình, hẹn khi về thì ghé lại đón cùng về.
Khi về, Ðồng Tử được nhà sư cho một cây gậy và một
nón lá, bảo rằng với những vật nầy có thể làm phép lạ.
Sau khi về nước, Ðồng Tử giảng Phật Pháp cho Tiên Dung
nghe, cả hai đều được giác ngộ, bỏ chuyện buôn bán, tìm
thầy học đạo...".
Trong
câu chuyện trên thấy nói đến khách buôn nước ngoài đó
là những người Ấn Ðộ. Ðồng thời việc Ðồng Tử và
Tiên Dung bỏ nghề buôn bán để tầm thầy học đạo cho thấy
đạo Phật rất được dân chúng mến mộ. Câu chuyện càng
làm sáng tỏ thêm Phật Giáo được truyền bá vào Việt Nam
trực tiếp từ Ấn Ðộ, và do chính các Tu sĩ người Ấn
truyền vào.
Trong
sách "Ngô Chí" có chép bức thư của Viên Huy gửi cho thượng
thư lệnh Tuân Húc năm 207, trong đó có đoạn khen Sĩ Nhiếp
giữ gìn quận Giao Châu được thái bình an ổn hơn 20 năm,
và có đoạn viết: "Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi
đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người
Hồ đi sát bánh xe đốt hương thường có mấy mươi người...".
Người
Hồ tức là các vị sứ người Ấn Ðộ, bấy giờ đã có
nhiều ở Giao Châu. Vì Sĩ Nhiếp rất sùng kính đạo Phật
nên trong những lễ lạc đều có các sị sư bản xứ và sư
người Ấn Ðộ tham dự.
Theo
Trần Văn Giáp,. tác giả sách "Le Bouddhism En Annam Des Origines
Au XIIIè Siècle" có đề cập đến Mâu Tử là người Trung
Hoa trước theo Lão Giáo, sau đó nhập tịch Giao Châu, theo đạo
Phật và học giáo lý Phật Giáo tại Giao Châu. Sau đó ông
viết sách "Lý Hoặc Luận" (những luận lý để làm tiêu tan
các mối nghi hoặc về Phật Giáo), là sách về Phật Giáo
sớm nhất tại Việt Nam bằng Hán văn. Ðiều đó nói lên
rằng Ðạo Phật đã phát triển phổ biến lắm từ nhiều
thế kỷ trước đó nghĩa là từ thế kỷ trước công nguyên.
Nếu không như thế tại sao Mâu Tử lại học Phật tại Giao
Châu mà không học Phật Giáo tại nội địa Trung Hoa, có nghĩa
là Phật Giáo tại Trung Quốc lúc bấy giờ chưa được phổ
cập đến mọi nơi hay vừa mới được du nhập vào lục địa
nầy chưa lâu nên chưa phát triển bằng đất Giao Châu, mặc
dù vẫn biết rằng lúc bấy giờ tại Trung Quốc có nội loạn
nhưng không vì thế mà hoàn toàn không thể nghiên cứu Phật
Pháp được.
Trong
sách "Lý Hoặc Luận" của Mâu Tử được viết vào thế kỷ
thứ II Tây lịch tại Giao Châu có nói nhiều về Tăng Ni tại
Giao Châu trong đó có cả Tăng sĩ bản xứ và Tăng sĩ nước
ngoài và những tệ trạng trong giới Tăng Ni như sau: "Sa Môn
ngày nay có kẻ lại thích uống rượu ngon, có khi có vợ con,
biết cất giữ tiền bạc, của quí...".
Trong
đoạn văn trên cho ta những nhận xét như sau: Trước tiên
là từ "Sa Môn". Theo thứ bậc của Tăng Ni Phật Giáo khi xuất
gia thọ 10 giới gọi là Sa Di. Sau nhiều năm tu học có công
hạnh, rành rõi về Kinh Luật Luận Phật Giáo và phải trên
20 tuổi mới có thể thọ 250 giới để trở thành Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni phải thọ 348 giới. Sau khi thọ Tỳ Kheo hay Tỳ
Kheo Ni, mỗi năm phải nhập hạ và liên tục tu học mấy mươi
năm sau và phải có đức hạnh tốt, gương mẫu và thường
là trên 50 tuổi Giáo Hội mới suy tôn lên hàng Thượng Tọa.
Quí Thượng Tọa tiếp tục đạo nghiệp, có đức độ gương
mẫu được mọi người kính nể và thường là trên 60 tuổi
mới được Giáo Hội lập ra giới đàn truyền giới để
suy tôn lên hàng Hòa Thượng và cao hơn nữa là Ðại Lão Hòa
Thượng. Thường thì những Thượng Tọa cao tuổi hoặc Hòa
Thượng trở lên mới được gọi là Sa Môn. Thế nhưng không
phải đạo Phật truyền bá vào Việt Nam một sớm một chiều
trong vòng một thế kỷ có thể có nhiều vị Tu sĩ như Mâu
Tử đã viết. Vì để có những bậc Sa Môn theo như quá trình
đào tạo kể trên có thể là phải trải qua mấy thế hệ
mới có đủ nhiều bậc chân sư trưởng thượng, mới có
đủ Tam Sư (Hòa Thượng, Yết Ma, Giáo Thọ), và Thất Chứng
(bảy vị Tôn Chứng), và phải có nhiều Tu sĩ có đủ tài
đức để có thể thọ Sa Di, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni v.v... khi
đó giới đàn mới được thiết lập để truyền giới. Những
điều kiện tối cần yếu để đào tạo ra Tăng sĩ là phải
có nhiều tín đồ mới có đủ điều kiện tài chánh để
thiết lập chùa chiền và nuôi Tăng chúng để sau đó họ
mới trở thành những bậc trưởng lão có đủ tài đức để
thiết lập giới đàn cho Tăng Ni đến thọ giới.
Như
vậy nếu tính ngược thời gian từ lúc Lý Hoặc Luận ra đời
(theo Paul Pelliot nói rằng Mâu Tử sinh vào khoảng 165-170. Trong
bài tựa Lý Hoặc Luận, Mâu Tử nói vì thời ấy tại Trung
Quốc loạn lạc nên ông cùng mẹ đến Giao Châu tỵ nạn,
năm 26 tuổi lấy vợ. Theo Hồ Thích và Paul Pelliot thì Lý Hoặc
Luận được viết vào cuối thế kỷ thứ II, nghĩa là những
mẩu chuyện về Phật Giáo mà ông đã viết thuộc về thế
kỷ thứ hai và trước đó rất lâu có thể phải tốn trên
vài trăm năm mới có đủ thời gian đào tạo được những
Sa Môn như trong sách đã kể.
Ðiều
tiếp theo là Ðạo Phật phải có mặt tại Giao Châu lâu lắm,
có rất nhiều chùa chiền và rất nhiều Tăng Ni, sinh hoạt
Phật Giáo cũng rất nhiều thế hệ nên tín đồ Phật Tử
lâu ngày sinh ra lờn đi, xem thường các vị Sa Môn, trong sự
thờ ơ bất kính, quên lãng của tín đồ, các sị Sa Môn mới
sinh tật như trong Lý Hoặc Luận đã viết.
Theo
sử liệu trên ta có thể kết luận rằng đạo Phật đã được
các Tu sĩ Ấn Ðộ truyền vào Việt Nam chậm lắm phải là
vào thế kỷ trước công nguyên hoặc sớm hơn mới sinh ra
những hiện tượng tiêu cực mà Mâu Tử đã đề cập đến.
Trường
hợp vị sư Khương Tăng Hội (200-280). Theo sách "Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận" quyển I, của Nguyễn Lang từ trang 85, viết
như sau:
"Cha
mẹ Tăng Hội người gốc Khương Cư (Sogdiane) cư trú tại
Giao Chỉ để buôn bán. Tăng Hội chắc chắn là sinh trên đất
Giao Chỉ, cha mẹ ông mất năm ông lên mười tuổi. Không biết
ai đã nuôi dạy Tăng Hội sau khi cha mẹ ông mất, chỉ biết
rằng lớn lên ông đi xuất gia và tu học rất tinh tiến (Cao
Tăng Truyện). Ta cũng không biết thầy của ông là ai và trong
số mười vị Tăng sĩ truyền giới cho ông có vị nào là
Tăng sĩ ngoại quốc không. Ta chỉ biết ông giỏi cả Phạn
ngữ lẫn Hán tự. Trong các tác phẩm của ông ta thấy có
tập Nê Hoàng Phạm Bối là một tập thi ca về đề tài Niết
Bàn tuyển dịch từ những bài thi tụng Phạn Ngữ, Lục Ðộ
Tập Kinh của ông văn từ điển nhã, chứng tỏ Hán văn của
ông không thua gì người Trung Hoa thời ấy. Cố nhiên là sinh
trưởng tại Giao Châu ông phải nói thạo tiếng nước ta.
"Sách
Cao Tăng Truyện nói rằng ông đến Kiến Nghiệp thủ đô nước
Ngô (nay là Nam Kinh) vào năm Xích-Ô thứ mười, tức là năm
247. Ông mất vào năm 280, niên hiệu Thái Khương nguyên niên
đời nhà Tấn. Như vậy ông đã ở trên đất Trung Hoa 33 năm.
Nhiều người cho rằng ông đã trước tác và dịch thuật
tại đây, nhưng kỳ thực một phần quan trọng của công việc
nầy đã được ông làm tại Giao Chỉ.
"Trong
bài tựa kinh An Bang Thủ Ý do ông viết, ta thấy có một chứng
cớ rõ rằng ông đã viết bài tựa nầy trước năm 229, nghĩa
là hồi ông còn hành đạo tại Giao Chỉ. Ðó là chi tiết
An Thế Cao, người đã dịch kinh An Bang Thủ Ý: "Có vị Bồ
Tát tên là An Thanh, tự là Thế Cao, con đích của vua nước
An Tức, sau khi nhường ngôi cho chú lánh nạn qua đất nầy,
sau bèn về ở Kinh Sư...". Kinh Sư ở đây là Lạc Dương, chính
ở Lạc Dương mà An Thế Cao đã dịch nhiều kinh vào hậu
bán thế kỷ thứ hai. Nếu bài tựa nầy viết sau năm 229,
tức năm Ngô Tôn Quyền xưng đế thì Kinh Sư phải là Kiến
Nghiệp chứ không phải là Lạc Dương nữa. Bởi vì sau ngày
Tôn Quyền xưng đế, nước ta đã nội thuộc Ðông Ngô rồi
mà không theo Bắc Ngụy.
"Chi
tiết quan trọng trên còn cho ta một dữ kiện lịch sử nữa:
Những cuốn kinh mà An Thế Cao dịch tại Lạc Dương đã được
mang tới và lưu hành tại Giao Chỉ trong thời gian Tăng Hội
hành đạo tại đây. Những kinh nầy ví dụ như kinh An Bang
Thủ Ý, đã được mang xuống do những người Phật tử Lạc
Dương tới tỵ nạn tại Giao Chỉ. Trong số những người
Phật tử nầy có Cư sĩ Trần Tuệ, học trò của An Thế cao,
người mà Tăng Hội đã gặp và đã cùng cộng tác để chú
sớ kinh An Bang Thủ Ý".
Sau
khi đọc những đoạn trên chúng ta thấy rõ rằng những kinh
mà An Thế Cao dịch đã được lưu hành tại Giao Châu và từ
Giao Châu được Phật tử đem đến Lạc Dương cho An Thế
Cao dịch. Ðiều đó một lần nữa khẳng định rằng Phật
Giáo đã được truyền vào Việt Nam sớm hơn vào Trung Quốc
rất lâu và đã phát triển cũng như đã có rất nhiều kinh
sách lưu hành tại đây sau đó mới được chuyển sang Trung
Quốc.
Trong
bài tựa kinh An Bang Thủ Ý, Khương Tăng Hội viết: "Tôi sinh
ra như dấu tích cuối cùng, vừa mới đủ sức vác củi thì
mẹ cha đều mất, bậc Tam Sư cũng viên tịch, nhìn lên mây
trời, buồn thấy mình thiếu người chỉ dạy". Tam Sư tức
là Hòa Thượng, Yết Ma, Giáo Thọ ba chức vị cao nhất trong
giới đàn truyền giới cho Tăng Ni và Phật tử như đã nói
phần trên.
Ðiều
nầy một lần nữa cho ta thấy rằng Phật Giáo Việt Nam đã
phát triển sớm lắm và đã có hệ thống hoằng pháp, truyền
giới một cách có truyền thống lâu đời. Trong khi đó có
nhiều sử liệu cho thấy rằng đến giữa thế kỷ thứ ba
Trung Hoa mới có lễ truyền giới cần đến bậc "Tam Sư".
Theo
sách "Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục" (được soạn từ cuối
thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIII, khắc in năm Vĩnh Thịnh
thứ 11 (1715) truyện Quốc Sư Thông Biện có nói về truyền
đạo Phật vào nước Việt Nam với những chi tiết rằng:
Nhân ngày rằm tháng hai, mùa xuân năm Hội Phong thứ 5 (1096),
Phù Thánh Cảm Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức Y Lan nguyên Phi,
mẹ vua Lý Nhân Tông, được phong làm Hoàng Thái Hậu năm 1073)
đến chùa thiết lễ Trai Tăng. Trong khi đàm đạo bà hỏi
Thiền sư Trí Không (tức Quốc Sư Thông Biên) về Ðạo Phật
truyền vào nước ta khi nào, nhà sư đã dẫn lời sư Ðàm
Thiên người Trung Quốc trả lời Tùy Văn Ðế về Phật Giáo
Giao Châu như sau: "Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên
Trúc. Khi Phật Pháp mới đến Giang Ðông chưa khắp thì ở
Luy Lâu đã có tới 20 bảo tháp, độ được 500 vị Tăng và
dịch được 15 quyển kinh rồi. Như vậy là Phật Giáo đã
truyền đến Giao Châu (Việt Nam) trước nước ta (Trung Quốc).
Hồi ấy đã có các vị Tăng như Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaka,
nhà sư Ấn Ðộ đến Luy Lâu khoảng năm 168-169), Khương Tăng
Hội, Chi Cương Lương (Kalaruci, nhà sư người nước Nhục
Chi (Trung Á) đến Giao Châu đầu thế kỷ thứ 3), Mâu Bác
v.v... cư trú tại đó".
Theo
sử liệu Lý Hoặc Luận ta có thể hiểu rằng số kinh đã
được dịch tại Giao Châu rất nhiều chứ không phải chỉ
15 quyển mà thôi.
Trong
Lý Hoặc Luận có đoạn:
"Người
ta hỏi Mâu Tử: Chân lý chí thật thì thường không văn hoa,
lời nói chí lý thì không hoa hòe... cho nên châu ngọc thì
quý giá mà ngói vụn thì đồ bỏ. Xưa thánh nhân chế ra bảy
kinh, văn từ không quá ba vạn lời và không gì không đủ
trong từng ấy kinh văn. Ngày nay, chương điển của Phật Giáo
có tới hàng ngàn, ngôn từ có tới hàng ngàn ức, sức một
người không thể nào đọc hết được. Tôi chán mà không
muốn đọc".
Ðó
là sách được viết vào cuối thế kỷ thứ hai có thể cho
ta hình dung được số lượng kinh điển đã được dịch
và lưu hành tại Giao Châu thời bấy giờ rất nhiều. Ðiều
đó cũng cho ta thấy Phật Giáo đã du nhập vào Giao Châu lâu
lắm, đã có nhiều Tăng sĩ, nhiều học giả lắm mới có
đủ thời gian và trình độ dịch kinh nhiều đến như thế
như thế.
Những
kinh mà An Thế Cao đã dịch tại Lạc Dương là do Phật tử
mang từ Giao Châu đến đó là những kinh gì ? Theo sử gia Nhật
Bản Kamata. Trong sách đã dẫn là Trung Quốc Phật Giáo Thông
Sử gồm có 35 bộ 41 quyển như sau:
1.
An Bang Thủ Ý kinh, 1 quyển
2.
Ấm Trì Nhập kinh, 1 quyển
3.
Bách Lục Thập Phẩm kinh, 1 quyển
4.
Ðại Thập Nhi Môn kinh, 1 quyển
5.
Tiểu Thập Nhi Môn kinh, 1 quyển
6.
Ðại Ðạo Ðịa kinh, 2 quyển
7.
Nhơn Bổn Dục Sanh kinh, 1 quyển
8.
Ðạo Y Phát Hành kinh, 2 quyển
9.
A Tỳ Ðàm Ngũ Pháp kinh, 1 quyển
10.
Thất Pháp kinh, 1 quyển
11.
Ngũ Pháp kinh, 1 quyển
12.
Thập Pháp kinh, 2 quyển
13.
Phổ Pháp Nghĩa kinh, 1 quyển
14.
Nghĩa Quyết Luật kinh, 1 quyển
15.
Lậu Phân Bố kinh, 1 quyển
16.
Tứ Ðế kinh, 1 quyển
17.
Thất Xứ Tam Quán kinh, 2 quyển
18.
Cửu Hoàng kinh, 1 quyển
19.
Bát Chánh Ðạo kinh, 1 quyển
20.
Tạp Kinh Tứ Thập Tứ Biến, 2 quyển
21.
Ngũ Thập Giảo Kế kinh, 2 quyển
22.
Ðại An Bang kinh, 1 quyển
23.
Tư Duy kinh, 1 quyển
24.
Thập Nhị Nhơn Duyên kinh, 1 quyển
25.
Ngũ Ấm Dụ kinh, 1 quyển
26.
Chuyển Pháp Luân kinh, 1 quyển
27.
Lưu Nhiếp kinh, 1 quyển
28.
Thị Pháp Phi Pháp kinh, 1 quyển
29.
Pháp Thọ Trần kinh, 1 quyển
30.
Thập Tứ Ý kinh, 1 quyển
31.
Bổn Tướng Y Trí kinh, 1 quyển
32.
A Hàm Khẩu Giải, 1 quyển
33.
A Tỳ Ðàm Cửu Thập Bác Kiết kinh, 1 quyển
34.
Thiền Hành Pháp Tưởng kinh, 1 quyển
35.
Nan Ðề Ca La Việt kinh, 1 quyển.
Những
sử liệu đã dẫn đủ để cho chúng ta kết luận được
rằng các nhà sư Ấn Ðộ đã trực tiếp đến nước Việt
Nam để truyền bá Phật Giáo và do đó trung tâm Phật Giáo
tại Luy Lâu đã được thành lập, hiện nay còn nhiều di tích
trong đó có chùa Dâu là một trong những trung tâm Phật Giáo
rất quan trọng trong những thế kỷ đầu công.
Về
thời điểm du nhập của Phật Giáo như trên đã nói chậm
lắm phải là trong thế kỷ trước công nguyên. Sau đó Phật
Giáo đã phát triển khá phổ biến tại Luy Lâu và những vùng
lân cận.
TS.
Lâm Như Tạng
