Có
hai di sản trên đời : Di sản vật chất và di sản tinh thần.
Di sản vật chất nuôi dưỡng thân tướng tứ đại, bảo
dưỡng sống còn trong một thời gian; di sản tinh thần là
món ăn nuôi dưỡng phần tâm linh ngày thêm lành mạnh, trong
sáng.
Một
chúng sanh hữu tình phải hội đủ hai phần : Phần vật chất
gồm tứ đại giả hợp thành thân; phần tinh thần gồm các
hoạt động tâm lý giả hợp thành tâm. Vì giả hợp nên thân
chỉ là vọng thân, tâm chỉ là vọng tâm. Cái bệnh thâm căn
của chúng sanh là đem cái vọng tâm, đam mê cái vọng thân,
làm nô lệ cho vọng cảnh, khởi sinh đủ thứ phiền não,
tạo tác đủ thứ nghiệp, thọ khổ đến không cùng.
Người
đệ tử Phật sống trong tỉnh thức, xem món ăn tinh thần
là tối cần thiết cho sự sinh tồn, bèn soi ánh sáng trở
lại quán sát thân, tâm và ngoại cảnh, chuyển hướng đến
một đời sống cao thượng, biết tôn thờ những giá trị
thiêng liêng, tạo nên phẩm cách cao quý của một con người.
Di
sản tinh thần là kết tinh kinh nghiệm tâm linh, trải qua nhiều
thế hệ của tổ tiên trao lại. Những giá trị tinh thần
là gia tài chung của mỗi người, cần giữ gìn và đem trao
tặng lại những thế hệ mai sau.
Đời
dống hướng thượng được nhiều người ưa chuộng, bởi
vì họ ý thức rằng sự hiện hữu của cái "TA" chỉ là sự
tồn tại tạm thời trong kiếp luân hồi vô tận. Ai ai trong
cuộc đời cũng cất bước phiêu lưu đi tìm hạnh phúc, nhưng
mấy ai là người đạt được chân hạnh phúc, Chân hạnh
phúc không thể tìm kiếm nơi ngoại vật phù phiếm, mà chỉ
có thể tìm kiếm từ bên trong. Tinh thần cũng là chủ của
thể xác, đừng để thể xác chi phối đời sống tinh thần
cao thượng bên trong.
Thái
độ của người Phật tử Việt Nam biết quý chuộng đạo
đức, xem nhẹ lợi danh qua hai câu ca dao :
"Dù
ai chác lợi mua danh
Miễn
ta học được đạo lành thì thôi"
Người
cha người mẹ biết ăn ở hiền lương đạo đức là đã
biết tích chứa vốn liếng tinh thần truyền lại cho con cháu
mình. Có người suốt đời chỉ lo trao dồi học thức, dành
cho bằng được một địa vị, nhưng học thức cho lắm, địa
vị cho cao mà không có đạo đức cũng chỉ là người ác.
Đức
Khổng Tử thì dạy hàng môn đệ xem trọng đạo lý mà coi
thường cái chết."Sáng nghe hiểu được đạo lý, chiều
chết cũng cam lòng"
(Triệu
văn đạo, tịch tử khả hỷ)
Đức
Phật nói lên giá trị của nhân sinh là nhận hiểu sâu xa
cái lý pháp thường hằng chi phối muôn ngàn hiện tượng
sai biệt :
"Ai sống một trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt
Không bằng sống một ngày
Thấy được pháp sanh diệt"
Tâm
niệm ngưỡng mộ chánh pháp là động cơ thúc đẩy con người
từ hàng phàm phu tiến lên quả vị Hiền Thánh. Vì không hướng
thiện, không ngưỡng mộ chánh pháp, không biết tu hành nên
rất nhiều chúng sanh bị rơi vào ác đạo. Phật dạy :
"Số
ít là các loại hữu tình được tái sinh giữa loài người;
nhưng nhiều hơn là các loài hữu tình tái sinh ra ngoài loài
người. Cũng vậy số ít là các loài hữu tình ấy được
tái sinh ở các Quốc độ trung ương; nhưng nhiều hơn là các
loài hữu tình phải tái sinh ở các Quốc độ biên địa,
giữa các loài man rợ không biết nhận thức
(Tăng
Chi Bộ Kinh, tập I, trang 45)
Đức
Phật tuy đã nhập diệt từ lâu, nhưng Ngài đã để lại
kho tàng Pháp Bảo, cứu vớt vô số chúng sanh lặn hụp trong
biển khổ trầm luân. Chánh pháp của Phật là những liều
thuốc hay, có công năng trị bệnh phiền não cho chúng sanh;
là con thuyền đưa người ta qua bể khổ; là ngọn hải đăng
phá tan màn đêm vô minh hắc ám. Người con Phật chân chánh,
hãy thu nhận những kiến thức cao đẹp, những giá trị tinh
thần lành mạnh để thực hiện sự chuyển hóa bản thân.
Dù
xã hội loài người có tiến bộ đến đâu, khoa học có cung
ứng đời sống tiện nghi đầy đủ, thì những giá trị tinh
thần của sự sống vẫn được người ta tôn thờ. Cái văn
minh đáng biểu dương lại không phải là cái văn minh vật
chất. Đã đến lúc con người thời đại thấy rằng, văn
minh tâm linh và những giá trị tinh thần mới đóng góp đắc
lực và tích cực cho con người và xã hội. Thời đại nào
cũng vậy, không ai khen những kẻ độc ác xảo trá, không
ai chê những người đạo đức nhân từ. Khoa học chỉ có
thể giúp ta thỏa mãn vật chất nhất thời, chứ không thể
giúp ta được an vui vĩnh cữu. Một khi tự thấy có phiền
não khổ đau đang thống trị nơi tâm thức, liệu vật chất
có thể đẩy lùi phiền não khổ đau chăng ? Tiện nghi đời
sống chỉ là những phương tiện cần thiết ở bên ngoài.
Phật pháp mới đích thực ban cho ta lý tưởng đời sống
tinh thần bên trong. Tiện nghi vật chất như một ngôi nhà
được trang hoàng lộng lẫy sắc màu, đời sống tinh thần
như những người sinh hoạt trong ngôi nhà lộng lẫy sắc màu
ấy. Thế nên người có sức tự chủ biết sử dụng tiện
nghi của đời sống bằng thái độ của một người chủ,
và dĩ nhiên, không thể có thái độ như một kẻ nô lệ.
Hàng
đệ tử Phật cũng chính là những người con tinh thần đem
đạo vào đời. Và những di sản tinh thần ngày hôm nay chúng
ta thừa hưởng là những tặng phẩm của các bậc tiền bối,
chúng ta phải có bổn phận giữ gìn, để vun bồi cho cuộc
sống ngày thêm tươi đẹp, an vui, đóng góp hữu hiệu vào
sự an bình và thịnh vượng của xã hội loài người hôm
nay và mai sau./.
Người
gửi bài: Toàn Trung
Đề
tài này có vẻ lạ lẫm đối với người đời, nhưng quen
thuộc với những người con Phật, và đặc biệt thân thiết
với các Thiền Sinh, vì liên quan đến công phu tu tập hàng
ngày.
Nói
về mùa xuân, ai cũng hình dung đến những điều tốt đẹp
đang chờ đón mình trong năm mới. Nhưng rồi mùa xuân cũng
đi qua, xuân năm nay trở thành xuân năm trước. Thời gian qua
không bao giờ trở lại, như tuổi già không thể quay về thời
trai trẻ, con người mỗi ngày một tiến gần đến cái chết.
Hiểu rõ điều này không phải để chúng ta có cái nhìn yếm
thế bi quan về cuộc đời, mà để nhận ra sự bình đẳng
tuyệt đối của lý vô thường chi phối mọi loài vật. Từ
đó ta có cách sống phù hợp với đạo lý, chuẩn bị chu
đáo cho ngày từ giã cõi đời.
Thiền
sư Thiên Tùng có bài kệ :
Sáng
nay đều nói thêm một tuổi
Tôi
bảo ngày này bớt một năm
Thêm
bớt lại qua số khôn tính
Chỉ
cần dứt sạch duyên thế gian
Cốt
là biết được trong duyên chủ
Trăm
ngàn ức kiếp thường an nhiên
Các
Thiền sư cũng thường làm thơ, nhưng thơ của các Ngài không
chứa đựng những tình cảm thông tục mà trái lại, tràn
trề đạo vị. Mượn cảnh bên ngoài, các Ngài diễn tả nội
dung tâm chứng của mình, đồng thời nhắc nhở cảnh tỉnh
cho người. Sáng ngày mùng một Tết, ai nấy đều mừng nhau
thêm một tuổi, chúc nhau tấn tài tấn lợi, hạnh phúc tràn
đầy. Chỉ riêng Thiền sư lại thấy mọi người bớt đi
một năm trong quỹ thời gian hạn hẹp. Tuy vậy, " Nói thêm
nói bớt nói lại nói qua" chỉ là những con số tương đối
theo quy ước của người đời. Thật sự, thời gian vốn vô
cùng, không gian vốn vô biên, làm sao cân đo đong đếm? " Dứt
sạch duyên thế gian" không phải trốn vào rừng xanh tránh
duyên, mà vẫn tiếp duyên nhưng không dính mắc với trần
cảnh. Chủ yếu là làm sao trong muôn duyên nhận ra " duyên
chủ", thì dù trải qua trăm ngàn ức kiếp cũng đều an nhiên
tự tại.
Người
chủ trong muôn duyên ấy là ai? Làm sao có thể tự tại giữa
hai bờ sinh - tử, làm sao vĩnh viễn trong Xuân thiền khi
bốn mùa đất trời vẫn mãi luân lưu bất tận?.
Nhiều
tiền thân của Đức Thích Ca là bậc Đại thí chủ. Ngài
đã bố thí cúng dường những vật phẩm mà người đời
không sao bắt chước được : Tài sản, vợ con, thậm chí
móc mắt, chặt tay, chẻ xương, lóc thịt ... để cầu Đạo
Vô Thựơng. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường, ta khó thể
tin được điều phi thực tế ấy. Bởi vì, trừ tiền bạc
tài sản, chẳng ai cần đến các bộ phận trong cơ thể ta,
trừ những người bệnh phải ghép cơ quan tạng phủ, mà cũng
phải trải qua rất nhiều thủ tục xét nghiệm và phẫu thuật
phức tạp mới có thể sử dụng được. Thật ra đây chỉ
là ẩn dụ. mượn hình ảnh diễn tả công phu tu hành : "Bố
thí" là buông xả, không đắm nhiễm, không dính mắc. Người
đời khi mắt vừa thấy sắc liền khởi niệm phân biệt đẹp
xấu, đẹp khen xấu chê, khen rồi muốn chiếm hữu, xấu lại
mong xa lánh. Tương tự khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi ...
Từ đó tạo nghiệp, nghiệp thiện dẫn đến ba đường lành
(Trời - Người - A tu la), nghiệp ác đưa vào ba đường dữ
( Địa ngục - Ngạ quỷ - Súc sanh). Riêng những bậc đạt
đạo, dù đang ở trong trần thế, sáu căn vẫn tiếp xúc với
sáu trần, vẫn rõ ràng thấy nghe hay biết, nhưng tâm các Ngài
không vướng bận, không dao động, ấy là thực hiện
hạnh bố thí tích cực và đầy đủ ý nghĩa nhất.
Luật
sư Nguyên đến hỏi Thiền sư Huệ Hải :
- Hòa
thượng có dụng công tu tập chăng
Thiền
sư đáp :
- Có
dụng công
Luật
sư hỏi tiếp :
- Hòa
thượng dụng công thế nào
- Đói
đến thì ăn, mệt đến thì ngủ.
- Mọi
người ai cũng như vậy, có thể cho là dụng công giống Hòa
thượng chăng?
- Chẳng
giống. Khi đói họ chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ. Khi mệt
chẳng chịu ngủ, tính toán đủ điều.
Phật
Hoàng Trần Nhân Tôn trong bài Phú cư trần lạc đạo có bài
kệ :
Cư
trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa
:
ở
đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói
đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong
nhà có báo thôi tìm kiếm,
Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền
Là
người, ai cũng có những nhu cầu thiết yếu, trong đó ăn
và ngủ là đòi hỏi tự nhiên theo quy luật sinh tồn. Nhưng
do sử dụng ý thức phân biệt, nên ăn thì đòi món ngon vật
lạ, ngủ còn suy nghĩ tính toán được mất hơn thua. "Đói
ăn mệt ngủ" của các Thiền sư, mới nghe tưởng đơn giản
nhưng thật sự, đó là cơ phong cao vút của các bậc ngộ
đạo hồn nhiên xứng tánh. Các Ngài vẫn ăn vẫn ngủ, nhưng
với tinh thần tuỳ duyên, không chọn món ăn ngon, nơi ngủ
tốt, cũng không bắt cơ thể chịu đói khát mệt nhọc. Khổ
hạnh ức chế là trái với tự nhiên, buông lung hưởng thụ
lại sa vào tội lỗi, cả hai cực đoan đều không phù hợp
với lý Trung đạo của nhà Phật. Các Ngài đã nhận ra và
hằng sống với "Của báu trong nhà", nên ở giữa chợ đời
mà vẫn vui với Đạo. Hàng ngày vẫn đối diện với cảnh
mà không sinh tâm phân biệt thị phi tốt xấu, vẫn giữa muôn
duyên mà tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, thì ngay đó là sống Thiền,
đâu cần hỏi Thiền làm chi nữa?
Nhưng
làm sao nhận ra "Của báu trong nhà" ?
Chúng
sanh vô minh chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm sinh diệt
là thật mình, từ đó tạo nghiệp thiện ác rồi quẩn quanh
trong lục đạo. Những bậc Giác ngộ nhận ra thân tâm cảnh
đều do duyên hợp huyễn có, như điện chớp như sương mai.
Ánh sáng giác ngộ bừng lên, bóng tối vô minh tự dưng không
còn; như căn nhà muôn đời tối tăm, khi đèn bật lên
tự nhiên sáng rực.Bóng tối lúc ấy trú ẩn nơi nào? Bóng
tối không chạy đi đâu khác, ánh sáng cũng không có chổ
cư ngụ. Chúng chỉ là hai mặt của thực thể, tạm thời
đối đãi qua lại. Tâm người cũng thế khi còn vọng tưởng
phiền não tức còn trong bóng tối, khi dứt bặt vọng niệm
mà vẫn thấy biết rõ ràng là lúc ánh sáng bừng lên. Như
vậy, chúng sanh và Bồ tát đều cùng một bản thể là Tánh
giác thường trụ, sẵn đủ ở mọi loài, nếu quên (mê) là
phàm phu, nhớ lại (ngộ) là Hiền Thánh.
Mặt
khác, những đợt sóng tâm thức chợt có chợt không, mang
hình tướng của pháp trần nên có sinh có diệt, còn tánh
giác không hình tướng nên không hề có đến đi sinh diệt
bao giờ. Phần hữu hình là Sắc, bị hạn cuộc về thời
gian và không gian, thuộc Tích môn. Phần ẩn tàng là Không,
là thể tánh nguyên vẹn của vũ trụ vạn loại, thuộc về
Bản môn. Đời là mặt hình tướng biêủ hiện, Đạo là
phần ẩn tàng không hình tướng. Nhưng người tu không phải
bỏ đời cầu đạo, mà từ thế giới hữu vi của Đời mà
nhận ra lý Đạo vô vi. Thiền sư Linh Vân trãi qua ba mươi
năm đi tìm lẻ thật, chỉ thấy có lá cành rụng khô. Không
ngờ của báu sẵn đủ trong nhà, vì mãi phóng tâm đuổi theo
cảnh mà cô phụ chính mình. Khi đủ thời tiết nhân duyên,
nhìn hoa đào nở, Thiền sư hoát nhiên đại ngộ. Chân lý
nào ở nơi hoa đào nở? - Hoa tàn hay nở là sự biến đổi
tất nhiên của các pháp. Thiền sư đứng trước Hoa, không
khởi niệm dính mắc trên hoa cũng không nhắm mắt chẳng nhìn,
mà ngay nơi hoa trực nhận tánh thấy, trở về con người chân
thật ban sơ, chưa bao giờ vắng thiếu.
Một
vị Tăng hỏi Thiền sư Huệ ở Hoa Nghiêm :
- Người
xưa nói: "Vọng tâm không chổ nơi tức Bồ đề". Vậy ngay
khi đang vọng có Bồ đề không ?
Thiền
sư trả lời :
- Lời
đáp đã rõ.
Tăng
thưa :
- Con
không hội.
- Vọng
tâm không chổ nơi tức Bồ đề.
Câu
đáp của Thiền sư thật không có chổ cho đương cơ bám víu.
Nếu Ngài bảo "có" hay " không có Bồ đề". Ngay khi niệm khởi,
biết niệm chỉ là hư dối (vọng), tức không chổ nơi sinh
ra. biết rõ như thế là Giác (Bồ đề), ngay đó tức là vô
sanh (Niết bàn). cảnh giới Niết bàn không ở đâu xa mà ngay
đương xứ, khi tâm Đốn ngộ lập cước trên cái thấy như
thị, quán triệt thực tướng các pháp đang là trong sát na
hiện tiền bất động. Nhận ra sát na vĩnh cữu ấy, Ngài
Ca Diếp mỉm cười trong hội Linh Sơn, Lục tổ Huệ Năng
thốt lên : "Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh ...".
đời tu của các Ngài vượt qua một bước trọng đại, nhà
Thiền gọi là chuyển Y, rắn hóa rồng không đổi vảy.
Đại
thi hào Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều bất hủ, trong giây
phút chợt tỉnh trước tảng đá phân kinh của Thái Tử
Lương Chiêu Minh, đã có những câu thơ xuất thần.
Nhân
liễu thử tâm nhân tự độ
Linh
Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Và
:
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Cập
đáo phân kinh thạch đài hạ
Tái
tri vô tự thị chân kinh.
Thái
Kim Lan dịch :
Người
tu được tâm độ ấy rồi
Linh
Sơn chỉ ở long người thôi
Và
:
Ta đọc Kim Cương trên nghìn lượt
Lắm điều sâu kín hiểu không rành
Đài đá phân kinh nay được đến
Mới hay “không chữ” ấy chân kinh.
Một
bậc trí đức tài hoa siêu tuyệt như thế, nghiên cứu kinh
Kim Cương công phu khó ai sánh nổi như thế, vẫn phải than
rằng, còn lắm điều sâu kính diệu mầu chưa hiểu thấu
Bởi
vì, hiểu kinh bằng ý thức phân biệt, bằng tư duy của chất
xám thì chỉ hiểu trên mặt văn tự ngôn ngữ, chưa phải
là kinh thật. Khi mọi vọng niệm bặt dứt, xoay lại chính
mình bắt gặp con người chân thật hằng hữu, mới hay hội
Linh Sơn chỉ tại “tâm đầu”, mới hay chân kinh chính là
“Kinh vô tự”.
Kinh
vô tự mới là kinh chân thật. Vì cớ sao? Vì ở nơi ấy không
thể dùng lời diễn tả, không thể dùng ý nghĩ suy. Bặt đường
ngôn ngữ, dứt tuyệt tâm hành mà vẫn tường tận rõ biết.
Như Lão tử đã nói : “Đạo khả đạo phi thường đạo,
Danh khả danh phi thường danh”. Đạo mà còn nói được chưa
phải là Đạo thường, Danh mà còn gọi tên được chưa phải
là Danh thường. Đạo và Danh chân thường không hình tướng
nên không đến đi, không tư lường được nên không có tên
gọi. Và cũng vì không tên nên được đặt rất nhiều tên,
tùy cảm nhận của đương cơ khi sáng Đạo ( Phật tánh,
Pháp thân, Chân tâm, Bản lai diện mục, Ông chủ …) hoặc
khi muốn khai thị cho người (Cây Bách trước sân, ba cân gai
…). Liên hệ đến cảnh Xuân, các Ngài cũng đã thi vị hóa
con người chân thật ấy bằng nhiều tên : Nhất Chi Mai của
thiền sư Mãn Giác, Chúa Xuân của sơ tổ Trúc Lâm, Tâm xuân
của thiền sư Tuyết Đậu …
Thiền
sư Thanh Viễn Phật Nhãn đời Tống diễn tả mùa xuân của
Ngài như sau :
Ngày
xuân xuân trong núi
Việc
xuân thảy đều xuân
Hồ
xuân ánh xuân chiếu
Khí
xuân hết mây xuân
Khách
xuân lòng xuân động
Thi
xuân xuân càng tươi
Chỉ
có xuân biết xuân
Muôn
kiếp một mùa xuân.
Quả
là một mùa xuân sung mãn, hiện diện khắp mọi nơi, từ cảnh
vật bên ngòai đến tận đáy sâu tâm thức. Thiền sư tu trên
núi, thấy ánh nắng ấm áp chiếu trên mặt hồ xanh biếc,
không khí trong lành thoang thoảng hương hoa, vài cụm mây trắng
bồng bềnh trôi trên bầu trời thênh thang … Ngài biết mùa
xuân đất trời đang đến. Người đời trước cảnh xuân,
ai cũng thấy lòng rộn rã theo sự đổi mới của thiên nhiên,
tươi trẻ theo sắc màu lộng lẫy của ngàn hoa, tưng bừng
theo tiếng chim líu lo trên cành. Tâm hồn người biết Đạo
cũng chan hòa với vạn vật, nhưng các Ngài thật sự sống
với chúa Xuân, thưởng thức Xuân đời bằng Tâm Xuân, nên
muôn kiếp vẫn chỉ một mùa Xuân ấy. Khi ngắm cảnh mà có
ý thức phân biệt ta là người ngắm, cảnh là đối tượng
được ngắm, thì người thưởng xuân chỉ là khách. Nhưng
khi Tâm Xuân thưởng ngoạn Xuân đời, thì tất cả đã hòa
quyện thành một thể nhất như. Chúa Xuân hiển hiện rõ ràng,
luôn luôn có mặt.
Khi
vua Lý Thái Tông vào núi thăm Thiền sư Thiền Lão, vua hỏi
:
- Hòa
thượng ở núi này bao lâu?
Thiền
sư trả lời bằng hai câu kệ :
Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu
Dịch
:
Sống
hôm nay biết hôm nay
Còn
xuân thu trước ai hay làm gì
Người
đời luôn bận rộn với biết bao nhiêu ý nghĩ, hết suy tính
chuyện tương lai đến hoài niệm về quá khứ. Thiền sư thì
không thế, các Ngài luôn an trú vững chãi trong giây phút hiện
tại, chánh niệm tỉnh giác trên từng biến dđộng của thân,
từng thay đổi của tâm và chuyển dời của cảnh. Thân tâm
cảnh vô thường chi phối, song các Ngài vẫn viên mãn trong
sát na hiện tiền bất động. Vì sao được như thế?. Bởi
vì :
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân
Dịch
:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây bạc hiện tòan chân
Trực
nhận và hằng sống với chánh giác chân thường, thì mọi
vật hữu hình hay vô hình đều nằm trong ánh giác, đều hiển
hiện pháp thân thường trụ. Có phải đây là khoảnh khắc
thiên thu mà “Tình dữ vô tình tề thành Phật Đạo”?. Chạm
mắt tức Bồ đề, Ta Bà thành tịnh độ, tất cả pháp thế
gian chẳng phải là pháp Phật đó sao?
Đối
với những bậc đạt đạo, tất cả pháp đều là pháp Phật
vì các Ngài đã thẩm thấu tinh thần bất nhị, tư tưởng
vút cao của Phật môn. Trong thường tục mà siêu tục, trong
khổ đau có hạnh phúc, trong ràng buộc có giải thóat. Không
thể tìm hạnh phúc chân chính, tìm giải thoát tuyệt đối
ở ngoài chốn đau khổ ràng buộc, cũng như tìm Chúa Xuân
không phải chờ mùa đông đi qua. Bởi vì chúa Xuân luôn có
mặt, sự an lạc xuất thế gian vẫn được hiện hữu ngay
trong cuộc sống đời thường, khi vẫn hay biết rõ ràng mà
không còn khởi niệm phân biệt hai bên. Đến đây thì “Thênh
thang bầu trời rộng, đứng riêng trong mù tột”. Như Thiền
sư Tuyết Đậu ngắm cảnh xuân về trên núi, thấy cành xanh
trùng điệp, nước hồ long lánh, trời xanh bát ngát.Tâm Ngài
chan hòa cùng muôn tượng mà vẫn đứng riêng trong mù tột,
ngay trong cảnh thế gian mà vẫn an vị nơi xuất thế. Từ
đó, chúng ta thấm thía hai câu kệ thường được nhắc đến
trong nhà Thiền :
Bóng
trúc quét sân trần chẳng động,
Vầng
trăng xuyên biển nước không chao.
Trong
thế giới hữu vi, các Thiền sư vẫn sinh hoạt, vẫn thi thiết
nhiều phương tiện độ sanh. Nhưng dù việc gì, ở đâu, các
Ngài vẫn luôn an trú ở vô vi, như bóng trúc quét sân không
làm bụi bay, vầng trăng chiếu bóng xuống biển không làm
nước chao động. Như thế, xuất trần là ở trong trần mà
không vướng nhiễm bụi trần, xuất thế gian là vẫn ở trong
thế gian mà không bị phiền lụy bởi cuộc sống thế gian.
Hình ảnh ông già tay cầm bình rượu tay xách cá chép, bức
tranh cuối cùng trong mười bức tranh chăn trâu Thiền
tông, là hình ảnh đẹp tuyệt của những bậc giác ngộ đi
vào cuộc đời, tùy duyên hóa độ muôn loài mà không thấy
có chúng sanh nào được độ.
Áp
dụng vào công phu tu tập, trước hết chúng ta cần dọn dẹp
rác rưởi trong kho tâm thức, tức những nghiệp ác của thân
miệng ý tích chứa bao đời nay. Dùng nghiệp lành thay thế
nghiệp ác, dần dần ta trở nên người hiền thiện, ý luôn
nghĩ điều lành, miệng luôn nói lời lành và thân luôn làm
việc lành. Ta tưới tẩm tâm mình bằng những ý nghĩ lạc
quan tích cực, yêu đời yêu người, mong muốn mọi người
đều được hạnh phúc. Tâm ta dần trải rộng, ta thương
yêu đồng loại bằng tình thương bình đẳng vô vị lợi,
vì biết ai cũng có những nỗi khổ niềm đau cần chia sẻ.
Tích
cực làm lợi ích cho người, theo luật nhân quả, tự thân
tâm ta thấy an lạc, hòa đồng với tất cả, phiền não tham
sân si dần dần giảm thiểu. Theo tinh thần Phước – Huệ
song tu, một mặt ta tinh tấn tu hành, một mặt nổ lực giúp
đỡ người khác tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Quán
chiếu Bát Nhã sâu sắc, thiền sinh thấy rõ thân tâm đều
do duyên hợp, chỉ giả lập mà không thật có, thì bao nhiêu
phiền não nhiễm nhơ chỉ là hoa đốm giữa hư không. Khi đủ
thời tiết nhân duyên, nhận ra con người thật của chính
mình, đời tu ta đã có sự chuyển hóa tận gốc rễ. Ta đã
có nơi chắc chắn để an thân lập mệnh, đường ta đi không
còn lầm lạc, niềm tin ta không cách gì làm lung lay được
nữa.
Biết
rõ thân tâm cảnh đều không thật, thiền sinh có thể chịu
đựng và bình tĩnh ứng phó trước sự thuận nghịch của
hoàn cảnh và sự đổi thay của lòng người. Tám gió là thước
đo định lực của người tu : lợi lộc, tổn hao, phỉ báng,
khen ngợi, ca tụng, nói xấu, cảnh khổ, niềm vui. Đối với
người này, tám hòan cảnh trên như những trận bão, với
người khác như ngọn gió mạnh, với người tu khá hơn thì
chỉ như cơn gió hiu hiu. Đến lúc nào đó, trước tám gió
mà ta vẫn bất động an nhiên, tự biết công phu tu tập của
ta đã tiến một bước dài.
Ngạn
ngữ Anh có câu :
Tự
xét mình miễn là không thẹn
Thị
phi miệng thế có ngại gì
Cái
chấp hai bên là tập khí cố hữu của con người : ưa thiện
ghét ác, khen tốt chê xấu … đưa đến thị phi nhân ngã,
đầu mối của sự tranh chấp bất hòa làm tổn thương cho
mình cho người. Đời sống Thiền tập giúp người tu
luôn xoay lại chính mình, sống với những thời khắc hồn
nhiên của tự tánh, siêu vượt thế giới của phân biệt
nhị biên. Sự hồn nhiên biểu hiện qua phong cách hàng ngày,
tiếp cảnh mà không duyên theo cảnh, sống giữa các pháp mà
không làm bạn với pháp nào.
Mặt
khác, chúng ta cần cảnh giác với những thuận duyên, vì lửa
nóng dễ tránh mà nước mát lại thường làm chết chìm. Hòan
cảnh luôn xuôi thuận, làm việc gì cũng thành công, được
nhiều người ca tụng, khen ngợi … thường làm con người
sinh tâm kiêu mạn, từ đó đường tu đi xuống mà không biết.
Ngược lại, nghịch cảnh giúp ta thức tỉnh, cảm nhận sự
bất toàn của cuộc sống nên bớt đắm luyến dục lạc thế
gian. Gặp nhiều gian nan trở ngại, ta có cơ hội nuôi dưỡng
ý chí kiên cường, cố gắng vượt qua sóng to gió lớn. Ví
như cái cây mọc trên đất mầu mỡ, thường mau lớn và mau
ra hoa kết trái, nhưng lại dễ đổ ngã khi gặp trận cuồng
phong. Còn một cây mọc nơi đất đá cằn cỗi, tuy chậm phát
triển nhưng khi đã đủ mạnh, lõi cây thường cứng và vững
chãi hơn rất nhiều. cho nên, người tu chúng ta không sợ thất
bại mà nên tỉnh giác trước thành công; và khi định lực
tăng tiến, ta siêu vượt những niềm đau nỗi khổ cùng những
niềm vui mừng của thế tục.Tuy tập khí vẫn còn và đôi
lúc vẫn bùng lên mãnh liệt, nhưng nhờ công phu thiền tập,
ta có sức kham nhẫn tự chủ, không để lạc vào lối rẽ
đường mê.
Thiền
sư Vạn Hạnh từng bảo :
Sá
chi suy thịnh việc đời
Thịnh
suy như hạt sương rơi đầu cành
Nếu
chúng ta dính mắc vào đời suy thịnh, ta cứ mãi làm khách
phong trần, lang thang vĩnh kiếp trong lộ trình sinh tử. Nếu
biết thịnh suy, vinh nhục chỉ như giọt sương trên cành cây
ngọn cỏ, hư dối không thật, ta có thể an nhiên tự tại
trước mọi hòan cảnh. Tự thân công phu theo chánh pháp, nếm
mùi pháp hỉ thiền duyệt, ngay nơi bất an mà biểu hiện tự
do, ngay chổ ồn ào xáo động mà sống trong sát-na bất động.
Khi biết được mình là ai, đời tu của ta tăng tiến rất
nhanh mà không sợ lạc lầm. tất cả các pháp luôn chuyển
biến theo tiến trình nhân quả, bốn mùa đắp đổi theo nhau,
nhưng ngay trong lòng sự biến chuyển đó, vẫn có một cành
hoa xuân mãi không bao giờ tàn rụng.
Thiền
sinh chúng ta là những người diễm phúc, hưởng được Xuân
đời và cả Xuân đạo. trời đất như quán trọ, chúng sanh
lên xuống ba cõi như khách qua đường, có khi tạm nghĩ chân
giây lát rồi lại tiếp tục cuộc hành trình thiên lý. Nguyên
nhân chỉ do điên đảo chấp thân tâm mình là thật, chấp
cảnh bên ngòai là thật nên quay cuồng theo chúng mà tạo nghiệp
sinh tử. Nếu biết tất cả những biến đổi của thân tâm
cảnh đều là khách, con người chứng kiến mọi biến đổi
ấy, người không hình tướng luôn hiện diện vượt thời
gian, không gian mới là con người chân thật, chúng ta đã có
nơi nương tựa vững chắc đời đời. Khi ấy, ta mới thật
sự hưởng một mùa xuân bất diệt, mới sống trọn vẹn
trong Xuân thiền.
Cầu
chúc tất cả chúng ta đều biết cách quay gót trở về quê
nhà muôn thuở, vĩnh viễn an vui trong xuân thiền – bây giờ
và mãi mãi.
Người
gửi bài: Toàn Trung
12-04-2007
09:12:23