Hai
bài viết về ngài Khang Tăng Hội trong Lương Cao Tăng Truyện
1, Xuất Tam Tạng Ký Tập 10 mà HT. Nhất Hạnh và thầy Mạnh
Thát đã dịch, hầu như đã ghi lại đầy đủ hành trạng
của Ngài. Vì thế hai bản ấy có một giá trị đặc biệt,
không thể thiếu trong việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo
Việt Nam. Nay trích dịch thêm một bản lược truyện khác,
được xếp vào Thần Tăng Truyện 1, do vua Thành Tổ nhà Minh,
Trung Quốc soạn. Bởi được xếp vào Thần Tăng Truyện nên
nội dung chỉ nhằm hiển bày và minh chứng chữ THẦN mà lược
bỏ các phần phiên dịch, trứ tác, tu chứng, tư tưởng v.v…,
đồng thời thêm vào những kỳ tích mà trong Cao Tăng Truyện
chưa gom chép.
Ngài
Tăng Hội họ Khang, tổ tiên người nước Khang Cư nhưng nhiều
đời sống ở Thiên Trúc. Thân phụ của Ngài bởi việc bán
buôn mà chuyển sang sinh sống tại Giao Chỉ. Năm hơn 10
tuổi, song thân đều qua đời, Ngài trọn lòng cư tang. Hiếu
mãn, Ngài thế phát xuất gia, nghiêm cẩn tu hành. Là người
cao nhã, hiểu biết sâu rộng, lại dốc chí học tập, nên
Ngài thấu hiểu ba tạng, làu thông sáu kinh, thiên văn, đồ
vĩ(1) không gì chẳng biết; lại còn khéo giảng nói, giỏi
văn chương. Lúc bấy giờ Tôn Quyền đã định được Giang
Đông nhưng nơi đây Phật pháp chưa lưu hành. Niên hiệu Xích
Ô thứ 10 (247), Ngài đến Kiến Nghiệp dựng lập am tranh,
tôn trí tượng Phật để tu hành. Bấy giờ quan dân nước
Ngô mới thấy hình dáng Sa-môn. Tuy thấy hình nhưng chưa hiểu
đạo, nên nghi ngờ cho là lập dị. Một vị quan tâu rằng
:
- Có
một người Hồ vừa vào nước ta tự xưng là Sa-môn, tướng
mạo sắc phục đều khác người thường, cần phải tra xét.
Tôn
Quyền nói :
- Ngày
xưa Hán Minh Đế nằm mộng thấy một vị thần, hiệu là
Phật, đạo mà kẻ ấy tôn thờ hẳn là di phong
của
Phật kia sao ?
Tôn
Quyền bèn cho triệu Ngài vào gạn hỏi :
- Đạo
của nhà ngươi có linh nghiệm gì ?
Ngài
đáp :
- Như
Lai viên tịch đã hơn nghìn năm, di cốt xá-lợi thần diệu
vô cùng. Xưa vua A-dục xây 84.000 ngôi tháp để tôn thờ. Phàm
việc xây dựng chùa tháp là để hiển dương sự giáo hóa
của Như Lai.
Tôn
Quyền cho là hoang đường, nói rằng :
- Nếu
có được xá-lợi thì ta sẽ tạo tháp cúng dường, còn nếu
hư vọng thì sẽ có quốc pháp.
Ngài
xin kỳ hạn bảy ngày, rồi nói với đệ tử :
- Việc
hưng phế của đạo pháp chỉ tại phen này. Ngày nay nếu không
chí thành thì về sau có hối cũng chẳng kịp.
Ngài
cùng đệ tử trai tịnh, vào tĩnh thất, lấy một bình bằng
đồng đặt trên án đốt hương lễ thỉnh. Kỳ hạn bảy
ngày đã hết mà vẫn lặng lẽ không ứng hiện. Ngài xin thêm
bảy ngày nữa cũng vẫn y nhiên. Tôn Quyền nói :
- Đây
là việc hư dối.
Lúc
sắp gia hình, Ngài lại cầu xin thêm bảy ngày. Tôn Quyền
đặc biệt cho phép. Bấy giờ Ngài nói với các đệ tử :
- Khổng
Tử nói : “Văn Vương đã băng, định chế Lễ nhạc chẳng
còn ở nơi ta ư ?” Pháp linh lẽ ra đã ứng hiện, nhưng vì
chúng ta không thành cảm, thì cần gì phải mượn phép vua
mà nên nguyện chết làm kỳ hạn.
Buổi
chiều ngày thứ 21, mọi người vẫn không thấy gì, tất cả
đều kinh sợ. Qua đến canh năm, bỗng nhiên nghe trong bình
có âm thanh rổn rảng. Ngài đến xem thì quả nhiên đã có
xá-lợi. Sáng sớm hôm sau, Tôn Quyền tự tay cầm bình đổ
xá-lợi lên chiếc mâm đồng, nơi xá-lợi chạm đến mâm
đồng liền vỡ nát. Tôn Quyền vô cùng kinh ngạc, nói rằng
: “Thật là điềm hy hữu !”
Ngài
bèn tâu rằng :
- Oai
thần của xá-lợi đâu chỉ có phóng ánh sáng mà thôi, cho
dù lửa của kiếp thiêu cũng không thể đốt cháy, chày kim
cang cũng không thể đập nát.
Tôn
Quyền liền khiến thử nghiệm. Ngài phát nguyện :
- Mây
pháp vừa phủ khắp, chúng sinh mong nhuần thấm, xin lại hiện
thần tích, để hiển thị oai linh.
Nói
xong Ngài sai người đặt xá-lợi lên trên đe sắt rồi bảo
một lực sĩ dùng chùy sắt đập mạnh, nhưng chùy và đe đều
lõm vào mà xá-lợi thì không suy tổn. Tôn Quyền vô cùng thán
phục, sai người tạo tháp cúng dường. Bởi là ngôi chùa
Phật đầu tiên nơi đây, cho nên đặt tên là Kiến Sơ, và
gọi nơi này là làng Phật Đà. Từ đó đại pháp hưng thịnh
ở vùng Giang tả.
Sau,
Tôn Hạo lên ngôi thi hành chính sách hà khắc bạo ngược,
ban lịnh phá bỏ các đền thờ thần, hủy hoại các chùa
tháp Phật. Một hôm Hạo sai vệ binh vào hậu cung để sửa
sang vườn tược, bỗng nhiên được một pho tượng vàng cao
vài thước, bộ thuộc dâng lên Tôn Hạo. Tôn Hạo sai người
đặt tượng vào nơi bất tịnh, dùng nước dơ uế tưới
lên, cùng với quần thần đùa cười lấy đó làm vui. Bỗng
chốc toàn thân của Hạo sưng lớn. Chỗ kín đau đớn, kêu
la thấu trời. Quan Thái sử đoán rằng : “Do xúc phạm đến
một vị thần lớn”. Tôn Hạo liền sai người đến các
miếu để cầu phước. Còn các thể nữ nghinh thỉnh tượng
vàng tôn trí trên điện, dùng nước thơm tẩy rửa vài mươi
lần, sau đó đốt hương sám hối. Tôn Hạo quỳ cúi đầu
trên gối, tỏ bày tội lỗi, bỗng chốc bớt đau. Hạo sai
người đến chùa thỉnh Ngài thuyết pháp, Ngài liền vào cung.
Tôn Hạo hỏi về nguyên do của tội phước, Ngài phân tích
giảng giải, ngôn từ rất tinh yếu. Tôn Hạo thông minh lãnh
hội, nên vô cùng vui vẻ. Nhân đó Hạo xin được xem giới
của Sa-môn. Ngài cho rằng giới văn là pháp cấm kỵ, không
thể khinh suất giảng nói, bèn phân 135 nguyện trong Kinh Bản
Nghiệp làm 250 việc, mục đích giảng nói các hành động
đi đứng nằm ngồi đều nguyện vì tất cả chúng sanh. Tôn
Hạo thấy nguyện Từ rộng lớn, nên càng tăng thêm thiện
ý, cầu xin Ngài truyền trao Ngũ giới. Mười ngày sau thì bịnh
lành hẳn. Hạo sai người đến tu sửa, trang nghiêm trụ xứ
của ngài Tăng Hội, lịnh cho hoàng gia tôn thất phải tin phụng
Tam bảo. Tại triều Ngô, Ngài luôn tuyên thuyết chánh pháp.
Bởi Tôn Hạo tánh tình thô bạo, không thể hiểu được diệu
nghĩa, nên Ngài chỉ dùng các việc báo ứng để khai hóa mà
thôi. Vào niên hiệu Thiên Kỷ thứ 4, Tôn Hạo hàng nhà Tấn.
Tháng 9 năm đó Ngài hiện chút bịnh mà thị tịch, nhằm niên
hiệu Thái Khang thứ nhất (280) đời Vũ Đế nhà Tấn.
Trong
khoảng niên hiệu Hàm Hòa (326 - 334) đời vua Thành Đế nhà
Tấn, Tô Tuấn làm loạn, đốt ngôi tháp mà Ngài đã xây dựng,
sau quan Tư không Hà Duẫn trùng tu. Bấy giờ có Bình tây tướng
quân Triệu Dụ, ở đời không tin phụng Phật pháp, khinh miệt
Tam bảo. Một hôm Dụ vào chùa nói với các Sa-môn rằng :
- Từ
lâu nghe ngôi tháp này phóng ánh sáng, thật là việc hư dối,
chưa thấy thì chẳng thể tin. Nếu tận mắt thấy được
thì khỏi phải luận bàn gì.
Nói
vừa dứt lời thì từ tháp bỗng nhiên có luồng hào quang
năm màu phóng ra soi chiếu khắp nơi. Dụ vô cùng kinh hãi,
do đó mà kính tin Tam bảo, xây dựng một ngôi tháp nhỏ ở
phía Đông chùa này.
Trong
khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650 - 655) đời vua Cao Tông nhà Đường
lại thấy Ngài ở đất Việt(1), tự xưng là vị tăng du phương,
nhưng thần khí kỳ đặc, người thấy phải run sợ, không
biết đã chứng đắc giai vị nào. Bấy giờ vị Duy-na chùa
Vĩnh Hân ra cật vấn về hành tích rồi chửi mắng đuổi
đi. Vừa bước đến cửa, Ngài quay lại nói rằng :
- Ta
chính là Khang Tăng Hội đây ! Nếu có thể lưu giữ lại chân
thể của ta nơi đây thì sẽ tạo phước cho già-lam của ngươi.
Thoáng
chốc Ngài đứng yên thị tịch trong tư thế hai mắt hơi nhắm
lại, nhưng nét hào sảng vẫn không mất, hai tay đưa lên giống
như đang vái chào, chân thì bước giống như sắp đi. Mọi
người nghị bàn nên an táng trong nghĩa địa thì không thể
nào di chuyển được linh thân, bèn xin dời đến thắng địa
lập riêng một linh đường để tôn thờ. Bấy giờ người
xứ Việt tranh nhau dùng nhang đèn hoa quả, phan lọng đủ màu,
y phục khí vật đến cầu xin, tất cả đều thỏa nguyện.
Lúc
đầu quân đội xứ Việt phần lớn đóng tại chùa Vĩnh Hân,
binh sĩ ăn uống rượu thịt, còn vợ của họ thì sanh sản,
làm ô uế già-lam khiến đại chúng không chịu nổi. Ngài
Tăng Hội hóa hình đến yết kiến Mân liêm sứ Lý Nhược
Sơ. Ngài nói :
- Mai
sau Quân hầu sẽ làm Thứ sử ở xứ Việt, tôi nhờ ngài
hãy di chuyển quân đội đi nơi khác.
Nói
xong phất tay áo đi ra, liền mất tung tích. Lý công vừa mừng
vừa sợ, ghi nhớ lời nói ấy. Về sau quả nhiên Nhược Sơ
đến Việt. Nhậm chức xong, liền đến lễ bái linh tích,
mới nhận ra người nói lúc trước chính là vị tăng này.
Nhược Sơ liền ra lịnh triệt thoái quân đội khỏi vùng
Vĩnh Hân mà lui về bản doanh. Lại có một sản phụ lúc sắp
sanh mà không đèn dầu, không một tia sáng. Bỗng một vị
tăng cầm đuốc từ cửa bước vào. Sáng hôm sau, người chồng
vào chùa Vĩnh Hân nhận ra hình dạng ngài Tăng Hội mới biết
đây là vị tăng đã trao cây đuốc cứu sản phụ đêm qua.
Từ đó nhân dân thường đến cầu sanh con trai con gái. Ngài
từng đến nhà Lư Diêm xin giày cỏ, vì thế về sau người
xứ Việt phần nhiều thường dùng giày cỏ, tràng phan bằng
vải dầu để dâng cúng, luôn có cảm ứng. Nơi nơi, Ngài
thường đến nhà người để giáo hóa, nhưng không thể thuật
lại hết các linh tích, chỉ gọi Ngài là Siêu Hóa Thiền Sư.
(Trích
trong Thần Tăng Truyện)
(1)
Ba tạng : Kinh, Luật, Luận của nhà Phật. Sáu kinh : Thi, Thư,
Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu; Đồ vĩ : Đồ sấm và vĩ thư,
tất cả đều là các bộ sách quan trọng của Nho gia.
(1)
Một quốc gia lập vào thời Chu, nay là các vùng đông Chiết
Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Đông Trung Quốc, là khu vực
giống dân Bách Việt thời xưa sinh sống.
http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/nguoi/Khuong_Tang_Hoi.htm