x
Tam
Tạng Pháp Sư Ðạt Giả thượng Trí hạ Tịnh
Ðại sư
thế danh Nguyễn văn Bình, Pháp danh Thiện Chánh, Pháp tự Trí-Tịnh,
Ðạo hiệu Hân Tịnh, người miền Tây Nam Việt, sanh năm Ðinh
Tỵ 1917 tại làng Mỹ An Hưng (Mương Chùa Cái Tàu Thượng),
huyện Lấp Vò, hạt Sa Ðéc; vốn dòng dõi gia giáo. Ðại sư
thuộc hang thanh tịnh xuất gia, đắc độ nơi Vạn Linh thượng
Thiện hạ Xưng Trưởng lão thuộc thiền phái Lâm Tế, đắc
pháp với Thượng Trí hạ Ðộ tiên đạt; đồng học cùng
ngài tại Báo Quốc Phật học đường ở Huế như chư tôn
túc thượng Thiện hạ Hòa, thượng Thiện hạ Hoa, thượng
Trí hạ Chiêu, thượng Trí hạ Quang.. đắc giới tại Kim Huê
thượng Chánh hạ Quả tiên giác.
Năm 1945,
sau khi học mãn chương trình đại học tại đại học Báo
Quốc, Ðại sư cùng chư tôn pháp hữu đảm nhiệm trọng trách
hành hóa. Lúc bấy giờ nền kinh tế địa phương khủng hoảng,
Phật học đường Báo Quốc không thể duy trì, tiền cơm của
học tăng từ năm đồng một tháng, vọt lên đến sáu mươi
lăm đồng mỗi tháng, vì thế Ban Quản Trị Hội Phật Học
Trung Việt và Ban Giám Ðốc học đường quyết định cấp
tốc dời trường vào miền Nam, làm giấy tờ ủy nhiệm cho
ba vị túc học - Ðại sư là một, ngài đảm nhiệm nhiếp
thủ học chúng, ngài thượng Trí hạ Chiêu đảm nhiệm trọng
trách vận động với Hội Phật học Lưỡng Xuyên tại Trà
Vinh, ngài thượng Thiện hạ Hoa đảm nhiệm trọng trách vận
động ngoại hộ với cụ Trương Hoàng Lâu ở Quận Càu Kè
Trà Vinh. Trên đoạn đường di chuyển vào Nam lắm gian nan
nguy hiểm vì ảnh hưởng thời cuộc, ngày trốn đêm đi, hết
đi xe tới đi bộ trải nắng dầm mưa suốt hai mươi mốt
ngày mới đến SàiGòn vào giữa đêm, cuộc hành trình tiếp
tục tiến về Mỹ-Tho, được Hòa Thượng Vĩnh Tràng lưu chúng
tôi nơi đây tu học chờ đợi cuộc vận động Hội Phật
Học Lưỡng Xuyên. Hoàn cảnh khá khó khăn về mọi mặt nhưng
cũng vượt qua, cuộc vận động thành công, học chúng giả
từ Vĩnh Tràng về cư trú Phật học đường Lưỡng Xuyên
tu học. Cùng lúc ngài thượng Thiện hạ Hoa vận động thiết
lập Phật học đường Phật Quang ở Bang Chang Trà Ôn. Sau
khi Phật Quang học đường làm xong, Ðại sư cùng Hòa Thượng
Thiện Hoa và chư Pháp sư Quảng Minh, Huyền Dung cùng chư liệt
vị Phước Cần, Ðạt Tôn, Chánh Viên, Huệ Phương, Chánh
Ðức, Như Mỹ v.v.. lớn nhỏ trên dưới bốn mươi vị câu
hội, bấy giờ pháp tịch lại được khai diễn; nhưng - 'Thương
ôi ! Cuộc đời vốn vô thường, có hợp tất chia lìa, không
hẹn với người, Phật Quang học đường được khai giảng
chưa đầy một năm bị gián đoạn bởi hoàn cảnh loạn ly'.
Ðại sư và Pháp sư Huyền Dung dẫn học chúng về SàiGòn,
Hòa thượng Thiện Hoa ở lại Phật Quang ẩn dật chờ thời
duyên khôi phục.
Với hoài
bảo 'Tục Phật huệ mạng - Ðống lương chánh pháp', sau khi
giã từ Phật Quang học đường ở Bang Chang Trà Ôn về SàiGòn,
Ðại sư vận động thành lập Phật học đường Liên Hải
vào năm 1948 với sự hợp tác điều hành của ngài Quảng
Minh. Ðến năm 1950, vì nhu cầu thăng tiến của nền giáo dục
tăng luân, cần được hệ thống hóa tổ chức để dễ dàng
cho việc giảng huấn, kết quả thu thập mỹ mãn hơn; chính
thế sự thống nhất đường hướng giáo dục được thực
hiện; do đó Phật học đường Liên Hải và Mai Sơn Phật
học đường của ngài Trí Hữu thốnt hợp lấy danh xưng là
Phật học đường Nam Việt. Sau khi thống hợp các học đường,
Ðại sư khai sơn Ðạo Tràng Vạn Ðức tọa lạc tại Thủ
Ðức, tỉnh Gia Ðịnh, ngài trụ tích nơi đây, Phật pháp
rất thạnh hành.
Ðại sư
cực lực hoằng dương Tịnh độ, thành lập Cực Lạc Liên
Hữu, Ngài là bậc hóa chủ bổn liên, khuyến hóa người người
niệm Phật. Cực Lạc Liên Hữu do Ðại sư khai hóa, tư trợ
cho hành giả tín hướng chỉ qui Tịnh độ thật khả dĩ;
có thể nói ngài là vị Tổ Sư khai nguyên phong trào xương
minh chấn hưng Tịnh môn trong tòa nhà Phật Giáo Việt Nam cận
đại. Ngài là bậc bác lãm kinh tang, tinh A Tỳ Ðạt Ma, Thiền,
Giáo, Luật hay nói một cách đầy đủ, Ðại sư là bậc 'Ðạt
Giả' quán triệt thánh điển; kiến thức đa văn, quảng bác
nho học, tình tường y dược đông phương. Cận đại hàng
Phật tử thấm nhuần hoặc biết qua kinh điển đại thừa,
là nhờ công trình dịch thuật của Ðại sư.
Dịch phẩm
rất có giá trị, ngài quí chuộng căn bản, dịch giải chính
xác, rõ ràng mà không hoa dạng, chơn chất mà không quá quê
kệch, người đọc tụng có thể nhận được nghĩa thú hiểu
biết ý chỉ dễ dàng.
Kể từ năm
1948 đến nay, dịch phẩm, tác phẩm của Ðại sư phiên dịch
và soạn thuật gồm có :
* Dịch phẩm
:
-
Ðại Thừa
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
-
Ðịa Tạng
Bổn Nguyện Công Ðức Kinh
-
Tam Bảo Tôn
Kinh (Di-Ðà - Hồng Danh - Vu Lan - Phổ Môn - Kim Cang)
-
Phạm Võng Kinh
-
Ðại Bát Niết
Bàn Kinh
-
Ma Ha Bát Nhã
Ba La Mật Kinh
-
Ðại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
-
Ðại Bảo Tích
Kinh
-
Ngộ Tánh Luận
(dịch giải và phân đoạn)
-
Thiền Tịnh
Quyết Nghi
-
Văn Sám Nguyện
Thập Phương và Thập Ðại Nguyện Phổ Hiền (dịch giải)
* Trước thuật
:
-
Pháp Hoa Cương
Yếu
-
Ðường về
Cực Lạc
-
Văn Phát Nguyện
Tu Thập Thiện
Thủ ngoại,
Ðại sư còn diễn giảng rất nhiều bộ kinh đại thừa, trình
bày chỉ thú pháp tướng, pháp tánh như :
-
Pháp Hoa Thông
Nghĩa
-
Lăng Nghiêm
Trực Chỉ
-
Viên Giác
-
Phật Tổ Tam
Kinh
-
Kinh Văn Trích
Yếu
-
Ðại Thừa
Pháp Uyển Nghĩa Lâm - Duy Thức Chương
-
Bát Thức Qui
Củ Tụng Thích Luận v.v..
Tóm lại, ngài
giảng dạy tinh chỉ của Duy Thức, Tịnh Ðộ học, Thiền
học v.v.. một cách thâm thúy.
Ngoài việc
phiên dịch Thánh điển, huân tu tịnh đức chỉ thú Tây phương,
ngài còn chủ giảng tại Ðạo Tràng Vạn Ðức và dạy Phật-pháp
tại Cao Ðẳng Phật Học viện Huệ Nghiêm - Từ Nghiêm và
Vạn Hạnh. Ðại sư là bậc long tượng của thời kỳ mạt
pháp, bậc luật đức sanh giới than huệ mạng cho kẻ hậu
côn số nhiều vô kể, nơi nào chư phương Ðại Ðức, Trưởng
lão kiến đàn hoằng giới đều cung thỉnh ngài vào những
ngôi vị tối tôn của giới đàn, đặc biệt ở ngôi vị
Tuyên Luật Sư, trong đó có các Ðại Pháp Tịch Tỳ Ni cận
đại như Quảng Ðức tổ chức tại Phật học viện Trung
phần Nha Trang, Huệ Quang tại Chùa Phật Ân Mỹ Tho, Khánh Anh
tại Bồ Ðề Long Xuyên, Ấn Quang tại Chùa Ấn Quang Sài-Gòn,
Thiện Hòa tại Ấn Quang Sài-Gòn...
Ðại sư
là thành viên sáng lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất. Ngài là trưởng phái đoàn đại biểu Giáo Hội Tăng
Già Việt Nam tham dự đại hội thống nhất Phật Giáo để
thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và là
thành viên Hội Ðồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất, ngài được suy cử đảm nhiệm
trọng trách :
-
Tổng Ủy Viên
Tổng Vụ Tăng Sự (1964 - 1974)
-
Phó Viện Trưởng
Viện Hóa Ðạo (1974 - đến khi GHPGVNTN bị giải thể bởi
chủ nghĩa chuyên chế).
Ngoài ra về
giáo dục, ngài còn đảm nhiệm trách vụ :
-
Viện Trưởng
Viện Cao Ðẳng Phật Học Viện Huệ Nghiêm
-
Khoa Trưởng
Phật Khoa tại Viện Ðại Học Vạn Hạnh.
Trước năm
1975, Ðại sư cùng chư tôn túc kiến lập Pháp Bảo Viện,
chỗ phụng thờ và dịch thuật Tam Tạng thánh giáo và là
nơi cư trú của Sư Tăng, tọa lạc tại Thủ Ðức. Chư vị
tôn túc ký thác ngài trọng trách Tọa chủ bổn viện. Công
việc khởi đàu xây dựng được ngôi tháp thờ đức Quán
Thế Âm Bồ Tát, công tác đang tiến hành thì tình thế đổi
thay.
Tăng cách
của ngài không phải nói, y cứ pháp tang, nhật xét qua hoạt
dụng, kính xưng 'bậc thượng sĩ' quả nhiên thật không quá
lời (Lời của Ngộ Công Trưởng Lão thường đề cập về
ngài). Thường nhựt, Ðại sư hành trì không bỏ xót thời
gian, ít ngủ nghỉ, quá ngọ thời không ăn, thức ăn không
quá phần đại chúng; giới hạnh tinh nghiêm, không nói chuyện
ngoài sự đàm thuyết điển tịch Phật pháp, niệm châu không
rời, không sót ngày Bố-tát và An cư dù lúc thân thể suy
gầy. Có ai hỏi đạo lý, thì tùy cơ đối giải, thân giáo,
khẩu giáo nghiêm minh nhưng rất hoan hỉ, lý tánh cùng tận
lắm nhiều thần tích, Tựu trung, khách quan mà nhận xét tất
cả tòng lâm, tự viện thời cận đại từ trước đến nay,
kể cả toàn quốc từ Bắc, Trung, Nam không nơi nào vân tập
tứ chúng đông đảo như chốn Lan Nhã của Ðại sư trụ tích.
Kể từ khi ngài khai sơn Ðạo Tràng Vạn Ðức, tăng tín đồ
câu hội về quanh vùng thiết lập tu viện, tịnh xá, tịnh
thất trên dưới bốn mươi ngôi. Có thể nói, ai có túc duyên
bái kiến y chỉ với ngài không khác gì được yết kiến
Thánh Giả.
Ðích thực
kinh điển đại thừa được phổ cập trong tòa nhà Phật
Giáo Việt Nam, lưu thông trong quảng đại quần chúng có thể
nói ngài là vị đứng đầu trong giới phiên dịch hiện đại.
P.L 2528, Los
Angeles - Phước Huệ Ðạo Tràng
Ngày thọ
tuế mùa an cư năm Giáp Tý
Pháp Tử
HÂN THUYÊN
Tỳ Kheo THÍCH PHƯỚC BỔN
Cẩn lục