LUẬN
TÂN DUY THỨC
Nguyên
tác: Thái Hư Ðại Sư
Dịch
giả: Thích Thiện Siêu
A.
Phát đoạn
"Mười
ngày dạo cảnh Hồ Tây,
Hoa
đào đua nở, đỏ bay khắp bờ."
Ðó
là lời ngâm vịnh của tôi, nó bỗng nhiên lưu lộ trong khi
tôi từ giã Tịnh Phạn Viện đi đến Di-lặc- Viện, thả
thuyền qua cảnh Hồ Tây nhân ngày Thanh Minh vậy.
Ô!
Hoa đào thắm đỏ, chẳng biết có từ bao giờ, bờ bọc quanh
hồ, hồ chạy theo ngoài núi, vật vật đều sẳn như nhiên!
Vả chăng tôi không phải là tôi mới hiện ra trong khoảnh
khắc một mai một chiều. Tôi từng ở núi, tôi từng dạo
hồ, tôi từng thưởng thức xuân sắc tuơi vui, đùa với sóng
bạc long lanh, chớ đâu mới một lần này? Nhưng khi cảnh
với người giao cảm thích nghi, thì cấm làm sao được sự
xúc cảm đối với cảnh tượng xung quanh, và dòng tư tưởng
mới nó bộc phát! Tôi nghĩ rằng luận Duy thức cũng vậy,
nó đâu phải mới có bây giờ. Nhưng nay do sự nhu cầu của
xu hướng mới, cùng sự giao dịch giữa nền tư tưởng học
thuật Ðông Tây, đã xúi giục nó phát lộ ánh tinh quang trên
chóp đỉnh tư trào hiện đại, như hoa đào bỗng hiện khắp
bờ, khiến toàn cảnh núi hồ nhờ vậy một phen đổi mới.
Do đó mà tôi gọi nó là Tân Duy thức luận. Nghĩa lý mới
mẻ, sẽ lược thuật sau đây:
1.
Tân Duy Thức ra đời là đáp lại nhu cầu cho nền học thuật
tư tưởng mới. Gần đây, sự tiến bộ của khoa học không
những đã gây được những thành tích vẻ vang trong vật giới,
đồng thời nó cũng làm cho Thần giáo mất chỗ y cứ, cả
đến một phần lớn những điều thuyết minh trong triết học
cũng lần lần xé ra làm khoa học, chỉ lưu lại một phần
"Hình nhu thượng" gọi là Triết học mà thôi.
Tiếp
đến, sự suy cứu của Nhận thức luận nó hoài nghi cái học
Hình nhi thượng không thể thấu biết được, hay dẫu cho
thấu biết cũng chẳng có hiệu quả ra làm sao, nên Hình nhi
thượng học bị Nhận thức luận liệt vào loại những vấn
đề không cần giải quyết. Do đó, Triết học cũng giáng
xuống làm thứ nguyên lý tổng hợp của khoa học, phụ thuộc
vào khoa học mà thôi.
Song
le nhìn cuột thế đại loạn ngày nay, có người nói đó là
tại khoa học, có người lại nói không phải lỗi tại khoa
học, mà tại kẻ lạm dụng khoa học. Nhưng lý do lạm dụng
khoa học ở đâu? Làm thế nào để khỏi bị lạm dụng? Theo
ông La-Tố (Russell) thì khoa học cũng dựa vào các giả thuyết
mê tín siêu hình mà có, nếu bỏ hết mê tín siêu hình, thì
bản thân khoa học khó bề đứng vững! Thế khoa học còn
có hy vọng gì khác hơn? Thần giáo và Triết học lần lượt
bị khoa học xô ép, cuối cùng khoa học càng bị vạch áo
lộ hình, bế tắc không thông suốt, giống như quân chủ chuyên
chính, quân chủ lập hiến, đều bị nền chánh trị dân chủ
thôi hãm, nhưng dân chủ nếu không sao trị được bệnh, bấy
giờ tâm trí hoang mang, chẳng biết lấy đâu làm chỗ dựa!
Thế thì hãy bỏ hết những lý thuyết huyên viễn, chỉ chú
trọng lấy vấn đề "hiệu dụng" để giúp cho cuộc sống
nhân loại, như "Chủ nghĩa thực dụng" của bọn ông Tìm-mẫu-sĩ
(James William) có được không? Ðiều đó chưa dám tin chắc,
vì theo chủ nghĩa ấy, phải chăng nhân loại đã được tồn
tại an lành? Hay là bác bỏ các phương pháp phi lý, khái niệm,
vì bản thể chỉ do trực giác mới biết được thôi, như
luận thuyết của ông Bá-cách-sum (Bergson) ư? Song ngã chấp,
pháp chấp cùng sanh, chúng sinh lọt lòng đã có nó. Ðâu được
bằng vào cái trực giác, nhuốm màu ngã, pháp chấp kia mà
thấu triệt bản thể; cho nên bằng trực giác cũng chưa phải
là phương pháp đáng tin chắc.
Có
lẽ, vì xu thế của nền học thuật tư tưởng đã mong mỏi
một phương pháp tự do, làm thế nào để có thể thiện dụng
khoa học, mà không bị khoa học mê hoặc, và vì khuynh hướng
mong giải quyết mọi vấn đề căn bản, nên lần lượt nó
đưa ta đến Tân Duy thức luận, mà tới đây tôi có cái cảm
khái "tuyệt đường non nước, nào ngờ: một thôn xóm lạ
lại chờ nơi đây". Ðó là lý do thứ nhất, Duy thức luận
trở thành sự nhu cầu tối yếu cho nền học thuật tư tưởng
ngày nay vậy.
2.
Tân Duy thức luận tức là dùng lối học thuật tư tưởng
mới mà diễn đạt lý Duy thức vậy. Loại sách thuộc Duy
thức học rất nhiều. Tùy cơ nghi mà thuyết pháp đã tạo
thành một hệ thống tư tưởng, một tông phái quan trọng
trong Phật giáo. Những lối giải quyết các nghi nan của Duy
thức tuy vẫn còn sắc sảo và thích ứng với trào lưu tư
tưởng hiện tại, song khi xu thế lòng người đã đổi khác
thì không thể không dùng đến phương pháp tùy ứng để trình
diễn. Nhất là văn từ cú pháp hiện thời đã khác xưa, nếu
không lợi dụng lối văn học sống của ngày nay để làm
thứ khí cụ mới, để diễn đạt chơn tinh thần của Duy
thức học, thì dẫu môn Duy thức học có công năng cung cấp
mọi nhu cầu cho tư trào học thuật, tái tạo văn minh đi nữa,
nhưng không thể ứng dụng vào tư trào, làm sống dậy chân
tinh thần của nó giữa nhân gian thì cũng chưa đáng gọi là
Tân Duy thức, thích ứng thời cơ. Vì lẽ đó mà Tân Duy thức
này phải là ứng hóa thân của chơn Duy thức luận vậy. Và
đã từ chơn khởi ra ứng, thì toàn ứng tức chơn, tuy chơn
hay ứng vẫn là một, song đại dụng đối với thời cơ,
thì quý hồ nơi ứng hóa. Làm được việc đó, thật là một
công nghiệp lớn lao, tôi dầu sức bạc tài hèn cũng cố gắng
để mở lối cho những bậc trí giả về sau này.
3.
Tân Duy thức luận không phải là khía cạnh như Duy tâm luận
của Âu Tây. Duy tâm luận luôn đối lập với Duy vật luận,
điều mà đã từng gây sự bài xích lẫn nhau, nó đã có từ
lâu trong học giới Âu Tây. Ðại khái có hai thứ là chủ
quan Duy tâm luận và khách quan Duy tâm luận. Những lập luận,
lý lẽ, sách vở của Duy tâm luận này vẫn có, song chưa được
hoàn toàn rốt ráo, chưa có thể nói rõ được chữ Tâm. Nó
chỉ mới nói đến từng khía cạnh của cái hành tướng biến
hiện của tâm, chứ chưa minh chứng đến chỗ tâm hơn. Ðã
vậy mà nói Duy tâm, thì càng làm cho tâm chơn thật đã lu
mờ thì nhận cái "không ám muội" cho là thật, rồi bị các
tiền trần như mộng, như huyễn, như bóng ngăn che, không làm
sao thiện dụng được đức tánh sáng suốt thanh tịnh của
tâm. Duy thức luận này đi ngược lại con đường ấy, làm
cho diệu tâm được hiển hiện tròn đầy, đức dụng được
toàn chương, đúng như chơn lý, đúng như trí lượng, không
bỏ, không lấy, không giống cái tâm văn vún, chi ly của Duy
tâm luận Âu Tây. Nên biết rằng Duy thức luận ra đời, không
phải là một môn học lộn quanh trong vòng Duy vật, Duy tâm
như đã nói trên, mà nó là nền học thuật được khai riêng
đối với tư trào thế giới vậy.
4.
Tân Duy thức luận, cũng chẳng phải Huyền tưởng luận ngày
xưa. Các nhà tư tưởng ngày xưa chỉ căn cứ vào mặt lý
tính rồi theo đó tạo ra những lối huyền tưởng, bằng cứ
nơi hư huyền mà kết cấu, mà võ đoán cái tính cách thật
tại (thật có) duy nhất của nhân sinh và vũ trụ như nọ
như kia. Trong đó có thuyết bảo "Nhất sinh nhị, nhị sinh
tam, tam sinh vạn vật", có thuyết bảo "Thái cực sinh lưỡng
nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái".
Có thuyết bảo"Thần Jehova (Gia-hòa-hoa) sáng tạo vạn hữu,
chủ tể muôn loài, tuyệt đối, vô cùng, vô thủy, vô chung
", có thuyết lại bảo"Thần ngã và minh tính hợp lại sinh
ra giác, giác sinh ngã mạn, sinh ngũ duy, sinh ngũ đại, sinh
thật nhất căn; nếu một khi vạn pháp trở về với tự tánh,
thì thần ngã rời khỏi minh tính mà được tự tại giải
thoát". Ðấy toàn những thuyết người xưa theo dõi. Nó chỉ
hữu danh vô thực. Nay tuyệt đối bài trừ hết thảy lối
huyền tưởng hư cấu và võ đoán vọng chấp ấy, để chỉ
nhắm ngay vào tâm cảnh hiện tiền mà lập thành một hệ
thống lý luận, trong biện chứng, quý thực nghiệm bằng phương
pháp thích đáng là làm sao một niệm được tương ưng, chỉ
toàn thể viên mãn trạm tịch, linh động dung thông, không
bị chút gì ngăn cản. Hết thảy ngôn ngữ văn từ đều như
dấu chim bay ngang không trung, không dễ gì nắm giữ. Có xoay
được sơn hà đại địa về ta và tan hòa ta và sơn hà đại
địa như thế, mới hòng chuyển khoa học theo ý muốn mà không
bị khoa học chi phối chuyển sử.
Làm
công việc đó, Duy thức học trước sau vốn cùng với khoa
học tác thành cho nhau, nên nay gọi là Tân Duy thức luận.
Tôi
từng bảo "Duy thức là môn học đứng đầu trong giáo lý
Ðại thừa". Song từ khi khoa học tôn sùng Duy vật luận thì
người ta sợ phải nghe đến Ðại thừa Duy thức... Theo họ,
hễ nói đến Ðại thừa duy thức tức nói đến thần quyền
và huyễn thuật, đâu biết khi Duy thức luận thành lập, trước
tiên nó phải trải qua Hữu luận, Không luận của Tiểu thừa,
Không tôn của Ðại thừa và cùng một lúc chiết phục lỗi
thường kiến của Duy thần và lỗi đoạn kiến của Duy vật,
rồi mới khai sinh nghĩa lý Ðại thừa duy thức trung đạo.
Thật vậy, tại Thiên Trúc, khi Duy thức luận phát khởi, chính
là lúc mọi chủ trương như đa nguyên, nhị nguyên của Thắng
luận, Phiếm thần luận hoặc Thần ngã của Số luận, tứ
đại cực vi Duy vật luận của phái Thuận Thế, hay Hữu luận,
Không luận của Tiểu thừa, Không tôn của Ðại thừa v.v.
đều cực thịnh. Bấy giờ những lẽ huyền ảo được cứu
xét quán huệ càng tinh vi, tri thức người ta càng tiến mãi
không dừng và cùng tiến theo thời vận đó, Duy thức luận
đã luận ra đời. Và lúc đó, dẫu có Tiểu thừa giáo là
chính đáng, nhưng cũng chỉ là giáo lý có phần siêu việt
thế gian, không thể cứu khắp mọi loài, giống như Duy vật
luận ngày nay của khoa học tôn sùng, tuy có công năng trau
dồi quả địa cầu, song không thể nói rằng đã đem lại
hạnh phúc an lạc cho nhân loại. Do đó, Duy thức học chẳng
những cùng vối khoa học thông đồng mật thiết, mà thật
ra, nhân khi khoa học Duy vật phát đạt để xương minh Duy
thức tôn học và hơn nữa xương minh Duy thức tôn học cốt
để bổ cứu chỗ cùng khuyết của khoa học Duy vật. Đó
là cái cớ làm cho Duy thức thành Tân Duy thức luận.
Nhưng
Duy nghĩa là gì? Thức là thế nào? Tại sao thức có thể duy
và duy chỉ là duy thức?- "Duy" có nghĩa là chẳng phải cái
khác, là không chống trái, là không có chi ngoài, là không
riêng biệt tồn tại, là không rời khỏi. Còn "Thức" là chỉ
cho tự thân của thức, chỉ cho tâm sở tương ứng với thức,
chỉ có cảnh sắc sở liên của thức, chỉ cho phân lượng
của thức và chỉ cho thật tánh của thức. Và nên hiểu thêm
một cách rốt ráo rằng không tự tánh, không sở đắc, song
"Duy" nhất định là "Thức", vì các pháp hiện hữu đều không
ngoài phạm vi của thức vậy.
* *
*
B.
Duy thức luận với vấn đề vũ trụ nhân sinh
(Đoạn
này dùng lối vấn đáp, một bên hỏi, một bên giải thích
để thuyết minh)
Hỏi:
Mọi vật như trời đất, nhân loại, cầm thú mà ta hiện
thấy trước mắt, nó không phải có ư? Quy luật thiết yếu
thì người ta ai cũng phải có sự sống (sinh mạng) và cá
tính của nhân sinh; còn nói bao quát, thì vũ trụ tất phải
có tự nhiên tính và bản thể của vũ trụ. Vậy có thể
nào phủ nhận những sự ấy không phải thật có hay có mà
duy thức? Cho nên, nếu nói "Các pháp đều duy thức" ắt không
đúng.
Giải
thích: Bạn cho rằng trời đất, người, vật là pháp thật
có, phải chăng vì bạn hiện thấy đích xác nó có thực?
Bên
hỏi: Phải
Giải
thích: Giá như có nguời họ chứng minh trong sự hiện thấy
đó thiệt không có trời đất, người, vật gì cả; khi ấy
có được nói trời đất, người, vật đều không thật có
chăng?
Bên
hỏi: Trời đất, người, vât là điều mà ai cũng hiện thấy
rõ ràng, tại sao không thể chứng minh nó là thật được?
Giải
thích: Bạn quả quyết trong sự hiện thấy của ta hẳn có
trời đất người vật, vậy điều ấy có giống như khi ta
trông thấy một quả quít ở trong lòng bàn tay ta không?
Bên
hỏi: Lấy gần để tỷ lệ xa, lấy nhỏ để tỷ lệ lớn
thì mọi vật hiện thấy cũng rõ ràng như ta thấy quả quít
trong lòng bàn tay ta vậy.
Giải
thích: Quả quít bạn thấy ấy phải chăng nó hình tròn và
sắc vàng?
Bên
hỏi: Phải.
Giải
thích: Nếu hình tròn và sắc vàng là quả quít, thì những
bóng tròn và vàng trong gương, hình tròn và vàng trong bức
hoạ cũng đều là quít cả sao?
Bên
hỏi: Không! Quả quít thật, nó còn có hương ngửi được,
vị nếm được và có thể rờ nắm được nữa kia, nên nó
khác hẳn hình bóng trong gương.
Giải
thích: Nhưng khi trông thấy thì chỉ thấy hình tròn và sắc
vàng thôi, chớ nào có thấy được hương vị, xúc ấy. Vậy
khi ta thấy một quả quít cũng giống như khi ta thấy hình
bóng trong gương, bên nào cũng chỉ thấy hình tròn và sắc
vàng, không hơn không kém. Suy để cho biết quả quít vốn
không thực có trong sự hiện thấy của ta. Quả quít đã không
thật, là giả có suy rộng ra sơn hà đại địa cũng thế
thôi.
Bên
hỏi: Tuy vậy, hiện nay mắt ta có thấy sắc, tai có nghe tiếng,
lưỡi ta có nếm vị, mũi ta có ngửi mùi và thân ta có xúc
chạm. Những thứ sắc, tiếng, vị, mùi, xúc có tính quyết
định nó phải dựa vào một cá thể thật hữu mới tồn
tại được cái cá thể ấy, ta bảo là quả quít, thì sao?
Giải
thích: Bạn muốn nói cá thể, vậy bạn có thể chứng minh
nó ra chứ? Hiện tại cái có thể thấy là hình sắc, cái
có thể nghe âm thanh, cho đến cái có thể rờ mó, cảm giác
là cứng mềm, khô ướt, lạnh nóng, nặng nhẹ v.v. những
thứ đó thường tùy theo tác dụng thấy nghe, ngửi, nếm,
cảm xúc và biến đổi luôn luôn, giờ phút sau đã không giống
giờ phút trước. Vậy cái cá thể mà bạn muốn nói ấy,
nó nằm tại chỗ nào?
Bên
hỏi: Cái mà gồm có sắc, hương, vị, xúc, nó chiếm một
vị trí không gian, tiếp tục tồn tại làm cho người ta nắm
được ấy là cá thể đó?
Giải
thích: Theo lời bạn nói thì rõ ràng cá thể không có chỗ
nào nhất định, nó chỉ là giả tướng tạm hiện ra trong
nhất thời. Chính do sắc, hương, vị, xúc hòa hợp liên tục
mới hiện ra cái ấy, chứ không phải trước tiên có cái
ấy, rồi sau đó mới sắc, hương, vị, xúc, hòa hợp liên
tục giữa sắc, hương, vị, xúc, kỳ thật không có một cái
cá thể nào khác. Ví như kết hợp bao nhiêu người, trước
sau nối nhau, tạo thành một toán quân chứ đâu phải ngoài
số cá nhân kia, có một toán quân biệt lập sau mới tạo
thành ra cá nhân?
Bên
hỏi: Nếu ta chỉ thừa nhận cái tướng hòa hợp liên tục
giữa sắc, hương, vị, xúc kia là thật hữu thì thế nào?
Giải
thích: Đã là tướng hòa hợp liên tục thì một khi các thứ
sắc, hương, vị, xúc ly tán, tướng ấy hoàn toàn biến mất.
Vả chăng ngoài các thứ sắc, hương, vị, xúc đã không có
thể đứng riêng, thì làm sao gọi là thật hữu được.
Bên
hỏi: Như thế các thứ sắc, hương, vị, xúc do ngũ quan của
ta hiện thấy, ngửi, nếm, đụng được đó hẳn là thật
có, nó đã thật có thời nó là vật, và do vật hợp lại
sinh ra, đâu phải duy thức biến?
Giải
thích: Bạn muốn bảo những thứ sắc, hương, vị, xúc là
thật, là hiện thấy được ư? Thì đây, như khi ta thấy hình
tròn màu vàng ta bảo là quả quít. Bạn hãy xét kỹ hình tròn
y phụ vào sắc vàng, mà hiển hiện hình làm giới hạn vị
trí cho sắc, bình thường ta nói rằng đã thấy được hình
tròn màu vàng, nhưng lẽ thật thì ta chỉ thấy được hình
tròn màu vàng, nhưng lẽ thật thì ta chỉ thấy sắc vàng bị
buộc vào với một giới hạn nào đó, chứ ta chưa hề trông
thấy được hình tròn đúng thật như nó bao giờ. Tuy nhiên,
rồi hình tròn cũng không biết sắc vàng ở đây, mà đã không
có hình dạng nên không ranh giới, không có chỗ cố định,
hết thảy trở thành một khối: trời đất bình đẳng, sông
núi ngang nhau.
Tóm
lại, hình tròn đã phải nương vào các màu sắc mà hiện,
sắc vàng đã phải nương vào các hình dạng mà có, chẳng
khác nào cảnh trong bức hoạ, tuy không thật có chỗ lồi
chỗ lơm, song ta vẫn thấy in tuồng có lồi có chỗ lơm hay
như bóng trong gương, tuy không có xa gần mà ta vẫn thấy in
tuồng có xa gần.
Nhận
xét như thế, ta biết rằng: trong sự hiện thấy dẫu không
thật có những hình, những vật như ta thường bảo, song do
ý thức lặp đi, lặp lại nhiều lần trong tư duy và nhận
thức, khiến ta trông thấy sự vật và tính cách của các
sự vật ấy có nhiều sự sai khác lẫn nhau.
Theo
thói quen ta bảo rằng ta đã thấy quả quít hình tròn màu
vàng nhưng kỳ thật nhận thức của ta chì thấy được sắc
vàng lồng lộng không ranh giới mà thôi.
Bên
hỏi: Vậy cái sắc vàng lồng lộng, không ranh giới đó là
thật hữu, ta hiện thấy được tất nhiên nó không phải
duy thức biến?
Giải
thích: Cái tiếng nói "sắc vàng" nó bao hàm rất rộng, chỉ
chung cả thảy mọi sắc vàng trong vũ trụ. Nhưng nay ta thấy
sắc vàng đóng khung trong một giới hạn sauy lường nơi quả
quít. Và cứ một chuyện thấy sắc vàng nơi quả quít để
nói, thì ta chỉ mới thấy phiến diện chứ chưa hề thấy
toàn diện, chỉ thấy mặt này chứ không thấy mặt kia, chỉ
thấy bề ngoài chứ không thấy bề trong. Nếu chỉ thấy một
phần mà bảo là thấy quít, vậy thì tại sao còn nhiều phần
không thấy kia lại không bảo là không thấy quít, có phải
đúng lẽ hơn không? Cho biết rằng: sắc vàng cũng chẳng phải
là thật có đúng với cái mà ta áp đặt lên sự hiện thấy
của ta, bất quá do ta đã sẵn có khái niệm về sắc vàng
đối đãi với những khái niệm về các sắc khác mà biểu
hiện ra. Chúng chỉ là giả pháp do các tâm thức tương cảm
mà tạm hiện thôi, còn sự thật chơn tánh thì vốn ngoài
khuôn khổ của danh từ và tướng mạo, không thể dùng danh
từ hay tướng mạo để mong chỉ bày nó được.
"Sắc"
ta hiện trông thấy như thế, thì "tiếng" ta hiện được nghe
cho đến sự "xúc chạm" cũng thế. Một quả quít như thế,
suy ra vô số trời đất, người vật cũng thế, nên nhà Duy
thức kết luận: "Vạn pháp đều duy thức".
Bên
hỏi: Ở sự vật vô tình nói thế có thể được chứ như
ở nhân loại, có sinh mạng, tánh tình, ý tứ, tự chủ, tự
động, tự giác, há lại không có cái thất đối với những
tính cách đó sao?
Giải
thích: Sinh mạng hay sự sống chỉ là một sức sống kéo dài
trong một thời hạn của nhân sinh do nghiệp kiếp trước chi
phối tâm hành biến hóa gây nên. Một khi sức sống cũ này
tàn, tất có nghiệp lực khác mạnh mẽ hơn, chi phối biến
đổi tâm hành ta để tạo thành một sức sống khác, vì thế
mà sự sống được tiếp nối mãi không dứt. Còn tánh tình
tức là năng lực tâm lý hay chấp chặt lấy căn nguyên sự
sống làm bản ngã. ý tứ tức là các tác dụng tâm lý căn
cứ nơi hai thứ trên mà phát sinh tùy theo nhu cầu sai khác.
Cho đến nào là tự ngã, cá tính, nhân cách, ý chí, tính mạng,
linh hồn v.v. Cũng theo một loại (ngã kiến) đó để suy diễn.
Tựu trung có loại tự ngã tương tục không gián đoạn, ấy
là loại tự ngã khi ta sinh ra đã có, nó thường chấp chặt
lấy căn nguyên sự sống làm bản ngã. Và một loại tự ngã
khác, tuy cũng tương tục nhưng có khi gián đoạn, ấy là loại
tự ngã mới tạo thành sau này, do sự phân biệt về vật
chất, tinh thần nơi bản thân mà có ra. Cả hai thứ tự ngã
(tính chấp ngã) đó, đều do nhân lực, nội tại, hư vọng
huân tập tạo thành, tự động khởi lên, nên khó dứt trừ,
chỉ khi nào thật tâm chuyên tu chánh quán lâu bền mới đối
trị được nó. Tính mạng và ý chí vũng gồm thuộc trong
loại ngã chấp ấy nên không thể đem lý luận suông để
trừ khử được. Ngoài ra, còn có hai thứ chấp ngã nông cạn,
do tính phân biệt sai lầm, tạp nhiễm theo xã hội mà gây
nên, ấy là:
1.
Lầm nghe người ta nói đền những chất lực, lý, khí tạo
thành con người, liền chấp theo đó làm bản ngã.
2.
Lầm nghe người ra nói những cá tính chủ thể là thực chất
con người, liền chấp theo đó làm bản ngã. Hai thứ chấp
ngã này có ra là vì kém lý trí, suy nghĩ sai lầm và tạp nhiễm
theo tục lệ thường tình chung quanh mà có. Nếu gặp được
chánh lý soi sáng và suy nghĩ chánh đáng thì phá trừ được
ngay. Chẳng hạn như thuyết linh hồn, nếu đưa ra lý luận
phân tích, ta sẽ thấy nó không còn nữa.Tuy nhiên, chính điều
không thật, chúng là huyển tưởng, khiến ta quên hẳn căn
nguyên của chúng vốn là duy thức.
Bên
hỏi: Nhân loại là một loài cũng phải nương theo luật tự
nhiên của vũ trụ mới tồn tại. Do luật tự nhiên hay thật
thể vũ trụ làm nguồn gốc chung cho hết thảy mọi điều
thật giả, có không, còn mất trong vũ trụ. Nếu không có
luật tự nhiên ấy, thì mọi sự vật sai khác kia bị mất
căn cứ và chúng đều trở thành không có gì cả, thế thì
còn gì để nói Duy thức hay chẳng phải Duy thức? Vì vậy,
phải có luật tự nhiên hay thực thể vũ trụ nằm ngoài thức
mới đúng.
Giải
thích: Luật tự nhiên mà bạn nói, phải chăng là cái lý thế
sinh hóa lưu chuyển của vạn vật.
Bên
hỏi: Phải
Giải
thích: Người, vật và vạn hữu, vòn là duy thức biến hiện,
huống hồ cái lý thế sinh hóa lưu chuyển dựa nơi vạn hữu
mà có ra? Bạn đã nhận vạn hữu duy thức mà lại nhận cái
lý thế sinh hóa dựa nơi vạn hữu chẳng phải duy thức, như
thế khác nào nói rằng nước không có mà tướng rung động
của nước lại có, hay nói nhân loại không có mà lại nhận
có quốc gia, xã hội và loài người. Nói thế rất lầm. Nên
biết, cho rằng có luật tự nhiên nằm ngoài thức, không có
lẽ đó.
Bên
hỏi: Đã có huyễn tất có chơn, đã có giả tất có thật.
Vũ trụ vạn hữu đã là huyễn giả hết, đâu lại không
có cái thật thể bổn nguyên rốt ráo ở trong đó? Đã có
thật thể tất chẳng phải duy thức.
Giải
thích: Làm sao biết được thật thể ấy? Không chứng biết
rõ ràng mà nhận là có, thì thành võ đoán mất, và trạng
thái của thật thể ấy ra sao? Nếu không, tất là không có,
là vô thể, nếu có, thì trạng thái ấy ở chỗ nào? Nếu
ở trong vạn hữu tất là một vật như vạn hữu, tại sao
riêng nó được làm thật thể của vạn hữu, tại sao riêng
nó được làm thật thể của vạn hữu? Nếu không ở trong
vạn hữu, tất là không có, sao lại chấp làm thật thể được?
Vậy nên biết, chấp có cái bản thể vũ trụ nằm ngoài thức,
không đúng lý.
Bên
hỏi: Vậy như mọi vật hiện tiền, sanh tồn biến hóa trong
một quy luật nhất định, mỗi cái lưu hành chuyển động
không ngừng há lại không căn nguyên gì sao? Và kia kìa, không
gian vô biên, thời gian vô tận, do đâu mà có?
Giải
thích: Đó chỉ do hư vọng tạp nhiễm từ vô thỉ làm nhân
lực nội tại của chúng sinh mà ý căn cứ luôn luôn vọng
động chấp chặt lấy cội nguồn sinh hóa (A-lại-đa thức)
và phân biệt so đo các vật loại, rồi chấp làm thật thể,
hoặc do ý thức bám víu lấy những bóng dáng của thức tâm
biến hiện, rồi tự ý phân biệt tham đắm không chịu bỏ,
như lời bạn hỏi đây chẳng hạn, hoặc vì nhận lầm những
lối tà thuyết khiến cho không nhận đúng thật tánh, thật
tướng của các pháp, sinh ra vọng chấp các vị thần làm
chủ sự vật. Kỳ thật, những tướng trạng các thức duyên,
đều do các thức biến hiện, đối với thức thì in tuồng
như có, nhưng rời thức ra thì chúng hoàn toàn không, vì vậy
mà gọi "tất cả duy thức".
Bên
hỏi: Nhưng ở trong kinh Phật cũng như giữa đời này, người
ta đều có nói đến những tên: Nhân loại, thú loại, động
vật, sinh vật, phàm phu, Thánh nhân, chúng sinh, chư Phật v.v.
và cũng nói đến nào cá thể, dịch thể, khí thể, nguyên
tử, điện tử, tinh tử, và đất, nước, lửa, gió, không,
thời gian v.v. Nếu là duy thức cả, thì dựa vào đâu người
ta nói như thế?
Giải
thích: Không phải! Các danh từ, các tướng trạng ấy, đều
do thức phân biệt, chuyển động, chính nơi tự thân của
nó vọng biến ra hai phần; một phần bị nhận biết gọi
là Tướng và một phần hay nhận biết gọi là Kiến, rồi
lại do sức tạp nhiễm về vật thể, về ngã thể từ vô
thỉ, dựa theo hai phẩn Kiến, Tướng, trên chuyển hóa ra những
tướng chúng sinh và thế gian vũ trụ. Lý lẽ nương thức
biến hiện là tùy theo thức duyên mà giả đặt ra nhân loại,
thú loại, cho đến đất, nước, lửa, gió v.v. ví như sự
nằm mộng, trong đó ra thấy rõ ràng có ta, có người, có
núi, có cảnh, song thật ra chúng toàn là những giả tướng
do sức chiêm bao và tâm chiêm bao biến hiện. Tuy nhiên, lúc
ấy vì vô tri, ta đã lầm cho chúng thật có ở ngoài tâm.
Nếu biết những cảnh trong mộng không thật, nó chỉ là biến
tướng của tâm, đem so qua cảnh giới mà ta gọi ta hiện thấy,
để rời bỏ vọng tình, thành kiến, thì bấy giờ không ngại
gì mà không nói rằng: những hình trạng ta trông thấy tuy
có, nhưng không thật.
Nào
người, nào cảnh trong mộng đều dựa nơi mộng ảo của
tâm mà giả hiện, như huyễn không thật. Trái lại, tâm mộng
ấy là nơi nương tựa của người và cảnh, mộng tâm bấy
giờ không phải không có. Thức là nơi nương tựa của hết
thảy chúng sinh và thế giới, chúng sinh và thế giới đều
do thức biến hiện, nên tất cả đều duy thức.
C.
Sự phân tích kinh nghiệm - quan sát và hệ thống của Duy thứcluận
Hỏi:
Chúng sinh vô lượng, thế giới vô biên, nay ông nói thứ gì
cũng đều do thức biến, vậy thức ấy có mấy thứ và có
công năng gì đặc biệt?
Giải
thích: Thức hay biến hiện ra mọi pháp ấy ước lược có
ba loại:
1.
Sinh hóa thể thức, là thức làm chủ thể của mọi sự sinh
sinh hóa hóa.
2.
Ý chí tính thức, là thức làm cho có ý chí và tánh cách khác
với người, hữu tình khác với vô tình...
3.
Liễu biệt cảnh thức, là thức minh liễu phân biệt ngoại
cảnh. Ba loại thức này là chủ nhân ông, là tạo hóa, biến
hóa ra hết thảy chúng sinh và thế giới. Nó biến hóa bằng
hai cách:
a.
Nhân năng biến, là năng lực biến hóa thuộc về nhân. Đây
chỉ do những năng lực biến hóa các thức và vạn pháp (đẳng
lưu tập khí) và những năng lực biến hóa sinh mạng (dị
thục tập khí). Thuộc nơi sinh hóa thể thức (A-lại-da thức).
Trong hai thứ năng lực trên đó, năng lực biến hóa vạn pháp
thì do ý chí tánh thức (Mạt-na thức) và liễu biệt cảnh
thức mà được phát sinh và được tăng trưởng. Còn năng
lực biến hóa sinh mạng thì do thức liễu biệt cảnh với
những nghiệp tánh lành dữ, huân tập sinh hóa thể thức mà
được phát sinh và tăng trưởng.
b.
Quả năng biến, là năng lực biến hóa thuộc về quả. Do
hai thức năng lực huân tập trên, chuyển biến sinh các thức,
rồi từ các thức biến hiện ra các tướng. Nói cách khác
là do năng lực biến hóa giữa các thức và vạn pháp làm
duyên chính để các thức ấy phát sinh. Ở đây, nhân như
thế nào thì phát sinh quả như thế ấy, nhân tướng giống
hệt nhau, nên có chỗ cũng gọi là đẳng lưu nhân quả. Lại
do năng lực biến hóa sinh mạng làm trợ duyên, mà chiêu cảm
ra sinh mạng thể thức với phận sự đáp ứng lại cho các
nghiệp lực, mà nghiệp lực đó có công năng dẫn dắt đưa
đến chủ thể sinh mạng (dẫn nghiệp) và chiêu cảm ra thức
liễu biệt cảnh với phận sự đáp ứng cho nghiệp lực,
mà nghiệp lực đó có công năng hoàn thành chủ thể sinh mạng
(mãn nghiệp). Trong hai thức này, thức trước gọi là: "Chơn
sinh mạng thể" (chơn dị thục) và thức sau gọi là" sinh mạng
thể sanh" (dị thục sinh). Cả hai loại này đều gọi là sinh
mạng hóa quả hay quả báo về sinh mạng. Tuy nhiên, ở đây
nhân tính với quả tính không giống nhau hẳn, nên có chỗ
cũng gọi là dị thục nhân quả.
Thức
là chỗ nương của chúng sinh, thế giới. Thức là chủ nhân
ông hay biến hiện chúng sinh và thế giới, lý nghĩa đại
khái đã bao gồm trong chừng ấy.
Hỏi:
Thức liễu biệt cảnh là thế nào? Thức ấy có mấy thứ?
Giải
thích: Thức có tác dụng chiếu soi các sự tướng, cảnh giới
riêng biệt gọi là thức liễu biệt cảnh. Thức này có hai
thứ: Một thức dựa theo sắc căn mà phát sinh và một thức
dựa theo ý căn mà phát sinh.
Hỏi:
Thức dựa theo sắc căn là thế nào. Thức ấy có mấy thức?
Giải
thích: Các thức dựa theo sắc căn, lấy sắc căn làm trợ
duyên thù thắng đặc biệt dễ phát sinh, gọi là thức dựa
theo sắc văn. Phân tách thì có năm thứ:
1.
Nhãn thức (thị giác) có tác dụng cảm giác, những thứ hiển
sắc như xanh, vàng, đỏ, trắng, và những thứ hình sắc như
dài, ngắn, vuông, tròn, lớn, nhỏ, xa, gần, sáng, tối v.v.
2.
Nhĩ thức (thính giác) có tác dụng cảm giác các âm thanh.
3.
Tỷ thức (khứu giác) có tác dụng cảm giác các mùi thơm,
thúi.
4.
Thiệt thức (vị giác) có tác dụng cảm giác các vị ngọt,
đắng, chua, cay v.v.
5.
Thân thức (xúc giác) có tác dụng cảm giác các sự cứng,
ướt, lạnh, nặng, nhẹ v.v.
Năm
thức này cũng gọi là sắc thức, thinh thức, hương thức,
vị thức và xúc thức vì tác dụng cảm giác ngoại cảnh
của nó trên ấy. Khi có năm thứ cảm giác phát hiện là khi
có năm thứ đối cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc. Một
bên cảnh, một bên tâm, một bên năng cảm, một bên sở cảm
không bao giờ rời nhau mà đồng là tướng biến hiện của
các thức vậy.
Năm
thức này, có chúng sinh có đủ, có chúng sinh thiếu hết,
có chúng sinh chỉ có một phần.
Hỏi:
Những thuộc tính thuận hợp với năm thức là gì?
Giải
thích: Có năm thuộc tính rất rõ rệt, bất cứ lúc nào cũng
có là: Tác ý với công năng kích thích vô tư (kích động).
Xúc với công năng cảm ứng thầm hợp (cảm động). Thọ
với cộng năng lãnh nạp (cảm giác). Tưởng với công năng
tưởng tượng quy mô (tưởng tượng). Tư với công năng tư
duy biến động (tư duy). Ngoài ra, còn có những thuộc tính
khác như tâm dục vọng, tin, hỗ, thẹn, tham, sân, si v.v. mà
nếu để tâm quan sát tế nhị ta sẽ thấy chúng tùy thuộc
với năm thức; trong những lúc năm thức cảm giác chiếu soi
các cảnh sắc, thinh, hương, vị, xúc...
Hỏi:
Trạng huống năm thức chiếu liễu sắc, thinh, hương, vị,
xúc, như thế nào?
Giải
thích: Trạng huống ấy giống như cái kính thủy (gương soi)
chiếu soi các sự vật, ảnh tượng sự vật hiển hiện tức
là gương sáng chiếu soi tức có ảnh tượng hiển hiện. Ánh
sáng của gương và ảnh tượng của sự vật, đích thân chiếu
hiện lẫn nhau một cách trực tiếp phân minh mỗi một, không
thêm không bớt. Cảnh ấy là thật cảnh, là tánh cảnh, chỉ
có thể hiện chứng chứ không thể đem lời lẽ, văn từ
mà miêu tả thấu đáo được. Nào những giả tướng như
tướng người, tướng trâu, tướng cây, tướng núi v.v. biến
sinh bởi sự hòa hợp liên tục, hay những tướng giả có
ra bởi sự đối đãi như tướng trong, tướng ngoài, tướng
kia, tướng đây, tướng mình, tướng khác, tướng vật, tướng
ta v.v. đều không có trong trạng huống cảm giác đó. Thế
nên trong trường hợp này cũng gọi là "Cảm giác duy thức"
Hỏi:
Năm thức này chỉ nhận biết thật cảnh (tánh cảnh), không
nhận biết những giả tướng đối đãi và hòa hợp liên
tục, vậy những giả tướng đó thuộc về cảnh gì và thức
nào nhận biết?
Giải
thích: Thức dựa nơi ý căn (Mạt-na thức) để làm trợ duyên
thù thắng đặc biệt mới được phát sinh, gọi là thức
dựa nơi ý căn. Nó nhận biết, so đo, phân biệt hết thảy
cảnh thật, cảnh đới chất, cảnh độc ảnh, không một
pháp gì lọt ngoài phạm vi nhận biết của nó và cũng chính
sự nhận biết bao trùm các pháp đó tức là bản thân, là
hành tướng của nó, nên còn gọi nó là pháp thức (ư thức).
Hỏi:
Thức đó nhận biết thật cảnh như thế nào?
Giải
thích: Thức đó nhận biết thật cảnh ở ba trường hợp
sau đây:
1.
Khi năm thức trước cảm giác trực tiếp đến các tướng
sắc, thinh, hương, vị, xúc với một bản tín vô tư thì ý
thức cùng với năm thức trong một sát-na đầu, đồng cảm
giác đến các tự tướng ấy.
2.
Khi nội tâm xa hết những sự loạn động và hôn trầm nhờ
bởi một sức định tuệ tinh nhất, tinh minh duy trì.
3.
Khi hoàn toàn thoát ly mọi sự phân biệt, so đo, chấp trước,
mà khế hội với tánh chơn như của tất cả pháp. Và như
thế cũng tức là chuyển ý thức thành ra "Diệu quan sát trí"
vậy.
Hỏi:
Ý thức nhận biết cảnh đới chất như thế nào? Và sao gọi
là đới chất?
Giải
thích: Ý thức có công dụng thù thắng quảng đại hay phân
biệt so đo, chấp giữ khắp mọi cảnh giới. Bên trong có
nương ý căn và các pháp như tâm bất tương ưng hành (như
danh số, thời gian, phương hướng, đồng dị...) liễu tri
những hành nghĩa, hành tướng về quá khứ và thường liên
hợp tướng nghĩ về các pháp hiện tại, nhân vì những sắc,
thinh, hương, vị, xúc mà ý thức dựa theo năm thức trước
để duyên được trong một sát-na đầu, đến sát-na sau đó
đã trôi vào phạm vi ý thức, biến thành những tướng hòa
hợp liên tục. Tóm lại, những danh vật đó do sự đối đãi
lẫn nhau mà thành lập như tự tha, người ta, trong ngoài, kia
đây, một nhiều, vuông tròn, lứn nhỏ, xa gần, cho đến như
mặt trời, trái đất, thực vật v.v. đều thuộc về cảnh
tợ đới chất do ý thức nhận biết cả.
Cảnh
tợ đới chất nghĩa là gì? Những vật vừa kể trên tợ
như có hàm chứa hoặc mang theo hình ảnh sắc, thinh, hương,
vị, xúc, của năm thức dính líu với cảnh tợ đới chất
cả. Nghĩa là cảnh này hoàn toàn là bóng dáng phản chiếu
của một phía ý thức mà thôi nên gọi là cảnh tợ đới
chất. Ngoài ra, khi ý thức nhận biết đến các thức hiện
hành và nhũng tâm tánh tùy thuộc v.v. thì ở giữa cả đôi
bên tạo thành ra một tâm ảnh, tâm ảnh ấy không phỉa do
một phía ý thức mà do cả các thức kia hợp lại tạo ra,
cảnh ấy ta gọi là chơn đới chất.
Hỏi:
Ý thức nhận biết cảnh độc ảnh như thế nào? Và sao gọi
là cảnh độc ảnh?
Giải
thích: Cảnh độc ảnh là cảnh không có thật. Đó là những
cảnh vị lai mà ý thức tửơng tới, những cảnh quá khứ
mà ý thức lại, cùng những danh ngôn, nghĩa tướng (các khái
niệm trừu tượng) do ý thức mơ tưởng đặt ra. Trường
hợp này, ý thức rời hẳn tâm cảnh hiện thật mà chỉ phân
biệt, so đo những cảnh hư ảnh đơn độc mà thôi.
Cảnh
này có hai loại: Những hữu chất độc ảnh và vô chất độc
ảnh. Hữu chất độc ảnh là cảnh tương đối không có mà
ý thức thì tưởng thấy có. Như về mùa đông tưởng thấy
tiếng ve kêu, ở miền nhiệt đới về mùa hè tưởng thấy
tuyết rơi, băng đóng v.v. Những ảnh tưởng ấy, ngay lúc
và tại nơi ý thức đang tưởng nó không có (độc ảnh),
nhưng không phải là tuyệt đối không có vì nó cũng là hiện
tượng thật hữu ở trong vũ trụ (hữu chất) mà ở chỗ
khác, lúc khác thì hiện ra, như ve kêu mùa hè, tuyết rơi xứ
lạnh mùa đông vậy. Còn vô chất độc ảnh là ảnh tuyệt
đối không có mà ý thức tưởng thấy có. Như dựa vào tiếng
gọi "sừng ngựa", "lông rùa" v.v. rồi tưởng tượng ra những
cảnh đó. Cảnh này chỉ do ý thức tưởng tượng bịa đặt
(độc ảnh) chứ tuyệt đối không bao giờ có trong vũ trụ
này cả (vô chất). Tóm lại, cảnh độc ảnh rất phức tạp.
Gần như tác dụng ý thức của ta hằng ngày đều duyên theo
nó cũng như duyên cảnh đới chất. Như vậy, nghĩa là ta đã
sống nhiều với hai cảnh này, mà rất ít sống với tánh
cảnh.
Hỏi:
Trình bày để chứng tỏ đặc biệt của ý thức ở chỗ
nó có công năng nhận biết hai cảnh đới chất và độc ảnh
ấy phải không?
Giải
thích: Đúng thế, vì cảnh tợ đới chất và độc ảnh đều
là cảnh thuộc của nó cả. Không những thế, công dụng của
ý thức này so với các thức khác nó vẫn rộng và ưu việt
hơn. Chẳng hạn, khi nhập vào cảnh định hay khi chứng ngộ
pháp tánh chơn như cũng là do năng lực thù thắng của thức
này. Ngoài năng lực phát hiện duyên theo cảnh đới chất
và độc ảnh một cách thường xuyên và dễ nhận ấy, ý
thức còn có tác dụng dựa vào năm thức trước để cùng
duyên tánh cảnh (cảnh thật) như trên đã nói. Nhưng nếu
người ta không rõ được năm thức trước thì cũng khó mà
biết tác dụng này của ý thức. Vì vậy, người đời chỉ
biết có ý thức mà không biết tới tác dụng sáng suốt vô
tư (chơn hiện lương này chỉ hiện ra trong khoảng khắc ta
chưa kịp nhận thì nó đã trôi vào cảnh ý ngôn (cảnh không
thật của ý thức) tức là ảnh đới chất và độc ảnh.
Do đó, nếu không nhờ tu định tuệ, chứng ngộ pháp tánh
chơn như thì khó bề tương ứng được với nó. Nhưng sở
dĩ, không thành tự định tuệ, chứng ngộ tướng Như lai
cũng chính do ý thức thường thường vọng suy chạy theo cảnh
đới chất và độc ảnh vậy.
Những
người mê muội đạo lý duy thức mà muốn tìm tòi chấp trước
những cảnh vật ngoài tâm không biết bao giờ dừng nghỉ,
cũng bởi nguyên do này. Bởi vậy, bước đầu của con đường
Duy thức học là trước tiên phải hiểu rõ các cảnh tợ
đới chất và độc ảnh chỉ là tiếng nói của ý thức (cảnh
ý ngôn), tuyệt nhiên không có thật vậy. Đây cũng gọi là
"Ý ngôn duy thức". Rõ được một cách đích xác lý " ý ngôn
duy thức" này tức thấy rõ cuộc đời chỉ là một giấc
mộng.
Hỏi:
Những thuộc tính của ý thức so với tiền ngủ thức khác
nhau thế nào?
Giải
thích: Những thuộc tính (tâm sở) của ý thức thường xuyên
chuyển hóa biến dịch vô chừng, nhưng rõ ràng để nhận
khỏi phải luận giải dông dài là những thuộc tính sau đây:
a.
Năm tâm sở duyên năm cảnh giới khác nhau (tâm sở biệt cảnh)
là: Dục (hy vọng), Thắng giải (sự hiểu biết vững chắc),
Niệm (ghi nhớ), Định (chuyên chú một nơi) và Tuệ (minh xác).
b.
Mười tâm sở lành (thiện) là: Tín (tin tưởng), Tàm (hổ
với người), Quư (tự thẹn), Vô tham (không tham lam), Vô sân
(không nóng giận), Vô si (không u mê), Tinh tấn (siêng năng),
Khinh an (nhẹ nhàng, vui vẻ), Bất phóng dật (không buông lung),
Hành xả (hỷ xả không cố chấp), Bất hại (từ bi).
c.
Sáu tâm sở ô trọc nhiễu nhương là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi,
Ác kiến.
d.
Hai mươi tâm sở ô nhiễm nhưng phụ thuộc sáu món trên là:
Phẫn (giận), Hận (hờn), Não (xúc tức cau có), Phú (che đậy),
Tật (ghen ghét), Xan (Bỏn xẻn), Cuống (dối trá), Siểm (dua
nịnh), Hại (tổn hại), Kiêu (kiêu ngạo), Vô tàm (không hổ),
Vô quí (không thẹn), Trạo cử (biến động), Hôn trầm (u
trệ nặng nề), Bất tín (thiếu tin tưởng), Giải đãi (lười
nhác), Phóng dật (buôn lung), Thất niệm (bỏ mất điều chơn
chánh), Tán loạn (không chuyên chú một nơi), Bất chánh tri
(kiến thức tà vạy).
e.
Bốn tâm sở mà tính thiện ác lẫn lộn trong nhau (bất định)
là: Tầm cầu, Tư sát, Hối hận, và Ngủ nghỉ. Những tâm
sở này khi hợp sinh, lúc ly biệt, biến đổi xoay vần khắp
mọi chỗ mọi thời, đổi thay thoăn thoắt như chòm mây bay
phất phới, khó lòng biện biệt. Tựu trung có công lực vĩ
đại đáng chú ý nhất là hai tâm sở Tầm cầu và Tư sát.
Có thể nói hết thảy học thuật tự tướng lưu hành trên
thế gới này đều xây dựng trên hai tâm sở ấy. Tóm lại,
những tâm sở này rất phức tạp, phải thường xuyên phản
tỉnh nội sát trong khi động cũng như khi tỉnh, mới mong thấy
hiểu một cách rõ ràng.
Hỏi:
Sáu thức liễu biệt cảnh gây thiện nghiệp, ác nghiệp như
thế nào?
Giải
thích: Điều đó cứ xét ngay các tâm sở thì biết. Chẳng
hạn, như ý thức bộc lộ ra nơi thân hành động, miệng nói
năng mà cố kèm theo các tâm sở tín, tàm, quí v.v. thì biết
những hành động, ngôn ngữ ấy thuộc về nghiệp lành; nếu
kèm theo các tâm sở phẫn, hận, não... thuộc nghiệp ác; còn
nếu có kèm theo tâm sở tác ý, thắng giải tầm cầu v.v.
thì biết những hành động, ngôn ngữ ấy thuộc về nghiệp
vô ký. Tuy nhiên, chúng sinh còn ở trong vòng phàm phu luân hồi,
tâm hạnh của họ hầu hết chưa lìa khỏi những tâm sở
tham, sân, si, nên khi bộc lộ không thể tránh khỏi những
hành động hung ác, ô nhiễm; trừ khi nào chứng nhập chơn
như, phá trừ thức mạt-na chấp ngã, mới tạo thành những
tâm hạnh thuần thiện không vâng theo thói cũ, nhưng là những
tâm hành sáng tạo.
Hỏi:
Sáu thức ấy cảm thọ khỗ vui thế nào?
Giải
thích: Trong khi cảm giác nếu tâm cảnh thuận hợp nhau làm
cho thân tâm vui thích ấy là thọ vui (lạc thọ), trái lại
làm cho thân tâm bức não ấy là thọ khổ (khổ thọ), chiết
trung giữa hai cảnh ngộ ấy, nghĩa là không khổ không vui,
gọi là thọ xả (xả thọ). Ba thứ tình cảm khổ, vui, không
khổ không vui này ở nơi sáu thức liễu biệt cảnh, tùy lúc
mà thay đổi, chứ không bao giờ có hẳn. Và trong đó, khổ
thọ lại chia hai thứ là khổ và ưu (cực khổ, ưu phiền).
Lạc thọ cũng chia hai thứ là lạc và hỉ (vui và mừng). Khổ
và lạc chỉ có trong hiện tại, ưu và hỉ thì thông luôn
quá khứ, vị lai. Năm thức trước chỉ có khổ, lạc, xả,
- ba thọ, còn ý thức thì gồm đủ cả năm món khổ, lạc,
xả, ưu, hỉ. Nếu để tâm quan sát, cũng dễ thấy.
Hỏi:
Dẫu tôi biết rằng thức liễu biệt cảnh nhận biết ba cảnh
thật tánh, đới chấp, và độc ảnh cảnh; đới chất và
độc ảnh đã đành do ý thức chủ quan bịa đặt chứ thực
tế không có nhưng còn cảnh thật tánh là cảnh có thật,
như trước kia đã nói về năm thức và ý thức đồng thời
cảm giác sắc, thinh, hương, vị, xúc, tại sao những cảm
giác về sắc, thanh, hương, vị, xúc đó nhất định phải
ở chỗ này, lúc này mới có?
(Ví
như cái cảm giác về tiếng ve kêu, nó chỉ phát sinh khi người
ta ở vào xứ ôn đới và lúc mùa hè chứ ở chỗ khác hay
lúc khác thì cái cảm giác ấy không sinh, ý muốn nói cảm
giác gì phải dựa vào ngoại cảnh mới sinh được).
Ý
thức cũng vậy, nó cảm nhận những tướng hòa hợp, liên
tục, đối đãi (như núi, sông, nhà cửa) thì cũng chỉ cuộc
hạn trong khoảng thời gian nào đó, ở chỗ nào thôi, chứ
vào lúc khác hay ở chỗ khác, cái tính cảm nhận ấy nào
có thấy gì? Vả lại sắc, thinh, hương, vị, xúc và các tướng
hòa hợp, liên tục, đối đãi kia, nó ở tại chỗ này vào
lúc này thì có thể làm cho nhiều người (chứ không phải
một người) đồng có cảm giác về nó, nhưng tại chỗ khác,
lúc khác, làm cho nhiều người đồng không cảm giác về nó,
như thế nếu không nhận có thật cảnh nắm ngoài thức để
thức duyên vào đó mà phát sinh cảm giác, thời những tướng
sai khác như trên, làm sao thành được?
Giải
thích: Ông đã từng thấy chiêm bao lúc ngủ chứ? Trong lúc
chiêm bao thấy mùa xuân thì toàn hoa đào chứ không có hoa
sen, nếu mộng thấy sa mạc thì hẳn hoàn toàn hoang dã chứ
ở đó không có đậu mè, nếu mộng thấy gia nhân ly biệt
thì trên bộ mặt ai nấy thút thít buồn rầu, nếu mộng thấy
chuyện trai gái giao hợp thì tất có chuyện xuất tinh. Các
sự việc trong chiêm bao hiển hiện rõ ràng in tuồng có một
quy luật tự nhiên chi phối ấy, phải chúng đã tồn tại
thật có ở ngoài tầm chiêm bao? Nhưng đến thức dậy, dẫu
có nhớ rõ mọi việc mình đã chiêm bao, song muốn tìm xem
thử nó ở ngoài tâm vào chỗ nào, thì hoàn toàn không thấy
có. Cảnh trong mộng đã thế, thì cảnh trong thức cũng thế
(vì thức đây cũng chỉ cái thức ở trong mộng mà thôi).
Hỏi:
Dẫu biết rằng cảnh mộng không rời tâm mộng; nhưng phải
có tâm mộng với cảnh mộng hai bên hòa hợp, liên tục, cộng
đồng phát hiện mới là mộng. Sự việc trong mộng tuy chuyển
hóa không thật, song quyết nhiên nó phải dựa vào sở nhơn,
nghĩa là dựa vào nơi có thật, nó mơi có được. Nếu đã
có sở nhơn để nó dựa, tất ngoài tâm mộng công nhận có
cái bổn nhơn khởi mộng. Vậy rời ngoài thức, há lại không
có cái bổn nhơn (sự kiện có trước và biệt lập) sinh khởi
các thức ư?
Giải
thích: Mộng nương vào tâm mà có, mộng chẳng rời tâm. Tuy
nhiên, tâm đâu nhất định phải là mộng, nên có thể vĩnh
viễn ly mộng, song nếu khi tâm đang mộng thì tâm (tâm chơn)
không thể rời mộng (tâm vọng) mà có riêng ra. Cảnh chiêm
bao, tâm chiêm bao đểu mượn sức chiêm bao mà có, sức chiêm
bao dựa bổn tâm (tâm khi chưa chiêm bao) mà thành. Muốn biết
chiêm bao nương bổn tâm thế nào, hãy chờ bàn đến sinh hóa
thể thức (A-lại-da thức).
Hỏi:
Sao gọi là sinh hóa thể thức?
Giải
thích: Sinh hóa thể thức rộng lớn bao dung huyền u thâm tế,
ngó phớt qua không thể thấy được. Theo nghĩa đặt tên,
nó có những tên sau đây:
a.
Hàm tàng thức: Hay dung nạp, tàng chứa hết thảy công năng
do ý chí tính thức (mạt-na) và liễu biệt cảnh thức (sáu
thức trước) huân tập. Nếu không nó chuyển hóa ra các tâm
sở hiện hành và những công năng khác, quyết không bao giờ
tiêu mất. Đó gọi là " Năng tàng". Lại nữa, nó rất mê
muội nhu nhược, hư dối không có năng lực tự giác, quyết
đoán. Mỗi khi xả bỏ đời sống trước chưa kịp chuyển
sang đời sống mới, liền bị những nghiệp thiện ác của
sáu thức trước huân tập, tiềm tàng trong nó phát khởi lên
mà dẫn tới đời sống mới khác (tái sinh), và nhiệm vụ
thức này (A-lại-da), bấy giờ cũng bị trói buộc nằm trong
đời sống ấy. Như vậy thức A-lại-da vừa là bản thể
đời sống, vừa bị khuất phục bao tàng nằm trong đời sống
bởi nghiệp lực quyết định. Hễ ra khỏi đời sống này
lại chuyển vào đời sống khác, thường bị trói buộc ngăn
che, chẳng được tự do tí nào, nên gọi là "Sở tàng". Vả
lại, thức A-lại-da này thường bị cái tính "chấp ngã" của
thức mạt-na (ý chí tính thức), chấp chặt liên tục cho là
"ta", rồi tiếp nhận, trao đổi những đều tạo ác của tiền
lục thức cất chứa vào đó, ấy gọi là "ngã ái chấp tàng".
Trong ba nghĩa hàm tàng kể trên, nghĩa "ngã ái chấp tàng" là
chủ yếu.
b.
Sinh thể thức: Tức chỉ về nghĩa "sở tàng" của thức A-lại-da
như đã nói ở trên. Đời sống tuy chẳng phải do nó quyết
định mà do nghiệp quyết định, nhưng nó mới chính là chủ
thể đời sống nên cũng gọi nó là "chơn sinh mạng thể".
c.
Chủng nguyên thức: Tức chỉ về nghĩa " năng tàng" của thức
A-lại-da nói trên. Do nhũng công năng sẵn có của thức này
và công năng bởi bảy thức trước huân tập vào, làm những
nguyên nhân thường sai khác, thường liên đới với nhau để
phát sinh vạn pháp gồm có bốn loại: tâm pháp, tâm sở pháp,
tâm biến hiện và tâm bất tương ưng hành pháp.
Như
trên đã nói, "ngã ái chấp tàng" là nghĩa chủ yếu, tuy nhiên
có thể ly khai được. Khi ly khai cái tính "chấp ta" ra khỏi
A-lại-da thức thời nghĩa "chủ thể đời sống" cũng dần
dần được ly khai, giống như tâm ta có thể ly khai mộng mị
vậy. Còn nghĩa công năng chủng nguyên, nương dựa thể thức
(chủng nguyên thức) là mãi mãi vô thủy vô chung, nên nghĩa
này cũng gọi là "Y trì bổn thức". Sau khi ly khai ngã ái chấp
tàng và sinh mạng chủ thể (chủ thể đời sống) thì thức
A-lại-da này không còn gọi là A-lại-da mà gọi là "thanh tịnh
vô cấu tâm thức" nghĩa là tâm thức trong sạch hoàn toàn.
Tóm lại, nếu có được "Sinh hóa chủng nguyên công năng y
trì bổn thức" đây, tức giải quyết câu hỏi tương tự
như trên chẳng có gì khó.
Hỏi:
Nguồn gốc chủng tử và công năng của tất cả các pháp
hiện hữu trong thức này như thế nào?
Giải
thích: Vấn đề này bao hàm nhiều nghĩa. Sơ lược có thể
phân biệt như sau:
1.
Từng sát-na biến đổi sanh diệt, cái trước diệt cái sau
sanh, có công năng rất đặc biệt, không một pháp nào ngưng
tụ đứng chết cố định một chỗ.
2.
Hiện hữu và tồn tại cùng lúc và cùng chỗ với quả của
các hành tướng hiện hữu. Ví như tế bào màu hiện hữu
cùng với da thịt vậy, mà tế bào máu kia tức là nguồn gốc
chủng tử xác thịt trong một sinh vật.
3.
Nương tựa vào thức là luôn luôn chuyển biến theo thức:
công năng dẫn khởi của tự loại liên tục không gián đoạn
cho nên phải bám dưa vào bản thức.
4.
Quyết định bản tánh và công dụng: công năng của nguồn
gốc chủng tử nào thì chỉ sanh quả tướng hiện hành đó
mà thôi. Như đất chỉ có thể làm thành các thức đồ đất
không thành đồ vàng ngọc được.
5.
Phải đợi có nhiều trợ duyên mới có thể sanh khởi quả
tướng hiện hành: Như hạt lúa phải đợi có các duyên như
nước, đất, gió, nắng v.v. mới sanh ra cây lúa được. Công
năng của nguồn gốc chủng tử này có thể trực tiếp từ
nơi tự loại của chính nó sinh ra quả tướng hiện hành,
đó là "sanh nhơn". Vứt giới vận hành của công năng ấy,
chưa hết thì nó có thể chìm vào trong quả tướng hiện hành
để không tuyệt mất mà có thể dẫn khởi về sau, đó là
"dẫn nhơn". Các hạt giống cỏ cây đều chỉ có thể làm
duyên tố phụ trợ chứ không phải là nhơn căn bản thật
sự có thể tự chính nó sinh ra cỏ cây. Nhân căn bản thật
sự đó là các nguyên tố chất lực, mà các nguyên tố chất
lực thì do vô lượng chủng tử cùng đồng nghiệp huân tập
vào bản thức mà sinh trưởng. Lấy đó "mà quan sát cảnh
sở duyên" của các thức. Lý Duy thức biến hiện, chẳng đã
rõ ràng lắm sao!
Hỏi:
Ý nghĩa chữ huân tập nói ở đây là thế nào?
Giải
thích: Khi nói huân tập thì phải nói đủ "năng huân tập"
và "sở huân tập". Sở huân tập đòi hỏi có tính lâu dài,
tính bình đẳng, tính tự ái, tính trống rỗng có thể dung
nạp và có tính hòa hợp bất tức bất ly, đồng thời đồng
xứ với năng huân tập. Căn cứ vào tính chất đó thì biết
rằng chỉ có cái "sinh hóa thể thức mới có thể làm sở
huân tập.
Năng
huân tập đòi hỏi phải có tính sanh diệt vô thường, có
tính tác dụng đặt biệt phong phú, có tính tạo được khả
năng tăng giảm và có tín hòa hợp bất tức bất ly, đồng
thời đồng xứ với sở huân tập. Căn cứ vào tính chất
đó thì biết rằng chỉ có các thức khác và các tâm lý thuộc
tính mới có thể làm năng huân tập.
Trạng
thái huân tạp ví như trong căn nhà vốn không có mùi hương,
đốt hương lên rồi, tuy hương đã tắt nhưng trong nhà vẫn
còn lưu lại mùi hương. Cũng như tay ta tập viết chữ, tuy
lúc không viết chữ nhưng cái công quả luyện tập viết chữ
vẩn tồn tại.
Qua
tính chất huân tạp này mà các thức khác cùng với thức
này hỗ tương nhân quả cho nhau. Nghĩa là nguồn gốc chủng
tử và các công năng của thức này có thể tự thân sinh ra
các thức khác và các thức khác trở lại huân tập sinh trưởng
chủng nguyên công năng của thức này.
Như
thế thì biết rằng sự sanh khởi của thức không pahỉ nhờ
một pháp nào khác để làm nhơn, mà chính do thức này cùng
với các thức khác hổ tương làm nhơn cho nhau mà sanh khởi.
Hỏi:
Cái hành tướng liễu biệt của sanh hóa thể thức và cảnh
tướng sở liễu biệt, đại để như thế nào?
Giải
thích: Sở liễu biệt của thức này cũng là hiện thật tánh
cảnh. Đại để được chia làm ba loại:
1.
Bám theo thức chủng nguyên cùng với nghiệp lực phân biệt
sai lầm. Nghĩa là nương vào tuớng sai biệt mà làm rõ nghĩa
các danh ngôn, các thứ phân biệt và các năng lực huân tập
của tướng các cảnh kia.
2.
Nương vào khí thế giới do sức cộng nghiệp thành thục biến
hóa ra. Hai loại cảnh này đều do thức này nhận lãnh làm
cảnh và bảo trì không để cho hư hoai.
3.
Nương vào sức bất cộng nghiệp thành thục biến thành "năm
tịnh sắc căn" và "căn y xứ" của thân.
Năm
tịnh sắc căn tương tự như tế bào thần kinh mà gần đây
người ta đã phát hiện. Căn y xứ là nơi các căn nương tựa
vào như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bằng máu thịt. Những
căn này không những chỉ nhận lãnh làm cảnh bảo trì không
cho hư hoại mà còn dung nhiếp làm tự thể khiến phát sinh
cảm giác, thâu nhận, hiểu biết sự buồn vui, cùng liên quan
với sinh mạng. Trong đó khí thế giới và căn thân có bốn
sự khác nhau:
Một
là tướng phần chủng nghiệp chung biến thành, đó là thế
giới vũ trụ mà mạng hữu tình không thể nương tựa một
cách trực tiếp.
Hai
là trong cái tướng phần chủng nghiệp chung ở trên có cái
không chung biến thành, đó là lãnh vực chiếm hữu riêng tư
của mạng hữu tình và là cảnh giới tùy loại thụ dụng
không giống nhau.
Ba
là trong cái không chung của tướng phần chủng nghiệp đó
có cái chung biến thành, như căn y xứ phù trần thô sắc cũng
có thể hỗ tương thọ dụng của thân người.
Bốn
là cái tướng phần chủng nghiệp không chung biến thành, đó
là tịnh sắc căn của các tế bào thần kinh.
Tất
cả đều nương tựa vào một lớp lưu trú hóa mà thành kết
quả sinh mạng hóa. Chủng nghiệp, căn thân, khí thế giới
này đều là tướng phần của thức này biến hiện liễu
biệt. Liễu biệt tướng phần này là kiến phần. Tướng
phần và kiến phần đều y nơi thức mà khởi. Thể của thức
là tự chứng phần. Như có người dùng tay đo bụng của mình.
Tay làm việc đo, ví như kiến phần. Bụng là vật bị đo,
ví như tướng phần. Người là tự chứng, tay và bụng đều
không tách rời người. Sau khi đã đo rồi nhưng phải có người
mới biết bụng dài rộng được bao nhiêu gang tay. Nhưng nếu
bảo một người mà xưa nay không hề biết gì về khái niệm
dài rộng, số lượng nhiều ít thì dù có lấy tay đo bụng
cũng không biết được kết quả đo đạc là bao nhiêu. Cho
nên phải có người xưa nay đã có sự hiểu biết về số
lượng làm chứng tự chứng phần.
Do
đâu mà nay biết được số lượng? Là vì xưa nay vốn đã
biết số lượng. Làm sao biết được rằng xưa nay vốn đã
biết số lượng? Là vì nay biết được số lượng. Hai thứ
này hỗ tương là năng sở cho nhau và có thể lượng đạt
kết quả; cho nên không cần phải lập lên phần thứ năm.
Bốn
phần của tâm này được thành lập từ ý nghĩa về quả
của lượng. Nếu từ ý nghĩa về thể dụng thì hợp chứng
và thành lập có ba phần: Tự chứng là thể, kiến và tướng
là dụng. Nếu đứng về nghĩa năng sở thì hợp cả hai chứng
tự chứng phần và tự chứng phần làm kiến phần, bấy giờ
chỉ thành lập có hai phần: Kiến phần là năng duyên lự,
tướng phần là sở duyên lự. Nếu đứng về nghĩa nhất
tâm thì vì sở kiến là không, nên năng kiến cũng không. Năng
sở đều không, nên chỉ là nhất tâm, không có gì thành lập
cả.
Nay
căn thân của con người, khí giới của vũ trụ và nguồn
gốc của căn thân khí giới đều là tướng phần của thức
này, được tự chứng phần của thức này biến hiện ra và
kiến phần của thức này liễu biệt nó. Cho nên, đây gọi
là luận Duy thức thuyết minh về bản thể của vũ trụ nhân
sinh.
Hỏi:
Những thuộc tính về tâm lý cùng nghiệp tính, sự thọ dụng
và tương sinh hóa của thức này ra sao?
Giải
thích: Hành tướng của thức này rất sâu kín nên các thuộc
tính tâm lý của nó cũng rất vi tế. Chỉ có các tâm lý cảm
ứng, tâm lý cảnh phát, tâm lý cảm giác, tâm lý tưởng tượng,
tâm lý tư duy, là phổ biến mà thôi. Thức này cùng các tâm
lý thuộc tính đều không phải thiện không phải ác, tuy có
lỗi lầm nhưng không bị ngăn ngại, không khổ, không buồn,
không vui, không mừng, bình thường phẳng lặng, quả sinh,
nhân quả một thời, quả nhân cùng chỗ, trôi chảy mênh mông
như không gian không ngừng không dứt. Vạn hữu và thức này
không phải là một nhưng cũng không phải khác. Thức này và
vạn hữu không phải cái này là cái kia, nhưng cũng không thể
tức liền rời khỏi nhau. Cho nên, chỉ có thức này mới là
nguồn gốc sinh hóa của vạn hữu.
Hỏi:
Thức này luôn luôn lưu chuyển, liên tục sinh diệt, thức
và các hiện hành của chủng nguyên, cũng phải giống như
thức và các chủng nguyên, thế thì làm sao vạn hữu sai biệt
cùng với thức này bảo là không phải một, cũng không phải
cái này tức là cái kia?
Giải
thích: Thức này mê muội yếu kém, không có khả năng quyết
định, tùy theo công năng tạp loạn của thức mà khởi. Khi
khởi thì theo chủng nguyên ý chí tính thức, đồng thới với
ý chí tính thức. Vì "ý chí tính thức" cố chấp thức này
là " nội tự ngã thể" cho nên cái "ngã ái chấp tàng thức"
này cùng với "ý chí tính thức" luôn câu hữu và nương tựa
nhau. Nghĩa là từ vô thủy đến nay đều có ý chí tính thức
cho nên thức này cũng đều có ngã ái chấp tàng. Bên trong
đã tự thành căn thân, bên ngoài cũng cộng biến thành núi
sông, cây cỏ. Mỗi đời huân tập tại trong thức này thành
một thứ cộng lực sinh mạng hóa, dùng làm trợ duyên tăng
thượng có thể làm thọ sinh các thứ sinh mạng khác nhau,
và cũng vì vậy mà vạn hữu có muôn vàn sai biệt. Đó là
"ý chí tính thức."
Hỏi:
Vì sao gọi là "Ý chí tính thức"?
Giải
thích: ý chí là "suy nghĩ, so lường". Chí nghĩa là "luôn luôn
xét định" thức này suy nghĩ so lường rất hay. Vả lại,
thức này còn có khả năng luôn luôn xét định suy lường,
cái thức đó đặc tính suy lường xét định nên gọi là
"ý chí tính thức".
"Liễu
biệt cảnh thức" là loại thức có đặc tính liễu biệt
các cảnh hơn cả các thức khác. "Sinh hóa thể thức" là cái
thức có tính tập khởi hơn cả các thức khác. Tùy theo đặc
điểm mà đặt tên như vậy. Cho nên gọi là ý chí. Gọi thế
không có nghĩa nó hoàn toàn không có khả năng liễu biệt.
Thức này không chỉ vào chủng nguyên của thức này trong "sinh
hóa thể thức" làm bất cộng tăng thượng duyên, cũng như
nhãn thức y vào nhãn căn, cũng như ý chí tính thức y vào
ý chí căn thức làm căn. Mà thức này đã y vào tự chứng
phần của sinh hóa thể thức làm căn, rồi đeo đuổi bám
riết lưu chuyển không chút gián đoạn, rồi cũng xét nét
phân biệt cái kiến phần của sinh hóa thể thức làm cảnh.
Cảnh này tức cảnh bị xét nét cố chấp làm thân thể củaa
mọi tự ngã đó. Đó là dùng tâm chấp thủ tâm, trung gian
sinh ra cảnh chân đới chất, luôn luôn suy lường thẩm xét
không rời không bỏ. Cho nên, tùy theo lúc đó "ngã ái chấp
tàng thức" cảm thọ cải thể sinh mạng thuộc loại nào thì
sẽ trói buộc ngay vào thể sinh mạng của loại đó. Vì vậy,
nói trừ sạch sinh tử là do hiển lộ rõ ràng sinh mạng kia,
chính do bởi thức này cố chấp cái sinh hóa thể thức thành
ra ngã ái chấp tàng mà có. Thế rồi khai thông, hóa giải
cái thức này không cố chấp nữa, nhân đó mới giải thoát
được sự "trói buộc của thân mạng phân đoạn" này. Tuy
nhiên, đến khi ấy vẫn còn tác dụng tương ứng quả, tức
là "kiến chấp pháp tự tính" cho đến lúc hoàn toàn chứng
được "bình đẳng tính" mơi gọi là hoàn toàn khai phóng không
còn kiến chấp nào nữa, vĩnh viễn tương ưng với "bình đẳng
tính trí". Luôn luôn thẩm xét suy lường vô ngã tính chân
như và các pháp khác là ý chí tính thức thanh tịnh viên minh
có thể tùy theo vô biên thế giới, tùy theo vô lương chúng
sinh căn tính sai biệt mà thị hiện các chủng Phật hóa.
Hỏi:
Tâm lý thuộc tính của thức này ra sao?
Giải
thích: Nếu đến bậc Cứu cánh giác thì chỉ còn hai mươi
mốt loại tâm lý thuộc tính mà thôi. Đó là cảm ứng, cảnh
phát, giác thọ, tưởng tượng, tự lực, nguyện dục, thắng
giải, ức niệm, tịch tịnh, minh tuệ, tín, tàm, quí, vô tham,
vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, bất phóng dật, khinh an,
hành xả, và đại bi. Từ vô thủy đến nay, ở trong mê vọng
thì thức này từ cảnh phát v.v. năm thứ tâm lý đều có
ra nhưng vì ngã si, ngã kiến, ngã ái, ngã mạn, bốn thứ căn
bản thường che lấp làm vẩn đục, tối tăm tạp loạn nhiễm
ô, làm thành những tâm lý thuộc tính hết sức trọng yếu
của thức này.
Ngã
si, tức không rõ cái lý chân như là bản tâm thể pháp không
có thật tự tính mạng và cũng không có thật tự ngã. Ngã
kiến thì đảo ngược mà cố chấp cho rằng pháp có thật
tự tính và thân mạng có thật tự ngã. Một lần mê một
lần chấp, mê một điều chấp một điều, cứ vậy mà thành
ra các pháp sai biệt rồi phân chia ranh giới đó và đây, mình
và người... Lại thêm ngã ái, tùy theo ngã kiến sâu nặng
tham đắm chấp trước cái ngã gom góp vào dần dần lớn rộng
ra. Lại thêm ngã mạn ỷ vào chỗ chấp ngã mà cao ngạo, từ
đó sự chấp trước càng kiên cố, mê vọng điên đảo mãi
không thôi, sinh tử lưu chuyển mải không dứt. Cho nên đó
cũng gọi là vạn pháp duy thức. Mà trong đó chín loại tâm
lý là hôn trầm, trạo cử, bất tín, giải đãi, phóng dật,
vọng niệm, tán loạn, tà tri, thẩm tuệ có quan hệ cộng
đồng với ngã si, ngã kiến v.v. Cho nên thường cùng đồng
khởi.
Xem
thế có thể thấy rằng thức này quả thực là căn bản của
sự ngăn che (trí giác). Tuy nhiên, nó chỉ hướng vào nội
tâm mà chuyên chấp một cách sâu kín chứ không thể tạo
tác các nghiệp thiện ác thô thiển bên ngoài.Cho nên thức
này mang tính chất hữu phú vô ký. Cảm thọ của nó cũng
không phân biệt được có lo, mừng, khổ, vui hay không.
Hỏi:
Như vậy tính chung có tám thức, loại thức nương vào sắc
căn có năm, mà nương vào căn thức, ý chí tính thức, sinh
hóa thể thức thì mỗi thứ có một loại. Số loại của
thức có tính quyết định hay không? Và sự nương tựa vào
nhau để hiện khởi của chúng cũng có hệ thống hay không?
Giải
thích: Tám thức đều nương vào bản thức mà chuyển biến.
Từ vô thủy đến nay ngã ái chấp tàng thức và ý chí tính
thức là hằng chuyển và câu hữu (chuyển biến luôn và luôn
có nhau) chưa bao giờ gián đoạn. Năm thức trước nương vào
sắc căn nên phải đợi có các duyên như ánh sáng, khoảng
không, trần và căn v.v. mới có thể hiện khởi. Còn những
loại nương vào bản thức thì ví như sóng nương vào nước
nếu không có gió làm duyên thì sóng cũng ngừng. Ý chí tính
thức thì hợp với ngã ái chấp tàng thức mà khởi, ví như
dòng nước xiết nơi biển lớn. Nương nói ý căn thức, nương
nơi đó mà thường hiện khởi, ví như sóng mòi do dòng nước
xiết khởi lên, trừ phi lúc sóng của thức về cỏi trời
vô tưởng hay khi nhập vô tưởng định, diệt thọ tận định
hoặc khi ngủ, khi ngất xỉu mới không hiện khởi mà thôi.
Như vậy thì biết rằng tất cả hữu tình chúng sinh tối
thiểu cùng phải có hai thức luôn luôn hiện khởi, đó là
ngã ái chấp tàng thức và ý chí tính thức. Nương vào hai
thức trên và dựa vào căn thức đồng khởi thì có ba thức
cùng chuyển. Dựa vào ba thức trên rồi lại nương theo nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức, mỗi thức hoặc cho đến cả
năm đều khởi thì có bốn thức, mỗi thức hoặc cho đến
cả năm đều khởi thì có bốn thức, đến tám thức đồng
chuyển.
Như
vậy, ta có thể thấy hệ thống nương vào nhau, ở trong nhau
mà hiện khởi của chúng. Còn như số loại của thức có
tính chất nhất định hay không thì nếu phân biệt về loại
nghĩa của nó sẽ vô định. Khảo sát về thể của thức
từ xưa nay chỉ có tám. Nói tám là dựa vào tính chất ẩn,
liệt, hiển, thắng của duy thức mà nói. Nghĩa là chỉ nói
đến tướng trạng thù thắng đặc biệt biểu lộ cách rõ
rệt thôi, còn những gì mà tướng trạng chấp thỏi, tầm
thường, khuất lấp thì không nói đến. Và như thế cũng
chỉ nói về ý nghĩa của đạo lý thế tục đế mà thôi.
Nếu theo thắng nghĩa đế mà nói thì cũng là phi hữu làm
gì có đến tám: Bởi vì, duy thức tức vô thủ vô đắc.
Nếu cố chấp duy thức là có sở đắc, như vậy cũng như
chấp thủ rồi. Như có bài tụng duy thức sau đây:
"Năng
biến này có ba,
Là
dị thục, tư lương
Và
liễu biệt cảnh thức.
Trước
hết A-lại-da
Dị
thục, tất cả chủng.
Chỗ
chấp thọ khó biết
Thường
tửơng ứng với xúc,
Tác
ý, thụ, tưởng, tư,
Nhưng
chỉ riêng xả thụ.
Tính
vô phú vô ký,
Nhóm
xúc cũng như vậy,
Thường
chuyển như dòng thác
Chứng
La-hán thì hết.
Tiếp
năng biến thức hai,
Đó
là thức Mạt-na.
Theo
A-lại-da chuyển,
Rồi
duyên A-lại-da.
Tư
lương và tính tướng
Thường
đủ bốn phiền não.
Là
ngã si, ngã kiến,
Và
ngã mạn, ngã ái
Hợp
cùng nhóm xúc kia.
Tính
hữu phú vô ky.
Sinh
đâu trói buộc đó,
La-hán,
diệt tận định,
Xuất
thế đạo thì hết.
Đến
năng biến thứ ba,
Có
sáu thứ khác nhau.
Liễu
cảnh là tính tướng,
Đủ
thiện, ác, vô ký.
Tâm
sở tương ưng có
Biến
hành, biệt cảnh, thiện.
Phiền
não, tùy phiền não
Bất
định, cùng ba thọ
Biến
hành là nhóm xúc...
Tiếp
biệt cảnh là dục,
Thắng
giải, niệm, định, tụê,
Cảnh
sở duyên chẳng đồng.
Thiện
là tín, tàm, quí
Nhóm
vô tham ba căn,
Cần,
an, bất phóng dật,
Hành
xả và bất hại.
Phiền
não là tham, sân,
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Tùy
phiền não là phẫn,
Hận,
phú, não, tật xan
Cuống,
siểm, hại và kiêu,
Vô
tàm cùng vô quí,
Trạo
cử với hôn trầm.
Bất
tín vào giải đãi,
Phóng
dật cùng thất niệm,
Tán
loạn, bất chính tri,
Bất
định là hối, miên,
Tầm,
tứ, thiện ác chung.
Nương
vào căn bản thức
Năm
thức tùy duyên hiện,
Khi
chung khi không chung
Như
sóng mòi theo nước
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sinh Vô tưởng thiên,
Trong
hai định vô tâm,
Hoặc
ngủ say, ngất xỉu."
D.
Luận Duy thức với vấn đề chuyển hóa, biến hiện, duyên
khởi và sinh hoạt
Hỏi:
Nay tuy đã biết hành tướng của các thức nhưng chưa rõ nhất
thiết duy thức, vũ trụ nhân sinh đều do thức biến như thế
nào?
Giải
thích: Như trước đã trình bày tám thức và các tâm lý thuộc
tính của thức. Các thức và các tâm lý thuộc tính của thức
dùng sức duy trì chủng nhân bên trong và sức hiện khởi các
duyên, luôn luôn dung hòa nhau, lưu chuyển mà khởi tác dụng.
Khi khởi thì khởi cùng lúc, cùng một việc; một phần biến
thành kiến phần của tâm là sở liễu biệt. Nó không phải
có cái kiến phần mà không tướng phần, cũng không phải
có cái kiến phần mà không tướng phần, cũng không phải
có cái tướng phần mà không có kiến phần. Kiến phần hay
tướng phần đều không thể lìa nó mà có cái nào khác. Cho
nên đối với các pháp bất sinh bất diệt cũng như các pháp
sinh diệt tướng dụng thật pháp hay phân ly giải pháp tất
cả đều không lìa tâm. Cho nên tất cả la Duy thức.
Chữ
Duy là nghĩa thế nào? Là pháp không tách rời ra ngoài tâm
thức này vậy. Lại cũng như do kiến phần năng liễu biệt
của tâm, chu biến kế đặc, phân tích chấp lấy, đem cái
tướng phần sở liễu biệt của tâm chuyển biến làm thành
như một thức cảnh ảo ảnh hí lộng hoạt động ở ngoài
tâm. Đó tức là cái được gọi là nhân sinh vũ trụ trong
chúng sinh thế giới vậy. Kỳ thật đó là do kiến phần của
tâm biến hóa lưu động mà thôi. Ở trong thức không phải
là không, lìa thức ra không phải là có. Phi hữu, phi vô nên
gọi là Duy thức.
Hỏi:
Nếu cảnh vật do tâm thức chuyển biến mà có, ví dụ như
hoa đào trước cửa sổ thì tại sao tâm thức không hóa hiện
nó trong phòng, sao không làm cho nó nở hoa vào mùa đông mà
phải đến lúc nào đó, nơi nào đó mới có? Như vậy rõ
ràng là ngoài tâm thực sự có cảnh chứ đâu phải chỉ do
tâm thức biến hiện? Vả lại, nếu hoa đào này là do tâm
tôi biến hiện thì tôi thấy, anh không thấy; nếu do tâm anh
biến hiện thì anh thấy còn tôi không thấy chứ. Tôi thấy
anh cũng thấy tức không phải tâm tôi biến. Anh thấy tôi
cũng thấy tức không phải tâm anh biến. Lại nữa nếu tâm
tôi đã biến ra hoa đào thì thấy hoa đào sao còn thấy anh
cùng những vật khác? Nếu tâm anh biến ra hoa đào thì anh
thấy hoa đào sao còn thấy tôi cùng các vật khác? Như vậy
thì biết rằng tôi và anh, hoa đào cùng những người và vật
khác đều là những cảnh thực có ở ngoài tâm, chắc chắn
không phải chỉ là do tâm thúc hóa hiện; huống chi các cảnh
vật này hiện có tác dụng có thể chứng minh được, như
nhà để ở, ghế để ngồi, áo có thể mặc ấm, cơm có
thể ăn no đâu phải là hình ảnh hư ảo do tâm thức tưởng
tượng huyễn hoặc ư?
Giải
thích: Câu vấn nạn quả có hùng biện thật. Nhưng xin hỏi
có bao giờ người nằm mơ thấy cùng vài ba người bạn lên
núi đạp tuyết dạo chơi lỡ trượt chân ngã trên đá, giật
mình dậy cảm thấy đau kéo dài đến mấy ngày không?
Đáp:
Có.
Giải
thích: Vậy thì nằm mơ thấy như vậy có xác nhận được
rằng núi kia ở Tây Hồ, tuyết ấy là tuyết ngày mùa đông
không? Cố nhiên là do huyền tưởng thành mộng, cảnh trong
mộng đó không phải cảnh thật ở ngoài tâm, cũng đâu cần
phải nhất định lúc nào, chỗ nào mới có? Những bạn cùng
leo núi dạo chơi với người, trong lúc ấy người thấy gì
tức các bạn cũng thấy thế. Hơn nữa trong mộng, người
thấy núi, đồng thời cũng thấy các cảnh vật và nhân vật
khác. Người trượt chân, khi tỉnh vẫn còn cảm giác đau
mình, như vậy rõ ràng cảnh do tâm chuyển biến, không phải
là không có tác dụng. Ta có thể nói cảnh trong mộng do tâm
hóa hiện thế nào thì vũ trụ nhân sinh cũng duy thức biến
hiện thế thôi!
Hỏi:
Về lý tuy là thế nhưng làm sao có thể chứng minh được
trong khi cảnh thật ở ngoài tâm rõ ràng có sắc chất?
Giải
thích: Nhãn thức v.v. năm thức nương vào sắc căn thảy đều
dựa vào tự thức mà khởi kiến phần, tướng phần cho nên
dù kiến phần hay tướng phần đều không lìa tự thức. Tâm
thức không trong cũng không ngoài thế mà chấp cho là ngoài
rồi chuyển nhập vào ý căn thức, vọng sinh phân biệt cho
đó là ngoại cảnh. Chân hiện lượng cảnh thật sự chỉ
là tâm tướng của tự thức, chỉ vì từ vô thỉ ý thức
danh ngôn tập quen thành nết, không phải sắc mà như sắc,
không phải ngoài mà tưởng như ngoài, thực sự nó cũng hiện
ra như cảnh trong mộng mà thôi.
Hỏi:
Nếu nay cảnh trong lúc tỉnh cũng đều như cảnh trong lúc
mộng thì tại sao người ta chỉ biết cảnh trong mộng là
duy tâm mà không thể biết được cảnh lúc tỉnh là duy thức?
Giải
thích: Khi mộng chưa tỉnh làm soa biết cảnh trongmộng là
duy tâm? Và khi mộng thực sự tỉnh rồi cũng biết cảnh lúc
tỉnh là duy thức.
Hỏi:
Nếu thật cảnh ngoài tâm đều không thì thức làm sao riêng
có một mình được?
Giải
thích: Thức không riêng có một mình, nhưng vì vạn hữu đều
không lìa thức nên nói là duy thức. Không vọng chấp cảnh
ngoài tâm, mà chẳng phải không tức pháp của tâm, vì chân
duy thức tính mà trình độ ly ngôn chính trí chứng được
là không phải không. Vì nó là không phải không nên thức
tâm liên tục chuyển biến cũng không phải không, cảnh ngoài
tâm tuy không có mà thức cũngkhông phải không.
Hỏi:
Thức đã không phải thì phải có thức khác ngoài thức của
ta. Thức khác đó là cảnh ngoài thức giả thức của ta. Đã
có ngoại cảnh như thế sao gọi là duy thức?
Giải
thích: Tuy có thức khác nhưng sở duyên gần gũi nhất vẫn
chỉ là trong chuyển biến của tự thức, và gián tiếp cũng
có nương vào thức khác làm bản chất mà thôi. Nay Tân Duy
thức luận này có thể gọi là Duy thức luận đa nguyên. Trình
độ chính trị, khế chứng được chân duy thức tính thì
ngôn ngữ tư duy đều tuyệt dứt. Chừng đó nói duy có một
cũng không phải mà bảo là nhiểu cũng không đúng. Đứng
về tướng như huyễn của duy thức mà nói thì không phải
vì chỉ có một thức nên gọi là duy thức mà nói thì không
phải vì chỉ có một thức nên gọi là duy thức mà bao gồm
tất cả vô lượng vô hữu tình chúng sinh; hữu tình chúng
sinh nào cũng đều có tám cái thức thể và các tâm lý thuộc
tình tương ứng theo tâm thức thể đó, và kiến phần, tướng
phần chuyển biến theo tâm thức, phần lý giới vì do thức
tâm biến ra và cả đến các pháp lìa tướng hiển hiện chân
tính như thật, đều gọi là duy thức cả. Nói duy không phải
là chỉ có một mà để phủ nhận cái phân biệt hư vọng
của những ai chấp cho rằng ngoài thức có thật cảnh. Sự
hàm dung cảnh ứng của các thức kia duyên khởi vô tận, do
có trói buộc mới có giải thoát, do ô tạp mà thành thuần
tịnh, do lệch khuyết mà viên mãn, do thô ác mà thành diệu
thiện, tất cả đều là tâm thức hoạt dụng không ngừng
và mênh mông như biển pháp giới không bờ không mé.
Hỏi:
Nếu chỉ do nội thức, hoàn toàn không có cảnh thật ngoài
tâm để làm nơi nương theo, vũ trụ nhân sinh đều do kiến
phần của tâm hư vọng phận biệt ra, nhưng các thứ phân
biệt ấy từ đâu sinh ra?
Giải
thích: "Trì chủng nguyên thức" có vô số vô lượng công lực
sai biết có thể thân sinh tự quả và các quả liên tục sanh
khởi lưu trú hóa, quả sinh mạng hóa, quả tác dụng hóa,
quả tăng thịnh hóa. Từ sinh khởi vi mỗi lần chuyển, thiên
biến cho đến thành thục vị. Quá trình chuyển biến ấy
liên miên không dứt, không phải chỉ chuyển một lần. Sự
chuyển hóa biến hiện sin khởi ấy lại hỗ tương phụ trợ
lẫn nhau tạo thành duyên lực, dung hòa nhau mà ra các phân
biệt. Tất cả phần kiến và tướng của tâm đều không
ngoài phân biệt và sở chủng nguyên lực của bản thức và
sức phụ trợ của các thức hiện hành liền sinh khởi được
nên không cần phải có cảnh thật nào ngoài tâm để nương
gá cả.
Hỏi:
Thế thì lý duyên sinh, nghĩa nhân quả trong đó ra sao?
Giải
thích: Nghĩa lý này rất sâu xa ở đây khó trình bày một
cách đầy đủ. Xin nói vắn tắt bốn pháp duyên sinh cũng
có thể hiểu được một cách đại khái:
1.
Nhân duyên: Nghĩa là cái pháp có tác dụng sinh diệt, tự thân
của nó có thể chuyển thành tự quả của nó. Như hạt lúa
chuyển thành mầm lúa, đó là cái duyên của bản nhân sinh
pháp. Ở đây có ba loại:
- Trong
bản thức, chủng nguyên sinh ra hiện hành pháp của tám thức
cùng các thuộc tính tâm lý kiến tướng v.v. Đây thuộc nhân
quả đồng thời, như sức động của nước và sóng vậy.
- Trong
bản thức, chủng nguyên gián tiếp sinh ra chủng nguyên trong
bản thức. Đây thuộc nhân quả khác thời, như sức động
trong nước trước và sức tác động khởi ra sau.
- Bảy
thức trước, khi các thuộc tính tâm lý, kiến tướng v.v.
chuyển biến khởi hiện hành, nó huân vào bản thức và sinh
ra tự loại chủng nguyên. Đây cũng thuộc nhân quả đồng
thời, như đợt sóng nước vừa diệt với sức động kế
tiếp khởi.
Chỉ
ba loại này là duyên chính của bản nhân sinh pháp.
2.
Đẳng vô gián duyên: Đây cũng cùng nương một chỗ mà phát
sinh, như một con sóng trước diệt xuống là trợ duyên cho
con sóng sau nổi lên.
3.
Sở duyên duyên: Đây là cái kiến phần năng phân biệt, suy
tư, thẩm lự nương gá vào tướng phần sở phân biệt. Ở
đây có hai loại:
- Một
loại sở duyên khăng khít mà tất cả các tâm năng liễu biệt
đều có, tức là trong cái kiến phần của tâm năng liễu
biệt có trong nó tướng phần của tâm sở liễu biệt làm
nơi kiến phần của tâm nương gá để sinh khởi, hai bên kiến
tướng không lìa nhau.
- Một
loại sở duyên duyên hời hợt mà tâm năng liễu biệt, hoặc
có hoặc không, tuy nó được kiến phần của tâm liễu biệt
nương gá, nhưng tướng phần của tâm này không cùng kiến
phần của tâm đồng nương vào một thức mà chỉ có tính
cách như một tín hiệu ngầm có mà thôi. Sở duyên duyên này
như các con sông, mỗi con sóng đều có hình tướng riêng biệt
4.
Tăng thịnh duyên: Đây chỉ trừ ba loại trên, nó là pháp
có sức dư, có sức thắng thế có khả năng làm thuận lợi
thêm hoặc nghịch hại thêm. Như nhãn căn, nhĩ căn v.v. như
nam căn, nữ căn v.v. Như mạn căn, ý căn v.v. rất nhiều loại
khó trình bày đầy đủ hết. Như một con sóng cùng với nhiều
con sóng khác đều có quan hệ lẫn nhau.
Bốn
thức duyên này chỉ có thức tâm gồm đủ, còn các pháp ở
trong thức thì hoặc có ba duyên hoặc có hai duyên mà thôi.
Các sức duyên này đều không ngoài thức vạn hữu sinh khởi
không cần nhờ vào một sức duyên bên ngoài nào nữa, cho
nên duyên sinh nhân quả đều do duy thức mà ra.
Hỏi:
Nói thế là đối với loài khoáng vật không có trí thức
chứ đối với con người là loài có tính tình, có sự sống,
chết sống đều có tính mạng chuyển nối không dứt, nếu
ngoài tâm thức không có thật pháp để nương tựa, gìn giữ
thì làm sao được?
Giải
thích: Giả sử ngoài tâm thức có thật pháp làm tánh mạng
của con người thì cũng chưa hẳn làm thành sự sinh tử liên
tục được. Sự sinh tử liên tục là do ý chí tính thức
chấp trước kiến phần của sinh hóa tính thức, bám víu nó
cho là chính thật tự ngã, gắn chặt không