Theo
Phật giáo, mỗi chúng sinh đều có ba thân: thân tiền ấm,
thân trung ấm và thân hậu ấm. Thân tiền ấm là thân thể
vật chất hiện tại. Thân trung ấm là thân sau khi chết, đang
ở trong khoảng thời gian tìm kiếm một thân khác tương ứng
để nương gá. Thân hậu ấm là thân đời sau, khi đã tái
sanh vào một cảnh giới khác.
Tại
sao trung ấm được gọi là thân? Đúng theo ý nghĩa của chữ
thân là “tích tụ” thì sau khi thân này đã chết và chưa
tìm ra chỗ đầu thai, trong giai đoạn này không thể gọi là
thân được. Vì trong giai đoạn này chỉ có thần thức mà
thôi, chưa có tinh huyết của cha mẹ hòa hợp. Tuy nhiên trong
giai đoạn này có thể tạm gọi là thân, vì nó có đủ sự
thấy, nghe, hay, biết… Kinh Phật gọi dạng thân này là “sắc
công năng”, thân do nơi chủng tử của thần thức hiện hành.
Thân
trung ấm còn gọi là thân trung hữu, hương hành, ý hành, thú
sanh... Thân trung hữu là thân quả báo ở khoảng giữa đời
này và đời sau; nghĩa là sau khi rời thân tiền ấm nhưng
chưa thác sanh vào thân hậu ấm, trong khoảng trung gian đó
gọi là Trung, do vì quả báo thân này vốn có chẳng phải
không, mà con người ai cũng phải gánh trả nên gọi là Hữu.
Hương hành vì thân này luôn lần theo mùi hương mà đi, ngửi
mùi hương để tồn tại, vì vậy đối với người chết
khi cúng họ chỉ hưởng mùi hương mà no đủ. Ý hành là do
thân này nương gá vào ý để đi tìm chỗ đầu thai. Thú sanh
là thân này ở vào một trong sáu cảnh luân hồi.
Thân
thể con người vốn do tứ đại hợp thành, do vậy khi chết
sắc thân tứ đại phân tán, còn phần tinh thần thì không
mất mà tùy nghiệp thọ báo. Thần thức của con người sau
khi lìa khỏi xác thân sẽ rơi vào một trong hai trường hợp
sau: Đối với người khi sanh tiền tạo các nghiệp nhân cực
ác (như ngũ nghịch, thập ác), hoặc người đã tu rất nhiều
công đức lành (tu mười điều thiện), hoặc người có tín
sâu, nguyện thiết, một lòng niệm Phật cầu vãng sanh Tây
phương; hoặc người có công phu thiền định đã đoạn trừ
được kiến tư hoặc, những người đó sau khi chết không
phải thọ thân trung ấm.
Ngay
khi vừa chấm dứt hơi thở, họ sẽ trực chỉ đọa vào địa
ngục A tỳ, hoặc sanh lên cõi trời, hoặc vãng sanh về Tịnh
độ. Đối với hạng người bình thường, khi sanh tiền tuy
tạo nghiệp nhưng không rơi vào một trong hai nghiệp cực thiện
hay cực ác kể trên. Với nghiệp thiện ác lẫn lộn nên thần
thức cần một khoảng thời gian để tái sanh vào cảnh giới
tương ưng. Trong trường hợp này, thần thức phải trải qua
giai đoạn thọ thân trung ấm.
Cảnh
giới thọ dụng của thân trung ấm biểu hiện qua hai phần:
sắc thân thọ báo và tâm lý thọ báo. Về sắc thân thọ
báo, trung ấm có hai loại hình sắc xinh đẹp và xấu xa. Trung
ấm có loại hai tay hai chân, có loại bốn chân, có loại nhiều
chân, hoặc không chân. Đại để trung ấm chuẩn bị tái sanh
về loại nào thì có hình dáng tương đồng với chúng sanh
loài đó.
Thân
trung ấm của hàng nhân thiên cõi dục, hình dáng bằng đứa
bé năm bảy tuổi. Thân trung ấm của chúng sanh cõi sắc lớn
bằng thân bản hữu và có y phục, vì do có nhiều chủng tử
tàm quý. Chúng sanh ở cõi vô sắc không có thân trung ấm,
bởi cõi này không có hình sắc. Trung ấm chư Thiên đầu hướng
lên, trung ấm người, bàng sanh và quỷ nằm ngang mà bay đi,
trung ấm của chúng sanh ở địa ngục đầu chúc xuống.
Những
ai có thiên nhãn, nhìn vào ánh sáng phát ra từ mỗi người,
họ có thể đoán định được người đó thiện hay ác. Trung
ấm cũng thế, tùy theo nghiệp thiện hoặc ác mà mỗi loài
đều có những ánh sáng phát ra khác nhau. Trung ấm của kẻ
tạo nghiệp ác ánh ra sắc đen hay xám, trung ấm của kẻ tạo
nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như điện sáng. Còn về màu
sắc, trung ấm của địa ngục sắc đen như than. Trung ấm
của bàng sanh sắc xám như khói. Trung ấm của ngạ quỷ sắc
đạm như nước. Trung ấm người và trời Dục giới sắc
như vàng ròng. Trung ấm của chư Thiên Sắc giới rất đẹp
màu tươi trắng, sáng tỏ như ánh trăng rằm.
Trung
ấm có rất nhiều thần lực. Mắt của thân trung ấm nhìn
suốt xa như thiên nhãn không bị chướng ngại, thấy các trung
ấm khác và chỗ mình sẽ thọ sanh. Tai của trung ấm có thể
nghe được những âm thanh cực nhỏ. Mũi của trung ấm có
thể ngửi được những mùi hương dù xa vạn dặm... Trong
giây phút, trung ấm có thể bay vòng quanh giáp núi Tu di, lại
có thể xuyên qua tường vách núi non không bị chướng ngại.
Chỉ trừ hai chỗ trung ấm không thể vượt qua được: Bào
thai mẹ, vì nghiệp lực, một khi trung ấm đã vào rồi thì
không thể đi ra được và Kim cang tòa của Phật, do thần
lực của Phật, trung ấm không thể vượt qua được.
Thọ
mạng tối đa của thân trung ấm là bảy ngày, nếu quá thời
hạn bảy ngày mà chưa tìm được chỗ thọ sanh, trung ấm
sẽ chết đi rồi sống lại. Nhưng trong vòng 49 ngày trung ấm
cũng sẽ tìm được chỗ thọ sanh. Trung ấm khi chết, do nghiệp
lành hay dữ chuyển biến mà đổi thành thân trung ấm loài
khác. Đại để trung ấm khi sắp chết, tùy theo nghiệp thiện
ác mà trong tâm thấy những tướng sai khác, khiến tâm thức
mơ màng dường như trong mộng, bấy giờ khởi lên ý niệm
muốn chết để sống lại. Khi chết tùy theo nghiệp mà có
cảm thọ khổ vui, và sau đó tiếp tục sanh làm thân trung
ấm khác, để nối tiếp công việc tìm nơi để thác thai.
Về
tâm lý thọ báo, trong thời gian này, trung ấm luôn ở trạng
thái mờ mịt phiêu diêu vô định. Các ý tưởng buồn vui
lẫn lộn làm cho tâm lý trung ấm thay đổi liên tục, vô cùng
thống khổ và bất ổn. Tựu trung tâm lý của thân trung ấm
có những sự diễn tiến như sau:
Trước
hết là hoài nghi, không biết mình đã chết hay chưa? Thông
thường con người sau khi tắt hơi thở, thần thức mới lìa
khỏi thể xác, nếu chưa được giải thoát, đều phải trải
qua một giai đoạn tối tăm, mịt mù từ ba đến bốn ngày,
sau đó mới có cảm giác minh mẫn trở lại. Trong thời điểm
tối tăm, thần thức luôn ở trong trạng thái hoài nghi xen
lẫn mơ màng, đắn đo tự hỏi: “Giờ phút này không biết
ta đã chết hay chưa?”. Đây là trạng thái đối chọi giằng
co, giữa hai ý niệm tham sống và sợ chết của con người
mà có. Sau khi qua khỏi giai đoạn tăm tối, mới xác định
rõ mình đã chết.
Tiếp
theo là sự hoảng hốt, khi đi vào một thế giới xa lạ. Khi
sống con người đã quen thuộc với cảnh vật xung quanh, nhưng
sau khi chết thọ thân trung ấm, con người lại tiếp xúc với
một thế giới hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thường nhật.
Ở đó lại có những cảnh tượng quái dị, những âm thanh
chát chúa... khiến thân thể bất an, tâm thức hoảng loạn.
Do vậy, tâm lý trung ấm luôn trong trạng thái hoảng hốt,
lạc lỏng nơi cảnh giới mà mình không biết thực hư như
thế nào. Chính sự hoảng hốt này là yếu tố làm cho trung
ấm đọa lạc vào cảnh giới khổ đau.
Do
ái dục chi phối, con người khi chết thường sanh các tâm
niệm quyến luyến. Hoặc do cảm thương thân phận của mình
đã chết, mà sanh tâm đau buồn thương cảm. Hoặc nhân tham
luyến vợ con, tài sản mà khó dứt trừ tâm thương yêu trói
buộc. Hoặc do các tâm nguyện chưa thành đột nhiên cái chết
lại đến, khiến bứt rứt ngồi đứng không yên. Hoặc do
oan ức chưa kịp bày tỏ, khiến lòng bực tức mà không chịu
nhắm mắt. Tất cả những tâm lý đó đã giày xéo, làm cho
trung ấm vốn đã thống khổ, lại chồng chất thêm nhiều
nỗi thống khổ khác.
Mặt
khác, bấy giờ do nghiệp lực quá khứ chiêu cảm, có những
luồng gió nghiệp cực mạnh thổi nát trung ấm, những ánh
sáng chớp lòe như giông tố, khiến cho trung ấm hoảng hốt
sầu lo; lại có những âm thanh vô cùng chát chúa, khiến trung
ấm đinh tai nhức óc cùng với vô số loài ác quỷ hình thù
kỳ dị, cầm giáo mác đến đe dọa mạng sống… Tất cả
những cảnh tượng rùng rợn ấy, đều do nghiệp lực chiêu
cảm, khiến cho thân trung ấm sợ muốn ngất, hoảng hốt không
nơi nương tựa. Bấy giờ trung ấm chỉ mong cầu thân quyến
tạo phước để cứu giúp mà thôi.
Lúc
đó lại có những luồng hào quang của chư Phật và ánh sáng
của các chúng sanh trong lục đạo phóng đến. Chư Phật với
những đại hào quang rực rỡ và mạnh mẽ, như hào quang sắc
xanh chói lòa, hào quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc
vàng trong như ngọc, hào quang sắc đỏ mãnh liệt. Còn ánh
sáng lục phàm trong cõi dục thì yếu ớt hơn. Ánh sáng của
cõi trời thì trắng, ánh sáng của cõi người thì vàng nhạt,
ánh sáng của cõi a tu la thì xanh đậm, ánh sáng của cõi địa
ngục thì như khói đen, ánh sáng của cõi ngạ quỷ thì đỏ
sẫm, ánh sáng của cõi súc sanh thì xanh nhạt. Trong đó thân
trung ấm tùy nghiệp duyên với cõi nào thì ánh sáng của cõi
ấy sẽ rực rỡ hơn. Vì nghiệp duyên bất thiện của chúng
sanh nên phần nhiều các trung ấm chỉ thích ánh sáng của
lục phàm hơn…
Cổ
thi có câu: “Cổ nhân bất kiến kim thời nguyệt, kim nguyệt
hà tằng kiến cố nhân”. Người xưa không thấy được
vầng trăng ngày nay, người nay cũng không thể thưởng thức
được vầng trăng ngày xưa, song vầng trăng đã chứng kiến
được bao sự đổi thay của kim cổ. Và nếu gương trăng
có được mối suy tư, chắc cũng sẽ tự hỏi: Không lẽ đời
người sanh ra, rồi chỉ biết lo giành giật mưu sinh để rồi
chết trong đau khổ, vậy đâu là niềm hạnh phúc chân thật
của kiếp người? Ưu tư của vầng trăng cũng là nỗi ưu
tư của người có trí tuệ, không chấp nhận thân phận bọt
bèo của kiếp người, chỉ sanh ra để đấu tranh sinh tồn
và cuối cùng chết trong hoảng hốt…
Vì
thế, hiểu được trạng thái con người khi chết như thế
nào, và sau khi chết đi về đâu, để thiết lập cho bản
thân một cuộc sống có ý nghĩa, có định hướng là điều
chúng ta cần phải tranh thủ làm ngay trong những ngày còn lại
ngắn ngủi trên cõi dương thế này.
Thích
Nguyên Liên
Người
gửi bài: Minh Trần
01-02-2008
11:23:12