TỊNH
KHẨU
88
HỎI: Tôi được biết, trong các pháp môn tu tập của Phật
giáo có đề cập đến tịnh khẩu. Tuy vậy, trong đạo tràng
an cư của chúng tôi có một vị lập hạnh không nói hoàn
toàn, có điều gì cần thì ra dấu hoặc ghi ra giấy mà thôi.
Tôi nghe khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Kính
hỏi, Phật giáo quan niệm về vấn đề này thế nào? Có kinh
luật nào đề cập đến việc ấy không? (minhnhat15...@yahoo.com)
Tịnh
khẩu có nghĩa là thanh tịnh khẩu nghiệp.
Theo nghĩa rộng, thanh tịnh khẩu nghiệp là không nói
sai, nói ác… mà chỉ nói lời chân thật, thanh tịnh; nói
lời yêu thương, đoàn kết, xây dựng, có lợi ích cho mình
và người. Tuy nhiên, tịnh khẩu theo cách hiểu của
nhiều người là không nói gì cả. Thực ra, tịnh khẩu không
có nghĩa là câm lặng hoàn toàn (á khẩu) mà hạn chế tối
đa nói năng, chỉ nói khi cần thiết và luôn đi liền với
chánh niệm. Theo Thiền sư Nhất Hạnh, “Tịnh khẩu là
một phương pháp thực tập rất sâu sắc chứ không phải
là chuyện cấm nói. Tịnh khẩu không có nghĩa là không nói
mà thôi. Nó có nghĩa là quán chiếu bằng chánh niệm của
mình những điều gì mình định nóí”.
Kinh
Phật đề cập đến vấn đề tu tập tịnh khẩu khá nhiều,
tùy theo mỗi tình huống mà Đức Phật có thái độ khác nhau.
Trung A hàm 18, kinh Sa-kê-đế tam mộc tánh tử, ghi: “Một
thời Đức Phật du hóa tại Sa-kê-đế trong rừng Thanh. Bấy
giờ ở Sa-kê-đế có ba thiện nam tử là Tôn giả A-na-luật-đà,
Nan-đề và Kim-tì-la đều là thiếu niên mới xuất gia học
đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu. Lúc ấy Đức
Thế Tôn hỏi các Tỳ kheo: ‘Ba thiện gia nam tử này đều
là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh
pháp này không lâu; ba thiện nam tử ấy có vui thích ở trong
Chánh pháp luật này hành phạm hạnh chăng?’. Khi đó các
vị Tỳ-kheo im lặng, không trả lời. Đức Thế Tôn ba lần
hỏi các Tỳ kheo, các Tỳ kheo cũng ba lần im lặng, không đáp”.
Vì tu tập tịnh khẩu nên các Tỳ kheo ở Sa-kê-đế không
trả lời Thế Tôn, dù Ngài hỏi đến ba lần. Ở một kinh
khác, đời sống tu tập của các Tỳ kheo được ghi nhận
như sau: “Bấy giờ có ba thiện nam tử trú trong rừng Ban-na-mạn-xà-tự,
là: Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tì-la. Các Tôn giả
ấy sống như vầy: Nếu ai khất thực trở về trước, thì
trải giường, múc nước để rửa chân. Nếu những gì khất
thực có thể dùng hết thì dùng hết, nếu còn dư thì đổ
vào hủ đậy kín cất. Ăn xong, dọn bát, cất, rửa tay chân,
lấy tọa cụ vắt lên vai, vào thất tĩnh tọa. Ai khất thực
về sau, dùng sau… Sau khi thu xếp y bát, rửa tay chân, lấy
tọa cụ vắt lên vai, vào thất tĩnh tọa. Đến lúc xế, các
Tôn giả ấy, nếu có vị nào từ chỗ tĩnh tọa dậy trước,
thấy lu nước uống và ghè nước rửa tay trống rỗng, không
có nước, thì mang đi lấy. Nếu xách về nổi thì xách đến
để một góc, nếu xách không nổi thì lấy tay vẫy một Tỳ-kheo
nữa, mỗi người khiêng một bên, không ai nói chuyện với
nhau. Các Tôn giả ấy cứ năm ngày tụ tập lại một lần,
cùng nhau bàn về pháp và im lặng theo pháp bậc Thánh” (Trung
A hàm 17, Trường Thọ vương bản khởi). Và Đức Thế Tôn
tán thán: “Lành thay! Lành thay! A-na-luật-đà, như thế các
ngươi thường cùng nhau hòa hợp, an lạc, không tranh, cùng
hiệp nhất trong một tâm, một Thầy, như nước với sữa”.
Rõ ràng, trong trường hợp này, các Tỳ kheo tu tập tịnh khẩu
được Thế Tôn tán thán.
Tuy
nhiên, trong trường hợp khác, tu tập tịnh khẩu lại bị
Phật quở trách nặng nề: “Một thời, đức Phật ở tại
vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ- đà, nước Xá-vệ. Bấy
giờ có số đông Tỳ kheo ở nước Câu-tát-la, hạ an cư nơi
trú xứ nọ, suy nghĩ rằng, ‘Làm cách nào chúng ta sống an
lạc, không vất vả vì sự ăn uống?’. Rồi họ bảo nhau,
‘Chúng ta nên lập quy chế an cư, không nói chuyện với nhau,
không lễ bái, hỏi chào nhau. Ai vào tụ lạc khất thực trước
và về trước, thì dọn dẹp chỗ ngồi ăn, trải tọa cụ,
sửa soạn đồ đựng nước, đồ rửa chân, đồ đựng thức
ăn. Mỗi người tự đem thức ăn đến để chỗ ngồi ăn.
Nếu ai nhận được thức ăn nhiều, trước hết nên sớt
bớt để lại, nhận đủ thì ăn. Ăn xong, im lặng trở về
phòng. Người kế tiếp vào tụ lạc khất thực; nhận được
thức ăn rồi trở về, đem thức ăn đến chỗ ngồi ăn…
Vị ấy dọn quét chỗ ngồi ăn. Nếu thấy đồ đựng nước,
đồ rửa chân trống không, thì đi xách. Nếu tự mình có
thể khiêng trở về thì tốt. Bằng không, dùng tay ngoắt bạn
để cùng khiêng về chỗ cũ. Rồi im lặng trở về phòng.
Chứ không vì lí do nào mà nói bằng lời. Chúng ta lập quy
chế như vậy, có thể sống an lạc, không vì sự ăn uống
mà khổ sở’.
Các
Tỳ kheo áp dụng quy chế trên trong thời gian an cư. Tự tứ
xong, họ đến chỗ Đức Phật trong Kỳ-hoàn, nước Xá-vệ,
đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Các Tỳ kheo đem
nhân duyên trên thuật lại một cách đầy đủ, Đức Phật
bảo các Tỳ kheo: ‘Các ông là những người si, tự cho đó
là vui mà thật sự là khổ. Các ông là những người ngu si,
tự cho đó là điều không tai hoạn, mà thật sự là đại
hoạn. Các ông là những người ngu si, cùng ở với nhau như
oan gia, như những con cừu. Tại sao vậy? Ta đã dùng vô số
phương tiện dạy bảo các Tỳ kheo, cùng dạy bảo nhau, cùng
nhau trao đổi, giác ngộ cho nhau. Các ông là những người
ngu si, đồng như ngoại đạo thọ pháp câm. Các ông không
được làm theo pháp câm như vậy. Nếu làm theo pháp câm, phạm
Đột-kết-la” (Tứ phần luật, Tự tứ).
Đến
đây, chúng ta thấy rất rõ quan điểm của Đức Phật về
tịnh
khẩu theo cách lặng câm hoàn toàn: “Pháp câm” ấy là cách
tu tập của ngoại đạo, phi Chánh pháp. Do vậy, tịnh
khẩu nhằm tránh duyên để chuyển hóa, thanh tịnh tam nghiệp
là điều đáng ca ngợi. Nhưng tịnh khẩu cực đoan kiểu “thọ
trì pháp câm” thì không nên vì “trao đổi, giác ngộ cho
nhau” vốn rất quan trọng và cần thiết trong đời sống
Tăng đoàn để cùng trợ duyên cho nhau thăng hoa và chứng đạt.
Chúc
bạn tinh tấn!
TTV/Giác
Ngộ
07-06-2008
12:23:34
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp